1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình thức pháp lý của văn phòng công chứng theo pháp luật việt nam

205 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nhiệm vụ cụ thể: Để đạt được mục đích tổng quát nêu trên, Luận án cần hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể sau: Một là, Thực hiện tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN MÍCH

HÌNH THỨC PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN MÍCH

HÌNH THỨC PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số : 9380101.05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS Doãn Hồng Nhung

Hà Nội - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận án tiến sĩ với đề tài: Hình thức pháp lý của Văn phòng công chứng theo pháp luật Việt Nam là công trình nghiên cứu của riêng

tôi, Luận án được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc, các số liệu, ví dụ minh họa, trích dẫn trong Luận án đảm bảo tính chính xác, trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Nếu có bất kỳ sự sao chép bất hợp pháp nào từ các công trình nghiên cứu nào khác, tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật

Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2020

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Văn Mích

Trang 4

LỜI CÁM ƠN Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới PGS.TS Doãn Hồng Nhung là người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt

thời gian thực hiện Luận án

Tôi xin cám ơn chân thành tới Lãnh đạo Khoa Luật, Lãnh đạo Bộ môn Luật Kinh doanh, Lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô và toàn thể cán bộ, giảng viên Bộ môn Luật Kinh doanh đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận án

Trong quá trình thực hiện Luận án, tôi cũng đã nhận được sự khích lệ, động viên, ủng hộ nhiệt tình từ phía gia đình, cơ quan, bạn bè và các đồng nghiệp Tôi xin cảm ơn chân thành nhất về sự giúp đỡ quý báu đó

Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2020

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Văn Mích

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Lời cam đoan

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG

CHỨNG VÀ HÌNH THỨC PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÕNG

2.1 Những vấn đề lý luận về hoạt động công chứng 36

2.1.1 Khái niệm công chứng và đặc điểm của hoạt động công chứng 36

2.2 Những vấn đề lý luận về hình thức pháp lý của văn phòng công chứng 66

2.2.1 Khái niệm hình thức pháp lý của văn phòng công chứng 66

2.2.2 Mối quan hệ giữa chức năng và hình thức pháp lý của văn phòng

2.2.3 Các hình thức pháp lý của văn phòng công chứng 78

Trang 6

Chương 3 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÕNG

3.1 Thực trạng quy định về hình thức pháp lý của văn phòng công

3.2 Thực tiễn áp dụng quy định về hình thức pháp lý của văn phòng

công chứng và các quy định có liên quan 106

3.2.1 Quy định văn phòng công chứng chỉ được phép hoạt động theo loại

3.2.2 Quy định bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 119

3.2.4 Quy định tổ chức lại văn phòng công chứng, chấm dứt hoạt động

3.2.5 Quy định về tên gọi của văn phòng công chứng 151

Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH

VỀ HÌNH THỨC PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÕNG CÔNG

4.1 Định hướng hoàn thiện quy định về hình thức pháp lý của văn

4.1.1 Thể chế hóa chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xã hội

4.1.2 Hoàn thiện pháp luật về hình thức pháp lý của văn phòng công

chứng phải đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể có liên quan 162

4.1.3 Hoàn thiện pháp luật về hình thức pháp lý của văn phòng công

chứng phải đảm bảo hệ thống tổ chức hành nghề công chứng phát

4.1.4 Hoàn thiện pháp luật về hình thức pháp lý của Văn phòng công

chứng phải đảm bảo đồng bộ với các ngành luật trong hệ thống

Trang 7

4.2 Giải pháp hoàn thiện quy định về hình thức pháp lý của văn phòng

công chứng và các quy định có liên quan 166

4.2.1 Phân định chức năng của văn phòng công chứng với chức năng của

công chứng viên, chức năng của cơ quan quản lý nhà nước 166

4.2.2 Sửa đổi cơ chế bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng

được quy định tại Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 169

4.2.3 Cho phép văn phòng công chứng hoạt động theo loại hình doanh

4.2.4 Hoàn thiện pháp luật về loại hình công ty hợp danh, cho phép

VPCC được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh

4.2.5 Bổ sung quy định cho phép văn phòng công chứng được chuyển đổi

4.2.6 Bổ sung một số quy định liên quan tới Văn phòng công chứng chấm

4.2.7 Sửa đổi khái niệm công chứng trong Luật Công chứng năm 2014 181

4.2.8 Sửa đổi quy định liên quan tới việc chuyển nhượng Văn phòng công chứng 182

4.2.9 Sửa đổi quy định về tên gọi của văn phòng công chứng 183

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CCV Công chứng viên

TCHNCC Tổ chức hành nghề công chứng TNHH Trách nhiệm hữu hạn

VBCC Văn bản công chứng

VPCC Văn phòng công chứng

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Trang 2.1 Sơ đồ tổ chức cơ quan công chứng nước Pháp 94 3.1 Biểu đồ tỷ lệ các loại hình tổ chức hành nghề công chứng thời điểm

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Xã hội hóa hoạt động công chứng ở nước ta được xác định là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong của công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân

và vì Nhân dân Nghị quyết số: 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ

Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định: “Xây

dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi phù hợp để từng bước xã hội hóa công việc này” [7] Tiếp đến, Nghị quyết số: 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5

năm 2006 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng 2020 đã chỉ rõ, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bổ trợ tư pháp theo hướng tạo điều kiện thuận lợi, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của nhân dân, của doanh nghiệp đối với hoạt động bổ trợ tư pháp; thực hiện xã hội hóa mạng mẽ các hoạt động bổ trợ tư pháp [8]

