cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thươn
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ ANH
TP Hồ Chí Minh - Năm 2020
Trang 3học Luật khóa 28 Bình Dương của Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh,Khoa Luật, chuyên ngành Luật Kinh tế, là tác giả của Luận văn Thạc sĩ Luật
học với đề tài “Pháp luật về kinh doanh hàng rong – thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh và một số kiến nghị”.
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quảnghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫnkhoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểmkhoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích nguồn cụ thể,chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trongLuận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN HÙNG TÍN
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT LUẬN VĂN
ABSTRACT
PHẦN MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH DOANH HÀNG RONG 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại kinh doanh hàng rong 8
1.1.1 Khái niệm kinh doanh hàng rong 8
1.2.2 Đặc điểm kinh doanh hàng rong 13
1.2.2 Phân loại kinh doanh hàng rong 18
1.2 Tác động của kinh doanh hàng rong đến xã hội 20
1.2.1 Những tác động tích cực 20
1.2.2 Những tác động tiêu cực 21
1.3 Các nội dung quản lý nhà nước đối với kinh doanh hàng rong 22
1.3.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với kinh doanh hàng rong 22
1.3.2 Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước 25
1.3.3 Những nội dung trong công tác quản lý kinh doanh hàng rong 27
1.4 Kinh nghiệm quản lý kinh doanh hàng rong tại một số quốc gia 28
1.4.1 Quản lý người bán hàng rong tại Bangkok (Thái Lan) 28
1.4.2 Quản lý kinh doanh hàng rong tại Singapore 30
1.4.3 Kinh nghiệm quản lý người bán hàng rong ở Đài Loan, Hồng Kong (Trung Quốc) 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN KINH DOANH HÀNG RONG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 35
2.1 Khái quát về lịch sử phát triển hoạt động kinh doanh hàng rong tại thành phố Hồ Chí Minh 35
Trang 52.2 Thực trạng pháp luật về kinh doanh hàng rong và các quy định liên quan của
thành phố Hồ Chí Minh 44
2.2.1 Nội dung pháp luật về kinh doanh hàng rong và các quy định liên quan của Thành phố Hồ Chí Minh 44
2.2.2 Đánh giá thực trạng pháp luật về kinh doanh hàng rong và các quy định liên quan của Thành phố Hồ Chí Minh 50
2.3 Thực trạng quản lý kinh doanh hàng rongtrên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 54
2.3.1 Những mặt tích cực 54
2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại 57
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH HÀNG RONG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 64
3.1 Một số định hướng giải quyết việc quản lý kinh doanh hàng rong 64
3.1.1 Cần thừa nhận sự tồn tại của kinh tế hàng rong như một bộ phận của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 64
3.1.2 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về kinh doanh hàng rong để hoàn thiện việc quản lý kinh doanh hàng rong tại thành phố Hồ Chí Minh 65
3.1.3 Xây dựng không gian bán hàng rong tập trung tại các quận, huyện 67
3.2 Các kiến nghị cụ thể trong hoạt động quản lý kinh doanh hàng rong tại thành phố Hồ Chí Minh 68
3.2.1 Về các chính sách pháp luật quản lý kinh doanh hàng rong 68
3.2.2 Về phía cơ quan quản lý nhà nước 72
3.2.3 Về cơ chế quản lý 74
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6VSATTP Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm
Trang 7Nam, có thể thấy trên tất cả các tuyến phố, vỉa hè, các con hẻm Một mặt, kinhdoanh hàng rong giải quyết được cơ hội thoát nghèo của nhiều hộ gia đình khókhăn, mặt khác, việc kinh doanh này cũng tồn tại nhiều vấn đề cả về mặt pháp lý lẫnthực tiễn Việc kinh doanh này chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp đốivới hoạt động kinh doanh hàng rong, bởi vậy những chủ thể kinh doanh hàng ronghoạt động một cách tùy tiện, bất chấp việc xử lý của cơ quan chức năng, ảnh hưởngđến mỹ quan đô thị, vệ sinh môi trường, an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thựcphẩm Vì thế, cần có cơ chế pháp lý điều chỉnh đối với nhóm đối tượng này và phảigiải quyết bài toán mâu thuẫn: làm sao để vừa tạo điều kiện phát triển kinh doanhhàng rong, vừa không ảnh hưởng xấu đến trật tự đường phố, vỉa hè, trật tự an toàn
xã hội, đảm bảo an toàn giao thông, mỹ quan đô thị Bằng phương pháp phân tíchluật học và phân tích thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã chỉ ra một sốbất cập và nêu lên một vài kiến nghị để hoàn thiện các quy định về kinh doanh hàngrong và tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý hoạt động này tại thành phố HồChí Minh cũng như trên cả nước Việt Nam./
Từ khóa: kinh doanh hàng rong; cá nhân hoạt động thương mại; Nghị định39/2007/NĐ-CP; Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 8Vietnam’s streets, sidewalks and alleys It is well-known since the street wending is
a bussiness activity that is easily conducted by the poor and it also helps them havebetter lives However, there are several problems in legality and practicality Thisbusiness does not officially have legal documents from our government to streetvendors Therefore, street vendors are now arbitrarily working, regardless of thepenalizing of the authorities This influences on our urban beauty, environmentalsanitation, traffic safety and even food hygiene and safety For this matter, it isnecessary to offer a proper legality so that we can control these bussiness groupsand solve the conflicting problem about how to both facilitate the development ofstreet vendors and not adversely affect the street orders, sidewalks, social orders andsafety, traffic safety, urban aesthetics With the method of jurisprudent andpractical analysis in Ho Chi Minh City, the author has figured out a number ofremaining problems and raised a few recommendations to improve the regulations
of the hawkers business and created favorable conditions for the management ofthis bussiness activity in Ho Chi Minh City as well as throughout Vietnam
Keywords: street vending; individual commerce; Decree 39/2007 / ND-CP; Ho ChiMinh City
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế cá nhân, hộ gia đình cùng với hoạt động sản xuất, kinh doanh hàngrong trên đường phố, vỉa hè từ lâu đã là một lực lượng phổ biến trong nền kinh tế ởViệt Nam Nhìn nhận từ khía cạnh tích cực thì kinh doanh hàng rong đã có nhữngchuyển biến tích cực cả về quy mô, tốc độ và cơ cấu, nhiều cơ sở kinh doanh đãđứng vững trong nền kinh tế thị trường, có tác động tích cực đến công tác xóa đóigiảm nghèo Có thể nói rằng, sự phát triển kinh doanh hàng rong tại đường phố, vỉa
hè là sự ra đời tất yếu của quá trình vận động chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đáp ứngnhu cầu của đông đảo người tiêu dùng, đem lại nhiều tiện ích, môi trường kinhdoanh thông thoáng làm rõ giá trị thực của hàng hóa Tuy nhiên, với sự bùng nổ củakinh doanh hàng rong gây ra nhiều hệ luỵ nghiêm trọng cho xã hội, nhiều cửa hàngmọc lên không đủ điều kiện, các phố cụt, ngã rẽ, ngõ rộng biến thành chợ cóc chợtạm, thậm chí một số nhà công vụ, trụ sở cơ quan nhà nước cũng biến thành chợ.1Các cơ sở kinh doanh tự phát trên đường phố, vỉa hè dần dần trở thành một bộphận cấu thành không nhỏ của nền kinh tế Theo Niên giám thống kê năm 2018, khuvực kinh tế cá thể đóng góp 29,24% GDP cả nước Theo Kết quả tổng điều tra kinh
tế năm 2017 của Tổng cục Thống kê, cả nước có khoảng 4,59 triệu cơ sở sản xuấtkinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản có địa điểm hoạt động ổn định;trong đó, có khoảng 1,33 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể đã có Giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh, khoảng 3,02 triệu cơ sở chưa đăng ký kinh doanh, còn lạikhoảng 0,24 triệu cơ sở đã đăng ký kinh doanh nhưng chưa được cấp giấy chứngnhận hoặc không phải đăng ký kinh doanh.2
Theo Kết quả tổng điều tra kinh tế năm 2017 của Tổng cục Thống kê, các cơ
sở sản xuất kinh doanh hàng rong trên đường phố, vỉa hè có địa điểm hoạt động ổn
1 Hoàng Minh, “Mặt trái của “chợ đường”, http://anhp.vn/mat-trai-cua-cho-duong-d29224.html
2 https://www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download.aspx?DocID=23607 ,
Trang 10định sử dụng khoảng 7,6 triệu lao động, trong đó gần 60% lao động chưa qua đàotạo; doanh thu đạt 2.375.935 tỷ đồng, nộp ngân sách 11.641 tỷ đồng So với cácdoanh nghiệp đang hoạt động tại thời điểm 1/1/2017, doanh thu của các cơ sở sảnxuất kinh doanh này bằng khoảng 13,3% doanh thu thuần của doanh nghiệp nhưngnộp ngân sách chỉ bằng 1,35% của doanh nghiệp.3
Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, theo thống kê, trên địa bàn thành phố hiện
có khoảng 20.013 cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố với trên 24.522 người thamgia kinh doanh thức ăn đường phố.4 Trong 9 tháng đầu năm 2018, các quận-huyện,phường-xã cũng đã tiến hành kiểm tra 15.193 cơ sở (chiếm 76%), phát hiện 6.245
cơ sở vi phạm an toàn thực phẩm, 126 cơ sở bị phạt với số tiền hơn 114 triệu đồng,
số còn lại bị nhắc nhở, cảnh cáo…5
Với tiềm lực kinh tế lớn đến như vậy, nếu chúng ta ra sức cấm đoán, cản trởcác cơ sở kinh doanh hàng rong trên đường phố, vỉa hè tự phát thì sẽ mất đi một cơhội thoát nghèo của nhiều hộ gia đình khó khăn, cũng như tổn hại đến một phầnkhông nhỏ trong sự phát triển đất nước Các quy định hiện nay đang dần trở thànhlực cản cho công tác quản lý đối với các cơ sở kinh như vậy, tức là chỉ cấm mộtcách tuyệt đối hoá, mà chưa có những quy định ngoại lệ, hay cơ chế kiểm soát phùhợp trong tình hình mới Có tầm quan trọng là vậy, nhưng địa vị pháp lý của các cơ
sở kinh doanh trên đường phố, vỉa hè chưa được làm rõ để có cơ chế giám sát, quản
lý phù hợp Hiện nay, theo khoản Điều 3 Nghị định số 39/2007/NĐ-CP về hoạtđộng thương mại một cách độc lập thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh
thì ”cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một,
một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa,
Trang 11cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của Luật Thương mại”.
