hợp phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc do người khác gây ra khoản 1 Điều 51 và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ VIỆT DŨNG
Tội giết ng-ời trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
theo Luật hình sự Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS LÊ TRUNG KIÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét cho tôi bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Việt Dũng
Trang 4TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH 8 1.1 Khái niệm, đặc điểm của tội giết người trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh 8
1.1.1 Khái niệm 8 1.1.2 Đặc điểm của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh 10
1.2 Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh với một số tội khác 18
1.2.1 Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh với tội giết người 18 1.2.2 Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng 24 1.2.3 Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 26
1.3 Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh theo Luật hình sự một số nước trên thế giới 27
1.3.1 Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
theo Luật hình sự Liên bang Nga 27 1.3.2 Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
theo Luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức 29
Trang 51.3.3 Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
theo Luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung hoa 30
1.3.4 Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Luật hình sự Thụy Điển 30
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 32
2.1 Quy định của luật hình sự Việt Nam về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 32
2.1.1 Quy định của luật hình sự Việt Nam trước năm 2015 32
2.1.2 Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 43
2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 44
2.3 Nhận xét đánh giá 49
2.3.1 Những ưu điểm 49
2.3.2 Những hạn chế thiếu sót và nguyên nhân 50
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH VÀ BẢO ĐẢM ÁP DỤNG TRONG THỰC TIỄN THI HÀNH 59
3.1 Những giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 59
3.2 Nhóm giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật 65
3.3 Nhóm giải pháp khác 71
3.3.1 Nhóm giải pháp về tuyên truyền, phổ biến pháp luật 71
3.3.2 Những giải pháp về hoạt động quản lý trật tự xã hội 77
3.3.3 Giải pháp trong công tác quản lí, thanh tra, giám sát 80
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 88
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự CTTP: Cấu thành tội phạm TAND: Tòa án nhân dân TANDTC: Toàn án nhân dân tối cao TNHS: Trách nhiệm hình sự
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Thống kê tình hình tội phạm nước ta từ 01/2015 –
Bảng 2.2 Tình hình tội phạm giết người ở nước ta từ 01/ 2015
Bảng 2.3 Thống kê số vụ giết người và số vụ phạm pháp hình
sự nói chung trong giai đoạn từ 01/ 2015 – 06/2018 89 Bảng 2.4 Thống kê tội phạm giết người trong trạng thái tinh
thần kích động mạnh với tội phạm giết người từ 01/
Bảng 2.5 Thống kê sự gia tăng của tội phạm giết người trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh từ 01/ 2015 –
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu tội phạm giết người trong trạng thái tinh
thần kích động mạnh với tội phạm giết người 45
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người là vốn quý của xã hội, là đối tượng hàng đầu được luật hình
sự nói riêng cũng như pháp luật nói chung bảo vệ Bảo vệ con người trước hết
là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, bảo vệ nhân phẩm, danh dự và tự do của họ, vì
đó là điều có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với con người
Trong các khách thể nói trên tính mạng của con người là một trong những khách thể quan trọng nhất, vì lẽ đó không chỉ pháp luật của các quốc gia mà pháp luật quốc tế đều coi quyền sống con người là thiêng liêng không ai được xâm phạm Luật hình sự Việt Nam từ trước đến nay đều xác định hành vi xâm phạm tính mạng con người là hành vi có tính nguy hiểm rất cao và quy định những khung hình phạt rất nghiêm khắc Pháp luật hình
sự Việt Nam qua cả hai lần pháp điển hóa đều ghi nhận việc thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Tại Bộ luật hình sự
1999 tội phạm thực hiện trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được ghi nhận tại Điều 95 và Điều 105 còn ở Bộ luật hình sự năm 2015 được quy định tại điều 125 và điều 134 Bộ luật hình sự 2015 so với Bộ luật hình
sự 1999 có một số thay đổi nhưng bản chất của các tội phạm này liên quan đến việc thực hiện việc phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh vẫn giữ nguyên Tuy nhiên ở cả hai bộ luật tại phần chung vẫn chưa ghi nhận khái niệm pháp lý thế nào là thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, các dấu hiệu của chúng để phân biệt với việc thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc của người khác gây ra tại khoản 1 Điều 51
Do vậy, nghiên cứu để hoàn thiện là một việc cần thiết Việc áp dụng pháp luật liên quan đến vấn đề này trên thực tế không dễ dàng Phân biệt trường
Trang 9hợp phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với trường hợp
bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc do người khác gây ra (khoản 1 Điều 51) và với trường hợp phạm tội vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng đòi hỏi phải có sự quy định rõ ràng, cụ thể về các vấn đề pháp lý trên Không phân biệt rõ ràng cũng như không hiểu rõ bản chất của việc thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh sẽ gây ra nhiều vướng mắc, lúng túng và áp dụng không thống nhất các quy định của Bộ luật hình sự trong hoạt động xét xử của Tòa án, từ đó ảnh hưởng đến việc xử lý tội phạm công minh, đúng người, đúng tội Tiếp tục nghiên cứu các quy định pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về các tội phạm thực hiện trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra các giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định đó không chỉ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn, pháp lý quan trọng Tuy tội phạm này được thực hiện trong hoàn cảnh khả năng nhận thức và kiềm chế hành vi của người phạm tội bị hạn chế và chính nạn nhân cũng là người có lỗi nhưng vì tội phạm đã xâm hại đến khách thể quan trọng được luật hình sự bảo vệ đó là tính mạng con người
mà nguyên nhân xuất phát từ hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân dẫn đến hành vi giết người của người phạm tội
Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn, phân tích rõ những dấu hiệu pháp lý, phát hiện, đồng thời đề xuất các kiến nghị giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn có liên quan đến tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh luôn luôn là vấn đề cần thiết và có nhiều ý nghĩa
Chính vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài: “Tội giết người trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh theo Luật hình sự Việt Nam” làm đề tài cho luận