Luật Công chứng số: 82/2006/QH11 (Luật Công chứng năm 2006) được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 chính là bước đi nhằm cụ thể hóa chủ trương nêu trên Đây là đạo luật đầu tiên đánh dấu sự ra đời của một lĩnh vực kinh doanh mới - Kinh doanh dịch vụ công chứng và sự ra đời loại hình doanh nghiệp cung cấp dịch

vụ công chứng dưới tên gọi VPCC Đây là vấn đề không mới với một số nước trên thế giới nhưng hoàn toàn mới và chưa được kiểm chứng ở nước ta [2] Qua thực tiễn thi hành Luật Công chứng năm 2006 cho thấy đã phát sinh một

số vấn đề về tổ chức và hoạt động của VPCC mà Luật Công chứng năm 2006 chưa dự liệu, chưa quy định hết, dẫn đến tình trạng thiếu cơ sở pháp lý, khó

Trang 11

khăn trong thi hành [3],[4],[15] Để giải quyết những hạn chế, bất cập đó, ngày 20 tháng 6 năm 2014 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Công chứng số: 53/2014/QH13 (Luật Công chứng năm 2014) Chủ trương xã hội hoá hoạt động công chứng một cách triệt để tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ tại Luật Công chứng năm 2014 với định hướng, trường hợp không cần thiết duy trì PCC thì sẽ thực hiện chuyển đổi PCC thành VPCC hoặc giải thể PCC; Bên cạnh đó là chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước trong việc thành lập VPCC tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; PCC chỉ được thành lập mới tại những địa bàn chưa có điều kiện phát triển được VPCC [81] Với chủ trương xã hội hoá và chính sách hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển đối với loại hình VPCC, trong tương lai, mô hình công chứng bao cấp ở nước ta sẽ bị thu hẹp, thay thế vào đó là mô hình công chứng hành nghề tự do

Có thể nói, sự ra đời của hai đạo luật nêu trên đã thiết lập hành lang pháp lý, tạo điều kiện cho hoạt động công chứng tại Việt Nam phát triển theo hướng chuyên nghiệp hóa; công chứng được xem là một hoạt động mang tính dịch vụ chứ không còn là thủ tục hành chính đơn thuần, góp phần đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách hành chính và cải cách tư pháp ở nước ta; giảm bớt gánh nặng cho biên chế và ngân sách nhà nước; tạo lập môi trường pháp

lý thuận lợi và tin cậy cho hoạt động đầu tư, kinh doanh, thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, Luật Công chứng năm 2014 còn tồn tại một số hạn chế, bất cập trên cả phương diện lý luận cũng như thực tiễn, cần phải tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn nữa chế định công chứng ở nước ta, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra Trong những vấn đề đó, nổi lên quy định về hình thức pháp lý áp

Trang 12

dụng đối với VPCC Điều này được thể hiện ở một số nội dung cơ bản như sau:

Thứ nhất, Luật Công chứng năm 2014 quy định VPCC chỉ được phép tổ

chức và hoạt động dưới loại hình công ty hợp danh thuần túy Công ty hợp danh

là công ty đóng và kém bền vững nhất trong các loại hình công ty bởi nền tảng của nó được xây dựng dựa trên mối quan hệ nhân thân, niềm tin giữa các thành viên hợp danh và chịu sự ràng buộc bởi quy chế trách nhiệm vô hạn, liên đới từ phía thành viên hợp danh đối với nghĩa vụ tài sản của công ty, tính “hợp danh”

dễ dàng bị phá vỡ Trong khi đó, công chứng là dịch vụ công, hệ thống cơ quan công chứng cần phải được duy trì ổn định, đảm bảo kế thừa phát triển bền vững

để cung ứng dịch vụ cho xã hội Hệ lụy từ quy định VPCC chỉ được phép tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh dẫn tới VPCC dễ lâm vào tình trạng buộc phải giải thể, chấm dứt hoạt động trong trường hợp CCV hợp danh bị chết, bị miễn nhiệm, tư cách thành viên hợp danh không được kế thừa, nhất là việc thành lập VPCC không bị hạn chế số lượng theo quy hoạch

Thứ hai, CCV được xem là “Thẩm phán phòng ngừa”, là chủ thể được

nhà nước ủy thác để thực hiện hành vi công chứng; CCV luôn độc lập trong quá trình hành nghề và chịu trách nhiệm cá nhân đối với VBCC do mình thực hiện; chất lượng của VBCC phụ thuộc vào cá nhân CCV chứ không phụ thuộc vào hình thức, cách thức tổ chức VPCC Việc gò ép những người hành nghề độc lập vào một khuôn mẫu pháp lý không chỉ hạn chế quyền tự do hành nghề,

tự do kinh doanh, mà còn gián tiếp tạo rủi ro cho các CCV hợp danh bởi quy chế trách nhiệm liên đới, vô hạn với tư cách của thành viên hợp danh;

Thứ ba, với mục tiêu phát triển mô hình VPCC sâu rộng, tiến tới là mô

hình hành nghề công chứng duy nhất trong tương lai ở nước ta thì quy định VPCC chỉ được phép tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh đang

là rào cản trong việc đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động công chứng Để đạt được