Nhìn chung, các cơ sở kinh doanh do cá nhân tự mình hoạt động chưa được quy
định một cách chi tiết, dẫn đến sự quản lý nhà nước đối với nó cũng gặp nhiều khókhăn Các cơ sở này có thể là quán cà phê, tiệm cơm, bán đồ ăn, thức uống…đượcmọc lên một cách tự phát lấn chiếm đường phố, vỉa hè Cơ chế pháp lý điều chỉnhđối với nhóm đối tượng này phải giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa: làm sao để tạođiều kiện phát triển các cơ sở kinh doanh này mà không ảnh hưởng xấu đến trật tựđường phố, vỉa hè
Do đó, chúng ta cần khẳng định rõ ràng về địa vị pháp lý và luật hóa cácquyền, nghĩa vụ để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các cơ sở kinh doanhđường phố, vỉa hè phát triển, nâng cao năng lực quản trị, thực hiện đầy đủ quyền vànghĩa vụ và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng với các chủ thể khác khi tham gia thịtrường Mặt khác, việc bổ sung những quy chế pháp lý phải đảm bảo phù hợp vớiquy hoạch đô thị của đường phố, vỉa hè không ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an toàn
xã hội
Chính vì vậy, cần nghiên cứu một cách tổng thể tình hình các cơ sở kinh doanhhàng rong trên đường phố, vỉa hè từ đó đánh giá sự hợp lý của các quy định pháp luậthiện hành Có thể cần phải nghiên cứu để bổ sung quy định quản lý đối với các cơ sởkinh doanh hàng rong trên đường phố, vỉa hè; quy định về tạm ngừng, chấm dứt hoạtđộng, quy định về quản trị, kế toán, theo hướng đơn giản, thuận lợi về thủ tục hànhchính nhằm bảo đảm vừa khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuấtkinh doanh hàng rong vừa đảm bảo tính trật tự cho đường phố, vỉa hè theo quy hoạchphát triển tổng thể Chính vì vậy, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài ”
Pháp luật về kinh doanh hàng rong – thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh và một số kiến nghị” để làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trang 12Pháp luật về kinh doanh hàng rong được quy định rải rác trong nhiều văn bảnpháp luật khác nhau, so với các loại chủ thể kinh doanh khác thì loại hình kinhdoanh này chiếm một vị trí rất khiêm tốn trong hệ thống pháp luật kinh tế Từ đódẫn đến việc nhìn nhận công việc quản lý các cơ sở kinh doanh hàng rong chưanhận được sự quan tâm đúng mức so với vai trò của nó Cho nên các nghiên cứuchuyên sâu về việc quản lý đối với kinh doanh đường phố, vỉa hè còn rất khiêm tốn.
Có thể kể đến một số công trình dưới đây:
- Phạm Duy Nghĩa (2015), Giáo trình Luật Kinh tế, Nxb Công an nhân dân.Cuốn sách này mô tả nhiều vấn đề liên quan đến pháp luật doanh nghiệp, hộ kinhdoanh, quyền sở hữu…và đặc biệt là có phân tích bối cảnh kinh tế, xã hội và vănhoá kinh doanh của người Việt Điều này góp phần quan trọng giúp tác giả hiểu rõhơn về lý do vì sao kinh doanh đường phố, vỉa hè lại rất phát triển ở nước ta
- Phạm Minh Thái (2018), “Hộ kinh doanh và khu vực kinh tế phi chính thứcđối với tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, số tháng 12 Bài viếtcủa tác giả trình bày tổng quan về tăng trưởng của các hộ kinh doanh nước ta, đồngthời phân tích vai trò của các cơ sở kinh doanh phi chính thức với số lượng lớn làcác cơ sở kinh doanh tự phát ở các tuyến phố, vỉa hè Các thông tin trong bài viết lànguồn số liệu quan trọng để tác giả luận văn có cái nhìn bao quát về tình hình kinhdoanh tự phát ở nước ta hiện nay, từ đó có thêm luận cứ và minh chứng cho các lậpluận của mình Tuy nhiên, vì giới hạn trong phạm vi một bài nghiên cứu nên bài viếtnày không có đủ điều kiện để phân tích sâu nhiều vấn đề pháp lý khác
- Nguyễn Văn Phụng (2019), “Thuế đối với hoạt động kinh tế phi chính thức”,Tạp chí Tài chính, số 710 Bài viết của tác giả chỉ ra các loại hình kinh tế phi chínhthức, gồm có: Nhóm hoạt động kinh tế bất hợp pháp, nhóm hoạt động kinh tế ngầm
và nhóm hoạt động kinh tế tự sản xuất của các hộ gia đình, cá nhân Trên cơ sở đó,tác giả của bài viết này chỉ ra các cách thức quản lý thuế phù hợp, riêng đối với kinh
tế tự phát của hộ gia đình, cá nhân thì cần xây dựng nhiều chính sách miễn, giảmthuế, tiện giản thủ tục hành chính để góp phần nâng đỡ các cơ sở kinh doanh Bài
Trang 13viết này góp phần giúp tác giả luận văn nhận diện ra các hình thức kinh doanh phichính thức trên đường phố, vỉa hè, cũng như những gợi mở đối về chính sách thuếđối với các cơ sở kinh doanh này.
- Đào Lộc Bình và Nguyễn Hải Ngân (2017), “Hành lang pháp lý cho hoạtđộng kinh tế phi chính thức ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghề luật, số 4 Bài viếtphân tích các quy định pháp luật hiện hành có đề cập về việc đăng ký hoạt động,quản lý thuế, trách nhiệm khi kinh doanh tự phát (phi chính thức) Bài viết này mộtmặt thừa nhận vai trò của kinh tế phi chính thức, một trong số đó là kinh doanhđường phố, vỉa hẻ, đồng thời đề xuất các cơ chế pháp lý để tạo lập những khu vựcdành riêng cho kinh doanh “chợ”, tránh tình trạng tự phát phá vỡ quy hoạch
- Dương Thị Thuỳ Linh (2019), “Thực trạng và chính sách quản lý kinh tế phichính thức ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và quản trị kinh doanh, số 10 Bài viết đềcập đến vấn đề quản lý thuế đối với các cơ sở hộ kinh doanh và các cơ sở tự phát,trong đó tác giả bài viết cho rằng việc quy định ngưỡng 100 triệu đồng trở lên phảinộp thuế là không phù hợp, mang tính cào bằng mà chưa có sự tính toán đối vớitừng hoàn cảnh cụ thể Bài viết cung cấp thêm một góc nhìn từ góc độ người kinhdoanh tự phát, trong đó có kinh doanh đường phố, vỉa hè
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định pháp luậtđiều chỉnh về kinh doanh hàng rong để từ đó nhận diện ra những hạn chế, bất cập vàtìm hiểu nguyên nhân của các hạn chế Trên cơ sở đó, tác giả sẽ xây dựng các giảipháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong việc quản lý các cơ sở kinh doanh hàng rongcũng như đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý, tính hiệu quả, hiệulực của pháp luật trong thực tế
Trang 14Phạm vi nghiên cứu: tác giả tập trung nghiên cứu tình hình kinh doanh đườngphố, vỉa hè tại thành phố Hồ Chí Minh – nơi có số lượng cơ sở kinh doanh tự phátchiếm số lượng đông nhất nước.
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành được luận văn, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương phápxuyên suốt toàn bộ nội dung như tra cứu, thu thập thông tin; so sánh; phân tích;chứng minh; tổng hợp
Phương pháp tra cứu, thu thập thông tin: Tác giả sử dụng phương pháp này đểtìm kiếm các nguồn tài liệu như văn bản quy phạm pháp luật, sách, tạp chí, luậnvăn, trang thông tin điện tử, bản án liên quan đến nội dung của đề tài
Phương pháp so sánh: So sánh giữa các quy định của pháp luật; so sánh giữaquy định của pháp luật trong nước và pháp luật nước ngoài Từ sự so sánh này, tácgiả chỉ ra nguyên nhân của sự khác biệt, giống nhau để xem xét đề xuất những điểm
5 Câu hỏi nghiên cứu
Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về quản lý kinh doanh hàng rong?
Thực trạng áp dụng pháp luật quản lý kinh doanh hàng rong tại thành phố HồChí Minh đang có những hạn chế, bất cập nào?
Trang 15Những giải pháp nào có thể hài hoà được việc đảm bảo trật tự đường phố vỉa
hè với việc tạo điều kiện kinh doanh cho các cơ sở kinh doanh tự phát?
