Trong khi đó, các văn bản pháp luật quy định về việc xử lý trách nhiệm pháp lý của các PNTM vi phạm các quy định về ATGTĐB, đặc biệt là Luật An toàn giao thông 2008, Luật Xử lý vi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHẠM VĂN ĐẠT
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI KHI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ninh Thuận, tháng 8 năm 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHẠM VĂN ĐẠT
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI KHI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã ngành: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS VÕ TRÍ HẢO
Ninh Thuận, tháng 8 năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài“Trách nhiệm pháp lý của pháp nhân thương mại khi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận”là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong
bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này Số liệu và tài liệu tham khảo trong luận văn được trích dẫn và có nguồn gốc rõ ràng
Ninh Thuận, ngày 22 tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn
Phạm Văn Đạt
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ
TÓM TẮT
ABSTRACT
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3.1 Mục đích nghiên cứu 5
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu: 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu: 6
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI 8
1.1 Khái luận Vi phạm pháp luật và Trách nhiệm pháp lý 8
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm Vi phạm pháp luật: 8
1.1.2 Cấu thành của vi phạm pháp luật: 10
1.1.3 Phân loại vi phạm pháp luật: 12
1.1.4 Khái luận về Trách nhiệm pháp lý 12
1.1.5 Phân loại trách nhiệm pháp lý: 15
1.2 Khái luận về trách nhiệm pháp lý của pháp nhân thương mại 16
Trang 51.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp nhân thương mại 16 1.2.2 Khái luận trách nhiệm pháp lý của pháp nhân thương mại: 17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35 CHƯƠNG 2 TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI
VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN 36 2.1 Đặc điểm, tình hình vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn từ năm 2016 - 2019 36 2.2 Thực tiễn xử phạt hành chính đối với pháp nhân thương mại trong lĩnh vực giao thông vận tải vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận 38
2.2.1 Cơ sở pháp lý xử phạt hành chính đối với pháp nhân thương mại vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ 38 2.2.2 Thẩm quyền xử phạt hành chính của Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Thuận đối với trường hợp pháp nhân thương mại hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ 39 2.2.3 Trình tự, thủ tục xử lý vi phạm hành chính đối với pháp nhân thương mại hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ vi phạm quy các quy định về trật tự
an toàn giao thông đường bộ 41 2.2.4 Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xử phạt hành chính đối với pháp nhân thương mại vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông tại Ninh Thuận 46
2.3 Thực tiễn xử lý trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông tại tỉnh Ninh Thuận 50
2.3.1 Thực tiễn xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông tại tỉnh Ninh Thuận: 50 2.3.2 Thực tiễn xử lý trách nhiệm dân sự của pháp nhân thương mại vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông tại tỉnh Ninh Thuận 51
2.4 Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc 53
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI 56
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của pháp nhân thương mại hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ 56
3.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại nói chung và xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ 56
3.2.1 Xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại nói chung: 57
3.2.2 Xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ 59
3.3 Hoàn thiện các quy định pháp luật về xử lý trách nhiệm dân sự của pháp nhân thương mại hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông 59
3.4 Hoàn thiện các quy định pháp luật về xử phạt hành chính đối với pháp nhân thương mại hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông 60
3.4.1 Hoàn thiện một số quy định pháp luật về trình tự, thủ tục xử phạt hành chính 60
3.4.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về mức xử phạt tiền 63
3.4.3 Các giải pháp khác 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 69
KẾT LUẬN CHUNG 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATGTĐB An toàn giao thông đường bộ
Trang 8Bảng 03: Kết quả khởi tố vụ án hình sự:
Biểu đồ 01: Thiệt hại do các vụ việc va chạm, tai nạn giao thông
Biểu đồ 02: Tổng số vụ vi phạm trật tự an toàn giao thông bị phát hiện và xử lý Biểu đồ 03: Phân loại phương tiện vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ
Trang 9TÓM TẮT
Qua thực tiễn nghiên cứu Trách nhiệm pháp lý của pháp nhân thương mại hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ Tác giả nhận thấy các văn bản pháp luật quy định về việc xử lý các pháp nhân thương mại vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộcòn một số điểm hạn chế, chưa được quy định rõ ràng và mức chế tài chưa phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm Thông qua phương pháp phân tích luật; cùng với các phương pháp thống kê, điều tra, tổng hợp; Tác giả sẽ làm sáng tỏ những điểm chưa hoàn thiện của pháp luật xử lý các pháp nhân thương mại vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ hiện hành Với đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật, tác giả Luận văn hy vọng nếu được áp dụng đồng bộ
sẽ nâng cao hiệu quả xử lý các pháp nhân thương mại vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ trên phạm vi cả nước
Từ khóa: Pháp nhân thương mại; An toàn giao thông; Xử lý vi phạm tại Ninh Thuận
Trang 10ABSTRACT
Through practical researches about The legal responsibility of commercial entities operating in the field of road traffic violates the regulations on road traffic safety The author found that the legal documents regulating the handling of commercial legal entities violating the regulations on road traffic safety still have not complete, the level of sanctions has not yet been consistented with severity of the violations By the method of law analysis; combined with statistical, investigative and aggregated methods The author will clarify the incomplete points of the law on handling legal entities violating the regulations on road traffic safety current With the proposal of amending and supplementing legal regulations, the author hopes that if applied synchronously, it will improve the effectiveness of dealing with commercial legal entities violating regulations on road traffic safety in
Vietnam
Key words: Commercial legal entity; Traffic safety; Handling violations
in Ninh Thuan
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, thực trạng vi phạm các quy định về ATGTĐB là một vấn đề nhận được sự quan tâm và quan ngại sâu sắc của toàn xã hội Thiệt hại vi phạm các quy định về ATGTĐB gây ra không chỉ thể hiện ở vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề tính mạng của con người và là một trong rất nhiều nguyên nhân cản trở sự phát triển của đất nước Do đó, bảo đảm trật tự an toàn giao thông có ý nghĩa chính trị - xã hội quan trọng, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, toàn xã hội
Xuất phát từ thực tiễn đó, ngày 24/10/2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược quốc gia bảo đảm trật tự, ATGTĐB đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, khẳng định việc thực hiện chiến lược ATGTĐB nhằm thiết lập và duy trì trật tự xã hội trong lĩnh vực giao thông vận tải nhằm bảo đảm an toàn cho người, phương tiện khi tham gia giao thông; bảo đảm hệ thống giao thông vận tải hoạt động thông suốt phục vụ mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, hội nhập kinh tế quốc tế Cụ thể hóa chiến lược này, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp tích cực để giảm thiểu các hành vi vi phạm các quy định về ATGTĐB Trong các giải pháp đó, việc hoàn thiện các quy định về trách nhiệm pháp lý của các chủ thể vi phạm các quy định về ATGTĐB là một trong những giải pháp cơ bản và quan trọng, tạo hành lang pháp lý để Nhà nước xử lý các hành vi VPPL một cách chính xác, kịp thời và triệt để
Bên cạnh đó, trách nhiệm hình sự của PNTM lần đầu tiên được quy định vào
Bộ luật Hình sự 2015 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Với chế định này, PNTM phải chịu trách nhiệm pháp lý ở mức độ cao nhất khi thực hiện các hành vi VPPL Đây chính là công cụ pháp lý sắc bén và hữu hiệu và có ý nghĩa trong hoạt động đấu tranh phòng, chống các hành vi VPPL của pháp nhân thương mại
Với mục tiêu phát triển hệ thống giao thông ngày càng đồng bộ, hiện đại, phục vụ tốt sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tỉnh Ninh Thuận những năm gần đây có những sự chuyển
