1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề vi phạm pháp luật đất đai - qua thực tiễn ở huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận

86 63 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 778,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Nhà nước nghiêm cấm hành vi lấn, chiếm đất đai, không sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích; vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố; hủy hoại đất; không thực hiện đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

PHẠM VĂN NAM

VẤN ĐỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI - QUA THỰC TIỄN

Ở HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ninh Thuận, tháng 7 năm 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

PHẠM VĂN NAM

VẤN ĐỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI - QUA THỰC TIỄN

Ở HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã ngành: 8380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ VĂN HƯNG

Ninh Thuận, tháng 7 năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Vấn đề vi phạm pháp luật đất đai - qua thực tiễn

ở huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này Số liệu và tài liệu tham khảo trong luận văn được trích dẫn và có nguồn gốc rõ ràng

Ninh Thuận, ngày tháng 7 năm 2020

Tác giả luận văn

Phạm Văn Nam

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

TÓM TẮT

ABSTRACT

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7

TÓM TẮT 9

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu: 1

2 Tình hình nghiên cứu: 4

3 Câu hỏi nghiên cứu: 6

4 Giả thuyết nghiên cứu: 6

5 Phạm vi nghiên cứu: 7

6 Phương pháp nghiên cứu: 7

7 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận văn 8

8 Kết cấu của Luận văn 8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 9

1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật đất đai 9

1.1.1 Vi phạm pháp luật 9

1.1.2 Vi phạm pháp luật đất đai 11

1.2 Hình thức, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật đất đai 24

1.2.1 Xử lý đối với người vi phạm hành chính về quản lý, sử dụng đất đai 24

1.2.2 Hình phạt áp dụng với các tội phạm vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai 26

1.3 Phân công, phân cấp và mối quan hệ phối hợp giữa các lực lượng chức năng trong xử lý vi phạm pháp luật đất đai 27

Trang 5

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30 Chương 2 THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI 31 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THUẬN NAM 31 2.1 Tổng quan tình hình vi phạm và đặc điểm vi phạm pháp luật về đất đai trên địa bàn huyện Thuận Nam 31

2.1.1 Tổng quan về huyện Thuận Nam và tình hình vi phạm pháp luật đất đai 31 2.1.2 Đặc điểm vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Thuận Nam 33

2.2 Thực trạng công tác quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Thuận Nam ảnh hưởng đến tình hình phát hiện và xử lý vi phạm 40

2.2.1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác quản lý, sử dụng đất đai, các văn bản hướng dẫn thực hiện 40 2.2.2 Về thủ tục xác định địa giới hành chính, đo đạc, lập bản đồ và cấp giấy quyền sử dụng đất 40 2.2.3 Công tác giải phóng mặt bằng phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng vì lợi ích công cộng 41 2.2.4 Công tác thanh, kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn 42 2.2.5 Công tác giải quyết đơn thư của quần chúng nhân dân 43 2.2.6 Việc đổi mới về phong cách làm việc và cải cách hành chính trong công tác quản lý, sử dụng đất đai 45

2.3 Ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân trong công tác quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Thuận Nam 45

2.3.1 Ưu điểm trong công tác quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Thuận Nam 45 2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 46

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ XỬ LÝ NHỮNG VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THUẬN NAM 54 3.1 Dự báo tình hình vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn huyện Thuận Nam trong thời gian tới 54 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng đất đai và xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai trên địa bàn huyện Thuận Nam 55

3.2.1 Phương hướng chung 55

Trang 6

KẾT LUẬN CHUNG 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

PHỤ LỤC

Trang 7

QL,SDĐĐ Quản lý, sử dụng đất đai

QSDĐ Quyền sử dụng đất

TNMT Tài nguyên và Môi trường

VPPL Vi phạm pháp luật

Trang 8

Bảng 2.1: Thống kê vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn huyện Thuận Nam từ năm 2014 đến tháng 6 năm 2019

Bảng 2.2: Thống kê cơ cấu, tính chất đất đai bị xâm phạm trên địa bàn huyện Thuận Nam từ năm 2014 đến tháng 6 năm 2019

Bảng 2.3: Thống kê đội tuổi của những người vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn huyện Thuận Nam từ năm 2014 đến tháng 6 năm 2019:

Bảng 2.4: Trình độ học vấn của những người vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn huyện Thuận Nam từ năm 2014 đến tháng 6 năm 2019:

Bảng 2.5: Thống kê giải quyết đơn thư tố giác vi phạm QL,SDĐĐ trên địa bàn huyện Thuận Nam từ năm 2014 đến tháng 6 năm 2019

Trang 9

Tiếp cận thực tế chính sách quản lý đất đại tại huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận Tác giả Luận văn nhận thấy tình hình vi phạm pháp luật về đất đai diễn ra nghiêm trọng, công tác quản lý đất đai của các đội ngũ cán bộ chuyên trách còn nhiều hạn chế Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật, cùng với các phương pháp thống kê,tổng hợp, Tác giả sẽ làm sáng tỏ những điểm chưa hoàn thiện của pháp luật quản lý đất đai và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai hiện hành Với đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật và các giải pháp để chủ động quản lý đất đai và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, tác giả Luận văn

hy vọng nếu được áp dụng sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi; góp phần giải toả những vướng mắc về pháp lý, bảo đảm hoạt động xử lý

vi phạm pháp luật đất đai tại địa bàn huyện Thuận Nam nói riêng, cả nước nói chung

Từ khóa: Đất đai, Quản lý đất đai, Xử lý vi phạm đất đai

Trang 10

Practical access to land management policies in Thuan Nam district, Ninh Thuan province The author this thesis realized that the situation of serious violations of the law on land occurred, the land management work of specialized officials was still not good By the method of analyzing and comparing the law, combined with the methods of statistics, synthesis, The author will clarify the incomplete of the current land management law and handle of land violations With the proposal of amending and supplementing laws and solutions to proactively manage land and handle law violations in the field of land, the author hopes that if it applied, it will contribute to perfecting the law and improve enforcement efficiency; contributing to clearing legal problems, ensuring the handling of violations of land

law in Thuan Nam district and in Vietnam

Keywords: Land, Land management, Handling of land violations.

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu:

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá Từ lâu con người đã nhận thức được tầm quan trọng của đất đai đối với cuộc sống Đất là tư liệu sản xuất chính không thể thay thế được của một số ngành sản xuất Lịch sử phát triển của loài người nói chung, lịch sử phát triển nông, lâm nghiệp của loài người nói

riêng cũng là lịch sử khai thác và bảo vệ đất đai ngày càng có hiệu quả

Ở Việt Nam, một trong những cái nôi của nghề trồng lúa nước, thì đất đai vô cùng quan trọng đối với đời sống và sản xuất Phan Huy Chú, nhà sử học nổi tiếng

của Việt Nam ở thế kỷ 17 đã viết: “Mọi vàng bạc châu báu không gì quý bằng đất”

Không thể phủ nhận rằng, đất đai là yếu tố cơ bản tạo ra mọi của cải vật chất trong

xã hội Trong sản xuất nông - lâm nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không

gì thay thế được; còn trong sản xuất công nghiệp thì đất đai đóng vai trò là nền tảng, địa điểm, không gian cho quá trình sản xuất Mặt khác, đất đai còn là nguyên liệu của nhiều ngành sản xuất công nghiệp như xi măng, gạch ngói, đồ gốm, vật liệu xây

dựng khác

Đánh giá về vai trò của đất, trong tác phẩm của mình, Karl Marx đã viết:

“Đất là mẹ, sức lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất” 1 Đất đai là yếu

tố cơ bản của môi trường sống Đất đai còn là cơ sở để phát triển các hệ sinh thái, là yếu tố quan trọng nhất của môi trường sống, là nơi duy trì sự sống của con người và của sinh vật Hội nghị các Bộ trưởng môi trường Châu Âu năm 1973 tại Luân Đôn

đã đánh giá: “Đất đai là một trong những của cải quý nhất của loài người, nó tạo

điều kiện cho sự sống của thực vật, động vật và con người trên trái đất”2

Tuy vậy, do nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng, nhất là với mục đích phi nông nghiệp, gây áp lực không nhỏ đến nguồn tài nguyên đất đai, đòi hỏi cần phải

sử dụng đất một cách tiết kiệm, hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất Nhà nước ta đang

1 C.Mác – Ănghen, Tuyển tập, Tập 23, tr189

2“Những quy định về quản lý sử dụng đất”, tr86

Trang 12

trong tiến trình quá độ lên xã hội chủ nghĩa, việc khai thác sử dụng các nguồn tài

nguyên trong đó có đất đai phải đảm bảo nguyên tắc “phục vụ cho lợi ích của toàn

xã hội” Vì thế việc quản lý và sử dụng tài nguyên hợp lý, trong đó có đất đai là

nhiệm vụ chung của toàn xã hội mà trước hết là của Nhà nước

Để làm được điều đó nhà nước ta đã ban hành một số văn bản và Luật đất đai nhằm điều chỉnh các hoạt động sử dụng đất đai, hạn chế được những vi phạm trong

sử dụng đất đai Qua nhiều lần chỉnh lý, sửa đổi, tiếp thu ý kiến từ cuộc trưng cầu dân ý cho dự thảo luật quan trọng này, ngày 29/12/1987 văn bản Luật đất đai đầu tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra đời và được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh công bố và thực hiện ngày 08/01/1988 Sau đó để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, Luật đất đai đã được Quốc Hội chỉnh sửa và

bổ sung vào các năm: 1993; 2001; 2003; 2014 và được áp dụng cho đến nay, ngoài ra nhà nước còn ban hành một số văn bản kèm theo để xử lý VPPL đất đai nhằm điều chỉnh các hoạt động khai thác, sử dụng đất đai đảm bảo đúng pháp luật

và đạt hiệu quả tối đa nhất

Hiện nay những vi phạm về pháp luật đất đai tuy chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng diễn ra khắp nơi trên đất nước, những vi phạm nhỏ nhưng diễn ra tương đối phổ biến với các hình thức khác nhau Bên cạnh đó, công tác quản lý đất đai của các đội ngũ cán bộ chuyên trách còn nhiều hạn chế cả về trình độ lẫn số lượng Việc xử lý những VPPL đất đai có lúc còn chưa kiên quyết, triệt để làm cho một số cá nhân coi thường pháp luật, số lượng các vụ vi phạm ngày càng tăng, lại càng làm tăng thêm gánh nặng cho công tác quản lý, có lúc không kiểm soát được

Huyện Thuận Nam nằm ở phía nam tỉnh Ninh Thuận Huyện Thuận Nam có diện tích đất là 564,5262 km² và dân số là 54.768 người Trong thời gian qua đã có nhiều dự án được triển khai tại địa phương này Đây cũng là địa phương có dự

án Đường cao tốc Nha Trang - Phan Thiết đi qua đang được xây dựng Huyện Thuận Nam ta đã rất cố gắng trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai nhằm giữ

ổn định tình hình chính trị, xã hội Trên địa bàn huyện Thuận Nam tình hình

Trang 13

VPPLvề đất đai vẫn còn diễn ra khá phổ biến Số lượng hộ sử dụng đất không hợp pháp do VPPL đất đai tồn tại nhiều năm trước đến nay vẫn chưa được xử lý, giải quyết dứt điểm (theo kết quả rà soát của UBND các xã trên địa bàn huyện Thuận Nam năm 2018 thì số hộ sử dụng đất không hợp pháp tồn tại từ đầu những năm

1990 đến năm 2016 chưa được xử lý khoảng 6.000 hộ), do đó chưa tạo lập được mặt bằng pháp lý trong QL,SDĐĐ Bên cạnh đó VPPL đất đai phát sinh mới ở nhiều xã trên địa bàn huyện Thuận Nam không được ngăn chặn kịp thời, xử lý không nghiêm, nhiều nơi đã dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người kéo dài, làm mất ổn định an ninh nông thôn Tình hình QL,SDĐĐ tại huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, tồn tại dẫn đến tình trạng VPPL về QL,SDĐĐ có xu hướng gia tăng Việc xử lý VPPL đất đai còn thiếu hiệu quả, thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ trong cách giải quyết Có thể khẳng định rằng, việc xử lý VPPL đất đai tại huyện Thuận Nam hiện nay là một công việc phức tạp, khó khăn

và là khâu yếu nhất trong công tác QL,SDĐĐ tại huyện Thuận Nam Bên cạnh đó, đây là địa phương nắng nóng quanh năm, lượng mưa ít nhất trong cả nước Vì vậy

có một số diện tích đất rất lớn đã bị bỏ hoang hóa không canh tác được Công tác quản lý Nhà nước của các cơ quan chức năng còn nhiều bất cập, thậm chí buông lỏng, đã dẫn đến người dân lấn chiếm, sử dụng đất công Tình trạng tranh chấp, khiếu kiện về đất đai ngày càng nhiều Một số doanh nghiệp được giao đất, cho thuê đất để đầu tư, hay trồng rừng cũng đã xảy ra nhiều sai phạm, hiệu quả kinh tế không cao, gây lãng phí nguồn tài nguyên vô giá của đất nước và của địa phương Huyện Thuận Nam có một số lượng lớn người dân tộc Raglai và dân tộc Chăm sinh sống,

họ sống theo lối sống du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy từ nhiều đời nay, do

đó nương rẫy chủ yếu trên núi cao Tuy nhiên, khi nhà nước cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, giao đất cho các Ban quản lý rừng quản lý không thống kê được diện tích đất của người dân đã canh tác từ nhiều đời ở trên núi mà cấp toàn bộ cho Ban quản

lý rừng Khi triển khai dự án có thu hồi diện tích đất của người dân đang canh tác (chủ yếu là dự án khai thác khoáng sản và trồng rừng) thì dẫn đến tranh chấp, vì theo pháp lý thì các Ban quản lý rừng đã được nhà nước giao đất, còn người dân

Trang 14

không có bất cứ giấy tờ gì chứng minh nguồn gốc, từ đó đã dẫn đến những khó khăn, bất cập trong việc xác định chủ sử dụng đất và giải quyết bồi thường, hỗ trợ cho người dân

Thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của BCH Trung ương

Đảng khóa XI “về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy

mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”; Ngày 29/11/2013 Quốc hội khóa

XIII đã thông qua Luật đất đai và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2014 Để tổ chức thực hiện Luật đất đai năm 2013 có hiệu quả, cần phải có giải pháp giải quyết dứt điểm những trường hợp sử dụng đất không hợp pháp đã tồn tại nhiều năm qua, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp VPPL đất đai, lập lại trật tự kỷ cương trong QL,SDĐĐ

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Vấn đề vi phạm pháp luật đất đai - qua thực tiễn ở huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận” trở thành yêu cầu bức

thiết hiện nay và có ý nghĩa to lớn nhằm hạn chế các VPPL về đất đai, bảo đảm xử

lý nghiêm minh các hành vi VPPL về đất đai, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về đất đai ở huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận

2 Tình hình nghiên cứu:

Công tác xử lý VPPL về đất đai tuy có vai trò rất quan trọng, song pháp luật

về xử lý VPPL trong lĩnh vực đất đai ở nước ta mới chỉ được quan tâm đúng mức và bắt đầu có một số nghiên cứu quy mô trong thời gian gần đây, được thể hiện trong nhiều công trình khoa học công bố trên sách, báo, tạp chí chuyên ngành và các Luận văn, Luận án Có thể điểm tên các công trình, bài viết như:

+ TS Nguyễn Văn Thanh và Luật gia Đinh Văn Minh (chủ biên), “Một số vấn đề đổi mới cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam”, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2004;

+ “Xây dựng quy chế phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo đông người vượt cấp lên Trung ương” (Đề tài do ông Nguyễn Tiến Bình - Phó Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ làm chủ nhiệm, năm 2008);

Trang 15

+ Kiều Văn Chung, “Mấy vấn đề xung quanh việc hoàn thiện quyết định giải quyết khiếu nại về đất đai”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2003;

+ ThS Nguyễn Thị Mai Lê, “Cụ thể hóa mức xử phạt vi phạm hành chính đất đai”, Tạp chí Tài chính số 12/2014;

+ Đề tài khoa học cấp Bộ, Thanh tra Chính phủ, “Hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam”, Hà Nội, 2004

Luận án, luận văn:

+ Ngô Mạnh Toan, “Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2007;

+ Lê Văn Thành, “Áp dụng pháp luật trong quản lý nhà nước về đất đai của UBND thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật

+ Nguyễn Thị Lệ Hằng, “Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai của UBND cấp huyện tỉnh Khánh Hòa”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật

TP Hồ Chí Minh, năm 2010;

+ Phạm Thị Hồng Uyên, “Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai tôn giáo trên địa bàn TP Hà Nội hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2011;

+ Nguyễn Thị Thu Hằng, “Giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp của các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Bắc Giang hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011;

Trang 16

Nhìn chung, từ trước đến nay đã có nhiều bài viết liên quan đến VPPL đất đai, pháp luật khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại hành chính cũng như khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai Nội dung VPPL đất đai đang là vấn đề nhạy cảm và phức tạp, do nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, nên đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Các bài viết, công trình nghiên cứu đã tiếp cận từ nhiều hướng và mức độ tiếp cận khác nhau để làm sáng tỏ những vấn đề mang tính lý luận về VPPL đất đai, thực trạng quy định của pháp luật

về khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đất đai, cũng như những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại về đất đai Nhìn chung, các công trình trên mới chỉ đề cập đến VPPL nói chung hoặc VPPL ở lĩnh vực đất đai trong phạm vi cả nước… mà chưa

đề cập đến VPPL về đất đai, cụ thể là ở huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận Do đó,

việc nghiên cứu đề tài “Vấn đề vi phạm pháp luật đất đai - qua thực tiễn ở huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận” được xem là công trình nghiên cứu đầu

tiên, vừa có ý nghĩa thực tiễn vừa có giá trị nhất định về mặt lý luận

3 Câu hỏi nghiên cứu:

- Các quy định của pháp luật trong lĩnh vực đất đai và xử lý VPPL đất đai như thế nào?

- Thực trạng công tác quản lý đất đai và VPPL, xử lý VPPL đất đai ở huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận còn hạn chế gì và Các hình thức VPPL đất đai hiện nay ở huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận diễn ra như thế nào?

- Làm thế nào để hạn chế VPPL đất đai và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản

lý Nhà nước về đất đai?

4 Giả thuyết nghiên cứu:

- Phân tích làm rõ khái niệm về VPPL nói chung; Các yếu tố cấu thành VPPL; Nguyên nhân của VPPL; Phân tích làm rõ khái niệm, các yếu tố cấu thành, đặc điểm xử lý VPPL về đất đai, nguyên nhân của VPPL đất đai, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến đất đai

Trang 17

- Phân tích thực trạng VPPL đất đai, kết quả giải quyết, xử lý trên địa bàn huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận; Diễn biến VPPL đất đai; Số lượng, tính chất mức độ vi phạm; Các hình thức vi phạm phạm pháp luật đất đai, nguyên nhân dẫn đến VPPL đất đai và xu hướng phát triển trong thời gian đến Trên cơ sở đó đưa ra quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai ở địa phương

5 Phạm vi nghiên cứu:

Trong phạm vi không gian nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vi phạm hành chính, vi phạm hình sự trong lĩnh vực đất đai và thực trạng VPPL đất đai trên địa bàn huyện Thuận Nam

Về phạm vi thời gian nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ năm 2014 đến hết 6 tháng đầu năm 2019 (Từ ngày luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành)

6 Phương pháp nghiên cứu:

- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở quan điểm Chủ nghĩa Mác – Lênin với phương pháp luận biện chứng để xem xét về thực trạng thi hành VPPL đất đai; quan điểm trong đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về quản lý xã hội trong nền kinh tế thị trường.Trong quá trình viết luận văn, một số phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp phân tích văn bản, phân tích quy phạm pháp luật và so sánh pháp luật: Làm rõ các khái niệm, quy định hiện hành về VPPL đất đai Chủ yếu sử dụng trong chương 1 và chương 2 để đánh giá thực trạng pháp luật quy định về VPPL đất đai và thực tiễn thi hành trên thực tế tại huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận

Trang 18

- Phương pháp quan sát và phương pháp phân tích số liệu thứ cấp: Chủ yếu

sử dụng trong chương 2 nhằm làm sáng tỏ thực trạng và những bất cập trong thực tiễn thi hành VPPL đất đai

- Phương pháp diễn giải, phương pháp dự báo khoa học: Chủ yếu được sử dụng trong Chương 3 để đưa ra định hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thi hành luật

7 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận văn

Luận văn được hoàn thành sẽ có một số đóng góp mới trên cả phương diện lý luận và thực tiễn

- Về mặt lý luận: Những kết quả thu được thông qua thực hiện đề tài sẽ bổ sung cơ sở thực tiễn để đánh giá chung về pháp luật liên quan đến VPPL đất đai Đồng thời, bổ sung, hoàn thiện những quy định về pháp luật của nhà nước, địa phương về thực thi pháp luật về VPPL đất đai đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả

- Về thực tiễn: Góp phần hoàn thiện pháp luật, chính sách về VPPL đất đai, nâng cao hiệu quả thực thi; góp phần hạn chế, giải toả những vướng mắc về pháp lý, chế độ, chính sách về bảo đảm xử lý VPPL đất đai tại địa bàn huyện Thuận Nam nói riêng, cả nước nói chung

8 Kết cấu của Luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Phụ lục, Luận văn gồm có ba chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về vi phạm pháp luật đất đai và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai

Chương 2 Thực trạng vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực đất đai và công tác quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Thuận Nam

Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng đất đai và

xử lý vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Thuận Nam

Trang 19

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI

1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật đất đai

1.1.1 Vi phạm pháp luật

1.1.1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật

Trong thể chế xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay, đại đa số Nhân dân đều tôn trọng pháp luật, nghiêm túc tuân thủ pháp luật Tuy nhiên, do những nguyên nhân khác nhau, vẫn còn hiện tượng người dân VPPL, gây tổn hại đến lợi ích của Nhà nước, xâm hại đến lợi ích vật chất và tinh thần của Nhân dân VPPL là hành vi của các chủ thể pháp luật không tuân thủ những quy định trong các quy phạm pháp luật, gây tổn hại cho xã hội

“Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật xã hội chủ nghĩa bảo vệ”

1.1.1.2 Các yếu tố cấu thành của hành vi vi phạm pháp luật

VPPL là một hiện tượng xã hội có những dấu hiệu cơ bản sau:

VPPL phải là hành vi của con người, chứ không phải là ý nghĩ của con người, hành vi đó phải là hành vi trái pháp luật, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, đồng thời hành vi đó cũng được xác định là phải là hành vi

có lỗi, chủ thể hành vi phải có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý

Mặt khách quan của VPPL là toàn bộ các dấu hiệu bên ngoài của VPPL, gồm

“(i) hành vi nguy hiểm cho xã hội (hành vi trái pháp luật); (ii) hậu quả thiệt hại cho

xã hội (gây tổn thất về vật chất hoặc tinh thần); (iii) mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và sự thiệt hại cho xã hội do chính hành vi trái pháp luật đó gây ra” Bên cạnh đó, trong mặt khách quan còn có các dấu hiệu khác như:

thời gian, địa điểm, phương tiện, công cụ của VPPL Khách thể của VPPL chính

là những quan hệ xã hội đó Mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật phụ thuộc vào tính chất của các quan hệ xã hội bị xâm hại, nghĩa là nó phụ thuộc vào tính chất của khách thể

Trang 20

Mặt chủ quan của VPPL là toàn bộ các dấu hiệu bên trong của nó, bao gồm

“yếu tố lỗi và các yếu tố có liên quan (động cơ, mục đích,…) của chủ thể thực hiện VPPL (i) Lỗi được thể hiện dưới 2 hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý Lỗi cố ý chia ra hai loại là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp Lỗi vô ý cũng có hai loại là vô ý vì quá

tự tin hoặc vô ý do cẩu thả; (ii) Động cơ là lý do thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi VPPL; (iii) Mục đích là kết quả mà chủ thể muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm” Trong mặt chủ quan, lỗi là dấu hiệu bắt buộc, còn động cơ và mục đích

không nhất thiết phải là dấu hiệu bắt buộc (thực tế, có nhiều trường hợp chủ thể VPPL không vì mục đích và động cơ rõ ràng nào cả)

Chủ thể VPPL là cá nhân, tổ chức đã thực hiện hành vi VPPL và có năng lực trách nhiệm pháp lý Với chủ thể là cá nhân thì phải xem xét người đó có năng lực trách nhiệm pháp lý trong trường hợp đó hay không, nghĩa là người đó đã đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật để chịu trách nhiệm pháp lý chưa? Khả năng nhận thức

và điều khiển hành vi trong trường hợp đó như thế nào? Với chủ thể là tổ chức thì phải xem xét tư cách pháp nhân hoặc địa vị pháp lý của tổ chức đó Ở mỗi loại VPPL đều có cơ cấu chủ thể riêng, được xem xét tỉ mỉ trong từng ngành khoa học pháp lý cụ thể

1.1.1.3 Phân loại vi phạm pháp luật

Bất cứ một quốc gia hay xã hội nào trên thế giới cũng đều tồn tại những vi phạm, chúng ta có thể phân VPPL ra làm 2 loại tuỳ theo tính chất và mức độ gây nguy hiểm cho xã hội là: tội phạm và các loại VPPL khác

- Tội phạm (vi phạm hình sự):“là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy

định trong Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015, do cá nhân có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các

Trang 21

quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật

tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”3

- Vi phạm hành chính:“là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố

ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”4

- Vi phạm dân sự:“là những hành vi trái pháp luật, có lỗi của các cá nhân,

tổ chức có năng lực trách nhiệm dân sự, xâm hại tới các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân”5

- Vi phạm kỷ luật nhà nước:“là những hành vi có lỗi, trái với những quy chế,

quy tắc xác lập trật tự trong nội bộ cơ quan, xí nghiệp, trường học ”, nghĩa là

không thực hiện đúng nội quy, quy chế, kỷ luật lao động,… được ban hành trong cơ quan, xí nghiệp, trường học đó

1.1.2 Vi phạm pháp luật đất đai

1.1.2.1 Khái niệm quản lý, sử dụng đất đai

Trước hết để làm rõ khái niệm QL,SDĐĐ, cần hiểu đất đai và quyền sở hữu đất đai là gì?

Nghiên cứu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta về đất đai,

có thể xác định theo Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất và

tuyệt đối về đất đai trên phạm vi cả nước, Nhà nước có đầy đủ các quyền năng, đó là: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt và quyền quản lý”6 Các chủ thể khác chỉ có quyền chiếm hữu và quyền sử dụng mà không có quyền định đoạt Như vậy, đất đai

“là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống

Trang 22

Theo Đại từ điển tiếng Việt thuật ngữ “Quản lý” được hiểu là: Trông coi, giữ gìn và theo dõi một việc7 Quản lý là “sự tác động có định hướng lên một hệ thống

nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định”

Quản lý đất đai là “quá trình lưu giữ và cập nhật những thông tin về sở hữu, giá

trị sử dụng đất và những thông tin khác liên quan đến đất, chỉ dẫn về quản lý đất đai

Là quá trình đảm bảo theo pháp luật cho việc sử dụng, phát triển quỹ đất, khai thác lợi nhuận thu được từ đất (thông qua thuê, cho thuê, bán) và giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai Đối tượng quản lý đất đai liên quan cả hai đối tượng đất công

và đất tư bao gồm các công việc: đo đạc, đăng ký đất đai, định giá đất đai, giám sát sử dụng, lưu giữ và cập nhật các thông tin đất đai và giải quyết các tranh chấp đất đai”

Quản lý đất đai còn là quá trình quản lý việc sử dụng và phát triển của tài nguyên đất đai (ở cả đô thị và nông thôn) Tài nguyên đất đai được sử dụng cho nhiều mục đích khác có thể bao gồm nông nghiệp hữu cơ, trồng rừng, quản lý tài nguyên nước

và các dự án sinh thái8

Trên cơ sở đó có thể hiểu:“Quản lý đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ

quan Nhà nước có thẩm quyền, thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu thông qua việc giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạo ra một trật tự pháp lý ổn định về quan hệ pháp luật đất đai”

- Về sử dụng đất đai:

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO): Sử dụng đất đai là sự sắp xếp, hoạt động và đầu tư của người thực hiện trong một vùng đất nhất định bao gồm loại để sản xuất, thay đổi, duy trì nó9

Trên cơ sở đó có thể hiểu: “Sử dụng đất đai là tổng hợp các hoạt động của

nhà nước tiến hành giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất,

7Nguyễn Xuân Yêm, Trần Minh Chất và Nguyễn Đắc Hoan,“Khoa học trinh sát Việt Nam - Tập 3”, tr1288

8Viện Khoa học Công an, “Hồ Chí Minh về an ninh trật tự”, tr18,19

9Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân, Bộ Công an, “Giáo trình tội phạm học”

Trang 23

cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cá nhân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức để khai thác mọi tiềm năng của đất tạo ra một trật tự pháp lý ổn định về quan hệ pháp luật đất đai”

Trong quan hệ pháp luật về đất đai, Nhà nước có đầy đủ các quyền năng bao gồm chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đất đai và quản lý đất đai Người sử dụng đất