văn thạc sĩ của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh vừa là dấu hiệu định tội vừa là hình thức hoạt động thể hiện sự đánh giá về mặt pháp
lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội Do đó, ở trong và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, những khía cạnh, những phương diện khác nhau về vấn đề này Ở cấp độ luận văn thạc sỹ
có các đề tài của các tác giả Đoàn Văn Lâm “Các tội xâm phạm tính mạng con
người trong luật hình sự Việt Nam (cơ sở đào tạo Hà Nội, 2013) Ở cấp độ luận
án tiến sĩ có các đề tài của các nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hồng Hà “Tội giết
người trong Bộ luật hình sự Việt Nam” (luận án tiến sĩ, Đại học Luật Hà Nội,
năm 2007 Tiến sĩ Trần Văn Luyện (2000) “Các tội xâm phạm tính mạng con
người trong luật hình sự Việt Nam” Nxb chính trị quốc gia Bên cạnh đó, về
giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công trình sau: Lê Cảm (chủ
biên 2001), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội, (tái bản lần thứ nhất – 2003);
Ngoài ra, nghiên cứu về tội phạm này còn được thể hiện trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam của một số cơ sở đào tạo luật như Khoa Luật – ĐHQGHN, Đại học Luật Hà Nội, Học viện Cảnh sát nhân dân… và các cuốn
bình luận khoa học Luật hình sự Việt Nam của một số tác giả: Bình luận khoa
học BLHS năm 2015 – GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, Bình luận những điểm mới của Bộ luật hình sự (hiện hành) (sửa đổi bổ sung năm 2017) do Nguyễn Văn
Thuyết (chủ biên) Nxb Chính trị quốc gia sự thật (năm 2018)
Trên cơ sở khảo sát cho thấy ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về tội giết người thực hiện trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nhưng chưa được xem xét riêng với tư cách là một dấu hiệu định tội mà chỉ tập trung phân tích các cấu thành tội phạm cũng như hình
Trang 11phạt áp dụng hoặc nghiên cứu chúng trong hệ thống các tội xâm phạm về tính mạng, sức khỏe Các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở khái niệm mà chưa đi sâu nghiên cứu các dấu hiệu nhận biết thực hiện tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Như vậy, tình hình nghiên cứu trên đây một lần nữa cho phép khẳng định việc nghiên cứu đề tài “Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Luật Hình sự Việt Nam” là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa
có tính lý luận vừa có tính thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như quy định của pháp luật về tội thực hiện trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh dưới khía cạnh lập pháp hình sự và áp dụng chúng trong thực tiễn, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định đó, cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế
Từ mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Từ cơ sở tổng hợp quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh luận văn tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện lý luận về một số vấn đề như: Khái niệm; Các dấu hiệu nhận biết trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với tội giết người, với tội giết người vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
- Khái quát sự phát triển của việc ghi nhận thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong lịch sử lập pháp của Việt Nam từ xưa đến nay;
- Nghiên cứu những quy định cụ thể về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Trang 12- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về thực hiện tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Đồng thời làm rõ những hạn chế xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân của nó;
- Đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong BLHS Việt Nam hiện hành và nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tiễn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài này tập chung vào các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (có phân tích, so sánh với một số tội phạm có liên quan đến tội giết người trọng trạng thái tinh thần bị kích động mạnh) Nghiên cứu thực tiễn trên phạm vi toàn quốc từ tháng 1- 2015 đến tháng 6- 2018
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước về cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và đấu tranh phòng chống tội phạm
Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu đa dạng, như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh… Mỗi phương pháp được sử dụng phù hợp với từng nội dung và giải quyết được các vấn đề đặt ra trong nội dung đó Các phương pháp nghiên cứu này đảm bảo tính khoa học cao, tính hiện đại phù hợp với tính chất, nội dung đề tài và đáng tin cậy
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
Trang 13lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác- xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp thể hiện trong các nghị quyết của Đại hội Đảng Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê; phương pháp
xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề nghiên cứu trong luận văn
6 Điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình đi sâu vào nghiên cứu phân tích một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống những vấn đề lý luận thực tiễn về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Đưa ra được khái niệm tương đối đầy đủ về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; Khái quát phân tích một cách có hệ thống các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội này, dấu hiệu cơ bản để phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với các tội khác có liên quan đến tính mạng con người
Khảo sát thực tiễn về tình hình phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đưa ra nhận xét đánh giá khách quan chính xác và đề
ra những giải pháp thiết thực được tích lũy từ thực tiễn để giảm thiểu số lượng của tội phạm này
7 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập, giảng dạy
và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam, đặc biệt với chuyên ngành tư pháp hình sự
Trang 14Dựa trên cơ sở phân tích lý luận và tìm hiểu thực tiễn về tình hình tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, đưa ra những luận giải, những căn cứ khoa học, để từ đó đưa ra kết luận kiến nghị có ý nghĩa lý luận thực tiễn trong công tác phòng, chống tội phạm
Về thực tiễn: kết quả nghiên cứu đề tài có thể tham khảo để xây dựng đường lối, chính sách, quản lý xã hội, nhằm ngăn chặn và tiến tới đẩy lùi tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, thức tỉnh đạo đức, lương tâm người phạm tội Đề tài có thể được dùng làm tư liệu trong nghiên cứu giảng dạy và học tập
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì khóa
gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội giết người trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh
Chương 2: Quy định của luật hình sự Việt Nam về tội giết người trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về
tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và bảo đảm áp dụng trong thực tiễn thi hành
Trang 15CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH
1.1 Khái niệm, đặc điểm của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
1.1.1 Khái niệm
Là một trường hợp đặc biệt của tội giết người được tách ra xử lý thành một tội riêng, vì vậy, để hiểu rõ khái niệm của “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” thì trước hết chúng ta tìm hiểu về khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của “tội giết người”
Về khái niệm của tội giết người hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau Cụ thể:
Theo bản chuyên đề tổng kết thực tiễn xét xử loại tội giết người ban hành kèm theo Công văn số 452-HS2 ngày 10/08/1970 của Tòa án nhân dân
tối cao thì:“Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người
khác một cách trái pháp luật” [34, tr 83]
Tuy nhiên cũng có quan điểm khác cho rằng “tội giết người là hành vi
trái pháp luật của người đủ năng lực trách nhiệm hình sự cố ý tước bỏ quyền sống của người khác” [17, tr 67]
Cả hai quan điểm đưa ra đều chưa hợp lý ở chỗ: Chưa đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và dấu hiệu độ tuổi của chủ thể “tội giết người” (quan điểm thứ nhất) hoặc chỉ đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự mà không đề cập đến dấu hiệu độ tuổi (quan điểm thứ hai), để
khắc phục những hạn chế này, quan điểm thứ ba cho rằng: “Tội giết
người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện”[7, tr 38] Còn theo Giáo trình Khoa Luật- Đại học Quốc gia
Trang 16Hà Nội lại định nghĩa là “hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính
ra thành các tội danh riêng, đó là “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” và “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” [9, tr 248] Theo từ điển pháp luật hình sự thì “Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh
là tình trạng ý thức bị hạn chế tức thời ở mức độ cao do không chế ngự được tình cảm dẫn đến sự hạn chế đáng kể khả năng kiểm soát và điều khiển hành vi” [9, tr 247] Do vậy tình tiết này có thể được quy định là tình tiết định
Trang 17khung hình phạt giảm nhẹ hoặc có thể là tình tiết định tội cho tội nhẹ hơn so với tội của trường hợp bình thường
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [28, tr 5]
Từ những phân tích ở trên có thể đưa ra định nghĩa về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh như sau:
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi
cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác trong trạng thái người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiểm soát được bản thân do hành
vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người đó
1.1.2 Đặc điểm của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
1.1.2.1 Khách thể của tội phạm
Khách thể của Tội giết người là quan hệ nhân thân mà nội dung của nó
là quyền được tôn trọng và bảo hộ về tính mạng của con người
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ nhưng bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa trực tiếp gây thiệt hại ở một chừng mực nhất định [9, tr 246]
Trang 18Khách thể của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là xâm phạm tính mạng của người khác một cách trái pháp luật Điều
20 Hiến Pháp 2013 khẳng định quyền được sống, quyền bảo vệ tính mạng là quyền cơ bản của công dân Việt Nam Bất kỳ ai cũng được tôn trọng và bảo
vệ tính mạng Không ai có quyền tước đi mạng sống của người khác trong bất
kỳ hình thức nào Sự sống của con người “bắt đầu từ khi đứa trẻ được sinh ra khỏi cơ thể người mẹ và tồn tại độc lập trong thế giới khách quan, với tư cách
là một thực thể tự nhiên và xã hội” [6, tr 17]
Trong số các quyền nhân thân, quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo hộ về tính mạng của con người là quyền tự nhiên, thiêng liêng và cao quý nhất, không một quyền nào có thể so sánh được Bởi lẽ, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Khi quyền sống, quyền được tôn trọng
và bảo vệ tính mạng của con người bị xâm phạm thì mục tiêu phấn đấu của loài người sẽ trở nên vô nghĩa; động lực phát triển của xã hội sẽ bị triệt tiêu Thêm vào đó, con người còn là chủ thể của quan hệ xã hội Nếu quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người bị xâm phạm thì các quan hệ xã hội sẽ bị phá vỡ Chính vì những lý do trên mà mục tiêu bảo vệ quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người luôn được đặt lên hàng đầu đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi thời kỳ và mọi chế độ Cũng vì ý nghĩa đặc biệt quan trọng của quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo hộ về tính mạng của con người mà trong các BLHS từ năm 1985 đến nay, ngay sau các tội xâm phạm an ninh quốc gia, nhà làm luật đều đã quy định Điều này càng khẳng định, quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người thật sự thiêng liêng, cao quý, cần được bảo
vệ một cách tuyệt đối Bất cứ ai xâm phạm quyền sống, quyền được tôn trọng
và bảo vệ tính mạng của con người đều phải bị trừng trị nghiêm khắc Hiện nay chưa có quy định cụ thể về người thân thích đây cũng là một trong số
Trang 19nhưng băn khoăn của tác giả về việc hoàn thiện pháp luật của tội này, tác giả
có đưa ra ý kiến giải thích đóng góp về vấn đề này ở phần sau
1.1.2.2 Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm tác động, gây thiệt hại đáng kể cho quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ [9, tr 582]
Cũng giống như các tội phạm khác khi được thực hiện đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại ra bên ngoài thế giới khách quan mà con người
có thể nhận biết được “Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” cũng có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại ở ngoài thế giới khách quan, đó là:
- Hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác;
- Hậu quả chết người;
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác và hậu quả chết người
Ngoài ra còn có các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội như: công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội… Những dấu hiệu này không được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nhưng việc xác định nó có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Ở BLHS nước ta hiện nay chưa có quy định cụ thể về hành vi trái pháp luật nghiêm trọng, gây khó khăn trong việc định tội danh, về vấn đề này tác giả có ý kiến đề xuất ở mục hoàn thiện pháp luật
Hành vi khách quan của tội phạm là xử sự của con người gây ra hoặc
đe doạ gây ra cho xã hội, hành vi phạm tội chỉ có thể được biểu hiện qua hai hình thức đó là hành động hoặc không hành động Hành động phạm tội giết người là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình
Trang 20thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm - quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người, qua việc chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm Không hành động phạm tội giết người là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm - quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người, qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm mặc dù có đủ điều kiện để làm
Hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác được hiểu là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của con người Hành vi đó có thể được thực hiện bằng những cách thức khác nhau như bắn, đâm, chém
Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác được coi là hành vi khách quan của “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Đặc điểm này vừa phản ánh tính nguy hiểm của hành vi phạm tội đồng thời cũng là đặc điểm cho phép chúng ta phân biệt tội này với các tội khác mà trước hết là tội giết người
Hậu quả được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, đó là hậu quả chết người,
cụ thể là nạn nhân phải chết thì người thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng của nạn nhân mới bị coi là phạm tội này Theo đó, tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh chỉ được coi là hoàn thành khi có hậu quả chết người xảy ra Nếu nạn nhân không chết mà chỉ bị thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe mà thương tật từ 31% trở lên thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”.Tội giết
Trang 21người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh không có giai đoạn chuẩn
bị phạm tội, vì trạng thái tinh thần bị kích động mạnh chỉ có khi có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó, sự kích động đó phải có tính đột xuất, nó đến rất nhanh và cũng qua đi rất nhanh
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là tội phạm
có cấu thành vật chất nên hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Một người chỉ phải chịu TNHS về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” nếu giữa hành vi khách quan và hậu quả chết người đó có mối quan hệ nhân quả với nhau
Hành vi giết người phải xảy ra tức thời, ngay lúc có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân Bởi vì: “Nếu giữa lỗi của nạn nhân và hành động của bị cáo có một khoảng thời gian nhất định thì không thể nói bị cáo đang ở trong tình trạng đột xuất bị kích động tinh thần mạnh mẽ đến nỗi họ không tự chủ được mình nữa”
Như vậy, để xác định người phạm tội có ở trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hay không chúng ta cần xem xét giữa hành vi giết người và hậu quả chết người có mối quan hệ nhân quả hay không Nếu giữa chúng không có mối quan hệ nhân quả thì bị cáo không bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mà phạm một tội khác
1.1.2.3 Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là con người có đủ điều kiện để có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Người có đủ điều kiện để có lỗi, để trở thành chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự - năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi và năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi tất yếu của xã hội Để có được năng lực này con người
Trang 22phải đạt độ tuổi nhất định Do vậy, độ tuổi cũng là điều kiện của chủ thể của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là tình trạng của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình Một người được coi là trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự khi thoả mãn hai dấu hiệu: Dấu hiệu y học, mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động thần kinh và dấu hiệu tâm lý, mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi Người mắc bệnh trong trường hợp này: 1) Hoặc không còn năng lực hiểu biết những đòi hỏi của xã hội, không còn năng lực đánh giá hành vi đã thực hiện đúng hay sai, được làm hay không được làm Vì vậy, họ cũng không còn năng lực kiềm chế việc thực hiện hành vi nguy hiểm để thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của
xã hội; 2) hoặc tuy có năng lực nhận thức và năng lực đánh giá tính chất xã hội của hành vi nguy hiểm, nhưng do các xung động bệnh lý khiến họ không thể kiềm chế được hành vi của mình Quy định trên cho thấy, người nào tuy mắc bệnh tâm thần, nhưng không mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì không được coi là trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
1.1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm
Là biểu hiện của trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra [9, tr 582] Trong dấu hiệu pháp lý thì mặt chủ quan là dấu hiệu quan trọng nhất Những dấu hiệu của mặt chủ quan của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh bao gồm: Dấu hiệu lỗi, dấu hiệu động cơ, dấu hiệu mục đích
Tinh thần bị kích động trong y học là gì? Thuật ngữ này đề cập đến trạng thái phấn khích của một cá nhân, kèm theo lo lắng vận động, sợ hãi và
Trang 23lo lắng Rối loạn ngôn ngữ cũng có thể xảy ra Về nguyên tắc, kích động được coi là một phản ứng tự nhiên của cơ thể con người đối với căng thẳng gây ra bởi căng thẳng nghiêm trọng Nói cách khác, tình trạng được mô tả được phát hiện dưới ảnh hưởng của yếu tố gây căng thẳng hoặc chấn thương tâm lý Ở các cá nhân, hiện tượng được xem xét xuất hiện do sợ hãi nghiêm trọng hoặc thay đổi đột ngột trong môi trường xung quanh người Ngoài ra, tình trạng này đôi khi là cố hữu ở những người có công việc nguy hiểm đến tính mạng của cá nhân Trong khoa học pháp lý tinh thần bị kích động mạnh là sự tác động từ các yếu tố khác kích thích lên tinh thần của người phạm tội, đây chính là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội Người bị tinh thần bị kích động mạnh là người không còn nhận thức được hành vi của mình, không có khả năng làm chủ hành vi của mình và chỉ diễn ra trong khoảnh khắc tức thời, sau đó thì người này trở lại trạng thái bình thường [41] Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh chính là dấu hiệu của tội giết người trong trạng thái tinh thâng bị kích động mạnh
Lỗi trong cấu thành tội phạm của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp Căn
cứ quy định BLHS thì lỗi cố ý trực tiếp của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành
vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả chết người có thể hoặc tất yếu xảy ra và vì mong muốn hậu quả chết người nên đã thực hiện tội phạm Lỗi cố ý gián tiếp của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra
Đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì người phạm tội thực hiện tội phạm khi có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm
Trang 24trọng của nạn nhân đối với họ hoặc người thân thích của họ làm tinh thần của họ bị kích động mạnh dẫn tới hành vi phạm tội Người phạm tội không
hề có sự chuẩn bị trước về tinh thần cũng như công cụ, phương tiện phạm tội Do vậy, lỗi của người phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh dù là lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp đều có đặc điểm chung là lỗi cố ý đột xuất Cố ý đột xuất là trường hợp người phạm tội vừa có ý định phạm tội
đã thực hiện ngay ý định đó, chưa có sự cân nhắc kỹ Thực tiễn xét xử đã
xác nhận “nếu can phạm đã có ý nghĩ và có kế hoạch giết người từ trước,
nhưng lúc hành động vì một duyên cớ nào đó có bị kích động hơn lúc bình thường và hành động một cách quyết liệt hơn thì đó cũng không phải là giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” [31, tr 346] Ở nước ta