6 Ý nghĩa đề tài
Cung cấp các vấn đề lý luận về hoạt động kinh doanh đường phố, vỉa hè Cụthể: các vấn đề về khái niệm, đặc điểm nhận diện kinh doanh đường phố, vỉa hè; sựcần thiết phải xây dựng quy chế pháp lý đặc thù để quản lý loại hình kinh doanh tựphát này; làm rõ các bộ phận cấu thành cơ bản của pháp luật về kinh doanh đườngphố, vỉa hè
Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động quản lý đối với kinhdoanh đường phố, vỉa hè, từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập đang tồn tại để đềxuất những giải pháp về mặt lập pháp và tổ chức triển khai thi hành Điều này có ýnghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu về kinh doanh tự phát, cũng như đóng góp vàoquá trình xây dựng luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
7. Bố cục đề tài (tên các chương)
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo thì luận có kết cấu gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Khái quát chung về kinh doanh hàng rong
Chương 2 Thực trạng pháp luật về kinh doanh hàng rong tại thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện việc các quy định về kinh doanh hàng rong vàmột số kiến nghị
Trang 16CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH DOANH HÀNG RONG 1.1 Khái niệm và đặc điểm và phân loại kinh doanh hàng rong
1.1.1 Khái niệm kinh doanh hàng rong
Kinh doanh hàng rong xuất hiện ở hầu khắp mọi nơi tại các đô thị lớn ở nước
ta, thành phố Hồ Chí Minh cũng không ngoại lệ Hình thức kinh doanh này xuấthiện cả ở những khu vực miền đồng bằng sông Cửu Long, bán hàng hoá trên nhữngchiếc thuyền hay ca nô chạy dọc theo các kênh rạch, con sông lớn, là tiền đề để hìnhthành những chợ nổi nổi tiếng trên sông Dễ hiểu cụm từ “hàng rong” ở đây khôngnhằm chỉ về một loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể, mà nhằm để chỉ về một phương thức
tổ chức kinh doanh
Tham khảo điểm a Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 39/2007/NĐ-CP và Điều 2Quy định số 46/2009/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội ngày 15tháng 01 năm 2009 về quản lý hoạt động bán hàng rong trên địa bàn thành phố Hà
Nội thì “Người bán hàng rong là cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập,
thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh, không có địa điểm kinh doanh cố định và không gọi là "thương nhân" theo quy định của Luật Thương mại.” Như vậy,
bán hàng rong đa phần thường là bán hàng không có địa điểm cố định, có sự dichuyển liên tục giữa các địa điểm khác nhau
Trong Nghị định số 39/2007/NĐ-CP có đề cập về buôn bán rong, theo đó,
“buôn bán rong là hoạt động mua bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán
rong hoặc vừa mua rong bán rong) bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hoá phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong” Có thể hiểu rằng, từ “bán rong” theo Nghị định số
39/2007/NĐ-CP có nội hàm kinh doanh không cố định Kinh doanh hàng rong chứađựng trong nó một nội dung của nội hàm có tính chất “rong” “Rong” ở đây để chỉcác hoạt động mua bán của người dân có liên quan đến vỉa hè, đường hẻm khu vực
Trang 17đông dân cư (không phải là tại các chợ, nơi được quy hoạch chính thức) Buôn bánhàng rong có thể chia thành hai nhóm đối tượng hoạt động chính: nhóm cố định (cómặt tiền nhà kết hợp với không gian công cộng – vỉa hè) và nhóm lưu động (không
có mặt tiền nhà, buôn bán ngay lòng lề đường, trên vỉa hè, đường hẻm khu dân cư).6Nói cách khác, một đặc trưng của kinh doanh hàng rong diễn ra ở không gian mở -ngoài trời
Có quan điểm cho rằng kinh doanh hàng rong là bán hàng hoá không có địađiểm kinh doanh cố định Quan điểm này xuất phát từ Nghị định số 39/2007/NĐ-CPkhi cho rằng người bán hàng rong “không có địa điểm kinh doanh cố định” Tuynhiên, tác giả không đồng tình với quan điểm này Thực tế cho thấy, những ngườikinh doanh hàng rong không nhất thiết phải bán hàng hoá bằng một cách thức duynhất là di chuyển liên tục đến các địa điểm khác nhau một cách ngẫu nhiên, tuỳthuộc vào đặc tính của hàng hoá, dịch vụ mà họ lựa chọn cho mình cách thức kinhdoanh, địa điểm kinh doanh phù hợp để buôn bán Do đó, người kinh doanh hàngrong cũng cần có những thị phần riêng, khách hàng riêng, các địa điểm riêng, khuvực kinh doanh nhất định Mặt dù có thể người bán hàng rong thường xuyên dichuyển, nhưng sự di chuyển trong tính toán, đến những khu vực, địa bàn xác định.Thậm chí có nhiều người kinh doanh hàng rong chỉ bán được vào một số thời giantrong một ngày, phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại hàng hoá, điều kiện tự nhiên,
mà họ sẽ tìm cách buôn bán rong tốt nhất Xét về các quy luật của thị trường, tạinhững địa bàn quen thuộc, sự cạnh tranh diễn ra theo xu hướng ngày càng gay gắtnhững chủ thể kinh doanh với nhau, do đó việc giữ khách hàng quen là một cáchthức cạnh tranh lành mạnh hữu hiệu, việc di chuyển ngẫu nhiên tiềm ẩn nhiều rủi rotrong kinh doanh Vì vậy, người kinh doanh hàng rong phải tìm những địa điểmthuận lợi cho việc kinh doanh của mình và bán ở những khu vực xác định trongnhững khung thời gian phù hợp Chỉ khi nào mà việc kinh doanh ở những khu vực
6
Đỗ Văn Tính, “Hoạt động buôn bán hàng rong tại Việt Nam”,
nam
Trang 18http://kqtkd.duytan.edu.vn/Home/ArticleDetail/vn/88/3259/hoat-dong-buon-ban-hang-rong-tai-viet-đó không hiệu quả thì họ mới có động lực để di chuyển đến không gian khác thuậnlợi hơn, nhưng những sự di chuyển đó cũng nằm trong toan tính Vì vậy mà về mặthiện tượng, ta thấy người bán hàng rong hay di chuyển, nhưng cần lưu ý rằng sự dichuyển này (kinh doanh lưu động) nằm trong phương thức kinh doanh xác định, đếnnhững địa điểm, thời gian cụ thể, loại trừ yếu tố ngẫu nhiên Do đó, nếu dùng tiêuchuẩn “không có địa điểm cố định” để xác định kinh doanh hàng rong thì chưa mô
tả được bản chất của hoạt động này
Bên cạnh đó, trên báo chí chúng ta còn bắt gặp thuật ngữ kinh doanh trên vỉa
hè Thật ra thì trong hoạt động kinh doanh một trong những yếu tố quyết định nên
sự thành công của người kinh doanh là địa điểm kinh doanh Hầu như mọi chủ thểđều mong muốn có được những địa điểm kinh doanh tốt, có thể đem lại nhiều cơhội tìm kiếm lợi nhuận cao nhất Thực tế hiện nay cho thấy, vỉa hè, đường phố tạicác thành phố đã và đang trở thành địa điểm lý tưởng cho nhiều loại hàng hoá, dịch
vụ trên thị trường Dù các cơ quan chức năng có ra sức ngăn cản đến đâu chăngnữa, nhưng với khu vực lý tưởng này nó khó làm cho người kinh doanh chùn bướcchạy đua tìm kiếm một nơi phù hợp trên đường phố, vỉa hè Vấn đề là bán hàngrong và bán vỉa hè có mối quan hệ với nhau như thế nào? Thường thì những ngườibán vỉa hè không có điều kiện về sở hữu hay quyền sử dụng mặt bằng, người bánhàng vỉa hè tận dụng những khu vực công cộng nơi đông người để tiến hành kinhdoanh Và khi bị cơ quan chức truy đuổi xử phạt, thì những người bán hàng trên vỉa
hè có hành động bỏ chạy, di chuyển đến những khu vực khác Theo quan điểm củatác giả, thì những quán ăn, kinh doanh vỉa hè cũng là một dạng tồn tại của kinhdoanh hàng rong, nhưng đặc trưng bởi việc kinh doanh tại khu vực vỉa hè Nói cáchkhác, cụm từ “kinh doanh trên vỉa hè” mang nặng tính báo chí, chưa được luật hoátrong bất kì văn bản pháp lý nào
Kế đến, các cụm từ khác nhau như “buôn bán vặt”, “bán quà vặt” có nội hàmkhác nhau như thế nào Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ
có hoặc không có địa điểm cố định; Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn,
Trang 19nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định Có thể thấy, “buôn bánvặt” và “bán quà vặt” dựa vào tiêu chí “có hoặc không có địa điểm cố định”, còn
“kinh doanh hàng rong” thì không có địa điểm cố định, tuy nhiên việc nhận diện cóhay không có địa điểm cố định rất khó Theo quan điểm của tác giả thì các thuậtngữ này đồng nghĩa, không có nội hàm khác nhau, nhưng trong bối cảnh xây dựngNghị định số 39/2007/NĐ-CP, các nhà lập pháp có lẽ đã gặp lúng túng khi tìm mộtcụm từ ngắn gọn, rõ nghĩa để chỉ về những người bán hàng rong, nên họ đã sử dụngcách làm an toàn là liệt kê tất cả những từ này vào Nghị định số 39/2007/NĐ-CP
Cụ thể, Khoản 1 Điều 3 của Nghị định này liệt kê các hình thức hoạt động kinhdoanh của “cá nhân hoạt động thương mại”: buôn bán rong (buôn bán dạo); buôn
bán vặt; bán quà vặt; buôn chuyến; thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số,
chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch
vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định; các hoạt động thương mại một cáchđộc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác.7 Cách liệt kê này rộnghơn so với những chủ thể được Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định không phải
7 Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 39/2007/NĐ-CP:
1 Cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của Luật Thương mại Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại sau đây:
a) Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong;
b) Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định; c) Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định;
d) Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ;
đ) Thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định;
e) Các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác.