Trang 12biến mạnh mẽ Hiện nay hệ thống giao thông đường bộ của tỉnh Ninh Thuận không ngừng được nâng cấp, mở rộng với tổng chiều dài hơn 1.200 km, bao gồm Quốc lộ 1A, Quốc lộ 27A, Quốc lộ 27B nối với các tỉnh Khánh Hòa, Lâm Đồng, Bình Thuận cùng hệ thống các tuyến đường liên huyện, liên xã Cùng với đó là sự gia tăng nhanh chóng cả về số lượng và quy mô của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ làm cho tình hình vi phạm các quy định về ATGTĐB trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận ngày càng phức tạp
Trong khi đó, các văn bản pháp luật quy định về việc xử lý trách nhiệm pháp lý của các PNTM vi phạm các quy định về ATGTĐB, đặc biệt là Luật An toàn giao thông 2008, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và mới đây là Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ còn một số điểm hạn chế, chưa được quy định rõ ràng và mức chế tài chưa phù hợp với tính chất, mức độ của hành
vi VPPL khiến cho Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Thuận gặp nhiều khó khăn khi đảm bảo ATGTĐB và xử lý các trường hợp các PNTM vi phạm quy định về ATGTĐB
Với những đặc điểm trên, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về trách nhiệm pháp lý của PNTM nói chung và PNTM hoạt động trong lĩnh vực giao thông vận tải vi phạm các quy định về ATGTĐB và thực tiễn áp dụng pháp luật tại tỉnh Ninh Thuận là cần thiết và thiết thực, từ đó chỉ ra những tồn tại, vướng mắc, bất cập và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Ninh Thuận khi xử lý trách nhiệm pháp lý của các PNTM
vi phạm quy định về ATGTĐB là một vấn đề có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn
Trong bối cảnh như vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Trách nhiệm pháp lý của
pháp nhân thương mại hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ khi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận” để làm luận văn thạc sĩ luật chuyên ngành Luật Kinh tế
Việc lựa chọn đề tài nêu trên để làm luận văn thạc sĩ luật học là không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố
Trang 132 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay có một số đề tài nghiên cứu liên quan về trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong lĩnh vực giao thông đường bộ, cụ thể như sau:
Về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, năm 2010,
tác giả Vũ Thanh Nhàn,với Luận văn Thạc sĩ đã nghiên cứu đề tài“Pháp luật về xử
lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ hiện nay – Một số vấn đề
lí luận, thực tiễn và phương hướng hoàn thiện”.Luận văn đã bước đầu xây dựng
được khái niệm pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, làm sáng tỏ những nội dung có liên quan để xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu lí luận, thực trạng pháp luật xử lí VPHC hiện nay, luận văn đã đề xuất được phương hướng và một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Văn Minh, năm 2012, với Luận văn Thạc sĩ đã nghiên cứu
đề tài“Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”, thông qua các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là nguồn tài
liệu tham khảocho các cơ quan QLNN về GTĐB, cơ quan nghiên cứu, giảng dạy, làm tàiliệu tập huấn, phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật về GTĐB cho cán bộ,công chức có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về GTĐB.Một số kiến nghị, giải pháp của đề tài có giá trị tham khảo đối với cáccơ quan nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện phápluật về GTĐB
Tác giả Trần Sơn Hà, năm 2016, thực hiện Luận án Tiến sĩ với đề tài“Quản
lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đừng bộ ở Việt Nam hiện nay”, Tác giả
đã xây dựng cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường
bộ ở Việt Nam thông qua việc luận giải làm rõ: khái niệm, đặcđiểm, nội dung, vai trò và các điều kiện đảm bảo quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước về trật tự,an toàn giao thông đường
bộ của một số nước để rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam Thông qua phân tích thực trạng và mức độ ảnh hưởng của quản lý nhà nước về trật tự, an toàn
Trang 14giao thông đường bộ ở Việt Nam để đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân trong quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ ở Việt Nam Từ đó đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, bảo đảm cơ sở khoa học, có tính toàn diện và hệ thống nhằm góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ ở Việt Nam trong thời gian tới.
Tác giả Đinh Phan Quỳnh, năm 2018, thực hiện Luận án Tiến sĩ với đề tài
“Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay” Tác giả đã nghiên cứu tổng quan, phân tích các quan điểm về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, trên cơ sở đó luận án xây dựng khái niệm xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB Đồng thời đã chỉ ra các đặc điểm, vai trò cũng như nguyên tắc của xử lý VPHC trong GTĐB Luận án xác định những yếu tố ảnh hưởng tới xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở phân tích một cách toàn điện về thực trạng pháp luật xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng như thực trạng hoạt động xử lý VPHC trong lĩnh vực này luận án đưa ra những đánh giá về những kết quả đã đạt được cũng như những tồn tại, yếu kém và nguyên nhân của những tồn tại đề từ đó rút ra những kết luận khoa học về vấn đề này
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu nói trên nhìn chung chỉ đề cập tới tổng quanxử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ hiện nay Vì thế vẫn chưa có công trình khoa học nào xem xét đến khía cạnh pháp nhân thương mại
vi phạm pháp luật về an toàn GTĐB tại các địa phương, trong đó có địa bàn tỉnh
Ninh Thuận, do đó có thể nói đề tài “Trách nhiệm pháp lý của pháp nhân thương
mại hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ khi vi phạm các quy định về
an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận” là luận văn thạc sĩ
đầu tiên nghiên cứu vềtrách nhiệm pháp lý của pháp nhân thương mại hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ
Trang 153 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá về mặt lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn việc áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với PNTM nói chung và đặc biệt là PNTM hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ vi phạm các quy định về ATGTĐB, trên cơ sở đó tìm ra những vướng mắc, bất cập để đề xuất những giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật hiện hành đối với pháp nhân thương mại
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, tác giả đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Phân tích, làm rõ các vấn đề mang tính lý luận về trách nhiệm pháp lý chung của PNTM và các vấn đề lý luận về trách nhiệm PNTM hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ vi phạm các quy định về ATGTĐB thông qua thực tiễn của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Thuận
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật để xử lý trách nhiệm pháp lý của PNTM hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ vi phạm các quy định
về ATGTĐB để chỉ ra những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc đó
- Đề ra phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Thuận khi xử lý trách nhiệm pháp lý của PNTM hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ vi phạm các quy định về ATGTĐB
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý của PNTM hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ vi phạm các quy định về trật tự ATGTĐB thông qua các biện pháp nghiên cứu, thống kê, phân tích những hạn chế, bất cập thường gặp trong thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, từ đó đề xuất
Trang 16những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Thuận
Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn và điều kiện quan sát, nghiên cứu từ thực tiễn, Tác giả tập trung phân tích các vấn đề lý luận về trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự và tập trung phân tích, đánh giá thực tiễn
áp dụng các quy định pháp luật khi xử lý trách nhiệm hành chính của PNTM hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ vi phạm quy định về trật tự ATGTĐB
Đối với thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật xử lý trách nhiệm dân sự của PNTM , tác giả chỉ tập trung phân tích, đánh giá việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi vi phạm trật tự ATGTĐB của PNTM hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ gây ra
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Theo thời gian: Từ năm 2016 đến năm 2019
Theo không gian: Địa bàn tỉnh Ninh Thuận
5 Câu hỏi nghiên cứu:
Pháp luật về pháp nhân thương mại hoạt động trong lĩnh vực giao thông
đường bộ khi vi phạm các quy định về ATGTĐB được quy định như thế nào?