hiện nay chưa có quy định cụ thể về trạng thái tinh thần bị kích động mạnh việc phân biệt với trường hợp tinh thần bị kích động là điều khó khăn, đây cũng là điểm mấu chốt để lấy căn cứ định tội danh một chính xác tránh án oan sai, tác giả có đưa ra ý kiến đóng góp đề suất hoàn thiện để góp phần giúp mọi người có cái nhìn khách quan, chính xác về trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Khi thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp thì lý trí của người phạm tội biểu hiện như sau: người phạm tội thấy rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và thấy trước hậu quả của hành vi đó Người phạm tội thấy trước tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình là sự nhận thức được tính chất gây thiệt hại cho xã hội của hành vi đang thực hiện trên cơ sở nhận thức được những tình tiết khách quan của nó Người phạm tội thấy trước hậu quả của hành vi là sự dự kiến của người phạm tội về sự phát triển của hành vi đó
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mặc dù người phạm tội bị hạn chế trong việc thấy trước hậu quả của hành vi giết
Trang 25người, vì khi thực hiện hành vi giết người họ đang trong tình trạng tinh thần
bị kích động mạnh nhưng không phải vì thế mà người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì lúc đó họ chưa mất hẳn khả năng nhận thức và vẫn còn có thể lựa chọn xử sự khác chứ không phải là hành vi giết người Khi thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp thì ý chí của người phạm tội được biểu hiện là mong muốn hậu quả chết người xảy ra Hậu quả chết người xảy
ra phù hợp với mong muốn của người phạm tội
Khi thực hiện tội phạm với lỗi với lỗi cố ý gián tiếp thì lý trí của người phạm tội biểu hiện như sau: người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và thấy trước hậu quả có thể xảy ra Người phạm tội không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra, ở đây người phạm tội có thể thấy trước hậu quả chết người nhưng nằm ngoài mục đích và sự quan tâm của họ, người phạm tội không hướng vào hậu quả chết người mà hướng vào mục đích khác, mục đích của hành vi Bởi lẽ khi có hành vi giết người, người phạm tội đang ở trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có thể người phạm tội chỉ mong muốn trút bỏ được cơn thù tức do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với mình hoặc người thân thích của mình
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, mục đích
và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội phạm
1.2 Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với một số tội khác
1.2.1 Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với tội giết người
“Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” và “Tội giết người” đều là tội phạm thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng con người,
Trang 26hai tội phạm này có nhiều điểm giống nhau về các yếu tố cấu thành tội phạm
Về khách thể, hai tội này có khách thể trực tiếp giống nhau là đều xâm phạm đến quyền sống của con người và gây ra cái chết cho nạn nhân Về mặt khách quan, hai tội đều là tội phạm có cấu thành vật chất, đều đòi hỏi hậu quả chết người xảy ra Về mặt chủ quan, cả hai tội phạm đều có thể thực hiện với lỗi
cố ý Chủ thể của tội phạm đều là chủ thể thường Tuy nhiên, về cơ bản hai tội này có sự khác nhau Cụ thể:
Thứ nhất, ở tội giết người trạng thái tinh thần của người phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc nhưng đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trạng thái tinh thần của người phạm tội (đang bị kích động mạnh) lại là dấu hiệu bắt buộc
Thứ hai, nếu nạn nhân của tội giết người là bất kỳ người nào thì nạn nhân của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh phải là người đã thực hiện hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội
Ngoài hai đặc điểm cơ bản trên thì hai tội phạm này còn có sự khác nhau về độ tuổi của chủ thể, ở tội giết người tuổi của người phạm tội là từ đủ
14 tuổi trở lên còn ở tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh tuổi của người phạm tội là từ đủ 16 tuổi trở lên và khác nhau về mục đích của người phạm tội, ở tội giết người thì mục đích phạm tội luôn được xác định còn ở tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mục đích tội phạm thường khó xác định
Việc xác định một người có đang ở vào tình trạng tinh thần bị kích động mạnh hay không là một vấn đề không dễ Điều này một phần cũng tùy thuộc vào đánh giá chủ quan của mỗi người Theo hướng dẫn tại Nghị quyết
số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì: Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng người phạm tội
Trang 27không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình Ta cùng xem xét ví dụ sau: Khoảng 19 giờ ngày 31/7/2002, Phạm Văn Toản, Nguyễn Văn Giáp, Lê Thanh Hải đều là sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Đăk Lăk rủ nhau ra quán ở ngỏ 3 Ea Kao (phường Ea Tam, TP Buôn Mê Thuột) đánh bi da Lúc đó, bàn bi da bên cạnh có Đinh Văn Khoa và Toản có lời qua, tiếng lại dẫn đến cãi nhau và định đánh nhau nhưng được mọi người can ngăn nên cả 3 ra về nhà trọ ở đường Ôi Sắt để nghỉ và học bài Một lát sau, Toản xuống bếp lấy một con dao Thái Lan, đi ra ngoài đến gần đường Lê Duẩn thì dừng lại ở đó Giáp và Hải đi tìm Toản, khi đến ngã 3 đường Lê Duẩn rẽ vào đường Ôi Sắt thì thấy Toản đứng đó Cùng lúc này, Đinh Văn Khoa đang đứng trước nhà 431 Lê Duẩn cùng với Phạm Văn Phương, Lê Văn Thuận, Phạm Anh Tuấn Thấy mấy người đi xe máy dừng lại ở đoạn đường
Ôi Sắt, Khoa nói với bạn “Bọn kia vừa mới gây sự với Khoa ở bàn bi da, bây giờ qua xem mặt tụi nó ra sau” Khi vừa đến chỗ Toản, Giáp và Hải đứng thì Khoa và Hải to tiếng với nhau Khoa cầm cổ áo đấm vào mặt Toản và kéo Toản xuống làm Toản bị ngã Khoa rút một vật nhọn dài chừng 30 - 40 cm trong người ra đâm sướt vai phải của Toản Lúc đó, Toản liền dùng dao giấu sẵn trong người ra đâm Khoa một nhát vào mạng sườn bên trái làm Khoa gục xuống Khoa chết trên đường đi cấp cứu Bản kết luận giám định pháp y xác định Khoa bị một vết thương rách da kích thước 4x2cm ở trên đương nách trái, cách vai trái 14 cm đi xuyên vào lòng ngực gây đứt xương sườn số 7 trái
ở cung trước, rách cơ hoành, rách màng ngoài tim, rách mõm tim xuyên với tâm nhĩ phải kích thước 7x2cm và chết do vết thương tim bởi vật sắc nhọn gây ra Toản bị một vết thương rách dài 6cm, sâu 0.5cm, khủy tay trái bầm tụ máu kích thước 15x2cm [1, tr 20] Có quan điểm cho rằng Khoa phạm tội
“giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” (Điều 125) nhưng cũng có quan điểm cho rằng Khoa phạm tội “tội giết người” (Điều 123)
Trang 28Quan điểm nào mới là chính xác? Ta hãy xem xét các tình tiết của vụ
án Toản là người có đầy đủ năng lực hành vi Hành vi dùng dao đâm Khoa đã cướp đi mạng sống của Khoa Giữa Toản và Khoa đã có bất hòa nhỏ Do được mọi người can ngăn nên Toản mới cùng bạn bỏ về Vì sự thù tức trong lòng Toản đã lấy con dao giấu vào người và đi ra ngoài Từ đây ý thức trả thù