2 Kinh doanh lưu động là các hoạt động thương mại không có địa điểm cố định.
Trang 20đăng ký kinh doanh, cụ thể những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinhdoanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp (Khoản 2 Điều 66) Như vậy, “kinhdoanh hàng rong” là một trong những hình thức tổ chức công việc kinh doanh của
“cá nhân hoạt động thương mại”, nói cách khác thì “cá nhân hoạt động thương mại”
là chủ thể, còn “kinh doanh hàng rong” là hành vi của chủ thể Thực tế thì kinhdoanh hàng rong rất đa dạng, từ việc bán những món ăn, thức uống tại chỗ, đếnnhững món hàng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của cá nhân, gia đình Hoạt động kinhdoanh kiểu này rất đa dạng về chủng loại sản phẩm Đôi khi sự phân biệt giữa
“buôn bán rong”, “buôn bán vặt”, “bán quà vặt” trở nên bế tắc và không có ý nghĩa
Ví dụ: một người bán hàng ăn trước cổng trường học hay bệnh viện liên tục, thườngxuyên và cố định thì có xếp họ vào nhóm “buôn bán rong” không, hay “buôn bánvặt”, “bán quà vặt”? Rồi nếu người bán hàng này chỉ bán ở hai bệnh viện vào haikhung thời gian khác nhau trong ngày thì xếp vào nhóm nào? Ý nghĩa của sự phânloại này không cần thiết, trong khi đó, hoạt động kinh doanh hàng rong có dấu hiệu
dể nhận biết bởi “tính rong” và “ngoài trời”, một nội hàm đủ để bao quát hết “buônbán vặt” và “bán quà vặt” Do đó, có thể gọi chung các cụm từ này bằng “kinhdoanh hàng rong”
Ngoài ra, kinh doanh hàng rong có điểm khác nổi bật so với các “thươngnhân” ở điểm đăng ký kinh doanh Cần lưu ý rằng, những người bán hàng rongđược đề cập ở đây là những cá nhân kinh doanh hợp pháp, không có nghĩa vụ đăng
ký kinh doanh Đối với họ thì việc đăng ký kinh doanh chỉ được dừng lại ở khuyếnkhích, chứ không là một trách nhiệm Trong khi đó, các thương nhân theo Luậtthương mại 2005 định nghĩa thì phải có “đăng kí kinh doanh”, và chính cái hìnhthức pháp lý làm vỏ bọc để nhà đầu tư kinh doanh chính là thương nhân (doanhnghiệp, hộ kinh doanh và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã) Còn kinh doanh hàngrong thì người bán hàng rong sẽ lấy tư cách cá nhân của mình để đảm bảo cho việckinh doanh, cũng như là chủ thể phải chịu trách nhiệm đầu tiên và cuối cùng trướcnhà nước, xã hội và người tiêu dùng
Trang 21Từ phân tích ở trên, có thể hiểu kinh doanh hàng rong như sau: kinh doanh
hàng rong là một dạng tổ chức kinh doanh của cá nhân hoạt động thương mại, được thực hiện ở khu vực không gian mở, có thể có hoặc không có địa điểm cố định.
1.2.2 Đặc điểm kinh doanh hàng rong
Thứ nhất, người kinh doanh hàng rong không có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh.
Cơ sở pháp lý cho đặc điểm này được minh thị tại Nghị định số
39/2007/NĐ-CP và Nghị định số 78/2015/NĐ-39/2007/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ vềđăng ký doanh nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2015, được sửa đổi,
bổ sung bởi Nghị định số 108/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2018 của Chínhphủ Đăng ký kinh doanh là bộ thủ tục mà theo đó nhà đầu tư phải tiến hành cácbiện pháp để khai báo với các cơ quan chức năng về cơ sở kinh doanh của mình,dưới một hình thức pháp lý nhất định.8 Trong quá trình khai báo các thông tin vềnhu cầu khởi sự kinh doanh, chủ thể kinh doanh phải chịu trách nhiệm về tính chínhxác nội dung ghi trong hồ sơ đăng ký kinh doanh Thông qua việc xem xét tính hợp
lệ của hồ sơ cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanhnghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký Hộ kinh doanh cho chủ thể kinh doanh Chủthể kinh doanh sẽ được phép tiến hành hoạt động kinh doanh kể từ thời điểm đượccấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.9
Thông qua thủ tục này Nhà nước sẽ nắm bắt được các thông tin cơ bản củamột chủ thể kinh doanh, từ đó có các chính sách bảo hộ, cũng như điều tiết vĩ mônền kinh tế Còn xã hội sẽ phần nào hiểu được địa vị pháp lý của chủ thể kinhdoanh, khẳng định được vai trò của họ trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, đối
8Nguyễn Thị Thu Thuỷ (2016), Pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến
sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội, tr 35.
9Nguyễn Thị Thu Thuỷ (2016), Pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến
sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội, tr 35.
Trang 22với người bán hàng rong, thì thường thu nhập thấp chỉ đủ để trang trải bản thân vàgia đình, việc yêu cầu họ phải đăng ký kinh doanh sẽ là một áp lực lớn, tốn kémthời gian và chi phí cho họ Do đó, đối với lực lượng bán hàng rong đòi hỏi một loạiquy định khác phù hợp hơn với tiêu chí đơn giản nhất có thể, một mặt nhà nướcnắm bắt được các thông tin cơ bản về kinh doanh hàng rong, mặt khác giúp ngườibán hàng rong thấy được sự đơn giản, tiện lợi khi khai báo với nhà nước.
Đối với những chủ thể kinh doanh có đăng ký kinh doanh khi này chủ thể kinhdoanh bắt buộc tuân thủ các quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký, kế đến cácđiều kiện lao động được đảm bảo tốt hơn, ngoài ra cơ sở kinh phải thực hiện nghĩa
vụ thuế theo quy định của pháp luật Đăng ký kinh doanh khi này phải gắn liền vớimột hình thức pháp lý nhất định, mà phổ biến hơn cả là hộ kinh doanh Khi này, các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền nắm bắt được các thông tin liên quan đến cơ sởkinh doanh của người đăng ký, từ số vốn, số lao động, địa điểm kinh doanh, dự kiếnthu nhập…ở góc độ vĩ mô có thể xây dựng các chính sách phù hợp
Trong khi đó, kinh doanh hàng rong không có đăng ký kinh doanh thì ngườibán hàng không phải thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh, việc vận hành kinhdoanh hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người bán hàng Nhà nước nhìn chungchưa có thông tin đầu vào của các cơ sở kinh doanh hàng rong và kinh doanh vỉa hèkhông đăng ký kinh doanh Vì vậy, đây cũng là nhóm kinh doanh có thể làm thấtthu thuế cho ngân sách nhà nước
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là kinh doanh hàng rong, vỉa hè không đăng ký kinhdoanh chưa hẳn là vi phạm pháp luật Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số39/2007/NĐ-CP thì cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộcác hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ vàcác hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là
“thương nhân” theo quy định của Luật Thương mại Chẳng hạn, cá nhân buôn bánrong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua
Trang 23rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo,tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩmnày theo quy định của pháp luật để bán rong; buôn bán vặt là hoạt động mua bánnhững vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định; bán quà vặt là hoạt độngbán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định…Cho nên, đa phần các hoạt động kinh doanh vỉa hè hiện nay không cần phải đăng kýkinh doanh Chính vì vậy, hiện nay thì kinh doanh hàng rong không phải đăng kýkinh doanh, trừ trường hợp họ kinh doanh ngành nghề đầu tư kinh doanh có điềukiện Người bán hàng rong không phải là một thương nhân, vì vậy, cái gian hàngbuôn bán của họ, cái cơ sở kinh doanh của họ chưa phải là một chủ thể kinh doanh.
Thứ hai, người tiến hành kinh doanh hàng rong thực hiện các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên nhằm mục đích sinh lợi.
Cụm từ “thực hiện liên tục” xuất hiện lần đầu tiên trong Luật thương mại
2005, Luật Doanh nghiệp 2005 khi định nghĩa về “kinh doanh” và “hoạt độngthương mại” đã góp phần mô tả rõ nét bản chất của hoạt động kinh doanh và thuhẹp phạm vi các hành vi được xem là kinh doanh Với tính chất liên tục như vậy,các hành vi mua đi bán lại mang tính nhất thời không phải là hoạt động kinh doanh
dù rằng người bán cũng thường có mục đích tìm kiếm lợi nhuận
Đối với những người trực tiếp bán hàng rong thì họ xem đây là phương tiện đểtạo ra thu nhập kiếm sống chủ yếu của họ và gia đình Thực tế thì đa số nhữngngười bán hàng rong có xuất thân từ những vùng nông thôn với hi vọng tìm kiếmmức thu nhập cao hơn Họ khó cơ hội tham gia vào khu vực việc làm đòi hỏi bằngcấp, trình độ chuyên môn cao, nên việc kinh doanh hàng rong là một giải pháp hợp
lý Tính thường xuyên này nhằm nhấn mạnh rằng, người kinh doanh hàng rong coiđây là một công việc để mưu sinh Nguồn thu nhập để đảm bảo cuộc sống của cácthành viên trong gia đình là chủ yếu, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của bản thân và giađình như học tập, y tế, giáo dục…
Trang 24Về mục đích sinh lợi của người bán hàng rong, khi con người thực hiện bất kìhành vi nào đó, đều huớng đến một mục đích nhất định Đó có thể là lợi ích chochính bản thân người thực hiện hành vi, cho người khác hoặc cho xã hội Mục đíchsinh lợi ở đây có thể được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm hoạt động nhằm thu lợinhuận với ý nghĩa kinh tế đơn thuần và cả những hoạt động sinh lợi khác có thểkhông chỉ là vì lợi ích kinh tế một cách trực tiếp.10 Khi xác định mục đích sinh lợithì “ý định” thu lợi nhuận của chủ thể mới là tiêu chí quyết định, còn việc đạt đượclợi nhuận hay không, cũng như việc sử dụng lợi nhuận thu được cho mục đích gìkhông phải là dấu hiệu quyết định.11 Do đó, nhiều trường hợp người bán hàng rong
tổ chức việc sản xuất, buôn bán bị thua lỗ nhưng hoạt động đó vẫn là kinh doanh.Nói cách khác thì dưới góc độ pháp lý, khi xác định hành vi kinh doanh hàng rong,chúng ta quan tâm đến việc có hay không có mục tiêu tạo ra lợi nhuận chứ khôngquan tâm đến việc thực hiện mục tiêu đó như thế nào
Thứ ba, các hoạt động kinh doanh hàng rong có nội hàm rộng.