Trang 13

mục tiêu nêu trên, chúng ta cần phải đa dạng hóa hình thức pháp lý áp dụng đối với VPCC, nhằm huy động các nguồn lực của xã hội tham gia công tác xã hội hóa hoạt động công chứng; thiết lập hệ thống VPCC rộng khắp trên toàn quốc, tạo điều kiện thuận lợi để mọi công dân, tổ chức tiếp cận và sử dụng dịch vụ công chứng là công việc hết sức cần thiết

Thứ tư, Luật Công chứng năm 2014 quy định VPCC chỉ có CCV hợp

danh, không thừa nhận sự hiện diện của thành viên góp vốn Tuy nhiên, trên thực tế do nhu cầu về tài chính khi thành lập VPCC, nhất là khi nhận chuyển nhượng VPCC ở những vị trí “đắc địa” thì cần một lượng tài chính không hề nhỏ, “có thể tới cả trăm tỷ” [112], trong khi năng lực tài chính của CCV không thể đáp ứng thì sự “kết duyên” giữa nhà đầu tư với CCV là điều dễ hiểu cho dù pháp luật không thừa nhận Do pháp luật không thừa nhận nhưng thực tiễn vẫn tồn tại tương đối phổ biến dẫn tới quá trình vận hành VPCC phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp giữa thành viên góp vốn với CCV hợp danh, quyền và lợi ích của thành viên góp vốn không được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng trực tiếp tới tới hoạt động bình thường của VPCC [113],[115], [116],[117],[118],[120] Do không thừa nhận tư cách thành viên góp vốn tại VPCC nên sự kiện CCV hợp danh bị chết, bị miễn nhiệm, hoặc không thể tiếp tục hành nghề dẫn tới tư cách thành viên của họ buộc phải chấm dứt mà không được bảo lưu, quyền và lợi ích của họ, của những người thừa kế không được bảo đảm

Ngoài ra, công tác nghiên cứu kinh nghiệm từ các nước trên thế giới trong việc quy định hình thức pháp lý đối với VPCC để tiếp thu có chọn lọc những nhân tố phù hợp, góp phần hoàn thiện pháp luật trong nước, thiết lập

hệ thống VPCC ở nước ta phát triển ổn định, bền vững là rất cần thiết Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, quyền tự do kinh doanh trong đó có quyền

tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp, tự do lựa chọn đối tác cần phải được

Trang 14

ghi nhận và mở rộng ở mức tối đa nếu như sự ghi nhận và mở rộng quyền tự

do kinh doanh không ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của các chủ thể khác trong xã hội Hoạt động công chứng cũng không phải ngoại lệ, điều đó đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn về hình thức pháp lý đối với VPCC, làm cơ sở khoa học định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật công chứng ở Việt Nam, đặc biệt trong điều kiện Việt Nam đang đẩy mạnh chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng

Từ những lý do nêu trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Hình thức pháp lý của Văn phòng công chứng theo pháp luật Việt Nam” làm Luận

án tiến sĩ chuyên ngành: Luật kinh tế, mã số: 9380101.05

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu của Luận án: Góp phần hoàn thiện quy định về

hình thức pháp lý của VPCC, đáp ứng yêu cầu xã hội hóa hoạt động công chứng ở nước ta hiện nay

- Nhiệm vụ cụ thể:

Để đạt được mục đích tổng quát nêu trên, Luận án cần hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể sau:

Một là, Thực hiện tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề

tài nhằm chỉ ra những vấn đề luận án có thể kế thừa và xác định các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu;

Hai là, Nghiên cứu những vấn đề cơ bản của hoạt động công chứng,

mối quan hệ giữa hoạt động công chứng với hình thức pháp lý của VPCC trong mô hình công chứng hành nghề tự do;

Ba là, Ở mức độ nhất định, nghiên cứu pháp luật một số nước theo mô

hình công chứng hành nghề tự do trên thế giới để chỉ ra những giá trị tham khảo về hình thức pháp lý của VPCC đối với Việt Nam

Trang 15

Bốn là, Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định về hình

thức pháp lý của VPCC để chỉ ra những hạn chế, bất cập

Năm là, Đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể hoàn thiện quy định về

hình pháp lý của VPCC đáp ứng yêu cầu xã hội hóa hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề cơ bản nhất về hoạt động công chứng, hình thức pháp lý của VPCC; thực trạng quy định và áp dụng pháp luật về hình thức pháp lý của VPCC ở Việt Nam hiện nay Luận án cũng nghiên cứu pháp luật một số quốc gia trên thế giới về hình thức tổ chức VPCC Tuy nhiên, nội dung này không được bàn luận sâu mà chỉ nhằm làm

cơ sở để đối chiếu, so sánh, phân tích, đánh giá quy định về hình thức tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam, đảm bảo tính khách quan, bao quát trong các nhận định, bình luận

- Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu những quy định cơ bản chung nhất về hoạt động công chứng và sự ảnh hưởng từ các quy định này tới hình thức pháp lý của VPCC; nghiên cứu hình thức pháp lý của VPCC trong mô hình công chứng hành nghề tự do một số nước trên thế giới; nghiên cứu hình thức pháp lý của VPCC theo pháp luật Việt Nam hiện nay Hệ thống TCHNCC ở nước ta hiện nay được thiết lập dưới hai mô hình đó là VPCC và PCC; trong khi VPCC được tổ chức và vận hành theo cơ chế doanh nghiệp thì PCC lại được tổ chức

và vận hành theo cơ chế của đơn vị sự nghiệp công lập Trong phạm vi nghiên cứu, Luận án không nghiên cứu các quy định về hình thức, cách thức tổ chức PCC với tư cách là đơn vị sự nghiệp công lập, mà chỉ xem xét PCC trong mối liên hệ với VPCC dưới danh nghĩa đều là TCHNCC nhằm phục vụ mục tiêu