Thực tiễn thực thi Trách nhiệm pháp lý của PNTM hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ khi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận hiện nay có bất cập gì?
Câu hỏi 3: Cần có những giải pháp nào để hoàn thiện pháp luật về Trách nhiệm pháp lý của PNTM hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ khi vi phạm các quy định về ATGTĐB trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận trong thời gian tới
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong chương 1 tác giả sẽ sử dụng các phương pháp: Phương pháp nghiên cứu tài liệu; Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, quy nạp, diễn giải; để làm
rõ cơ sở pháp lý về pháp nhân thương mại và vi phạm pháp luật về an toàn giao thông đường bộ
Trang 17Trong chương 2 tác giả sẽ sử dụng các phương pháp:Phương pháp định tính
và định lượng; Phương pháp thống kê toán học, để xác định và thống kê các tình huống vi phạm
Trong chương 3 tác giả sẽ sử dụng các phương pháp: Phương pháp tìm lỗi; Phương pháp lựa chọngiải pháp thông qua so sánh hiệu quả, để lựa chọn và đề ra các giải pháp
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần bổ sung và làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận về trách nhiệm pháp lý của PNTM nói chung và PNTM hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộvi phạm các quy định về giao thông đường bộ;
- Luận văn góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật của lực lượng Cảnh sát giao thông đối với các trường hợp PNTM vi phạm các quy định về giao thông đường bộ;
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện và hướng dẫn thi hành thống nhất các văn bản pháp luật hiện hành đáp ứng yêu cầu phòng ngừa VPPL, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm phạm
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1 Khái luận về trách nhiệm pháp lý của pháp nhân thương mại; Chương 2.Trách nhiệm pháp lý của pháp nhân thương mại hoạt động trong
lĩnh vực giao thông đường bộvi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận từ thực tiễn của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Thuận
Chương 3 Định hướng, các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực
hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý đối với pháp nhân thương mạihoạt động trong lĩnh vực giao thông đường bộ vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ
Trang 18CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI
1.1 Khái luận Vi phạm pháp luật và Trách nhiệm pháp lý
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm Vi phạm pháp luật:
VPPLlà một hiện tượng phổ biến trong xã hội khi các chủ thể có những hành
vi vi phạm các nguyên tắc xử sử xự chung đã được xã hội thừa nhận, được Nhà nước ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật Hiện nay, các văn bản pháp luật không trực tiếp đưa ra khái niệm, định nghĩa về “vi phạm pháp luật” mà chỉ mô tả thông qua các quy phạm pháp luật cụ thể để chỉ ra hành vi nào là “vi phạm pháp luật”
Các hành vi “Kinh doanh vận tải bằng xe ô tô khi không đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh theo quy định”1, hành vi “Khi có điều kiện mà cố ý không cứu giúp người bị tai nạn giao thông”2 là VPPL theo Luật Giao thông đường bộ 2008; hành
vi của“Người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng rõ ràng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật gây thiệt hại cho người khác” 3 , hành vi của“Người có thẩm quyền mà biết rõ người không có giấy phép lái xe, không đủ sức khỏe, độ tuổi để điều khiển phương tiện hoặc người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật mà vẫn điều động người đó điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác” 4, là các VPPL được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015
Từ các ví dụ về VPPL nói trên, tác giả đồng tình với quan điểm của tập thể
tác giả trường Đại học luật Hà Nội về khái niệm “Vi phạm pháp luật” là “hành vi
1 Khoản 16 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ 2008
2 Khoản 18 Điều 6 Luật Giao thông đường bộ 2008
3 Điều 262 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
4 Điều 263 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Trang 19trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ” 5
Căn cứ khái niệm trên, VPPL có các đặc điểm pháp lý cơ bản sau đây:
Thứ nhất, VPPL phải là hành vi xác định được trên thực tế, bao gồm hành vi
hành động và hành vi không hành động của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện Nếu không xác định được hành vi thực tế thì cũng không có cơ sở để xác định hành vi đó là VPPL
Thứ hai, VPPL phải là các hành vi trái pháp luật, vượt quá giới hạn pháp
luật cho phép hoặc những hành vi bị pháp luật cấm và xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Điều này đồng nghĩa với việc các hành vi gây thiệt hại, gây nguy hiểm cho chủ thể khác và cho xã hội nhưng pháp luật không quy định là VPPL thì hành vi đó không được xem là VPPL
Thứ ba, VPPL phải là hành vi có lỗi, chủ thể thực hiện hành vi phải nhận
thức được hành vi của mình là trái pháp luật, phải nhận thức được hậu quả của hành
vi đó và phải có khả năng điều khiển được hành vi của mình “Lỗi” là yếu tố chủ quan của chủ thể, thể hiện quan điểm, thái độ và mong muốn của chủ thể đối với hành vi của mình Do đó nếu chủ thể thực hiện một hành vi có tính chất trái pháp luật nhưng không nhận thức được hành vi, không nhận thức được hậu quả, nhận thức được hậu quả nhưng không có khả năng điều khiển hành vi của mình hoặc thực hiện hành vi trong điều kiện bất khả kháng thì hành vi đó không được xem là
có lỗi
Thứ tư, VPPL phải là hành vi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý
thực hiện, nếu chủ thể có hành vi trái pháp luật nhưng không có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý thì không bị coi là VPPL Năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể
do pháp luật quy định Nếu pháp luật quy định chủ thể không phải chịu trách nhiệm
về hành vi của mình thì hành vi của chủ thể đó nếu vi phạm các quy định của pháp luật, gây thiệt hại cho các chủ thể khác hoặc cho xã hội thì vẫn được xem là không VPPL
5 Trường Đại học Luật Hà Nội, “Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật”, 2017, NXB Công an nhân dân;
Trang 201.1.2 Cấu thành của vi phạm pháp luật:
Cấu thành của VPPL là những dấu hiệu đặc trưng của một VPPL, gồm 4 yếu
tố cấu thành là: Mặt khách quan, Mặt chủ quan, Chủ thể và Khách thể của VPPL Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, phải xem xét đủ 04 yếu tố này để đánh giá một hành vi có VPPL hay không
* Mặt khách quan của vi phạm pháp luật
Là những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài của VPPL, bao gồm Hành vi trái pháp luật, Hậu quả nguy hiểm cho xã hội và Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả nguy hiểm cho xã hội
- Hành vi trái pháp luật: Là hành vi trái với các quy định của pháp luật gây
ra hoặc đe doạ gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội hoặc các chủ thể khác Hành vi này phải được xác định theo thời gian, địa điểm thực hiện hành vi và phương tiện, cách thức mà chủ thể sử dụng để thực hiện hành vi đó
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: Là những thiệt hại về tính mạng, tài sản
hoặc những thiệt hại phi vật chất khác do hành vi trái pháp luật gây ra hoặc có nguy
cơ gây ra thiệt hại cho chủ thế khác hoặc cho xã hội Những thiệt hại này càng lớn thì hành vi VPPL đó càng nghiêm trọng
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả nguy hiểm cho xã hội: Hành vi trái pháp luật và hậu quả nguy hiểm cho xã hội có mối liên hệ
nhân quả và biện chứng với nhau Hành vi trái pháp luật phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội và hậu quả phải là kết quả tất yếu của hành vi đó mà không phải là do nguyên nhân khác