được Nhà nước “giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và

thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê lại đất” Để QL,SDĐĐ

có hiệu quả, Điều 10, Luật đất đai năm 2013 đã phân chia đất đai thành 3 nhóm chính như sau: Nhóm đất nông nghiệp; Nhóm đất phi nông nghiệp; Nhóm đất chưa

sử dụng10 Trong các loại đất này tập trung chủ yếu vào hai lĩnh vực: Đất nông

nghiệp và đất phi nông nghiệp, gồm 5 loại đất sau đây: “(1) Đất trồng cây hàng

năm gồm: Đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào mục đích chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; (2) Đất rừng sản xuất; (3) Đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô thị; (4) Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, gồm: Đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản, đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; (5) Đất sử dụng vào mục đích công cộng, gồm: Đất xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, công trình văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao; đất có di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng các công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ”11

- Về Phân công, phân cấp trong quản lý đất đai:

Theo quy định tại Điều 8 Luật Đất đai năm 2013:

- Người đứng đầu của tổ chức chịu trách nhiệm đối với việc quản lý đất trong các trường hợp sau đây: (i) Tổ chức được giao quản lý công trình công cộng, gồm công trình đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống công trình thủy lợi, đê, đập; quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm; (ii) Tổ chức kinh tế được giao quản lý diện tích đất để thực hiện dự án đầu tư

10 Luật đất đai năm 2013, tr17

11 Luật đất đai năm 2013, tr17,18

Trang 24

theo hình thức xây dựng - chuyển giao và các hình thức khác theo quy định của pháp luật về đầu tư; (iii) Tổ chức được giao quản lý đất có mặt nước của các sông

và đất có mặt nước chuyên dùng; (iv) Tổ chức được giao quản lý quỹ đất đã thu hồi theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Chủ tịch UBND cấp xã chịu trách nhiệm đối với việc quản lý đất sử dụng vào mục đích công cộng được giao để quản lý, đất chưa giao, đất chưa cho thuê tại địa phương

- Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm đối với việc quản lý đất chưa sử dụng tại các đảo chưa có người ở thuộc địa phương

- Người đại diện cho cộng đồng dân cư là người chịu trách nhiệm đối với đất được giao cho cộng đồng dân cư quản lý12

1.1.2.2 Khái niệm vi phạm pháp luật đất đai

Để xác định một hành vi có phải VPPL trong lĩnh vực QL,SDĐĐ hay không, cần căn cứ vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước ta liên quan tới lĩnh vực QL,SDĐĐ Cụ thể:

- Về quyền sở hữu đối với đất đai: Tại Điều 53 Hiến pháp nước Cộng hòa

XHCN Việt Nam năm 2013 khẳng định “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên

khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân ”13 Tại

Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 cũng xác định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do

Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”14 Theo đó Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống để quản lý Tuy nhiên, Nhà nước không trực tiếp sử dụng và khai thác lợi ích trên từng thửa đất, mà Nhà nước trao QSDĐ cho người sử dụng đất thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ, đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể cho người sử dụng đất

Trang 25

- Nội dung quản lý nhà nước về đất đai: Tại Điều 53 Hiến pháp nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 cũng khẳng định đất đai “do Nhà nước

đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”15 Theo quy định của Luật Đất đai năm

2013 thì Nhà nước thực hiện quản lý đất đai bằng cả biện pháp hành chính và biện pháp kinh tế, thay cho việc quản lý đất đai chỉ chủ yếu bằng biện pháp hành chính như trước đây16

- Về biện pháp hành chính: Vấn đề có tính chất quan trọng là tổ chức quản

lý thực hiện cơ chế giao đất hoặc cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận QSDĐ, thực hiện các quyền của người sử dụng đất

- Về các biện pháp kinh tế: Được xây dựng theo quan điểm đổi mới, vấn đề

cơ bản là định giá đất và thực hiện cơ chế quản lý tài chính đối với đất đai Các biện pháp quản lý đất đai nhằm mục đích khuyến khích các chủ thể kinh tế, các cá nhân

sử dụng đất đai tiết kiệm và có hiệu quả, đồng thời khai thác và sử dụng hợp lý quỹ đất đai, biến nguồn tài chính tiềm năng từ tài nguyên đất đai thành nguồn tài chính hiện thực, có thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước từ quỹ đất; khai thác nguồn nội lực từ đất đai trở thành nguồn vốn cho đầu tư phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước và để bảo vệ môi trường

Nhà nước cũng đã ban hành hệ thống văn bản quy định cụ thể đối với việc

quản lý từng loại đất khác nhau “Nhà nước nghiêm cấm hành vi lấn, chiếm đất đai,

không sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích; vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố; hủy hoại đất; không thực hiện đúng quy định của pháp luật khi sử dụng các quyền của người sử dụng đất; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của người sử dụng đất Nhà nước cũng nghiêm cấm hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vượt quá quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm của người có thẩm quyền để làm trái các quy định về quản lý đất đai” Khi

đất nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đất đai cũng thay đổi về bản chất

kinh tế - xã hội theo: “Đang là tư liệu sản xuất, điều kiện sống nay đã chuyển sang

15 Hiến pháp năm 2013

16 Luật đất đai năm 2013

Trang 26

là tư liệu sản xuất chứa đựng yếu tố sản xuất hàng hoá” Bản chất kinh tế xã hội

của đất đai nay trở thành yếu tố chủ đạo tác động đến quy luật vận động của đất đai theo hướng ngày càng nâng cao hiệu quả Đặc biệt trong tình hình hiện nay, “lợi nhuận khi đầu tư vào đất” và “giá đất” tăng cao đã dẫn đến tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai xảy ra trầm trọng, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội Những hành vi vi phạm các quy định về quản lý đất đai tùy theo tính chất, mức

độ có thể bị xử lý hành chính (theo Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai) hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình

sự theo Bộ luật Hình sự (đối với hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm) Với hành vi VPPL trong lĩnh vực QL,SDĐĐ đạt tới yếu tố cấu thành tội phạm được quy định cụ thể tại Điều 228; 229; 230 của bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

gồm các tội như:“tội vi phạm công tác quản lý đất đai (Điều 228), tội vi phạm các

quy định sử dụng đất đai (Điều 229), tội vi phạm về quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 230)”17

Có thể thấy các VPPL trong lĩnh vực QL,SDĐĐ ở nước ta, bao gồm cả tội phạm và VPPL hành chính có các đặc điểm đặc thù như sau:

- Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của VPPL trong lĩnh vực QL,SDĐĐ

Chủ thể tiến hành việc xâm hại là người sử dụng và người quản lý đất đai, mục đích phạm tội của họ là lợi dụng những sơ hở thiếu sót trong các quy định về QL,SDĐĐ của Nhà nước để tìm mọi cách gian dối trong kê khai, móc nối ô dù, lợi dụng chức

vụ, quyền hạn nhằm chiếm đoạt hoặc sử dụng đất đai trái phép, vi phạm quy định

về bồi thường, hỗ trợ tái định cư, thu lợi bất chính, xâm hại đến các quan hệ xã hội

đã được pháp luật hình sự bảo vệ trong lĩnh vực QL,SDĐĐ của Nhà nước

- Dưới góc độ tiếp cận của Tội phạm học, VPPL trong lĩnh vực QL,SDĐĐ là

một hiện tượng xã hội tiêu cực, bao gồm tổng hợp các vụ việc phạm tội về QL,SDĐĐ, diễn ra trong xã hội theo phạm vi không gian và thời gian nhất định Hiện tượng như vậy có các đặc trưng như sau: (i) Đây là hiện tượng tiêu cực của xã hội, có những nguyên nhân, điều kiện cụ thể của nó Các nguyên nhân, điều kiện