Dưới góc độ ngữ nghĩa thì theo Từ điển Tiếng Việt: “kinh doanh là việc tổchức sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi”12 Có thể thấy rằng ởnghĩa phổ thông, từ “kinh doanh” có nghĩa là buôn bán và/hoặc tổ chức việc sảnxuất Hơn thế nữa, không phải tất cả các hoạt động sản xuất, buôn bán đều là kinhdoanh mà chỉ những hoạt động sản xuất, buôn bán nào có mục đích sinh lợi mớiđược coi là kinh doanh.13
Khái niệm kinh doanh có thể tiếp cận theo dạng chuỗi cung ứng, tức một quátrình từ đầu vào đến đầu ra của sản phẩm, dịch vụ trên thị trường Gồm tất cả cácgiai đoạn của quá trình đầu tư, từ việc bỏ vốn vào đầu tư, đến sản xuất, gia công,chế biến, cung ứng dịch vụ hay bán sản phẩm trên thị trường Ở đặc điểm này,
10 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2016), tlđd, tr 26.
11 Bùi Ngọc Cường (2008) (Chủ biên), Giáo trình Luật thương mại, tập 1, Nxb Giáo dục,
tr 8.
12 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 529.
13 Nguyễn Viết Tý (1996), “Tìm hiểu khái niệm kinh doanh”, Tạp chí Luật học, số 05/1996,
tr 25.
Trang 25người bán hàng rong không nhất thiết phải thực hiện toàn bộ quá trình đó mà chỉcần bỏ vốn và thực hiện ít nhất một công đoạn, một mắt xích trong chuỗi hoạt độngtrên thì đã có thể xem là hoạt động kinh doanh hàng rong.
Thứ tư, quyền được kinh doanh hàng rong góp phần đảm bảo quyền tự do kinh doanh của công dân.
Kinh doanh được xem như là một trong các quyền kinh tế cơ bản của conngười Trong thời kì bao cấp thì phạm trù kinh doanh không được nhắc đến trongcác văn kiện của Đảng và văn bản pháp luật của nhà nước Trong cơ chế kế hoạchhóa tập trung bao cấp trước đây đã có quan niệm không đầy đủ, không đúng về kinhdoanh Kinh doanh được hiểu theo nghĩa rất hẹp, kinh doanh được coi là một phầncủa quá trình tái sản xuất, cụ thể là chỉ gắn với hoạt động lưu thông, trao đổi, làbuôn bán Thậm chí, có người còn ác cảm với kinh doanh, coi kinh doanh là conđường dẫn tới bóc lột Do vậy, chỉ có các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốcdoanh, tập thể) mới được phép kinh doanh, còn các thành phần kinh tế khác thì bịhạn chế và cấm đoán Nhưng kể từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) thìquyền tự do kinh doanh của công dân đã từng bước được ghi nhận và đảm bảo thựchiện Quyền tự do kinh doanh được hiến định trang trọng trong Hiến pháp 1992,Hiến pháp 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước Nếu như tại Điều
57 Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung 2001) quy định: “công dân có quyền tự
do kinh doanh theo quy định pháp luật”, thì tại Điều 33 Hiến pháp 2013 khẳng
định: “mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật
không cấm” Xét về góc độ đối tượng thì Hiến pháp 1992 chỉ quy định công dân có quyền, còn Hiến pháp 2013 quy định là mọi người có quyền, rộng hơn rất nhiều Xét
về góc độ phạm vi hoạt động, Điều 33 Hiến pháp 2013 được hiểu theo nghĩa rộnghơn so với Hiến pháp 1992 Từ Khoản 2 Điều 14 và Điều 33 Hiến pháp 2013 thìmọi người đều có quyền tự do kinh doanh và giới hạn của quyền tự do đó là những
gì mà luật cấm Như vậy, quyền tự do kinh doanh ngày càng được nhà nước ghinhận và mở rộng
Trang 26Kinh doanh gắn liền với nền sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, có sự tácđộng bởi các quy luật của nền kinh tế thị trường Theo đó, nền kinh tế trong thời kì
kế hoạch hóa tập trung dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, không dunghòa với chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, không chấp nhận sự cạnh tranh và khônglấy việc thu lợi nhuận làm mục đích cho các hoạt động sản xuất kinh doanh mà coimọi hoạt động sản xuất kinh doanh là nhằm không ngừng nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân lao động.14 Vì vậy mà trong thời kì “bao cấp” –không có chỗ cho khu vực kinh tế tư nhân, thì kinh doanh với đúng nghĩa của nókhông thật sự tồn tại Qua những dẫn chứng nêu trên, chúng ta có thể thấy được vaitrò đòn bẩy của tự do kinh doanh Bởi vậy, dù dưới bất kỳ hình thức nào thì việcthúc đẩy kinh doanh, phát huy vai trò của đội ngũ thương nhân là một trong nhữngnhân tố quyết định để phát triển kinh tế đất nước Với việc ghi nhận kinh doanhhàng rong hợp pháp là góp phần đảm bảo và mở rộng quyền tự do kinh doanh chongười dân Việt Nam
1.2.3 Phân loại kinh doanh hàng rong
Việc phân loại kinh doanh hàng rong phụ thuộc vào các tiêu chí được sử dụng
để phân loại Hoạt động phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứulàm rõ các chính sách điều chỉnh phù hợp cho từng loại hình Dựa theo tính lưuđộng của địa điểm kinh doanh mà kinh doanh hàng rong được phân thành kinhdoanh hàng rong lưu động và kinh doanh hàng rong cố định
- Kinh doanh hàng rong lưu động: Theo Từ điển tiếng Việt thì “lưu động” làkhông ở nguyên một chỗ mà luôn luôn di chuyển, thay đổi địa bàn hoạt động15 Từ
đó có thể hiểu việc kinh doanh hàng rong lưu động có đặc điểm là người bán hàngrong di chuyển địa điểm kinh doanh của mình từ khu vực này sang khu vực khác và
họ thường xuyên thực hiện việc di chuyển như vậy trong quá trình kinh doanh, coi
14 Nguyễn Viết Tý (1996), “Tìm hiểu khái niệm kinh doanh”, Tạp chí Luật học, số 05/1996,
tr 26.
15 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 601.
Trang 27việc di chuyển địa điểm kinh doanh là hoạt động tất yếu trong quá trình kinh doanh,với mục đích là đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất.
Thông thường, để thực hiện hình thức kinh doanh hàng rong lưu động, ngườikinh doanh cần có phương tiện hỗ trợ chuyên chở chẳng hạn như xe đạp, xe máy, ô
tô hoặc các loại xe, công cụ phục vụ cho việc di chuyển liên tục
- Kinh doanh hàng rong cố định: Theo Từ điển tiếng Việt thì “cố định” là giữnguyên trạng thái, không di động, không biến đổi16 Loại này có đặc trưng là ngườikinh doanh hàng rong tìm được một địa điểm kinh doanh cụ thể, có thể xác địnhđược rõ ràng, không có sự thay đổi trong quá trình kinh doanh Đây cũng là dấuhiệu tạo nên sự khác biệt so với loại kinh doanh hàng rong lưu động, việc xác địnhđịa điểm kinh doanh trở nên khó khăn, do người bán liên tục di chuyển
Tuy nhiên, kinh doanh hàng rong cố định cũng có thể xảy ra tình huống chủthể kinh doanh thay đổi địa điểm kinh doanh, nhưng sự thay đổi như vậy khôngthường xuyên và thường là do các nguyên nhân bất đắc dĩ, bởi loại này có xu hướng
ổn định địa điểm kinh doanh Việc di chuyển địa điểm kinh doanh của kinh doanh
cố định khác với việc lưu động địa điểm kinh doanh của kinh doanh lưu động
Việc chọn hình thức kinh doanh lưu động hay cố định phụ thuộc nhiều yếu tố.Nhưng yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất là tính chất đặc thù của sản phẩm dịch
vụ, hàng hóa kinh doanh Có những mặt hàng có thể vừa kinh doanh lưu động, vừakinh doanh cố định, ví dụ: thực phẩm, đồ uống, tạp chí, sách báo…Cũng có loạidịch vụ chỉ có thể kinh doanh cố định, như trông giữ xe Bên cạnh đó là khu vựcđông dân cư sinh sống, làm việc cũng có thể tác động đến hành vi của người kinhdoanh Chẳng hạn ở các khu vực gần nhà trường, bệnh viện, trung tâm thương mại,công sở…làm thu hút những người kinh doanh vào giờ cao điểm, hết khung thờigian này họ có thể tiếp tục di chuyển sang khu vực khác
16 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 205.