đã xuất hiện trong đầu Toản Toản dĩ nhiên đã có ý định chủ động đi tìm Khoa Khi hai bên gặp nhau đã xảy ra xô xát Tuy trên người Toản có vết rách da… nhưng trên người Toản không có thương tích (không có kết luận giám định thương tích), cũng không thu giữ được hung khí nào đã gây ra Dù rằng Khoa có hành vi trái pháp luật với Toản nhưng đã là nghiêm trọng hay chưa? Hơn nữa, bên cạnh Toản còn có hai người bạn đi chung nên Toản chưa phải
là bị rơi vào tình trạng bị xâm phạm nghiêm trọng Toản bị truy cứu vào tội
“tội giết người” là hoàn toàn chính xác
Một bản án lệ được cho là cơ sở để phân biệt giữa tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với tội giết người đó là bản Án lệ số 28/2019/AL Nội dung vụ án: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 03-11-2016, Trần Văn C đang chơi game ở quán Internet “Su Su” thuộc thôn 1A, xã N, huyện
K, tỉnh Đắk Lắk thì bạn là anh Nguyễn Hồng Q gọi điện thoại hỏi C đang ở đâu Khi biết C đang chơi game ở quán Internet, anh Q cũng đến và vào chơi
ở máy số 6 Trong lúc chơi game, anh Q nhiều lần đến chỗ C ngồi hỏi mượn tiền, nhưng C nói không có tiền Một lúc sau, anh Q đến chỗ C đưa 02 chiếc điện thoại di động của mình nói C cầm cố đế mượn tiền, C vẫn không đồng ý nên anh Q bỏ về chỗ của mình tiếp tục ngồi chơi game Khoảng 15 phút sau, anh Q đi đến chỗ C nói “Anh không tin em sao, giúp em đi”, C trả lời “Anh không có tiền thật mà, mày làm ơn đi chỗ khác để anh chơi Anh Q chửi
“Đ.M mày, nhớ mặt tao” C nghe vậy không nói gì, anh Q bỏ về chỗ máy của mình Ít phút sau, anh Q đi đến chỗ C đang chơi game, tay phải đấm mạnh 01
Trang 29cái vào má trái của C làm chảy máu Bị đánh, C tức giận lấy dao Thái Lan có sẵn trên bàn giữa 02 máy vi tính, rồi cầm dao bằng tay phải đứng lên ghế mình ngồi Thấy vậy, anh Q lao đến, C dùng dao quơ ngang qua lại trúng vào mặt anh Q làm chảy máu Anh Q xông đến dùng hai tay kéo C xuống ghế, sau
đó anh Q dùng hai tay kẹp cổ C theo tư thế phần đầu của C ở phía sau lưng anh Q, còn phần hai tay, thân người và hai chân của C ở phía trước người anh
Q Bị anh Q kẹp cổ, C dùng tay trái nắm vào phần hông bên phải anh Q, còn tay phải C cầm dao Thái Lan đâm 01 nhát trúng ngực anh Q Anh Nguyễn Hải Q1 đang chơi game thấy vậy chạy đến giật con dao trên tay C vứt vào góc quán Lúc này anh Q bị ngã xuống nền nhà, sau đó C và một số người có mặt trong quán đưa anh Q đến bệnh viện cấp cứu Đến ngày 04-11-2016, anh Q tử vong Ngay sau đó, C đến Công an huyện K đầu thú Kết quả khám nghiệm tử thi anh Nguyễn Hồng Q ghi nhận: Vùng trán trái phía trên lông mày có vết rách da hình khe, dài 0,7cm Đỉnh mũi có vết rách da hình khe dài 02cm, sâu 0,4 cm; cách vết này 03 cm tại môi trên có vết rách da hình khe dài 02 cm Mép phải có vết rách da hình khe dài 03 cm, sâu 0,8 cm Ba vết rách da tạo đường thẳng không liên tục hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải Ngực phải cách núm vú phải 3,5 cm về phía dưới, cách đường giữa 09 cm có vết xây xát da nằm ngang hình khe dài 1,3 cm Ngực trái cách gót chân trái 120
cm, cách đường giữa 05 cm có vết rách da dài 2,5 cm, hở rộng 01 cm, nằm ngang hướng từ trái sang phải, từ trước ra sau, từ ngoài vào trong Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 714/QĐPY ngày 24-11-2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Nguyên nhân tử vong của anh Nguyễn Hồng Q là vết thương thấu ngực trái gây nên thương tổn xuyên tim dẫn đến tim ngừng đập và mất máu suy tuần hoàn cấp không hồi phục Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 113/PY-TgT ngày 04-01-2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Trần Văn C bị chấn thương vùng má trái
Trang 30với thương tích 02% Trước khi xét xử sơ thấm, gia đình Trần Văn C đã bồi thường cho gia đình người bị hại 95.000.000 đồng Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2017/HSST ngày 09-5-2017, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk áp dụng khoản 1 Điều 95; các điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”; căn cứ Điều 42 Bộ luật Hình sự, các điều 606, 610 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo C phải bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 122.600.000 đồng, đã bồi thường 95.000.000 đồng, còn lại phải bồi thường 27.600.000 đồng; buộc cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Hồng M 600.000 đồng/tháng; đối với con mới sinh của anh Nguyễn Hồng Q, chị Lại Thị Minh T có quyền khởi kiện về yêu cầu cấp dưỡng bằng một vụ án dân sự khác Khi có yêu cầu [40] Bị hại là người gây sự, tấn công
bị cáo trước Hành vi tấn công của bị hại diễn ra liên tục với mức độ tăng dần Hành vi của bị hại là trái pháp luật, xâm phạm sự an toàn về thân thể của bị cáo Trong trạng thái bị kích động dẫn đến mất khả năng tự chủ, không nhận thức hết được tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của mình, bị cáo dùng dao đâm vào ngực bị hại là nhằm thoát khỏi sự tấn công Do đó, có đủ
cơ sở xác định Trần Văn C đã bị kích động mạnh về tinh thần Tòa án cấp sơ thẩm kết án Trần Văn C về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ” là có căn cứ
Tóm lại, nếu tội phạm thỏa mãn đồng thời cả hai dấu hiệu trên trong dấu hiệu pháp lý thì chúng ta có thể xác định được đó là tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Còn nếu tội phạm xảy ra chỉ
có một trong hai đặc điểm trên thì chúng ta có thể xác định đó là tội giết người Hai đặc điểm cơ bản của trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội và hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân có mối quan hệ nhân quả với nhau Do vậy, khi xác định tội phạm chúng ta phải
Trang 31xem xét một cách chính xác để có kết luận đúng đắn tránh tình trạng xác định sai tội danh
1.2.2 Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
Căn cứ khái niệm và các điều kiện của phòng vệ chính đáng cũng như khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội giết người trong trạng thái tinh thần
bị kích động mạnh, chúng ta có thể phân biệt hai tội phạm này qua những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, về nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, trong tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là xuất phát từ người có hành vi nguy hiểm đang xâm hại đến lợi ích chính đáng của chính người phạm tội hoặc xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, tập thể vì họ muốn bảo vệ các lợi ích đó mà có hành vi chống trả một cách quá mức cần thiết và gây hậu quả chết người; với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì nguyên nhân dẫn đến việc giết người là do người phạm tội bị kích động mạnh về tinh thần do họ không tự chủ, tự kiềm chế được hành vi của mình do nạn nhân đã có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật xâm phạm đến lợi ích của người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội Ở tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì lợi ích bị xâm hại còn có lợi ích của Nhà nước, của tập thể còn trong tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì lợi ích bị xâm hại chỉ là người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội Người phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng có thể bị kích động hoặc không bị kích động nhưng người phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì bắt buộc tinh thần phải bị kích động