17 Luật hình sự năm 2015, tr208,209,212

Trang 27

của VPPL trong lĩnh vực QL,SDĐĐ chịu sự tác động và chi phối bởi các yếu tố kinh tế xã hội Ở các thời điểm, giai đoạn khác nhau thì nguyên nhân, điều kiện của VPPL trong lĩnh vực QL,SDĐĐ cũng có sự thay đổi khác nhau (ii) Hiện tượng này

có diễn biến tăng, giảm theo từng thời gian, địa điểm khác nhau Do nguyên nhân, điều kiện của loại tội phạm này thay đổi theo thời gian, vì vậy VPPL trong lĩnh vực QL,SDĐĐ cũng có những động thái thay đổi theo các yếu tố kinh tế, xã hội và phụ thuộc vào đặc thù của từng loại đất theo tuyến, địa bàn, khu vực cụ thể

- Về mặt hành vi của VPPL trong lĩnh vực QL,SDĐĐ là: Có hành vi lấn

chiếm đất hoặc chuyển QSDĐ, sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước; lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ quyền hạn để giao đất, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật, vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư… gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức và công dân nhằm thu lợi bất chính

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm VPPL trong lĩnh vực

QL,SDĐĐ là:“Hành vi của người có năng lực trách nhiệm pháp luật, thực hiện một

cách cố ý xâm phạm vào các quy định của Nhà nước trong quản lý, sử dụng đất đai, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân được quy định trong hệ thống pháp luật hiện hành đáng bị xử lý hình sự hoặc xử lý hành chính”

1.1.2.3 Những hành vi vi phạm pháp luật đất đai thường gặp

VPPL về QL,SDĐĐ là những hành vi vi phạm những quy định của pháp luật trong công tác QL,SDĐĐ bao gồm các hành vi của những người có chức có quyền làm công tác quản lý, của những cá nhân tổ chức được giao đất khai thác và sử dụng đất, những cá nhân hoặc tổ chức sử dụng khu đất công trái pháp luật… được biểu hiện ở một số đặc điểm cơ bản sau đây:

(1) Tiến độ lập quy hoạch sử dụng đất còn chậm, thiếu đồng bộ giữa quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết, nhiều công trình giao đất chưa có quy hoạch hoặc giao khi chưa có quy hoạch chi tiết, những vi phạm dạng này thường có thiệt hại khá lớn

Trang 28

(2) Giao đất, cho thuê đất trái thẩm quyền hoặc giao đất quá diện tích, giao sai đối tượng, cho thuê, cho mượn đất để kinh doanh sau đó hợp thức thành nhà ở

(3) Sử dụng đất không đúng với quyết định giao đất, thuê đất như: sử dụng không đúng vị trí, sai diện tích, tự ý chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp thành đất ở, tự ý chuyển nhượng, mua bán trái phép

(4) Lấn chiếm đất đai, loại đất bị lấn chiếm thường là đất chưa sử dụng như

đất giao thông, đất di tích lịch sử văn hóa, đất do tập thể quản lý “Hành vi lấn đất

là tự tiện dịch chuyển mốc địa giới sang phần đất công cộng hoặc sang phần đất của người khác để mở rộng diện tích đất của mình Hành vi chiếm đất là hành vi không trả lại đất khi Nhà nước tạm giao hoặc cho mượn đất trong thời gian thi công công trình; sử dụng đất công cộng hoặc đất của người khác mà không được pháp luật cho phép” Với hành vi lấn, chiếm đất ngoài hình thức xử phạt hành

chính còn thu hồi đất để trả lại đất công cộng hoặc trả lại cho người có đất bị lấn, chiếm Ví dụ như tự tiện khai hoang vào phần đất chưa sử dụng để tự ý sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong khi Nhà nước chưa có quy hoạch sử dụng phần đất này

(5) Việc đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng đã bị lợi dụng để trục lợi của một số cá nhân có chức, có quyền Nguyên nhân là đất có nguồn gốc sử dụng phức tạp, hệ thống văn bản pháp lý về bồi thường hỗ trợ tái định cư còn nhiều bất cập, nhiều kẽ hở không phù hợp với thực tế tại địa phương có đất bị thu hồi

(6) Sử dụng đất không đúng mục đích là “hành vi sử dụng đất không đúng

với mục đích sử dụng, loại đất ghi trong giấy chứng nhận QSDĐ hoặc quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hoặc giấy tờ khác về QSDĐ” quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật

Đất đai 2013

(7) Gây cản trở việc sử dụng đất của người khác là “hành vi đưa vật liệu xây

dựng, chất thải hay các vật khác lên thửa đất của người khác hoặc đào bới đất với

Trang 29

hậu quả là gây cản trở, làm giảm khả năng sử dụng đất của người khác hoặc gây thiệt hại cho việc sử dụng đất của người khác”

(8) Hành vi không sử dụng đất là hành vi của các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện một mục đích cụ thể nhưng các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân lại không thực hiện, để đất bị hoang hóa, lãng phí

1.1.2.4 Phân loại vi phạm pháp luật đất đai

VPPL về QL,SDĐĐ xảy ra phổ biến với nhiều phương thức, tính chất, mức

độ khác nhau và xảy ra ở phạm vi rộng Tuy nhiên xét về tính chất và mức độ ảnh hưởng tới xã hội chúng ta có thể phân VPPL về đất đai có hai loại chính đó là: vi phạm hành chính trong QL,SDĐĐ; vi phạm dân sự trong QL,SDĐĐ và tội phạm VPPL trong công tác QL,SDĐĐ:

* Vi phạm hành chính trong quản lý, sử dụng đất đai

Các hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng đất được quy định từ Điều 09 đến Điều 37 của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 bao gồm:

- Chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa vào mục đích khác không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép Gồm: (i) Chuyển mục đích sử dụng sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng; (ii) Chuyển mục đích sử dụng sang đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối; (iii) Chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn; (iiii) Chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp tại khu vực đô thị

- Tự ý chuyển mục đích sử dụng đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép Gồm: (i) Chuyển mục đích sử dụng sang nhóm đất nông nghiệp như: đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác; (ii) Chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp; (iii) Chuyển đất rừng đặc dụng là rừng tự nhiên, đất rừng phòng hộ là rừng tự nhiên, đất rừng sản xuất là rừng

tự nhiên sang mục đích khác

Trang 30

- Chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp không phải đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất sang mục đích khác mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép Gồm: (i) Chuyển mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới dạng ao, hồ, đầm (ii) Chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác sang đất phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn; (iii) Chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác sang đất phi nông nghiệp tại khu vực đô thị

- Chuyển mục đích sử dụng đất phi nông nghiệp sang mục đích khác trong nhóm đất phi nông nghiệp mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép Gồm: (i) Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trả tiền một lần sang đất ở tại khu vực nông thôn mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; (ii) Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thu tiền hàng năm sang đất ở tại khu vực nông thôn; (iii) Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; (iiii) Chuyển đất trong nhóm phi nông nghiệp vào mục đích khác ở khu vực đô thị không được cơ quan thẩm quyền cho phép

- Chuyển đổi cơ cấu cây trông trên đất trồng lúa không đúng quy định; sử dụng đất vào mục đích khác thuộc trường hợp phải đăng ký mà không đăng ký

- Lấn, chiếm đất

- Hủy hoại đất

- Gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác

- Không đăng ký đất đai

Trang 31

- Tự ý chuyển quyền, cho thuê, thế chấp bằng quyền sử dụng đất khi không

đủ điều kiện quy định tại khoản 1 điều 188 của Luật đất đai

- Tự ý chuyển quyền, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp đối với đất không thuộc trường hợp được chuyển quyền, cho thuê, cho thuê lại theo quy định Luật đất đai