Trang 281.2 Tác động của kinh doanh hàng rong đến kinh tế xã hội
Có thể nói rằng hầu khắp các thành phố, đô thị lớn ở nước ta đều đã và đangdiễn ra tình trạng kinh doanh hàng rong, vỉa hè.17 Hiện tượng này như một hệ quảtất yếu của trình đô thị hoá ở Việt Nam và có vai trò lớn tác động đến kinh tế, xãhội, đô thị ở nước ta Tuy vậy, nó cũng đang tồn tại nhiều bất cập, ảnh hưởng tiêucực đến sự phát triển của các đô thị
1.2.1 Những tác động tích cực
Thứ nhất, kinh doanh hàng rong góp phần cung cấp hàng hoá giá cả phải chăng đến nhóm dân cư nghèo, qua đó góp phần đẩy mạnh quá trình lưu thông hàng hoá.
Hoạt động kinh doanh hàng rong cung cấp một khối lượng lớn những sảnphẩm là nhu yếu phẩm thiết yếu cho cuộc sống cho một bộ phận dân cư, đặc biệt là
ở những khu vực dân cư lao động nghèo, có thu nhập thấp với giá cả phải chăng.Những hàng hoá, dịch vụ được bán rong, bán trên vỉa hè khá đa dạng, bao gồmnhiều chủng loại khác nhau, như lương thực, quần áo, các dịch vụ cắt tóc, trông giữ
xe, hay sửa chữa…Mặc dù, quy mô của các đơn vị kinh doanh này thường nhỏ hoặcsiêu nhỏ, nhưng đây là một khu vực kinh doanh phát triển khá mạnh hiện nay Sựhoạt động của khu vực này, với sự tiện lợi trong giao dịch hàng hóa, đã góp phầnđẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hóa trên thị trường, làm nền kinh tế trở nên đadạng phong phú hơn
Thứ hai, kinh doanh hàng rong góp phần tạo công việc cho người lao động.
Quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở nước ta hiện nay Cùng với quátrình đô thị hóa, các đô thị dần mở rộng quy mô và không ngừng tăng trưởng kinh
17 Thuỳ Vân, “Kinh tế vỉa hè và những vấn đề đặt ra”, truy cập tại:
ra.html
Trang 29https://www.nhandan.com.vn/hangthang/item/32402102-kinh-te-via-he-va-nhung-van-de-dat-tế Chính điều này đã tạo nên sức hút của các đô thị với lao động từ những vùngkhác Theo số liệu thống kê, hàng năm hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh đều có khoảng hàng trăm nghìn người nhập cư Số lượng lao độngnhập cư lớn, nhưng sự tăng trưởng của đô thị không thể hấp thụ hết Một bộ phậnlao động do không có trình độ và kỹ năng tay nghề, phần lớn trong số này tham giavào khu vực kinh tế phi chính thức, mà đa số là kinh doanh hàng rong để kiếm thunhập Có thể khẳng định, kinh doanh hàng rong đã đáp ứng được một phần nhu cầuviệc làm đô thị
1.2.2 Những tác động tiêu cực
Vì kinh doanh hàng rong được tiến hành ở không gian mở và thường là khuvực vỉa hè Trong khi vỉa hè là một bộ phận của hệ thống đường bộ, chức năngchính của nó theo quy định của pháp luật là phục vụ cho người đi bộ Một thực tế là
đa phần vỉa hè phục vụ cho kinh doanh, chủ thể kinh doanh có hành vi lấn chiếmvỉa hè, làm cho diện tích vỉa hè phục vụ cho người đi bộ giảm đi đáng kể, nhất làtrên những tuyến phố mà chiều rộng vỉa hè vốn đã nhỏ Vì vậy, hoạt động kinhdoanh hàng rong trên vỉa hè đã gây ra những ảnh hưởng nhất định tới giao thông đôthị Do vỉa hè bị lấn chiếm, người đi bộ phải thực hiện hành vi tham gia giao thông
ở khu vực lòng đường, gây nguy hiểm cho cả người đi bộ và các phương tiện thamgia giao thông khác Lòng đường trở nên quá tải và luôn tiềm ẩn nguy cơ tai nạngiao thông Không những vậy, khi tiến hành giao dịch mua bán trên vỉa hè; thườngxuyên xảy ra tình trạng dừng, đỗ xe trái phép dưới lòng đường Điều này có thể dẫntới tình trạng ùn tắc giao thông ở nhiều mức độ khác nhau
Hoạt động kinh doanh hàng rong diễn ra đã làm thay đổi cấu trúc cảnh quanvốn có của đô thị, đường phố nói chung Đa phần các hoạt động kinh doanh hàngrong là tự phát, sự quản lý của các cơ quan nhà nước chưa được siết chặt, do vậy màviệc bố trí không gian kinh doanh thiếu quy hoạch, vô tổ chức Thậm chí, nhiều nơi,chủ thể kinh doanh còn có những hành vi phá hoại các công trình kỹ thuật trên vỉa
hè để phục vụ cho mục đích kinh doanh
Trang 30Hầu hết các hình thức kinh doanh hàng rong, đều phát sinh rác thải, nhất là vớicác dịch vụ phục vụ ăn uống Trong khi đó, ý thức giữ gìn vệ sinh chung của cả chủthể kinh doanh và người tiêu dùng chưa cao đã dẫn đến tình trạng rác thải bừa bãitrên vỉa hè, lòng đường, gây ô nhiễm môi trường Kinh doanh hàng rong nếu khôngđược quản lý tốt, nhiều khả năng sẽ làm ảnh hưởng xấu tới mỹ quan và môi trường
đô thị
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, kinh doanh hàng rong phát triển tạo nên nhữngnét phong tục và văn hóa đường phố riêng Thậm chí, nhiều nơi, các địa điểm kinhdoanh hàng rong còn trở thành địa điểm thu hút du lịch, không chỉ với mục đích tiêudùng mà còn là để trải nghiệm không gian văn hóa riêng biệt Kinh doanh hàngrong ở Việt Nam cũng vậy Ví dụ như ẩm thực vỉa hè đã trở thành một trong nhữngnét đặc trưng của ẩm thực Việt Nam Tuy nhiên, những hình ảnh kinh doanh hàngrong gây mất mỹ quan, ô nhiễm môi trường hay cách ứng xử thiếu chuẩn mực vănhóa của một bộ phận những người kinh doanh và tiêu dùng đã gây ảnh hưởng xấutới văn hóa, văn minh đô thị Đa số hoạt động kinh doanh hàng rong là mang tính tựphát, không đăng ký kinh doanh; vì vậy trong quá trình kinh doanh, khi xảy ra cáctranh chấp, do không có sự quản lý của cơ quan nhà nước nào, nên dễ dẫn tới trìnhtrạng giải quyết tranh chấp trái với quy định của pháp luật, gây mất an ninh, trật tự
an toàn xã hội
1.3 Các nội dung quản lý nhà nước đối với kinh doanh hàng rong
1.3.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với kinh doanh hàng rong
Trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, khi nghiên cứu về quản lý nhà nướcđều phải xuất phát từ những đặc điểm của quản lý nhà nước nói chung Từ đó,chúng ta có thể phân biệt được sự khác nhau giữa hoạt động quản lý nhà nước vớicác hoạt động khác của nhà nước và với hoạt động quản lý xã hội của các chủ thểkhác Quản lý nhà nước đối với kinh doanh trên vỉa hè cũng là một bộ phận trongtổng thể quản lý nhà nước
Trang 31Khi lao động được xã hội hóa thì chức năng quản lý mới bắt đầu xuất hiện, tùygóc độ nghiên cứu mà ta có những quan niệm khác nhau về quản lý Thuật ngữ
“quản lý” do đó cũng thường được hiểu theo những cách khác nhau phụ thuộc vàocách tiếp cận của người nghiên cứu Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiềungành khoa học, trong đó có cả khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vựckhoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngàycàng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội.18 Cũng cần lưu ý rằng, cóquan niệm xem “quản lý” là “hành chính”19
Theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lênđối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý, đó là điều khiển, chỉ đạo hoạtđộng của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân thành mộthoạt động chung thống nhất và hướng hoạt động chung đó theo những phươnghướng thống nhất.20 Nói cách khác thì quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào
có các hoạt động của con người Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào cácgóc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận củangười nghiên cứu, nhưng cơ bản nhất vẫn là thực hiện bằng tổ chức và quyền uy.Quản lý nói chung có chủ thể quản lý là con người hay tổ chức của con người, lànhững đại diện có quyền uy, có quyền hạn nhất định Còn khách thể của quản lý làtrật tự, công bằng xã hội Như vậy, quản lý là một chức năng xã hội nảy sinh tất yếukhi có hoạt động chung của nhiều người, tồn tại dưới bất kì xã hội nào, từ cộng sảnnguyên thủy đến xã hội có giai cấp.21
18 Trường Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Trần Minh Phương
(Chủ biên), Nxb Công an nhân dân, tr 9.
19 Nguyễn Cửu Việt (2010), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, tr 16.
20 Trường Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Trần Minh Phương
(Chủ biên), Nxb Công an nhân dân, tr 10.
21 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nguyễn Cảnh Hợp (Chủ biên), Nxb Hồng Đức, tr 17-18.