Khi xem xét mặt khách quan của VPPL, hành vi trái pháp luật là yếu tố bắt buộc phải được xác định trong cấu thành của mọi VPPL, các yếu tố còn lại được xác định tùy theo từng trường hợp cụ thể
* Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
Là các dấu hiệu của chủ thể VPPL, bao gồm các yếu tố Lỗi, Động cơ VPPL
và Mục đích VPPL
Trang 21- Lỗi là trạng thái tâm lý, là thái độ và mong muốn của chủ thể đối với hành
vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra, được thể hiện dưới các hình thức: Lỗi
cố ý trực tiếp, Lỗi cố ý gián tiếp, Lỗi cố ý vì quá tự tin và Lỗi vô ý vì cẩu thả
+ Lỗi cố ý trực tiếp là chủ thể đã nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp
luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra
+ Lỗi cố ý gián tiếp là chủ thể đã nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp
luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn nhưng để mặc cho hậu quả đó xảy ra
+ Lỗi vô ý vì cẩu thả là chủ thể đã gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng
do cẩu thả nên không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả đó, mặc dù
có thể thấy trước và phải thấy trước hậu quả này
+ Lỗi vô ý vì quá tự tin là chủ thể tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây
ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội song tin chắc rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa hậu quả xảy ra
- Động cơ vi phạm pháp luậtlà nguyên nhânchủ thể thực hiện hành vi trái
pháp luật
- Mục đích vi phạm pháp luật là kết quả mà chủ thể mong muốn đạt được khi
thực hiện hành vi trái pháp luật Mục đích VPPL là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá mức độ và tính chất nguy hiểm của hành vi Trong thực tế áp dụng pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự, việc xác định được mục đích VPPL và kết quả thực tế là căn cứ để định danh hành vi của chủ thể VPPL, có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng
* Chủ thể của vi phạm pháp luật
Là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý đã thực hiện hành vi trái pháp luật Căn cứ từng VPPL cụ thể, chủ thể VPPL có thể là cá nhân, PNTM , pháp nhân phi thương mại và các tổ chức kinh tế, xã hội khác Trách nhiệm pháp lý của các chủ thể khác nhau là không giống nhau và phụ thuộc vào quy định pháp luật cụ thể
* Khách thể của vi phạm pháp luật
Trang 22Là quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi trái pháp luật xâm hại, tác động tới Những quan hệ xã hội khác nhau có tính chất và tầm quan trọng khác nhau, do đó VPPL xâm hại, tác động tới quan hệ xã hội quan trọng hơn sẽ được đánh giá là có mức độ nguy hiểm cao hơn
1.1.3 Phân loại vi phạm pháp luật:
* Vi phạm pháp luật hình sự là hành vi trái pháp luật được quy định trong
Bộ luật Hình sự và được gọi là “Tội phạm”, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự hoặc PNTM có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
“xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn
xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” mà theo quy định phải bị xử lý hình sự Những hành vi có dấu hiệu của tội
phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.6
* Vi phạm pháp luật hành chính là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể
có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện, xâm phạm đến các quy định pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính7
* Vi phạm pháp luật dân sự là hành vi trái pháp luật, có lỗi do các chủ thể
có năng lực trách nhiệm dân sự thực hiện, xâm hại tới các quan hệ tài sản và các
quan hệ nhân thân có liên quan tới tài sản, quan hệ phi tài sản
1.1.4 Khái luận về Trách nhiệm pháp lý
Các quy phạm pháp luật đã được Nhà nước công nhận và bảo đảm thi hành thì bắt buộc các chủ thể phải tuân thủ và thực hiện một cách tuyệt đối Chủ thể chỉ được thực hiện các giải pháp phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mà quy phạm pháp luật đã quy định Trong khả năng thực hiện hành vi của mình, các chủ thể bắt buộc
6 Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
7 Khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
Trang 23phải ý thức được giới hạn, phạm vi thực hiện hành vi và phải nhận thức được hậu quả hành vi đó gây ra cho xã hội và các chủ thể khác Nếu chủ thể thực hiện hành vi trái với các quy phạm pháp luật thì phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình tương xứng với mức độ và hậu quả đã gây ra Bên cạnh đó, pháp luật chỉ đặt ra trách nhiệm pháp lý chỉ đối với một hành vi VPPL do chủ thể có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện và chỉ được áp dụng đối với chủ thể đã thực hiện hành vi
đó
Trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với các quy phạm pháp luật khác về chủ thể có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm pháp lý, cùng với đó là trình tự, thủ tục bắt buộc phải tuân thủ khi tiến hành xác định, truy cứu trách nhiệm pháp lý cũng như
áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với chủ thể phải chịu trách nhiệm
Về mặt ý nghĩa, trách pháp lý chính là hậu quả bất lợi mà Nhà nước buộc chủ thể VPPL phải gánh chịu tương xứng với mức độ thiệt hại và quan hệ pháp luật mà chủ thể thực hiện hành vi VPPL tác động tới, đồng thời trách nhiệm pháp lý cũng chính là nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thiệt hại do hành vi VPPL gây ra
Với những ý nghĩa như vậy, chế định trách nhiệm pháp lý là một biểu hiện đặc thủ của tính cưỡng chế của pháp luật, do đó việc đưa ra khái niệm tổng quan về
“trách nhiệm pháp lý” là cần thiết trong thực tiễn nghiên cứu và áp dụng pháp luật
Từ góc nhìn, cách tiếp cận và các diễn luận khác nhau, có nhiều tác giả và nhóm tác
đã đã đưa ra những quan điểm khác nhau về khái niệm “Trách nhiệm pháp lý”
Theo GS.TS Lê Minh Tâm và tập thể tác giả của Đại học Luật Hà Nội,
“Trách nhiệm pháp lýlà sự bắt buộc chủ thể VPPL phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi, thể hiện ở mỗi quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước với chủ thể vi phạm pháp luật, được pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể VPPL bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế theo luật định”8
8 Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, 2015, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân;
Trang 24Theo TS.Nguyễn Cửu Việt và tập thể tác giả của Khoa Luật - Đại học Quốc
gia Hà Nội, “Trách nhiệm pháp lý là sự phản ứng tiêu cực của Nhà nước đối với các chủ thể thực hiện vi phạm pháp luật Sự phản ứng đó thể hiện ở việc áp dụng đối với các chủ thể thực hiện VPPL các biện pháp mang tính chất trừng phạt hoặc khôi phục lại những quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, gây cho chủ thể VPPL những thiệt hại nhất định về vật chất hoặc tinh thần Do đó, trách nhiệm pháp lý thể hiện sự đánh giá xấu và sự lên án của Nhà nước và xã hội đối với hành vi VPPL và chủ thể thực hiện hành vi đó”9
Tuy có sự khác biệt nhất định giữa khái niệm về “Trách nhiệm pháp lý”
nhưng các nhóm tác giả đều xác định trách nhiệm pháp lý có các đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, chỉ khi có VPPL mới áp dụng trách nhiệm pháp lý, tức là phải có
hành vi vi phạm các quy định pháp luật trên thực tế Nếu trên thực tế không xảy ra VPPL thì cũng không tồn tại trách nhiệm pháp lý Và trách nhiệm pháp lý chỉ áp dụng đối với chủ thể VPPL
Thứ hai, cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là quyết định
của cơ quan Nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành trên cơ sở xem xét, giải quyết các vụ việc vi phạm đã có hiệu lực pháp luật Quyết định của cơ quan Nhà nước phải được ban hành tuân thủ đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo luật định
Thứ ba, các biện pháp trách nhiệm pháp lý là một loại biện pháp cưỡng chế
Nhà nước đặc thù chỉ được áp dụng trên cơ sở những quyết định của cơ quan hoặc người có thẩm quyền, mang tính chất trừng phạt hoặc khôi phục lại những quyền và lợi ích bị xâm hại