- Người sử dụng đất được nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm

để đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, để cho thuê lại đất, nhưng lại cho thuê lại đất theo hình thức trả tiền thuê đất một lần kể

từ ngày Luật đất đai 2013 có hiệu lực

- Tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền trong dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở

- Tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở mà không đủ điều kiện quy định tại Điều 42 và Điều 42a của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 26 Điều 2 của Nghị định 01/2017/NĐ-CP

- Bán, mua tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm mà không đủ điều kiện theo quy định tại điều 189 của Luật đất đai

- Cho thuê tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm mà không đủ điều kiện quy định tại Điều 38a của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 24 Điều 2 của Nghị định 01/2017/NĐ-CP

- Tự ý chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện của hộ gia đình, cá nhân mà không đủ điều kiện quy định tại Điều 192 của Luật đất đai

- Tự ý nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện của hộ gia đình, cá nhân mà không đủ điều kiện quy định tại Điều 191 và Điều 192 của Luật đất đai

- Tự ý chuyển quyền và nhận quyền sử dụng đất đối với cơ sở tôn giáo không đúng quy định của Luật đất đai

Trang 32

- Tự ý nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp mà không

đủ điều kiện quy định tại Điều 193 của Luật đất đai

- Tự ý nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp vượt quá hạn mức quy định tại Điều 130 của Luật đất đai và Điều 44 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP

- Tự ý nhận chuyển quyền sử dụng đất, cho thuê đất không đúng quy định tại Điều 153 và Điều 169 của Luật đất đai và Điều 39 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP

- Không nộp hồ sơ, không cung cấp, cung cấp không đầy đủ giấy tờ để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người mua, thuê mua nhà, công trình xây dựng, nhận quyền sử dụng đất tại dự án kinh doanh bất động sản

- Không sử dụng đất trồng cây hàng năm trong thời gian 12 tháng liên tục đất trồng cây lâu năm trong thời hạn 18 tháng liên tục, đất trồng rừng trong 24 tháng liên tục

- Không làm thủ tục chuyển sang thuê đất đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 60 của Luật đất đai

- Vi phạm quy định về quản lý chỉ giới sử dụng đất, mốc địa giới hành chính

- Vi phạm về giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất

- Vi phạm quy định về cung cấp thông tin đất đai liên quan đến thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân

- Vi phạm điều kiện về hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực đất đai Gồm: (i) Tổ chức vi phạm về điều kiện được hoạt động tư vấn, xác định giá đất (ii) Tổ chức vi phạm về điều kiện được hoạt động tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (iii)

Tổ chức hoạt động tư vấn dịch vụ trong lĩnh vực đất đai khác như điều tra, đánh giá đất đai; cải tạo đất; đo đạc, lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận; đấu giá quyền sử dụng đất; bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư vi phạm điều kiện về hoạt động tư vấn về dịch vụ đất đai18

* Vi phạm dân sự trong quản lý và sử dụng đất đai

Trang 33

Đối tượng chịu trách nhiệm dân sự là những người sử dụng đất, người có trách nhiệm quản lý đất đai hoặc những người khác có hành vi vi phạm pháp luật đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước, cho người khác thì ngoài việc bị áp dụng một trong những biện pháp trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hình sự còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho Nhà nước hoặc cho người bị thiệt hại

Việc bồi thường thiệt hại trong trách nhiệm dân sự được áp dụng theo nguyên tắc ngang giá, toàn bộ và kịp thời Nghĩa là người gây thiệt hại đến đâu thì phải bồi thường đến đó, việc bồi thường phải đầy đủ và thực hiện nhanh chóng Khác với các hình thức trách nhiệm khác, trong trách nhiệm dân sự có một đặc điểm nổi bật là các bên có thể tự thỏa thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại Nếu không thỏa thuận được về mức bồi thường thiệt hại thì bên bị thiệt hại có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết: thẩm quyền của Tòa án giải quyết vi phạm dân

sự trong lĩnh vực đất đai được quy định tại khoản 9, Điều 26 Bộ Luật Tố Tụng Dân

Sự 2015

* Tội phạm vi phạm các quy định về quản lý và sử dụng đất đai

Trong Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (ban hành năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) tội phạm vi phạm quy địn về quản lý, sử dụng đất bao gồm:

- Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (quy định tại Điều 228 bộ Luật

hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)“Người nào lấn chiếm đất, chuyển quyền

sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”19

- Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (quy định tại Điều 229 Bộ luật

hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)“Người nào lợi dụng hoặc lạm dụng

19 Luật hình sự năm 2015, tr209

Trang 34

chức vụ, quyền hạn giao đất, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này

mà còn vi phạm, thì bị xử phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ

06 tháng đến 03 năm”20

- Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất (quy định tại Điều 230 Bộ luật hình sử năm 2015, sửa đổi bổ sung năm

2017)“Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc thực hiện bồi thường, hỗ

trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất mà vi phạm quy định của Nhà nước đã bị

xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”21

1.2 Hình thức, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật đất đai

1.2.1 Xử lý đối với người vi phạm hành chính về quản lý, sử dụng đất đai

Hành vi vi phạm các quy định về QL,SDĐĐ sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Để thống nhất hình thức xử lý, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật cụ thể sau:

Các đối tượng bị xử lý VPPL đất đai áp dụng theo Điều 96 Nghị định số 43/2104/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 15 tháng 05 năm 2014 quy định về

các đối tượng bị xử lý VPPL đất đai khi thi hành công vụ gồm:“Người đứng đầu tổ

chức, Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định về quản lý đất đai, cán bộ, công chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp, Người đứng đầu tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của tổ chức được Nhà nước giao đất để quản lý”22

Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính về sử dụng đất đai được quy định tại Điều 02 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ

bao gồm: “Hộ gia đình, cộng đồng dân cư; cá nhân trong nước, cá nhân nước

ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài;Tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Cơ sở tôn giáo Bên cạnh đó một số

Trang 35

cá nhân, tổ chức được miễn trừ như đại diện ngoại giao, các lãnh sự nước ngoài và

cơ quan tổ chức quốc tế tại Việt Nam không thuộc đối tượng xử phạt hành chính”23 Ngoài ra, người có hành vi VPPL về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước, cho người khác, bên cạnh bị xử lý theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Luật đất đai 2013 còn bị buộc bồi thường cho Nhà nước hoặc cho người bị thiệt hại theo mức thiệt hại thực tế

Tại Nghị định số 91/2019/NĐ-CP hướng dẫn áp dụng các chế tài xử lý vi

phạm hành chính trong QL,SDĐĐ bao gồm các hành vi sau: “lấn, chiếm đất đai;

không sử dụng đất hoặc sử dụng không đúng mục đích; chuyển mục đích sử dụng đất trái phép; huỷ hoại đất; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa

vụ tài chính, các thủ tục hành chính, các quyết định của Nhà nước trong quản lý đất đai; chuyển quyền sử dụng đất trái phép hoặc các hành vi khác VPPL về đất đai”

thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Tổ chức được Nhà nước giao đất hoặc đang sử dụng đất không thu tiền mà để xảy ra các hành vi vi phạm đó thì bị xử lý theo quy định của pháp luật tùy thuộc vào giá trị đất bị vi phạm24 Với cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định của pháp luật hoặc thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra VPPL về đất đai hoặc có hành vi gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, gây thiệt hại đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

Những vi phạm có dấu hiệu tội phạm thì:“(1) Khi xem xét vụ vi phạm để

quyết định xử phạt hành chính, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải chuyển ngay hồ sơ cho

cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền mà không được giữ lại để xử phạt hành chính (2) Trường hợp đã ra quyết định xử phạt, nếu sau đó phát hiện hành vi