Trang 32Trên cơ sở cách hiểu về quản lý như vậy, thì quản lý nhà nước theo nghĩa rộng
là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hànhpháp, đến hoạt động tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại củaNhà nước Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp,hay còn gọi là “quản lý hành chính nhà nước”.22 Theo nghĩa này thì quản lý nhànước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan quản lý, có nội dung làđảm bảo sự chấp hành pháp luật, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp vàthường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa - xã hội và hành chính - chínhtrị Đây là hoạt động chấp hành - điều hành của Nhà nước
Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nướctheo nghĩa rộng Tức là quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ banhành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạtđộng của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiếtcủa Nhà nước Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởitất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thểquần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, traoquyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật Cũng cầnphải lưu ý là sự tác động này không phải là sự tác động một chiều mà có sự tácđộng hai chiều giữa chủ thể quản lý nhà nước và đối tượng quản lý nhà nước nhằmtạo sự hài hòa về lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và các đối tượng có liên quan
Như vậy, quản lý nhà nước đối với kinh doanh hàng rong là sự can thiệp bằngquyền lực của nhà nước (bằng pháp luật, thông qua pháp luật, cơ chế, chính sách)vào hoạt động kinh doanh hàng rong nhằm thay đổi hoặc duy trì hoạt động đó, vớimục tiêu cuối cùng là phát triển đô thị, đất nước theo định hướng nhất định mangtính tích cực Kinh doanh hàng rong có đặc trưng là hoạt động kinh doanh diễn ra ởnhiều địa điểm, khu vực đa dạng, nhiều trường hợp diễn ra tại các khu vực công
22 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nguyễn Cảnh Hợp (Chủ biên), Nxb Hồng Đức, tr 17-18.
Trang 33cộng, vỉa hè Mà vỉa hè hay các khu vực công cộng khác lại là một bộ phận thuộcđường bộ, cảnh quan đô thị, tức là hạ tầng kĩ thuật đô thị Do đó, quản lý kinhdoanh hàng rong không chỉ đòi hỏi quản lý hoạt động kinh doanh của người bán,
mà còn là quản lý đô thị với mục đích sử dụng cho kinh doanh
1.3.2 Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước
Cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh hàng rong là các cơquan quản lý nhà nước có thẩm quyền được tổ chức từ trung ương đến địa phươngđược tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung thống nhất nhằm thực hiệncác chức năng và nhiệm vụ của ngành, do nhà nước quy định Nghị định số39/2007/NĐ-CP đề ra trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với kinhdoanh hàng rong, từ nhiệm vụ của chính quyền địa phương đến chính quyền trungương
Ở trung ương, theo đó, các Bộ, ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn củamình, có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể việc thực hiện quản lý nhà nước về các hoạtđộng thương mại của cá nhân hoạt động thương mại nói chung và kinh doanh hàngrong nói riêng Như vậy, Bộ, ngành ở trung ương chủ yếu quản lý vĩ mô đối vớihoạt động kinh doanh hàng rong
Ở địa phương:
(i) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện việc quản
lý nhà nước về các hoạt động kinh doanh hàng rong tại địa phương theo hướng dẫn
và phân cấp của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên Chẳng hạn như hướng dẫn vàđôn đốc, kiểm tra Ủy ban nhân dân cấp dưới trong việc thực hiện các quy định vềquản lý hoạt động kinh doanh hàng rong; xây dựng quy hoạch và kế hoạch, phâncông trách nhiệm, phân cấp quản lý hoạt động kinh doanh hàng rong; kịp thời đưa
ra các giải pháp tổ chức hoạt động thương mại và hình thức quản lý phù hợp, bảođảm hoạt động bình thường của các khu vực, tuyến đường, địa điểm cấm hoặc cho
Trang 34phép cá nhân được kinh doanh hàng rong; xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của
cá nhân kinh doanh hàng rong vượt thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp dưới…Ủyban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền quyđịnh thời gian và chỉ đạo việc lắp đặt biển cấm cá nhân thực hiện các hoạt động kinhdoanh hàng rong tại các khu vực, tuyến đường không được phép Ủy ban nhân dâncấp tỉnh quy định cụ thể việc quy hoạch và cho phép cá nhân sử dụng tạm thời cáckhu vực, tuyến đường và phần vỉa hè đường bộ trên địa bàn để thực hiện các hoạtđộng kinh doanh hàng rong phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương nh-ưngkhông được làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn giao thông
(ii) Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý các hoạt độngkinh doanh hàng rong trên địa bàn theo quy định pháp luật có liên quan Cơ quannày được Nghị định số 39/2007/NĐ-CP đề ra rất nhiều công việc quản lý cá nhânhoạt động thương mại nói chung và hoạt động kinh doanh hàng rong nói riêng, đâycũng là lực lượng sát với cá nhân kinh doanh hàng rong nhất
Cụ thể bao gồm các công việc sau đây: Lập sổ theo dõi cá nhân kinh doanhhàng rong trên địa bàn quản lý và tình hình hoạt động, chấp hành pháp luật của cácđối tượng này; Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách và quy định pháp luậtliên quan về quản lý cá nhân hoạt động kinh doanh hàng rong tới đối tượng trực tiếpthực hiện, cán bộ quản lý và toàn thể nhân dân trên địa bàn; Phối hợp chặt chẽ vớicác cơ quan quản lý, các tổ chức và cá nhân có thẩm quyền và trách nhiệm trongviệc quản lý kinh doanh hàng rong trên địa bàn; Triển khai thực hiện quy hoạch, kếhoạch và phân công trách nhiệm quản lý hoạt động kinh doanh hàng rong trên địabàn theo hướng dẫn và phân cấp của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên; Thông báocông khai, rộng rãi các khu vực, tuyến đường, địa điểm cấm hoặc cho phép cá nhânthực hiện các hoạt động kinh doanh hàng rong; Triển khai thực hiện các giải pháp tổchức hoạt động kinh doanh hàng rong và hình thức quản lý phù hợp, bảo đảm hoạtđộng bình thường của các khu vực, tuyến đường, địa điểm cấm hoặc cho phép cánhân thực hiện các hoạt động kinh doanh hàng rong; bảo đảm an ninh, an toàn cho
Trang 35các hoạt động hợp pháp của cá nhân kinh doanh hàng rong trên địa bàn quản lý;Thực hiện các quy định của pháp luật về thuế, phí và lệ phí đối với cá nhân hoạtđộng kinh doanh hàng rong trên địa bàn quản lý; Định kỳ hoặc đột xuất tổng hợp,báo cáo theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên về tình hình phát triển,
tổ chức, quản lý và hoạt động của cá nhân hoạt động kinh doanh hàng rong trên địabàn và kiến nghị các vấn đề liên quan đến việc quản lý hoạt động của các đối tượngnày
1.3.3 Những nội dung trong công tác quản lý kinh doanh hàng rong
Thứ nhất, mục tiêu của hoạt động quản lý kinh doanh hàng rong.
Mục tiêu cụ thể của quản lý kinh doanh hàng rong: (i) đảm bảo các hoạt độngkinh doanh hàng rong thực hiện đúng các chính sách của Đảng, Nhà nước, quy địnhcủa pháp luật; (ii) định hướng hoạt động kinh doanh hàng rong, quyết định việc tiếptục duy trì hay nghiêm cấm hình thức kinh doanh này; (iii) đảm bảo vỉa hè thực hiệnđúng chức năng theo quy định của pháp luật; (iv) có biện pháp ngăn chặn kịp thời
và xử phạt hợp lý đối với các hoạt động kinh doanh hàng rong trái pháp luật
Thứ hai, những nguyên tắc của công tác quản lý kinh doanh hàng rong.
Hoạt động quản lý kinh doanh hàng rong có thể phát sinh và chồng lấn các vấn
đề liên quan đến quản lý đô thị, đường phố nói chung Do đó, hoạt động kinh doanhhàng rong phải phù hợp với những đặc tính cơ bản của hoạt động bán hàng rong vàquản lý đô thị, đường phố nói chung, tránh sự mâu thuẫn, chồng chéo
Hoạt động quản lý kinh doanh hàng rong phải đảm bảo tính thường xuyên.Bản chất của kinh doanh hàng rong thường mang tính tự phát và có khả năng dichuyển liên tục, do đó, để đưa các quy định quản lý đối với kinh doanh hàng rongvào nề nếp cần được các cơ quan chức năng thực hiện công tác quản lý một cáchthường xuyên, tránh hiện tượng làm nhất thời
Trang 36Hoạt động quản lý kinh doanh hàng rong phải phù hợp với đặc thù của từngđịa phương hành chính nơi hoạt động bán hàng rong diễn ra Cụ thể cần lưu tâm đếnnhững đặc điểm về văn hoá, tâm lý, điều kiện địa lý tự nhiên và mật độ dân cư.
Thứ ba, những yêu cầu quản lý nhà nước đối với kinh doanh hàng rong.