- Thứ hai, về mục đích phát sinh hành vi phạm tội, trong trường hợp tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, mục đích của hành
Trang 32vi được thực hiện là tích cực chống trả lại sự xâm hại gây cho mình, cho Nhà nước hoặc cho người khác, gạt bỏ tinh sự đe dọa với lợi ích bảo vệ, đẩy lùi sự tấn công của nạn nhân còn trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh chủ yếu do họ không tự chủ được bản thân, trong hoàn cảnh bị kích động họ không điều khiển được hành vi của mình và dẫn tới hành vi phạm tội
- Thứ ba, về cường độ tấn công của nạn nhân, trong trường hợp giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, hành vi nguy hiểm của nạn nhân xâm hại lợi ích của người phạm tội nó phải “ngay tức khắc”, sự gây thiệt hại và đe dọa gây thiệt hại phải là thực sự, nhưng trong trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì hành vi trái pháp luật của nạn nhân có thể là một hành vi cụ thể và tức thì dẫn tới tình trạng tinh thần bị kích động mạnh nhưng cũng có trường hợp hành vi trái pháp luật của nạn nhân là chuỗi các hành vi khác nhau, diễn ra có tính lặp đi lặp lại… Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân trong tội giết người trong trạng thái tinh thần
bị kích động mạnh có thể bằng lời nói, có thể bằng hành động nhưng hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân trong tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng chỉ có thể là hành động xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, của người phạm tội hoặc của người khác
- Thứ tư, về trách nhiệm hình sự, tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì người có hành vi giết người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi họ phòng vệ quá mức cần thiết; còn trường hợp tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh chúng ta phải xem xét trạng thái tinh thần của người phạm tội có bị “kích động mạnh” hay chỉ bị “kích động”
- Thứ năm, động cơ của tội phạm, ở tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc
Trang 33trong cấu thành tội phạm và không được coi là dấu hiệu định tội nhưng ở tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng động cơ phạm tội được coi là dấu hiệu định tội, đó là động cơ phòng vệ
Ngoài ra, trong cả hai tội đều có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng, nhưng ở trường hợp giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì hành vi trái pháp luật đang xảy ra và chưa kết thúc; còn ở trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đã kết thúc.Trong thực tiễn, việc phân biệt giữa hai điều luật này có ý nghĩa rất thiết thực đối với việc định tội danh Bởi hai tội phạm này có một số dấu hiệu giống nhau về chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan như đều là chủ thể thường, xâm phạm tính mạng con người, lỗi là cố ý… đều là trường hợp giảm nhẹ đặc biệt của tội giết người
1.2.3 Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Hai tội phạm này thuộc hai nhóm tội khác nhau là nhóm tội xâm phạm tính mạng và nhóm tội xâm phạm sức khỏe của người khác Tuy nhiên hai tội phạm này có một số điểm giống nhau Về mặt chủ quan, hai trường hợp phạm tội này chủ thể của tội phạm đều thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Trong thực tiễn áp dụng việc phân biệt giữa hai tội này là rất khó khăn bởi đối với người phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh không thể hoặc khó xác định được mục đích của người phạm tội, họ hành động trong phút giây nóng giận, nên hậu quả đến đâu họ phải chịu trách nhiệm hình sự đến đó Trong khi họ phạm tội, họ không đủ bình tĩnh để giới hạn hành vi phạm tội ở mức gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người bị hại hoặc dẫn đến chết người
Trang 34Do vậy, chúng ta chỉ có thể phân biệt sự khác nhau của hai tội này căn
cứ vào hậu quả, một bên là tội giết người và cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Tuy nhiên trong thực tiễn việc xác định này không phải là vấn đề đơn giản vì chưa có sự thống nhất về cách hiểu như thế nào là sau một thời gian nhất định mới chết và xác định khoảng thời gian như thế nào là ngắn Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định tội danh cho tội phạm đã thực hiện
1.3 Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Luật hình sự một số nước trên thế giới
1.3.1 Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Luật hình sự Liên bang Nga
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Điều 107 BLHS Liên bang Nga:
Giết người trong trạng thái bị đột ngột xuất hiện xúc động tinh thần mạnh (bị kích động) do những hành vi cưỡng bức, nhạo báng, lăng mạ quá đáng từ phía người bị hại hoặc những hành động (không hành động) vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật khác của người bị hại cũng như trong tình trạng bị tổn thương tinh thần kéo dài do những hành động (không hành động) vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật khác của người bị hại thì bị phạt hạn chế tự
do đến ba năm hoặc phạt tù cũng đến ba năm
Giết từ hai người trở lên trong tình trạng bị kích động mạnh thì bị phạt tù đến năm năm [36, tr 162]
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của BLHS Liên bang Nga và BLHS 2015 giống nhau ở nguyên nhân dẫn đến phạm tội
và mức án phạt Ở cả hai bộ nguyên nhân dẫn đến phạm tội do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của người bị hại với người phạm tội Về mặt án phạt ở
Trang 35cả hai bộ luật mức cao nhất là phạt tù đến ba năm Điểm khác ở BLHS Liên bang Nga quy định về các hành vi dẫn đến tinh thần bị kích động mạnh như cưỡng bức, nhạo báng, lăng mạ quá mức nhưng ở đây không nói rõ là có đối với người thân thích của người phạm tội hay không một điểm nữa là án phạt
là bị phạt hạn chế tự do (án treo) đến ba năm so với nước ta thì án phạt này nhẹ hơn Còn với BLHS 2015 quy định nói rõ hơn về hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng đối với người thân thích của người phạm tội, về mức án phạt thấp nhất là phạt tù sáu tháng nhưng lại không nói rõ là như thế nào là yếu tố dẫn đến trạng thái tinh thần bị kích động mạnh vậy nên HĐTP TANDTC đã có Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29.11.1986 có hướng dẫn:
“Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc, thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh Trong trường hợp cá biệt hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân cấu thành tội phạm nhưng là tội phạm ít nghiêm trọng (như tội làm nhục người khác, tội vu khống) thì cũng được coi là giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh…” Một điểm khác biệt nữa về hình phạt quy định của BLHS Liên bang Nga khi bị giết hai người trở lên là năm năm còn ở BLHS 2015 là từ ba năm đến bảy năm, ở BLHS Liên bang Nga không nói đến mức án phạt thấp nhất khi giết đến hai người trở lên còn ở BLHS 2015 ở nước ta thì đã quy định rõ mức án