Trang 36

vi phạm có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đã ra quyết định xử phạt phải hủy quyết định đó và trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày hủy quyết định xử phạt, phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền”

Như vậy, sau khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thì Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 và Nghị định

số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 để quy định các hành vi vi phạm quy định QL,SDĐĐ và chế tài áp dụng đối với các hành vi đó, nhằm kịp thời đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội nói chung cũng như của lĩnh vực quản lý đất đai nói riêng

1.2.2 Hình phạt áp dụng với các tội phạm vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai

- Tội phạm vi phạm quy định về sử dụng đất đai

Về hình phạt: căn cứ vào Khoản 1, 2, 3 Điều 228 Bộ luật hình sự 2015,

những người phạm tội này thì “bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng

hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm Nếu phạm tội có tổ chức, phạm từ 02 lần trở lên hoặc tái phạm nguy hiểm sẽ bị phạt tiền

từ 500 triệu đồng đến 2 tỉ hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, ngoài ra người vi phạm có thể phải chịu hình phạt bổ sung”25

- Tội phạm vi phạm về quản lý đất đai

Về hình phạt: căn cứ vào Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 229 Bộ luật hình sự 2015

người vi phạm tội này hình phạt áp dụng có thể “cải tạo không giam giữ đến 03

năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm Trường hợp cấu thành tăng nặng có thể

bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, tùy thuộc diện tích đất và giá trị của đất vi phạm

có thể phạt tù từ 05 năm đến 12 năm, bên cạnh đó người vi phạm cũng có thể chịu hình phạt bổ sung”26

25 Luật hình sự năm 2015, tr209

26 Luật hình sự năm 2015, tr209

Trang 37

- Tội phạm vi phạm quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Về hình phạt: căn cứ vào Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 229 Bộ luật hình sự 2015

người phạm tội này có thể bị phạt “cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù

từ 01 năm đến 05 năm Trường hợp cấu thành tăng nặng thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại có thể bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, ngoài ra người vi phạm còn bị chịu thêm hình phạt bổ sung”27

1.3 Phân công, phân cấp và mối quan hệ phối hợp giữa các lực lượng chức năng trong xử lý vi phạm pháp luật đất đai

1.3.1 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Thẩm quyền xử lý các VPPL đất đai được quy định cụ thể tại Điều 38, Điều

39, Điều 40, Điều 41 trong Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm

2019, cụ thể:“Biên bản và thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính: biên bản

vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai được lập theo quy định tại Điều

58 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ; Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định tại các Điều 38 và 39 của Nghị định này”28

Thẩm quyền của Chủ tịch UBND các cấp trong việc xử phạt vi phạm hành

chính tùy theo từng cấp để xử phạt, như “Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thể phạt đến

500 triệu đồng, Chủ tịch UBND cấp huyện có thể phạt đến 50 triệu đồng còn Chủ tịch UBND cấp xã có thể phạt đến 5 triệu đồng”; ngoài ra thẩm quyền của Chủ tịch

còn đưa ra hình phạt cảnh cáo, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm tương đương với số tiền quy định và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả29

Thẩm quyền của thanh tra chuyên ngành đất đai: trong Nghị định có nêu rõ chức trách và quyền hạn của thanh tra các cấp về chuyên ngành đất đai, tùy thuộc

Trang 38

từng cấp độ mà quyền hạn ra quyết định xử phạt khác nhau “Chánh thanh tra Bộ

TN và MT có thể ra quyết định xử phạt đến 500 triệu đồng, Trưởng đoàn Thanh tra cấp Bộ có thể xử phạt đến 250 triệu đồng, Chánh thanh tra sở và tương đương có thể xử phạt đến 50 triệu đồng, Thanh tra viên thì có thể xử phạt đến 500 nghìn đồng”; ngoài ra có thể phạt cảnh cáo, tịch thu tang vật vi phạm mà không vượt quá

mức tiền quy định, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả30

Ngoài những người có thẩm quyền xử phạt theo quy định tại Nghị định số

91/2019/NĐ-CP, “những người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các

cơ quan khác theo quy định tại Khoản 3 Điều 58 của Luật xử lý vi phạm hành chính

và khoản 2 Điều 6 của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung tại khoản 7 Điều 1 của Nghị định 97/2017/NĐ-CP, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao mà phát hiện các hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực hoặc địa bàn quản lý của mình thì cũng có quyền xử phạt”31

1.3.2 Mối quan hệ phối hợp giữa các lực lượng trong xử lý vi phạm pháp luật đất đai

Đấu tranh phòng chống các hành vi VPPL về QL,SDĐĐ là trách nhiệm chung của các cấp, các ngành và của toàn dân, trong đó lực lượng Cảnh sát nhân dân là nòng cốt Luật Đất đai đã nêu rõ Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật nhằm đảm bảo cho đất đai được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả

Để xác định một hành vi vi phạm quy định về QL,SDĐĐ có phải là tội phạm hay không cần căn cứ vào Bộ luật Hình sự Điều 4 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

“Các cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ

pháp khắc phục, thẩm quyền lập biên bản, xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai”

31 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012

Trang 39

chức, cá nhân phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng”32

Lực lượng Cảnh sát nhân dân và lực lượng thanh tra nói chung, thanh tra ngành địa chính nói riêng có mối quan hệ phối hợp mang tính tất yếu khách quan và được quy định trong các văn bản pháp lý, nhằm mục đích loại bỏ nguyên nhân và điều kiện phát sinh hành vi vi phạm Thông qua các hoạt động nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát nhân dân phát hiện những hoạt động của người vi phạm các quy định về QL,SDĐĐ, kiến nghị với các cơ quan chức năng, trong đó có cơ quan thanh tra để có những biện pháp khắc phục những sơ hở thiếu sót trong các khâu, thủ tục quy trình cấp đất, chuyển nhượng đất đồng thời đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục pháp luật, đưa ra xét xử công khai các vụ án vi phạm các quy định về QL,SDĐĐ trên các phương tiện thông tin đại chúng Ngược lại, trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình cơ quan thanh tra phát hiện những dấu hiệu vi phạm các quy định về QL,SDĐĐ nghiêm trọng chuyển hồ sơ đến lực lượng Cảnh sát nhân dân để phòng ngừa và điều tra khám phá hành vi vi phạm nhanh chóng

Lực lượng Cảnh sát nhân dân phải phối hợp chặt chẽ với lực lượng an ninh nhân dân, đặc biệt là lực lượng an ninh nội bộ để tiến hành công tác sưu tra, xác minh hiềm nghi qua đó nếu phát hiện những dấu hiệu liên quan đến vi phạm đất đai thì có biện pháp xử lý kịp thời

Lực lượng Công an các địa phương có trách nhiệm phát hiện, đấu tranh với các hành vi vi phạm quy định về QL,SDĐĐ, khi phát hiện những tổ chức đường dây hoạt động của tội phạm vi phạm quy định về QL,SDĐĐ liên quan đến nhiều địa phương hoặc liên quan đến các cán bộ có chức quyền thì phải báo cáo lên Bộ Công

an để có kế hoạch chỉ đạo đấu tranh đạt hiệu quả

32 Luật hình sự năm 2015

Trang 40

Đồng thời xác định được mối quan hệ phối hợp với các lực lượng trong công tác QL,SDĐĐ để công tác đấu tranh phòng, chống các VPPL về đất đai có hiệu quả hơn

Ngày đăng: 04/09/2020, 23:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w