Trang 16

nghiên cứu từng nhiệm vụ cụ thể

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, trong

đó vận dụng linh hoạt, tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý phù hợp với yêu cầu nghiên cứu từng nội dung của Luận án Cụ thể như sau:

Chương 1 Sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa các

tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố để làm rõ các nội dung, kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài, xác định những vấn đề Luận

án cần tiếp tục nghiên cứu;

Chương 2 Sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử,

phương pháp hệ thống hóa, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch để phân tích, luận giải, khái quát các phạm trù có tính

lý luận liên quan tới hình thức tổ chức VPCC Trong chương này, nghiên cứu sinh cũng sử dụng phương pháp so sánh để tìm hiểu kinh nghiệm của một số nước trong việc quy định về hình thức tổ chức VPCC

Chương 3 Sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, mô tả

Thông qua đó, tái hiện thực trạng pháp luật Việt Nam về hình thức pháp lý của VPCC, mô hình hóa các tranh chấp có liên quan tới hình thức pháp lý của VPCC, từ đó chỉ ra những bất cập của các quy định liên quan tới hình thức pháp lý của VPCC

Chương 4 Sử dụng phương pháp quy nạp, tổng hợp, phân tích, so sánh,

từ đó đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật liên quan tới hình thức pháp lý của VPCC ở Việt Nam hiện nay

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Luận án góp phần củng cố và hoàn thiện lý luận chuyên sâu về hình thức pháp lý của VPCC Các kết quả nghiên cứu của luận án có thể trở thành tài liệu

Trang 17

tham khảo có giá trị trong quá trình nghiên cứu, sửa đổi một số bất cập của pháp luật về công chứng, pháp luật về doanh nghiệp; đồng thời có thể trở thành tài liệu tham khảo hữu ích trong nghiên cứu, giảng dạy pháp luật về công chứng ở

Việt Nam

6 Tính mới của Luận án

Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trong nước và nước ngoài, Luận án có những tính mới sau đây:

Về tổng quát: Luận án là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam

nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống những vấn đề cơ bản về hình thức pháp lý của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công chứng ở Việt Nam dưới tên gọi VPCC; xuất phát từ bản chất, đặc điểm của hoạt động công chứng, chức năng của VPCC nhằm luận giải hình thức pháp lý phù hợp có thể

áp dụng đối với VPCC; phân tích và đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn

áp dụng các quy định liên quan đến hình thức pháp lý của VPCC; từ đó kiến nghị các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hình thức pháp lý của PVCC ở Việt Nam

Về chi tiết: Luận án có một số điểm mới nổi bật sau:

Một là, Luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về công chứng,

đề xuất sửa đổi khái niệm công chứng theo tinh thần của Luật Công chứng năm 2014; Đặc biệt luận án đã chỉ rõ sự cần thiết phải phân định chức năng hành nghề với chức năng hỗ trợ hành nghề Đây là luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện pháp luật về hình thức pháp lý của VPCC ở nước ta

Hai là, Luận án đã phân tích và bình luận thực trạng quy định VPCC

chỉ được phép tổ chức và hoạt động dưới loại hình công ty hợp danh Từ đó thấy được, quy định này một mặt đã hạn chế quyền tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp áp dụng đối với VPCC, mặt khác còn cản trở tiến trình xã hội hóa hoạt động công chứng, không phán ánh chính xác tồn tại khách quan của

Trang 18

thực tiễn

Ba là, Luận án đã phân tích và chỉ rõ sự bất cập của cơ chế bồi thường

thiệt hại trong hoạt động công chứng, cơ chế này đã không tạo ra lẽ công bằng trong việc bồi thường thiệt hại, không giải quyết đến cùng trách nhiệm bồi thường Cơ chế bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng đã góp phần chi phối hình thức pháp lý áp dụng đối với VPCC; VPCC khó có thể được tổ chức

và hoạt động dưới loại hình công ty đối vốn khi trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng thuộc về VPCC Ngoài ra, luận án cũng đã nhận diện sự tác động của quy định này đối với việc thực thi các quy định về: thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chấm dứt hoạt động và chuyển nhượng VPCC

Bốn là, Luận án đã đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện

pháp luật về hình thức pháp lý của VPCC ở Việt Nam nhằm tháo gỡ những những bất cập, hạn chế đang tồn tại

7 Bố cục nội dung của Luận án

Luận án bao gồm các phần có thứ tự sau đây: Mục lục, Lời mở đầu, Phần nội dung nghiên cứu, Kết luận, và Danh mục tài liệu tham khảo