Đảm bảo các nguyên tắc chung tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đô thị.Kinh doanh hàng rong có ảnh hưởng tới nhiều mặt của đô thị, từ kinh tế; dân số, laođộng và việc làm; mỹ quan và môi trường đô thị cho tới văn hóa và an ninh, trật tự
an toàn xã hội đô thị Do đó hoạt động quản lý kinh doanh hàng rong phải xét đốitượng quản lý trong mối quan hệ tới những lĩnh vực khác
Trong thực tế, quản lý kinh doanh hàng rong không thể do một cơ quan thựchiện riêng lẻ, mà đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều cơ quan, ban ngành Do vậy, cần cónhững quy định cụ thể về cơ chế phối hợp thực hiện giữa các cơ quan, ban ngành đểđảm bảo công tác quản lý hiệu quả
Cần có phương án xây dựng đội ngũ quản lý kinh doanh hàng rong cụ thể Cán
bộ quản lý có thể không chuyên trách về quản lý kinh doanh hàng rong, nhưng phải
có những quy định cụ thể về công việc, quyền hạn, trách nhiệm quản lý Việc tổchức quản lý, ban hành các văn bản quy định, điều chỉnh công tác quản lý phải dựatrên cơ sở đặc điểm hoạt động kinh doanh hàng rong trên địa bàn quản lý Công tácquản lý cần linh hoạt, tránh rập khuôn máy móc, không phù hợp với điều kiện, hoàncảnh thực tế của địa phương Công tác quản lý phải đi cùng với công tác tuyêntruyền, giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức của người dân
1.4 Kinh nghiệm quản lý kinh doanh hàng rong tại một số quốc gia
1.4.1 Quản lý người bán hàng rong tại Bangkok (Thái Lan)
Tại Bangkok, người bán hàng rong phải đăng ký với Cơ quản quản lý đô thị Bangkok (Bangkok Metropolitan Administration – BMA) để thực hiện các hoạt
Trang 37động bán hàng trên đường phố một cách hợp pháp.23 Những người bán hàng rong
đã đăng ký phải nộp một khoản phí hàng tháng cho BMA để làm sạch và bảo trì cácđường phố (300 Baht/tháng/1m2 tương đương 200.000 đồng).24 BMA được ủyquyền chỉ định các khu vực chung cho người bán hàng rong để thực hiện hoạt độngbán hàng của họ sau khi tham khảo ý kiến với đội cảnh sát giao thông địa phương.Tại Bangkok, có hàng trăm khu vực bán hàng rong trên khắp 50 quận của thànhphố Tuy nhiên, nhiều người bán hàng rong vẫn hoạt động trong các khu vực côngcộng không được phép Để quản lý, BMA đã thông báo tăng cường hành độngcưỡng chế đối với những người bán hàng rong trái phép, đặc biệt là những ngườibán hàng tại bến xe buýt, đường băng và cầu vượt dành cho người đi bộ
Trong phạm vi được ủy quyền, BMA chỉ định giờ hoạt động kinh doanh bánhàng rong Các giờ giao dịch khác nhau tại các khu vực khác nhau Ở nhiều khuvực, chỉ được phép bán hàng trên đường phố sau giờ cao điểm Người bán hàngrong chỉ có thể hoạt động ở các khu vực được chỉ định Một số hoạt động bán hàngdọc theo đường phố, trong khi một số khác hoạt động trên trên một vùng đất trốnghoặc trong một khu phức hợp Những khu vực được chỉ định này hình thành chợ donhà nước quản lý Ở Bangkok, mua sắm ở chợ rất phổ biến giữa người dân địaphương và du khách nước ngoài Nhiều chợ đã phát triển thành những điểm muasắm nổi tiếng như chợ Bo Bae, chợ đêm Khaosan Road, chợ cuối tuần Chatuchak
và chợ Bon Marche.25
23 “Announcement of the Bangkok Metropolitan Administration”,
administration-bma-
https://www.bangkokpost.com/thailand/pr/1887005/announcement-of-the-bangkok-metropolitan-24 Chonticha Tangworamongkon, Street Vending in Bangkok: Legal and Policy Frameworks, Livelihood Challenges and Collective Responses, WIEGO LAW & INFORMALITY PROJECT,
2014, tr 35.
25 Chonticha Tangworamongkon, Street Vending in Bangkok: Legal and Policy Frameworks, Livelihood Challenges and Collective Responses, WIEGO LAW & INFORMALITY PROJECT,
2014, tr 40.
Trang 381.4.2 Quản lý kinh doanh hàng rong tại Singapore
Quản lý người bán hàng rong tại Singapore theo Luật Sức khoẻ Môi trườngCộng đồng (Environmental Public Health Act 1987), người bán hàng rong hoạtđộng ở bất kỳ đâu (đường phố, chợ, trung tâm ẩm thực, …) và những người bánhàng rong ruổi đi bán hàng từ nơi này đến nơi khác để thực hiện các hoạt động buônbán bắt buộc phải có giấy phép Giấy phép kinh doanh do NEA (NationalEnvironment Agency - NEA) cấp.26
Tại Singapore, bất kỳ người nào hoạt động như người bán hàng rong màkhông có giấy phép của NEA là vi phạm pháp luật Theo Mục 41A của Luật Sứckhoẻ Môi trường Cộng đồng, bất kỳ người nào bị phát hiện phạm tội sẽ bị phạt tới5.000 đô la Singapore (hơn 82 triệu đồng) Vi phạm lần thứ hai hoặc tiếp theo sẽ bịphạt tiền không vượt quá 10.000 đô la Singapore (164 triệu đồng) hoặc phạt tùkhông quá ba tháng, hoặc cả hai NEA có nhiệm vụ quy định và quản lý các trungtâm bán lẻ (hawker center)
Phòng quản lý hàng rong của NEA chịu trách nhiệm xây dựng, thực hiện vàquản lý chính sách cho người bán hàng rong, bao gồm quản lý thuê và nâng cấp cáctrung tâm bán hàng Mỗi trung tâm bán lẻ có một hiệp hội bao gồm đại diện củangười bán hàng rong NEA duy trì đối thoại thường xuyên với các hiệp hội để giảiquyết các vấn đề liên quan đến trung tâm của họ
1.4.3 Kinh nghiệm quản lý người bán hàng rong ở Đài Loan, Hồng Kong (Trung Quốc)
Chính sách hàng rong ở thành phố Đài Bắc được điều chỉnh bởi Quy địnhquản trị hàng rong tại thành phố Đài Bắc (Regulations Governing Hawkers in
26 Xem toàn văn của Environmental Public Health Act 1987 tại
https://sso.agc.gov.sg/Act/EPHA1987
Trang 39Taipei City).27 Văn bản này quy định quy trình cấp phép cho người bán hàng rong
và các điều kiện để thu hồi giấy phép, các cơ quan thực thi và thành lập các hiệp hộibán buôn ở các khu vực tạm thời cho hàng rong để tạo điều kiện và tập trung việcquản lý người bán hàng rong Chính quyền Thành phố Đài Bắc nhận thấy rằngkhông thể xoá bỏ hàng rong mà thay vào đó, hàng rong phải được quản lý Điều nàyphụ thuộc rất nhiều vào các hiệp hội buôn bán hàng rong
Chính quyền thành phố giao việc quản lý hàng rong cho các hiệp hội vì vậykhông cần phải đối phó với mỗi người bán hàng rong Đối với các biện pháp trunghạn và dài hạn, báo cáo năm 2011 đề nghị chính quyền thành phố Đài Bắc phân bổlại các quầy hàng trong các khu vực tập trung tạm thời cho những người bán hàngrong không có giấy phép Ngoài ra, cần trao quyền cho các hiệp hội tự quản và tựquản lý thông qua pháp luật để các hiệp hội này có thể thực hiện hiệu quả các chứcnăng giám sát và kiểm soát giữa các thành viên.28
Đối với HongKong, từ đầu những năm 1970 chính quyền cấp phép mới chongười bán hàng rong và người bán hàng rong được cấp phép phải được đưa vào cácchợ hàng rong hoặc các chợ công cộng Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy việc sắpxếp lại những người bán hàng trên đường phố vào các chợ không phải lúc nào cũngthành công Chẳng hạn, có rất nhiều khó khăn trong việc tìm ra các vị trí thích hợp,
đủ rộng để chứa tất cả những người bán hàng rong trên đường phố Do đó, chínhquyền đã thông qua một cách tiếp cận thực tế hơn để giải quyết những lo ngại này.Trường hợp đường phố có hàng rong, tình hình phải được kiểm soát và dần dầnđược cải thiện bằng cách điều chỉnh và hợp pháp hóa một số người bán hàng rong
và cho phép họ hoạt động với các mức phân bổ thích hợp Với chính sách trên cùng
27 Xem toàn văn của Regulations Governing Hawkers in Taipei City tại
Trang 40với các hoạt động cưỡng chế hàng rong trái phép, mức độ tăng hàng rong đã đượckiểm soát toàn bộ Mặt khác, thay đổi thói quen mua sắm của dân số và sự cạnhtranh ngày càng tăng từ nhiều cửa hàng bán lẻ đã dẫn đến việc giảm dần số lượngngười bán hàng rong có giấy phép hành nghề Người chủ sở hữu giấy phép bánhàng rong sẽ phải đến quầy hàng của họ một cách trực tiếp khi quầy hàng của họđang hoạt động Những người được cấp giấy phép có thể sử dụng trợ lý để giúp họvận hành quầy hàng và nên đăng ký với cơ quan quản lý Mặt khác, nếu người đượccấp phép phải vắng mặt trong một khoảng thời gian vì bệnh tật hoặc đi ra ngoàiHong Kong, họ có thể nộp đơn để chỉ định một người phó để vận hành gian hàngtrong thời gian vắng mặt.29
Nhìn chung, các thành phố đều công nhận sự tồn tại của hàng rong như mộtphần của thành phố Vấn đề quan trọng là làm sao để các hoạt động này diễn rađúng luật và quy định của nhà nước Các giải pháp chung về hàng rong TP.HCM cóthể học hỏi bao gồm:
- Cấp giấy phép cho người bán hàng rong
- Quy hoạch các khu vực bán hàng rong
- Xây dựng các chợ/trung tâm bán hàng rong
- Quy định thời gian hoạt động của hàng rong trên đường phố hoặc trong các khu vực chỉ định
- Xác định chỉ tiêu diện tích cho quầy hàng rong
- Kiểm soát, tập huấn về vệ sinh môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng cháy chữa cháy
29 “Regulatory department of street food vending in Hong Kong”,
http://sh-streetfood.org/regulatory-department-of-street-food-vending-in-hong-kong/