Thứ tư, trách nhiệm pháp lý là loại trách nhiệm do pháp luật quy định, luôn
gắn liền với các biện pháp cưỡng chế Nhà nước được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật Một VPPL có thể bị truy cứu nhiều loại trách nhiệm
9 Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật đại cương, 2000, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 25pháp lý, tuy nhiên chỉ được áp dụng loại trách nhiệm pháp lý mà pháp luật đã quy định tương ứng với VPPL đó
1.1.5 Phân loại trách nhiệm pháp lý:
Căn cứ vào các loại VPPL để phân chia thành các loại trách nhiệm pháp lý,
đó là Trách nhiệm hình sự;Trách nhiệm hành chính; Trách nhiệm dân sự; Trách nhiệm kỷ luật và Trách nhiệm vật chất của cán bộ Nhà nước đối với tài sản Nhà nước Trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung phân tích vào 03 loại trách nhiệm pháp lý là Trách nhiệm hình sự, Trách nhiệm hành chính và Trách nhiệm dân sự
- Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm của một chủ thể phải gánh chịu những
biện pháp cưỡng chế dân sự khi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác hoặc khi
vi phạm nghĩa vụ dân sự đối với bên có quyền Trách nhiệm dân sự nhằm mục đích buộc chủ thể VPPL phải bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả cho chủ thể bị hành vi VPPL tác động, xâm hại
- Trách nhiệm hành chính là loại trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với vi
phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước, là loại VPPL ít nguy hiểm hơn
so với VPPL hình sự Biện pháp cưỡng chế này do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền quyết định trên cơ sở pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
- Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của chủ thể đã thực hiện tội phạm
được quy định trong bộ luật hình sự và là trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất đối với chủ thể VPPL Chủ thể thực hiện tội phạm phải chịu một biện pháp cưỡng chế nhà nước là hình phạt tương ứng với mức độ và hậu quả của họ trên cơ sở các quy định của bộ luật hình sự hiện hành và các văn bản pháp luật khác có liên quan, thể hiện sự lên án, sự trừng phạt của Nhà nước đối với người phạm tội Chỉ Toà án mới
có quyền quyết định áp dụng trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm tội thông qua hoạt động xét xử và ban hành các bản án, quyết định hình sự Trách nhiệm hình sự được thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước đặc biệt là hình phạt Người chịu Trách nhiệm hình sự phải bị tước bỏ hoặc hạn chế các quyền và lợi ích hợp
Trang 26pháp về vật chất hoặc tinh thần và việc đó được bảo đảm thực hiện bằng bộ máy cưỡng chế của Nhà nước Ngoài hình phạt, trách nhiệm hình sự còn được thực hiện bằng các hình phạt bổ sung hoặc thay thế trong trường hợp không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với họ cũng đủ cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho
xã hội
1.2 Khái luận về trách nhiệm pháp lý của pháp nhân thương mại
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp nhân thương mại
Điều 75 Bộ luật Dân sự 2015 đưa ra khái niệm về “pháp nhân thương mại” như sau: “Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác”
Điều 6 Luật Thương mại 2005 quy định: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh, có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm”
Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Theo quy định của Luật Doanh
nghiệp 2014, hiện nay tại Việt Nam có 05 loại hình doanh nghiệp là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty trách nhiệm hữu hạn 02 thành viên trở lên, Công ty hợp danh, Công ty cổ phần và Doanh nghiệp tư nhân, tuy nhiên chỉ có Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân
Bên cạnh các loại hình “Doanh nghiệp” đã được mô tả và quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, “Các tổ chức kinh tế khác” theo quy định tại Điều 75
Bộ luật Dân sự 2015 còn là các tổ chức như “Hợp tác xã”, “Liên hiệp Hợp tác xã” theo quy định tại Luật Hợp tác xã năm 201210
10Khoản 1, 2 Điều 3 Luật Hợp tác xã 2012 quy định: “Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập
thể, có tư cách pháp nhân…”
Trang 27Bộ luật Dân sự 2015 quy định, một tổ chức được công nhận là có tư cách
pháp nhân khi “được thành lập theo quy định pháp luật, có cơ quan điều hành, có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác, tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập” 11
Từ các quy định nói trên, PNTM theo có các đặc điểm như sau:
- PNTM có mục đích đầu tiên và quan trọng nhất là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận đó được chia cho các thành viên của PNTM đó Đây là điểm khác biệt cơ bản để phân biệt PNTM với các pháp nhân phi thương mại khác
- PNTM phải được được thành lập, đăng ký theo quy định của pháp luật và
có cơ quan điều hành Việc xác định cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân phải được được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân
- PNTM phải có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và phải tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
- PNTM có quyền nhân danh mình để tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập
1.2.2 Khái luận trách nhiệm pháp lý của pháp nhân thương mại:
Trách nhiệm pháp lý của PNTM là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa Nhà nước thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và PNTM VPPL, trong đó
cơ quan có thẩm quyền có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định ở chế tài quy phạm pháp luật đối với PNTM VPPL hoặc PNTM phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật chất, tinh thần do hành vi trái pháp luật
Tuy nhiên, khác với các chủ thể VPPL là các pháp nhân phi thương mại và các tập thể, cơ quan, tổ chức không có tư cách pháp nhân chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hành chính, trong khi đó PNTM phải chịu đầy đủ các loại trách nhiệm Hình sự, trách nhiệm Hành chính và trách nhiệm Dân sự tương ứng với
11 Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015
Trang 28VPPL do người của PNTM thực hiện nhân danh PNTM và vì lợi ích của pháp nhân thương mại
1.2.2.1 Trách nhiệm dân sự của pháp nhân thương mại:
* Phạm vi và điều kiện chịu trách nhiệm dân sự của pháp nhân thương mại
Như đã phân tích, để được công nhận là chủ thể có tư cách pháp nhân nói chung và PNTM nói riêng thì tổ chức phải có đủ các điều kiện đã được quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015 Tuy nhiên, PNTM không thể tự mình thực hiện các hoạt động trên thực tế mà phải được thực hiện thông qua người đại diện (Theo pháp luật, theo ủy quyền) hoặc người được pháp nhân phân công nhiệm vụ để hiện thực hóa quyền, nghĩa vụ dân sự của pháp nhân thì trách nhiệm dân sự phát sinh từ các hoạt động đó phải thuộc về pháp nhân Đây chính là đặc điểm cơ bản để xác định một cách rõ ràng pháp nhân hay cá nhân phải chịu trách nhiệm dân sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật do pháp nhân thực hiện Một trong những đặc điểm cơ bản khác của pháp nhân nói chung và PNTM nói riêng chính là sự độc lập về tài sản của pháp nhân đó với các chủ thể khác, bao gồm những người chủ sở hữu của pháp nhân và thành viên của pháp nhân đó và pháp nhân phải chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình Do đó, phạm vi thực hiện trách nhiệm dân sự của pháp nhân chỉ trong giới hạn tài sản của pháp nhân đó
Các đặc điểm pháp lý này đưa đến các hậu quả pháp lý đối với trách nhiệm dân sự của pháp nhân như sau12: (i) Pháp nhân không phải chịu trách nhiệm dân sự trong trường hợp cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng không nhân danh pháp nhân hoặc thực hiện nhiệm vụ nhân danh pháp nhân nhưng vượt quá phạm vi mà pháp nhân cho phép theo đại diện hoặc theo ủy quyền Trong trường hợp hày, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm dân sự (ii) Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự trong trường hợp cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhân danh pháp nhân hoặc trong phạm vi quyền hạn mà