Phần nội dung nghiên cứu chủ yếu của Luận án được chia thành các chương như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và

những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Chương 2 Những vấn đề lý luận về hoạt động công chứng và hình thức

pháp lý của văn phòng công chứng

Chương 3 Thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng quy định về hình

thức pháp lý của văn phòng công chứng và các quy định có liên quan

Chương 4 Định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định về hình thức

pháp lý của văn phòng công chứng và các quy định có liên quan

Trang 19

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Ở Việt Nam, lịch sử hình thành và phát triển của chế định công chứng khá muộn so với một số nước trên thế giới Trong nền kinh tế tập trung bao cấp, Nhà nước quản lý và điều hành nền kinh tế theo phương thức mệnh lệnh, hành chính, các giao dịch dân sự hầu như không phát triển, các giao dịch này được thực hiện chủ yếu dựa trên sự tin cậy, hình thức của giao dịch phần lớn được thực hiện bằng lời nói, viết tay, phần ít do cơ quan hành chính nhà nước chứng thực (thị thực) Nhu cầu nghiên cứu về công chứng trong giai đoạn này dường như không được chú trọng Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế làm gia tăng các giao dịch dân sự, đòi hỏi Nhà nước phải có những biện pháp hữu hiệu trong việc quản lý các giao dịch dân sự, kinh tế, cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân; góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội Chế định công chứng ở nước ta chính thức được triển khai và hoạt động trên toàn quốc từ năm 1991 (theo Nghị định số: 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng về Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước), cơ quan công chứng được xem là cơ quan công quyền thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Có thể nói, từ khi cơ quan công chứng chuyên trách được thành lập, nhu cầu nghiên cứu các vấn đề lý luận về công chứng cũng như đánh giá thực tiễn hoạt động công chứng ở nước ta đã được đặt ra

Trang 20

Trong số những công trình đặt nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu

về công chứng ở nước ta phải kể đến đề tài khoa học mang mã số: 92-98-224,

“Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng ở Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp triển

khai và hoàn thiện vào năm 1993 Với công trình này, nhóm tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về công chứng; nghiên cứu, đánh giá lịch sử hình thành và phát triển công chứng ở Việt Nam, cũng như thực trạng tổ chức

và hoạt động của cơ quan công chứng theo Nghị định số: 45-HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước Bên cạnh đó nhóm tác giả đã dành dung lượng khá lớn để đề cập tới các

mô hình tổ chức và quản lý công chứng trên thế giới và cho rằng về tổng thế, trên thế giới có hai mô hình tổ chức công chứng:

Thứ nhất, mô hình tổ chức công chứng Nhà nước, trong đó tổ chức

công chứng là cơ quan Nhà nước, CCV là viên chức và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, phí, thù lao công chứng được nộp vào ngân sách Nhà nước;

Thứ hai, mô hình công chứng hành nghề tự do, TCHNCC tự do hoạt

động như một doanh nghiệp, CCV tự tổ chức, quản lý, điều hành, tự hạch toán thu, chi Từ đó, nhóm tác giả cũng đã chỉ ra rằng mô hình công chứng hành nghề tự do có nhiều ưu điểm, phát huy trách nhiệm cá nhân của CCV, giảm nhẹ sự bao biện về trách nhiệm của Nhà nước, việc tổ chức hệ thống công chứng linh hoạt, đáp ứng nhanh chóng, kịp thời nhu cầu công chứng của người dân và hoàn toàn phù hợp với một nước có nền kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền phát triển Tuy nhiên, trong bối cảnh điều kiện kinh tế,

xã hội, nhà nước và pháp luật của nước ta tại thời điểm đó, nhóm tác giả cho rằng cần phải tiếp tục duy trì công chứng nhà nước, đồng thời nghiên cứu tiếp thu những kinh nghiệm của các nước trên thế giới, từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng Nhà nước góp phần tích cực bảo vệ quyền và lợi

Trang 21

ích hợp pháp của người dân trong cơ chế thị trường đang hình thành và phát triển, góp phần giúp Nhà nước thực hiện quản lý kinh tế, xã hội bằng pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam [11] Có lẽ đây là một trong những công trình đầu tiên ở nước ta thể hiện tư tưởng xã hội hóa hoạt động công chứng thông qua việc xây dựng mô hình công chứng hành nghề tự do ở nước ta trong tương lai

Một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu trên cả phương diện lý luận và thực tiễn về lĩnh vực công chứng ở nước ta phải kể đến đề tài:

“Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay”, của tác giả Đặng Văn Khanh (Luận án tiến sĩ luật học, Viện Nghiên cứu

Nhà nước và Pháp luật, năm 2000) Với công trình này, tác giả đã giải quyết một số vấn đề lý luận cơ bản về công chứng như: xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của VBCC, đồng thời tác giả đi sâu phân tích đánh giá thực trạng, xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng

và giá trị pháp lý của VBCC ở nước ta theo quy định tại Nghị định số: 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước; trên cơ sở đó tác giả đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật công chứng trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của VBCC ở nước ta Ngoài ra, cũng tại công trình này, tác giả đã nhận diện các hệ thống công chứng cơ bản trên thế giới đó là (1) Hệ thống công chứng theo hệ thống luật viết (hệ thống công chứng Latinh), (2) Hệ thống công chứng theo luật án lệ (hệ thống công chứng Anglo –Sacxon), (3)

Hệ thống công chứng của các nước xã hội chủ nghĩa (bao gồm Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây) Khi đề cập tới các mô hình tổ chức công chứng dưới giác độ hình thức TCHNCC, tác giả Đặng Văn Khanh cũng cho rằng, trên thế giới tồn tại hai mô hình tổ chức công chứng đó là Mô hình công

Trang 22

chứng hành nghề “tự do” và mô hình “công chứng Nhà nước” [60]