Trang 36thấp nhất phải chịu là ba năm và mức tối đa mà người phạm tội phải nhận lên đến bảy năm
1.3.2 Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại điều 213 BLHS Cộng hòa Liên bang Đức cụ thể như sau:
Nếu người đánh chết người bị kích động đến mức giận dữ mà không có lỗi của mình do hành vi hành hạ hoặc xúc phạm nghiêm trọng của người bị làm chết đối với họ hoặc một người thân thích của họ gây ra và qua đó họ đã bị cuốn ngay vào hành vi phạm tội hoặc nếu là trường hợp ít nghiêm trọng khác thì hình phạt là hình phạt tự do là một năm đến mười năm [35, tr 352]
Điểm giống nhau ở BLHS 2015 và BLHS Cộng hòa Liên Bang Đức là nguyên nhân dẫn đến phạm tội là người bị làm chết có những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng đối với người đánh chết người hoặc là đối với người thân của họ Ở điểm này đều nói rõ là đối với người thân thích của người phạm tội nhưng cả hai BLHS đều không nói rõ hành vi nào làm người phạm tội bị kích động về tinh thần, đây cũng là một điểm đáng lưu ý Điểm khác là
ở BLHS Cộng hòa Liên Bang Đức chưa có quy định về hình phạt giết từ hai người trở lên và mức án phạt rất nặng đối với hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, án phạt thấp nhất đối với hành vi này là một năm và cao nhất là mười năm, còn ở BLHS 2015 quy định đối với người giết hai người là từ ba năm đến bảy năm còn đối với một người là từ sáu tháng đến
ba năm Có thể thấy ở điểm này thì BLHS nước ta quy định một cách rõ ràng hơn, cụ thể là hành vi giết từ hai người Nhìn chung quy định về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ở ba nước tuy có khác nhau về án phạt và cách thể hiện nhưng đều hướng vào mục đích trừng trị kẻ phạm tội,
Trang 37răn đe giáo dục người phạm tội trở thành người tốt, ổn định trật tự xã hội và phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm
1.3.3 Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung hoa
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh không được quy định cụ thể mà chỉ là tình tiết giảm nhẹ trong quy định của BLHS điều
232 về tội giết người: “Người nào cố ý giết người khác, thì bị phạt tử hình, tù
chung thân hoặc bị phạt tù có thời hạn mười năm trên trở lên; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì bị phạt tù từ ba đến mười năm” [5, tr 156]
BLHS Cộng hòa nhân dân Trung hoa giống BLHS năm 1985 của nước
ta khi chưa tách ra thành một tội riêng biệt mà chỉ là tình tiết giảm nhẹ So với BLHS 2015 quy định về hình phạt có tính nghiêm khắc hơn, án phạt cao nhất lên đến mười năm và chưa có quy định về giết hai người trở lên Có thể thấy quy định của BLHS Cộng hòa nhân dân Trung hoa quy định về tội giết người
có phần hơi chung chung, chưa có tính cụ thể bám sát thực tế, rất chung chung; sự rõ nét trong điều luật mang tính hạn chế Kẻ phạm tội có thể chịu
mức án tử hình khi thực hiện hành vi cố ý giết người ở Trung Quốc; không phân biệt đó là lỗi cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp
1.3.4 Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Luật hình sự Thụy Điển
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh không được quy định cụ thể mà chỉ là tình tiết giảm nhẹ trong quy định của BLHS
Chương ba điều 2: “Căn cứ vào các tình tiết dẫn đến hành vi phạm tội hoặc vì
các lý do khác, tội phạm tại Điều 1 được coi là ít nghiêm trọng và bị phạt tù
từ sáu năm đến mười năm về tội ngộ sát” [19, tr 24]
Quy định của BLHS Thụy Điển rất nghiêm ngặt người phạm tội giết người nói chung và tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Trang 38bị hình phạt tù lên đến mười năm, án phạt thấp nhất mà người phạm tội phải nhận là sáu năm Có thể thấy BLHS rất giống với BLHS Cộng hòa nhân dân Trung hoa và giống BLHS nước ta năm 1985, trạng thái tinh thần bị kích động mạnh chỉ là tình tiết giảm nhẹ chứ không được tách ra thành một điều luật quy định cụ thể Đây cũng là một điểm gây khó khăn trong việc định tội
Trang 39CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH VÀ
Thời kì Hùng Vương đến thời kì Nhà nước Âu Lạc chúng ta chưa có tài liệu khẳng định đã hình thành pháp Luật Hình sự chưa Trong thời kì Bắc thuộc, Luật Hình sự Việt Nam đã có những đặc điểm riêng tuy có bị ảnh hưởng của pháp luật Trung Hoa Bộ luật nhà Hán và các Bộ luật nhà Đường
là hai bộ luật được áp dụng chủ yếu trong thời kì này Các văn bản pháp luật Hình sự khác trong thời kì này chúng ta không có nhiều tài liệu để nghiên cứu Tuy nhiên, có thể khẳng định pháp luật trong thời kì này rất hà khắc, dã man Thời kì nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê việc ban hành pháp luật, trong đó có pháp luật Hình sự không làm được nhiều do tình hình chiến tranh và cơ sở của quyền lực tập trung còn yếu Năm 1042, Lý Thánh Tông sai Trung thư Sảnh lập ra Bộ luật Hình Thư Đây là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta Nhưng tiếc là hiện nay không còn nữa Nghiên cứu các chiếu vua Lý ban trong thời kì trị vì đất nước, có thể thấy pháp luật Hình sự thời kì này có một
số đặc điểm sau: Thứ nhất, bảo vệ hoàng cung triều đình nhà Lý; Thứ hai, bảo
vệ nguồn bóc lột của giai cấp thống trị; Thứ ba, bảo vệ sản xuất nông nghiệp;
Trang 40Thứ tư, bảo vệ tính mạng sức khỏe con người; Thứ năm, bảo vệ trật tự pháp luật; Thứ sáu, quy định về tha miễn hình phạt
Như vậy, có thể nói thời kì này đã xuất hiện các quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người Từ thời nhà Lý đến thời nhà Nguyễn, pháp luật Hình sự Việt Nam nói chung, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người nói riêng còn quy định rất tổng quát, không phù hợp thực tiễn, thiếu sự rõ
Từ năm 1858, Việt Nam phải chịu sự thống trị của thực dân Pháp Chúng ta lệ thuộc Pháp nhiều mặt từ chính trị, kinh tế đến xã hội Bởi chúng thực hiện chính sách “chia để trị” ở nước ta Ở Nam kỳ áp dụng Bộ luật Gia Long Tuy nhiên, đến ngày 31 /12/1912, toàn quyền đông Dương ra sắc lệnh sửa đổi 56 điều luật của Bộ luật Hình sự Pháp cho áp dụng ở Nam Kỳ Luật
An Nam áp dụng ở Bắc kỳ còn Trung kỳ thì áp dụng Hoàng Việt hình luật
Pháp luật Hình sự Việt Nam thời kỳ này lại bị chi phối, lệ thuộc mạnh vào Bộ luật Hình sự của Pháp Hình phạt thì hà khắc nhằm phục vụ cho thực dân Pháp và tay sai, là công cụ chủ yếu để bọn chúng duy trì sự thống trị của mình Thời kỳ này chưa có một điều luật cụ thể nào nói về tội giết người Tuy nhiên, ta có thể nhìn thấy được quy định hình phạt của tội này trong các nhóm tội của từng Bộ luật Điều 28 chương đấu Tụng Bộ luật Hồng Đức quy định:
“Thầy thuốc chữa bệnh cho người, mà cố ý dằng dai hãm bệnh để lấy tiền, thì phải biếm ba tư Nếu vì oán thù riêng hay là vì người khác thuê mà bốc thuốc
có vị độc, để cho người bệnh chết thì bị khép vào tội giết người” Trên cơ sở tiếp thu những giá trị lập pháp của Luật Hồng Đức trong phần Danh Lệ Phần Thượng của Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) có quy định 10 tội ác trong
đó tội thứ tư là ác nghịch (chỉ những tội ác như đánh hay giết ông, bà, cha mẹ, ông bà ngoại, chú bác, cô, anh chị của ông nội, chồng)