12 Nguyễn Minh Tuấn (Chủ biên), 2016, Bình luận Khoa học Bộ luật Dân sự 2015, NXB Tư pháp
Trang 29pháp nhân cho phép thực hiện Trong trường hợp này, cá nhân thực hiện hành vi đó không phải chịu trách nhiệm dân sự
Từ các hậu quả pháp lý đó, Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định PNTM phải chịu trách nhiệm dân sự trong các trường hợp sau13: (i) PNTM phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân (ii) PNTM chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân (iii) Trách nhiệm dân sự của PNTM phát sinh trong trường hợp người của pháp nhân gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao
* Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của pháp nhân thương mại
Theo Bộ luật Dân sự 2015, PNTM phải chịu trách nhiệm dân sự đối với nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng, giao dịch dân sự và nghĩa vụ phát sinh từ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, tác giả tập trung phân tích các nghĩa vụ dân sự của PNTM trong lĩnh vực giao thông vận tải vi phạm các quy định về trật tự ATGTĐB, trách nhiệm dân sự chủ yếu
của các PNTM trong lĩnh vực này chính là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Khi xác định trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng, việc xác định đầy đủ các căn cứ để phát sinh trách nhiệm pháp lý là vấn đề quan trọng Theo đó, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại gồm ba điều kiện sau đây14:
(1) Phải có thiệt hại trên thực tế Thiệt hại được hiểu chính là những tổn thất
về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và tài sản bị xâm phạm15 Thiệt hại chính là điều kiện tiền để để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vì nếu
13 Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015
14 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015;
15 Các Điều 589, 590, 591 và 592 Bộ luật Dân sự 2015;
Trang 30không có thiệt hại trên thực tế thì cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường Do
đó, việc xác định chính xác thiệt hại thực tế đã xảy ra là vấn đề quan trọng, không chỉ liên quan đến mức bồi thường thiệt hại mà còn là cơ sở để xác định có phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại hay không
(2) Thiệt hại phải do hành vi trái pháp luật và có lỗi gây ra Một hành vi được thể hiện ở dạng hành động hoặc không hành động và bất kỳ hành vi nào cũng có thể gây ra thiệt hại, tuy nhiên hành vi đó nếu gây ra thiệt hại nhưng không trái pháp luật thì không phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại Người gây ra thiệt hại cũng không
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu hành vi được thực hiện trong trường hợp
“phòng vệ chính đáng”16, “tình tế cấp thiết”17 hoặc thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị hại
(3) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra Hành vi trái pháp luật phải là nguyên nhân trực tiếp và duy nhất gây ra thiệt hại và ngược lại, thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật gây ra
Do đó, việc xác định quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra
là căn cứ pháp lý để xác định trách nhiệm của chủ thể gây ra thiệt hại
- Nguyên tắc xác định trách nhiệm bồi thiệt hại ngoài hợp đồng 18 : (i) Thiệt
hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời nhằm khắc phục tổn thất cho người bị
thiệt hại một cách nhanh chóng và triệt để (ii) Mức trách nhiệm bồi thường thiệt hại
có thể giảm so với thiệt hại thực tế xảy ra nếu người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại thực tế xảy ra là quá lớn so với
khả năng kinh tế của người có trách nhiệm bồi thường (iii) Do sự thay đổi về tình
hình kinh tế, xã hội, sự biến động về giá, tình trạng thiệt hại của người bị thiệt hại hoặc trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa các bên thì mức bồi thường thiệt hại được xác định ban đầu đã thay đổi và không còn phù hợp nữa Do đó, các bên có quyền yêu cầu Tòa án hoặc quan có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường để phù
16 Điều 594 Bộ luật Dân sự 2015;
17 Khoản 2 Diều 595 Bộ luật Dân sự 2015;
18 Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015;
Trang 31hợp với tình hình thực tế (iv) Trường hợp người bị thiệt hại có lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì không được bồi thường đối với phần thiệt hại do lỗi của họ gây ra (v)
Trường hợp bên bị thiệt hại thiếu trách nhiệm, không thực hiện các biện pháp hợp lý và cần thiết để ngăn chặn thiện hại, để mặc cho thiệt hại xảy ra để được hưởng
bồi thường thì người có hành vi gây ra thiệt hại không phải bồi thường
- Phạm vi chịu trách nhiệm dân sự của pháp nhân thương mại:
Điều 597 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hải phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định pháp luật” Theo TS.Nguyễn Minh Tuấn, khái niệm “Người của pháp nhân” theo quy định tại quy định này là “những người được bổ nhiệm giữ chức vụ nhất định hoặc được tuyển dụng làm việc theo hợp đồng lao động” 19
Tuy nhiên, tác giả cho rằng cần phải hiểu khái niệm “Người của pháp nhân” rộng hơn, không chỉ những người được bổ nhiệm giữ chức vụ nhất định hoặc được tuyển dụng làm việc theo hợp đồng lao động mà còn là Người đại diện theo pháp luật, Người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi đại diện cho pháp nhân đểphù hợp với các nguyên tắc về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của PNTM theo quy định tại Điều 87 Bộ luật Dân sự
2015 và Bộ luật Lao động năm 2012
1.2.2.2 Trách nhiệm hành chính của pháp nhân thương mại:
* Nguyên tắc xử lý trách nhiệm hành chính:
Để đảm bảo cho việc xử lý trách nhiệm hành chính của tổ chức, cá nhân VPPL hành chính, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã quy định các nguyên tắc cơ bản phải được áp dụng một cách triệt để khi xử lý các vi phạm hành chính20, cụ thể như sau:
19 Nguyễn Minh Tuấn (Chủ biên), 2016, Bình luận Khoa học Bộ luật Dân sự 2015, NXB Tư pháp
20 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Trang 32Thứ nhất, Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời
và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật; Nguyên tắc này yêu cầu cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền phải chủ động trong hoạt động thực thi công vụ kịp
thời phát hiện và ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi vi phạm hành chính đó
Thứ hai, Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật Nguyên tắc này còn đảm bảo việc thực thi nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền phải thực hiện nhiệm vụ đảm bảo nghiêm minh và đúng pháp luật
Thứ ba, Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng, yêu
cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử phạt phải phân tích mức độ cũng như tính chất, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ một cách toàn diện để đánh giá chính xác mức độ vi phạm của chủ thể, từ đó đưa ra các biện pháp xử phạt phù hợp
Thứ tư, Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính
do pháp luật quy định Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó; Một hành vi bị coi là vi phạm
hành chính khi hành vi đó đã được pháp luật hành chính quy định, nếu pháp luật chưa quy định thì không có vi phạm hành chính xảy ra và đương nhiên không thể bị xử phạt hành chính đối với hành vi đó được Nếu một hành vi vi phạm đã bị một người có thẩm quyền lập biên bản xử phạt hoặc ra quyết định xử phạt thì không xử phạt lần thứ hai đối với cùng một hành vi đó nữa Đối với trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm, thì người đó sẽ bị xử phạt về từng hành vi vi phạm
đó Trường hợp nhiều người cùng thực hiện một vi phạm hành chính thì mỗi người thực hiện vi phạm hành chính đều bị xử phạt tương ứng với mức độ, hành vi của mỗi người Nguyên tắc này còn được áp dụng đối với việc áp dụng hình thức xử phạt hành chính đối với chủ thể vi phạm, theo đó mỗi hành vi vi phạm hành chính