Công trình nghiên cứu một cách toàn diện về cơ quan thực hiện chức

năng công chứng ở nước ta đó là đề tài: “Tổ chức và hoạt động công chứng

Nhà nước ở nước ta hiện nay” của tác giả Dương Khánh (Luận án tiến sĩ,

Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, năm 2002) Đây là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống đầu tiên về lý luận và thực tiễn tổ chức

và hoạt động của cơ quan công chứng ở nước ta Với công trình này tác giả đã đưa ra nhưng cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước như: khái quát chung về công chứng nhà nước, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước, so sánh với các loại hình công chứng của các nước trên thế giới v.v.; Tác giả đã đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước, chỉ rõ sự khác biệt giữa hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiêm nhiệm chức năng công chứng với hoạt động của CCV; trên cơ sở đó tác giả đề xuất phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà nước [59] Có thể nói đây là công trình rất hữu ích đối với nghiên cứu sinh khi nghiên cứu về TCHNCC mặc dù có sự khác biệt

về đối tượng nghiên cứu giữa tổ chức công chứng Nhà nước (mô hình công chứng bao cấp) và tổ chức công chứng tư nhân (mô hình công chứng hành nghề tự do) nhưng lại có sự tương đồng khi nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động của CCV với cơ quan công chứng

Công trình được biên soạn dưới hình thức sách chuyên khảo của tác giả

Tuấn Đạo Thanh đó là “Pháp luật công chứng - Những vấn đề lý luận và thực

tiễn” (Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2012) [97] Đây là công trình khá công

phu với trên 600 trang chứa đựng những nội dung tương đối toàn diện về lý luận cũng như thực tiễn pháp luật công chứng ở nước ta, trong đó tác giả có

đề cập tới TCHNCC Tuy nhiên tác giả mới chỉ tiếp cận ở mức độ nhận diện các TCHNCC và tập trung phân tích địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức của PCC,

Trang 23

cơ cấu tổ chức của VPCC mà chưa đi sâu nghiên cứu về hình thức pháp lý của VPCC

Ngoài những công trình nêu trên còn có khá nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về công chứng dưới giác độ lý luận cơ bản về hoạt động công

chứng như: “Bàn về bản chất của công chứng dưới góc độ là hoạt động bổ

trợ tư pháp”, Tạp chí Kiểm sát- Số 4 (02-2007), của nhóm tác giả Tuấn Đạo

Thanh, Nguyễn Quang Vỹ, Đặng Thanh Mai; “Tìm hiểu bản chất của hoạt

động công chứng”, Tạp chí Thanh tra số 1/2006, tác giả Tuấn Đạo Thanh;

“Vai trò của hoạt động công chứng trong lĩnh vực tư pháp”, Tạp chí Nghề luật số: 05/2012, tác giả Vũ Việt Hoàn; “Tránh nhầm lẫn việc công chứng với

chứng thực”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 9/2008, tác giả Phan Thuỷ; “So sánh hoạt động công chứng và chứng thực theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí

Thanh tra số: 02/2013; “Bàn về giá trị pháp lý của văn bản công chứng”, Tạp chí Kiểm sát số 5/2000, tác giả Dương Khánh; “Về việc xác định giá trị pháp

lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp

luật số: 11/1999, tác giả Đặng Văn Khanh; “Bàn về tính xác thực, hợp pháp

của nội dung văn bản công chứng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số: 07/2012,

nhóm tác giả Tuấn Đạo Thanh, Nguyễn Quang Trung; “Về tính xác thực trong

hoạt động công chứng, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số: 4/2007, tác giả Tuấn

Đạo Thanh; “Bàn về hoạt động công chứng”, tác giả Tuấn Đạo Thanh;“Về

vai trò của công chứng viên”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 4/2000, tác giả

Dương Khánh; “Một số vấn đề về sự phát triển nghề công chứng trên thế giới

và Việt Nam”, nhóm tác giả Lê Tuấn Hải, Hà Thị Lan Anh đăng trên Tạp chí

Nghề luật số: 05/2012; “Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay”, tác giả Nguyễn Tấn Cường, đăng trên Tạp chí Nghề luật số: 05/2012; “Các nguyên

tắc đặc trưng của tổ chức và hoạt động công chứng” tác giả Tuấn Đạo Thanh

đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số: 9/2006; “Vai trò, vị trí của công

Trang 24

chứng viên trong Luật Công chứng năm 2006”, nhóm tác giả Phan Thủy và

Chí Thành; “Các quy định về văn bản công chứng và vai trò của công chứng

viên trong việc phòng ngừa tranh chấp”, tác giả Đỗ Đức Hiển; Các bài viết

nêu trên được đăng trong số chuyên đề về “Công chứng, hộ tịch, quốc tịch”

do Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp phát hành năm 2007 Những công trình nêu trên là tài liệu rất hữu ích để nghiên cứu sinh tham khảo khi nghiên cứu lý luận về hoạt động công chứng

Với mục đích nhằm tiếp thu kinh nghiệm trong công tác xây dựng pháp luật của các nước trên thế giới, góp phần đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam, hoạt động nghiên cứu pháp Luật về công chứng của các nước trên thế giới cũng đã được nhiều chuyên gia trong nước dành thời gian công

sức thực hiện như công trình: “Nghiên cứu so sánh pháp luật về công chứng

một số nước trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay”, của tác giả Tuấn