Trang 33chỉ bị áp dụng một hình thức xử phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung Hình thức xử phạt bổ sung chỉ được áp dụng kèm theo
hình thức xử phạt chính
Thứ năm, Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính; Cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền xử phạt phải có nghĩa vụ chứng minh hành vi VPPL hành chính Trường hợp không thể chứng minh có hành vi VPPL hành chính thì cá nhân, pháp nhân không được xem là VPPL hành chính Cá nhân, pháp nhân bị xử phạt có quyền chứng minh mình không có lỗi thông qua người đại diện để đảm bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp cho mình
* Điều kiện chịu trách nhiệm hành chính của pháp nhân thương mại
Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, “Tổ chức phải chịu bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra”21 và “Tổ chức” theo quy định của Luật này bao gồm “Tổ chức là cơ quan nhà nước, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật” 22
Tuy nhiên để phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật và có sự tương đồng đối với pháp luật hình sự, pháp luật dân sự về trách nhiệm pháp lý của pháp nhân, Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 8 năm 2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính
đã quy định rõ:
“Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Là pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự hoặc các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật;
21 Điểm b khoản 1 Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
22 Khoản 10 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Trang 34b) Hành vi vi phạm hành chính do người đại diện, người được giao nhiệm vụ nhân danh tổ chức hoặc người thực hiện hành vi theo sự chỉ đạo, điều hành, phân công, chấp thuận của tổ chức và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.” 23
Như vậy, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hiện naay không có sự phân biệt giữa PNTM hay pháp nhân phi thương mại, do đó pháp nhân bao gồm cả PNTM và pháp nhân phi thương mại đều phải chịu trách nhiệm hành chính đối với các hành vi do người đại diện, người được giao nhiệm vụ nhân danh pháp nhân hoặc người thực hiện hành vi theo sự chỉ đạo, điều hành, phân công, chấp thuận của pháp nhân và theo quy định của pháp luật
Bên cạnh đó, đối với các hành vi vi phạm hành chính được thực hiện trong tình thế cấp thiết, do phòng vệ chính đáng, do sự kiện bất ngờ hoặc do sự kiện bất khả kháng thì không bị xử phạt vi phạm hành chính24 Ngoài ra, cơ quan có thẩm quyền chỉ được truy cứu trách nhiệm hành chính của pháp nhân trong thời hiệu xử lý vi phạm hành chính đã được Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định25
* Phạm vi chịu trách nhiệm hành chính của pháp nhân thương mại
Khác với pháp luật hình sự quy định rõ các tội phạm mà PNTM phải chịu trách nhiệm hình sự, phạm vi chịu trách nhiệm hình chính của PNTM là rộng hơn rất nhiều Bất kỳ hành vi có lỗi do người đại diện, người được giao nhiệm vụ nhân danh PNTM hoặc người thực hiện hành vi theo sự chỉ đạo, điều hành, phân công, chấp thuận của pháp nhân thực hiện vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm thì bị xử phạt vi phạm hành chính
Tuy nhiên, việc pháp luật về xử lý vi phạm hành chính quy định hiện nay phát sinh một số bất cập trong thực tiễn áp dụng khi xử lý trách nhiệm hành chính
23 Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CPngày 18 tháng 8 năm 2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính;
24 Điều 11 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
25 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Trang 35của pháp nhân thương mại Theo đó, cá nhân, cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính phải xác định rõ hành vi nào do PNTM thực hiện và hành vi nào do cá nhân thực hiện Trong khi đó, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hiện nay không quy định về việc loại trừ trách nhiệm hành chính giữa PNTM và cá nhân thực hiện hành
vi phạm nhân danh hoặc theo sự phân công, điều động của pháp nhân thương mại
* Các hình thức xử phạt hành chính áp dụng đối với pháp nhân thương mại
Theo quy định của Luật xử phạt hành chính năm 2012, mức xử phạt Cảnh cáo được áp dụng để xử phạt các vi phạm ở mức độ không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo, mang ý nghĩa nhắc nhở, khiển trách và giáo dục pháp luật của Nhà nước đối với các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm Tuy nhiên, Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ hiện nay không còn quy định về việc áp dụng mức xử phạt cảnh cáo đối với trường hợp tổ chức nói chung và PNTM nói riêng thực hiện hành vi vi phạm các quy định về trật tự ATGTĐB Theo Nghị định 100/2019/NĐ-
CP, các mức xử phạt chính áp dụng đối với PNTM bao gồm Phạt tiền,
- Mức xử phạt tiền: Là mức xử phạt chủ yếu được áp dụng để xử phạt các
hành vi vi phạm của pháp nhân thương mại, thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với hành vi vi phạm Mức phạt tiền áp dụng cho chủ thể là Pháp nhân bằng 2 lần mức phạt tiền áp dụng cho cá nhân đối với cùng một VPPL hành chính
để hình phạt đảm bảo tính răn đe đối với pháp nhân vi phạm.Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó và có thể tăng nặng, giảm nhẹ mức xử phạt trong trường hợp có các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nhưng không được giảm hoặc tăng quá mức của khung tiền phạt26.Trong thực tiễn xử lý vi phạm hành chính PNTM vi phạm các quy định về trật tự ATGTĐB,việc cân nhắc áp dụng mức phạt tiền đối với từng hành vi cụ thể để đảm bảo tính phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo tính răn
đe của mức xử phạt
26 Khoản 4 Điều 23 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
Trang 36- Mức xử phạt Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề 27 : Mức
xử phạt này được áp dụng đối với hành vi vi phạm của PNTM trực tiếp vi phạm các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc vi phạm có tính chất, mức độ nghiêm trọng xâm hại trật tự quản lý hành chính nhà nước.Thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề đối với hành vi vi phạm hành chính phải được quy định thành khung thời gian cụ thể, khoảng cách giữa thời gian tước tối thiểu và tối đa không quá lớn.Đây là một trong những biện pháp xử phạt rất
có ý nghĩa răn đe đối với các chủ thể vi phạm các quy định về trật tự ATGTĐB Trong thời gian bị tước, chủ thể vi phạm không được thực hiện các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó Đây là một mức xử phạt rất quan trọng, đặc biệt là đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm là PNTM vì không chỉ xử lý ngay hành vi vi phạm mà còn có giá trị ngăn chặn, phòng ngừa những vi phạm khác có thể xảy ra và tác động mạnh đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của
pháp nhân thương mại
- Mức xử phạt Tịch thu tang vật, phương tiện là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hóa, phương tiện… có liên quan đến hành vi vi phạm28: Mức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm nghiêm trọng được thực hiện do lỗi cố ý và Vật, tiền, hàng hóa, phương tiện là tang vật trực tiếp của vi phạm hành chính hoặc được trực tiếp sử dụng để thực hiện hành
vi vi phạm hành chính, mà nếu không có vật, tiền, hàng hóa, phương tiện này, thì không thể thực hiện được hành vi vi phạm Trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là ma túy, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, vật có giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, bảo vật quốc gia, cổ vật, hàng lâm sản quý hiếm, vật thuộc loại cấm lưu hành, thì phải quy định tịch thu Trong lĩnh vực giao thông đường bộ, việc tịch thu tang vật, phương tiện được áp dụng đối với các vi phạm nghiêm trọng, uy hiếp trực tiếp đến tính mạng, tài sản của các chủ thể khác hoặc của Nhà nước Do tang