Đạo Thanh (Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2008) Trên cơ sở so sánh pháp luật công chứng một số quốc gia trên thế giới

và Luật Công chứng Việt Nam, tại công trình này tác giả đã làm sáng tỏ một

số vấn đề lý luận cơ bản về công chứng như: bản chất, mục đích, chức năng của công chứng, chủ thể thực hiện hành vi công chứng và quản lý hoạt động công chứng Từ đó tác giả cho rằng xây dựng mô hình công chứng hành nghề

tự do và việc chuyển đổi mô hình từ tổ chức công chứng Nhà nước sang mô hình công chứng hành nghề tự do là xu thế tất yếu của Việt Nam; bên cạnh đó cần phải xây dựng môi trường pháp lý bình đẳng giữa cá nhân và TCHNCC là những luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật công chứng Việt Nam Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu trình bày, phân tích, luật giải về mô hình TCHNCC tự do cũng như chưa đưa ra kiến giải về hình thức TCHNCC cụ thể Ngoài ra còn có khá nhiều công trình, bài viết nghiên cứu pháp luật công

Trang 25

chứng các nước của các tác giả trong nước như: “Công chứng các nước thuộc

hệ thống xã hội chủ nghĩa (cũ), đặc điểm chung, ưu, nhược điểm và quan điểm tiếp thu, vận dụng vào Việt Nam” của tác giả Lê Kim Thanh (Viện

Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp chủ trì, năm 1993); “Quy chế

công chứng viên thời Pháp thuộc ở Việt Nam và tiếp thu vận dụng vào công chứng Việt Nam trong nền kinh tế thị trường” của tác giả Vũ Quý Vĩ (Viện

Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp chủ trì, năm 1993); “Giới thiệu

tóm tắt quy chế công chứng viên của Vương Quốc Anh” của tác giả Nguyễn

Văn Thảo (Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, năm 1992);

“Giới thiệu tóm tắt Luật Công chứng của Cộng hòa Singapore” của tác giả

Nguyễn Văn Thảo (Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, năm 1992) “Giới thiệu tóm tắt Luật Công chứng của Cộng hòa Liên bang Đức”

của tác giả Lê Tuyết Nga (Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, năm 1995) v.v Có thể nói, chưa có công trình của chuyên gia trong nước nghiên cứu về hình thức pháp lý của cơ quan công chứng trong mô hình công chứng hành nghề tự do ở nước ngoài

Xã hội hóa hoạt động công chứng là quá trình chuyển đổi từ mô hình công chứng bao cấp sang mô hình công chứng hành nghề tự do Hệ quả của

xã hội hóa công chứng là sự ra đời của tổ chức dân sự đảm nhiệm thực hiện chức năng công chứng, ở Việt Nam tổ chức dân sự đó được định danh là VPCC Xã hội hóa hoạt động công chứng ở nước ta là một chủ trương hết sức đúng đắn, đáp ứng nhu cầu cấp bách của xã hội nên đã nhận được sự quan tâm của nhiều chuyên gia trong nước Một trong những công trình nghiên cứu

về xã hội hóa trước khi chủ trương này được triển khai ở nước ta phải kể đến

công trình: “Công chứng Việt Nam trong nền kinh tế thị trường theo mô hình

công chứng La - Tinh”, của tác giả Nguyễn Văn Toàn (Viện Khoa học Pháp

lý, Bộ Tư pháp, năm 2005) Đây được xem là một trong những công trình

Trang 26

nghiên cứu chuyên ngành đi sâu nghiên cứu những ưu điểm cũng như những hạn chế của các hệ thống công chứng trên thế giới, nghiên cứu điển hình mẫu

về mô hình tổ chức công chứng hành nghề tự do theo trường phái công chứng Latinh; nghiên cứu công cuộc cải cách công chứng từ mô hình công chứng bao cấp sang mô hình công chứng hành nghề tự do của một số nước như: Ba Lan, Cộng h òa nhân dân Trung Hoa; nghiên cứu thực trạng công chứng Việt Nam trước năm 2005, phân tích những yếu kém và bất cập trong công tác tổ chức, quản lý, và hoạt động của công chứng nhà nước bao cấp Trên cơ sở đó tác giả nhận định xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hướng theo mô hình công chứng Latinh không chỉ là yêu cầu cấp bách của nước ta, mà còn là quá trình cải cách phù hợp với xu thế phát triển của công chứng ở các nước đã chuyển sang nền kinh tế thị trường Ngoài ra, còn có khá nhiều công trình nghiên cứu, bài viết chuyên sâu về xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp nói chung và hoạt động công chứng nói riêng như: Luận văn thạc sĩ luật học với

đề tài "xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Phương Hoa khi đề cập về xã hội hóa công chứng; bài viết: "xã hội hóa hoạt

động công chứng – Từ ý tưởng đến thực tiễn” của tác giả Nguyễn Hoàng

Anh, tác giả cho rằng xã hội hóa công chứng là bước đi tiên phong trong xã hội hóa tư pháp và nhấn mạnh tính đặc thù của hoạt động công chứng đồng thời cho rằng không nên tồn tại hai mô hình công chứng nhà nước và công

chứng tư; Luận án tiến sĩ luật học: ”Hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa dịch

vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Trần Thu

Hường, năm 2017; LuËn v¨n th¹c sÜ: "Xã hội hóa các hoạt động bổ trợ tư

pháp" cña t¸c gi¶ TrÇn ThÞ Quang Hång, năm 2000; Luận văn thạc sĩ “Xã hội hoá công chứng ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Quang Minh, năm 2009; "Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xã hội hóa một số hoạt động bổ trợ tư pháp, hành chính tư