27 Khoản 1 Điều 3 Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013
28 Khoản 2 Điều 3 Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013
Trang 37vật, phương tiện bị tịch thu là tài sản, cho nên biện pháp này cần được thực hiện một cách cẩn trọng với những trình tự, thủ tục chặt chẽ
* Các biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng đối với pháp nhân thương mại
Ngoài các biện pháp xử phạt hành chính được áp dụng là hình phạt chính, PNTM còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là các biện pháp khắc phục hậu quả khi có các căn cứ sau đây29: (i) Hành vi vi phạm gây ra hậu quả hoặc có khả năng thực tế gây ra hậu quả; (ii) Việc áp dụng Các biện pháp khắc phục hậu quả nhằm đáp ứng yêu cầu khôi phục lại trật tự quản lý hành chính nhà nước do vi phạm hành chính gây ra; (iii) Khi áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì phải được mô tả rõ ràng, cụ thể để có thể thực hiện được trong thực tiễn và phải bảo đảm tính khả thi
Về nguyên tắc áp dụng, mỗi hành vi vi phạm hành chính có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung và chỉ được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính Hiện nay các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm các quy định về trật tự ATGTĐB được quy định tại các khoản 1, 2 Điều 4 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ
* Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính
Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính được hiểu là thời hạn theo luật định để chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm, hết thời hạn này thì không được quyền xử phạt hành chính đối với hành vi đó nữa Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính được tính từ ngày chấm dứt hành vi vi phạm đối với
vi phạm hành chính đã kết thức (Đã thực hiện xong) hoặc tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm Trường hợp chủ thể vi phạm cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt30
Việc quy định thời hiệu, thời hạn giúp tạo ra cơ sở pháp lý thống nhất trong việc xử lý vi phạm hành chính, góp phần đề cao trách nhiệm của cá nhân, cơ quan
29 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012;
30 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
Trang 38có thẩm quyền và đảm bảo các vi phạm hành chính được xử lý nhanh chóng, công minh, đúng pháp luật Bảo đảm hiệu lực thi hành của các quyết định cũng như đảm bảo tính giáo dục thông qua hoạt động xử lý cũng như phòng ngừa các vi phạm hành chính khác
Đối với các vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, hiện nay Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 đều không có quy định riêng về vấn đề thời hạn và thời hiệu, do đó thời hiệu xử lý các vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và thi hành các quyết định phải tuân thủ những quy định về thời hiệu đã được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Theo đó, thời hiệuxử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là 01 năm và không áp dụng thời hiệu đối với các biện pháp khắc phục hậu quả
Đối với PNTM đã bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính31
Trong trường hợp đã PNTM đã bị xử lý vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà lại thực hiện hành vi hành chính đã bị xử lý thì được xem là tái phạm32
1.2.2.3 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Trên cơ sở nền kinh tế có nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu và các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật, được khuyến khích, tạo điều kiện để đầu tư, sản xuất, kinh doanh, phát triển bền vững và xây dựng đất nước Tuy nhiên trước khi Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung
2017 có hiệu lực pháp luật, có nhiều trường hợp cá nhân lợi dụng danh nghĩa của pháp nhân để thực hiện hành vi phạm tội nhằm trốn tránh trách nhiệm viphạm pháp
31 Khoản 1 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
32 Khoản 3 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
Trang 39luật hình sự trước đây không quy định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trường hợp chủ thể thực hiện tội phạm là PNTM Trong khi đó, quy mô và mức độ của tội phạm do PNTM thực hiện luôn có hậu quả nghiêm trọng và gây thiệt hại nặng nề hơn so với tội phạm tương ứng nhưng do cá nhân thực hiện, do đó gây ra tình trạng
bỏ lọt tội phạm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, và gây cản trở cho tiến trình hội nhập kinh tế thế giới của đất nước Do đó,
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 lần đầu tiên quy định về trách nhiệm hình sự của PNTM làm căn cứ pháp lý để xử lý trách nhiệm hình sự của PNTM trong một số tội phạm cụ thể
* Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại:
Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định, PNTM chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ 04 điều kiện sau đây:
“- Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;
- Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;
- Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;
- Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự”
Bên cạnh đó, việc PNTM chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân để loại trừ việc cá nhân lợi dụng PNTM để thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích không bị truy cứu trách nhiệm hình sự Theo những quy định này, nếu một người của PNTM thực hiện hành vi phạm tội nhân danh PNTM và PNTM đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì người thực hiện hành
vi phạm tội đó vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tư cách là cá nhân Theo hướng ngược lại, nếu người nhân danh PNTM thực hiện hành vi phạm tội do vượt quá thẩm quyền được trao, hoặc lợi dụng danh nghĩa pháp lý của pháp nhân mại thương để thực hiện tội phạm vì quyền hoặc lợi ích của mình, thì chỉ cá nhân thực hiện hành vi VPPL phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đó, còn pháp nhân sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá đó
Như vậy, PNTM chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ 4 điều kiện sau:
Trang 40- Thứ nhất, hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại: Khác với cá nhân, PNTM không thể tự mình trực tiếp thực hiện được tội
phạm, tội phạm vốn là hành vi nguy hiểm cho xã hội mà phải thông qua các cá nhân hoạt động trong cơ cấu tổ chức của PNTM đó Đó có thể là người đại diện theo pháp luật, người sở hữu, người quản lý của pháp nhân hoặc là những người trực tiếp thực hiện các hoạt động của PNTM Chỉ những VPPLcủa những người này nhân danh PNTM thực hiện mới phát sinh điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự của PNTM đó Trên thực tế, hoạt động của các PNTM đều phải thông qua người đại diện theo pháp luật, người quản lý của doanh nghiệp hoặc người đại diện theo ủy quyền, do đó việc minh bạch và phân biệt rõ hành vi nào nhân danh PNTM và hành
vi nào là của cá nhân người đại diện để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với của
PNTM có ý nghĩa pháp lý đặc biệt quan trọng
Căn cứ pháp lý cơ bản nhất để phân biệt hành vi nào được thực hiện nhân danh cá nhân và hành vi nào được thực hiện nhân danh PNTM là các quy định tại khoản 18 và khoản 19 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014, cụ thể như sau:
“- Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công
ty theo quy định tại Điều lệ công ty
-Người đại diện theo pháp luật là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực
hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”
Hành vi phạm tội có thể được thực hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động, mặc dù PNTM phải thông qua hành vi của cá nhân để thực hiện hành vi nhưng những hành vi đó xác lập quyền, nghĩa vụ cho PNTM , do đó phải được xem là ý chí của PNTM và được thực hiện nhân danh PNTM