Trang 27

pháp", Đề tài cấp bộ, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, năm 2005, và

nhiều bài báo được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: "Khái niệm, định

hướng xã hội hóa tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp" của tác giả Nguyễn

Văn Tuân, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số: 8/2004; "Công chứng,

chứng thực trong điều kiện cải cách hành chính và cải cách tư pháp", tác giả

Trần Thất, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số: 6/2004; “Đổi mới tổ

chức và hoạt động công chứng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam”, tác giả Nguyễn Văn Tùng đăng trên Tạp chí Dân chủ và

Pháp luật số: 3/2004; “Vai trò của Nhà nước trong điều kiện xã hội hóa dịch

vụ công”, tác giả Nguyễn Quang Sáng, đăng trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước

điện tử ngày 12/4/2016;“Xã hội hóa hoạt động công chứng”, tác giả Nguyễn Văn Thái đăng trên Báo nhân dân điện tử ngày 22/5/2013; “Công chứng và

xã hội hóa hoạt động công chứng ở Việt Nam”, tác giả Lê Thị Phương Hoa,

đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số: 8(57)-8/2005; Luật Công chứng

và vấn đề xã hội hoá hoạt động công chứng, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

số: 21(158) tháng 11/2009, tác giả Lê Quốc Hùng; “Xã hội hóa hoạt động

công chứng hướng tới sự chuyên nghiệp, hiện đại”, tác giả Thanh Hòa đăng

trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Phú Thọ; “Xã hội hóa công chứng và những

vấn đề đặt ra hiện nay”, tác giả Tuấn Đạo Thanh, đăng trên Tạp chí Thanh tra

số: 6/2008; “Yêu cầu và thách thức của xã hội hóa công chứng”, tác giả Võ

Đình Nho, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề tháng

8/2006; “Xã hội hóa hoạt động công chứng từ ý tưởng đến thực tiễn”, tác giả

Nguyễn Hoàng Anh, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 11/2006; “Xã

hội hoá hoạt động công chứng và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về công

chứng, tác giả Nguyễn Ngọc Bích đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số

6/2008; “Dự án Luật Công chứng nhu cầu tất yếu để cải cách tư pháp”, tác

giả Tuấn Phương, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề tháng

Trang 28

8/2006; “Mấy bình luận về đề án cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực

công chứng”, tác giả Tuấn Đạo Thanh đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập

pháp số: 11/tháng 6 - 2011; “Về đề án quy hoạch phát triển tổ chức hành

nghề công chứng”, tác giả Tuấn Đạo Thanh đăng trên Tạp chí Nghiên cứu

Lập pháp số 8 (170) tháng 5/2010; “Chuyển nhượng văn

phòng công chứng xu thế tất yếu của quá trình xã hội hóa hoạt động công chứng”, tác giả Diễm Hằng, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp

luật Số chuyên đề: 5/2014;“Xã hội hóa hoạt động công chứng: Những kết quả

đạt được và một số vướng mắc, tồn tại”, tác giả Nguyễn Thảo, đăng trên

Trang thông tin điện tử tổng hợp, Ban nội chính Trung ương ngày 24/9/2013;

“Hà Nội với việc thực hiện xã hội hoá công chứng”, tác giả Phạm Xuân

Phương đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, số chuyên đề

2/2010; “Xã hội hóa dịch vụ công chứng: Những khó khăn cần khắc phục” tác giả Phạm Bằng, đăng trên Báo Nghệ An ngày 29/7/2014; “Đẩy mạnh xã

hội hóa hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình”, tác giả Phạm Thị

Hương, đăng trên Trang thông tin Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp ngày

01/02/2016; “Công chứng, chứng thực theo quy định mới: Cán bộ lúng túng,

dân bị hành”, tác giả Ngô Hằng đăng trên Tạp chí Pháp lý số: 11/2007.v.v

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình, bài viết nào đề cập tới vai trò của hình thức tổ chức VPCC đối với tiến trình xã hội hóa hoạt động công chứng; chưa có công trình nào luận giải để thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng thì VPCC cần phải được tổ chức dưới các loại hình doanh nghiệp nào cho phù hợp

Có thể nói, xuất phát điểm của thể chế công chứng ở nước ta được thiết lập theo mô hình công chứng bao cấp, cơ quan thực hiện hoạt động công chứng là cơ quan nhà nước, các công trình, bài viết trong thời gian qua ở nước

ta chủ yếu tập trung đề cập tới thể chế công chứng nhà nước, cơ quan công

Trang 29

chứng nhà nước Hơn nữa, hình thức pháp lý của VPCC lại là đề tài nghiên cứu về hình thức tổ chức doanh nghiệp hoạt động trong một lĩnh vực hẹp Điều đó chính là cơ sở lý giải sự thiếu vắng công trình, bài viết về VPCC ở nước ta dưới giác độ hình thức tổ chức doanh nghiệp, nếu có thì chỉ dừng ở mức độ nhận diện hoặc phản ánh một vài khía cạnh liên quan tới hình thức tổ

chức và hoạt động của VPCC như: Luận văn thạc sĩ với đề tài: "Điều chỉnh

pháp lý hoạt động công chứng tại văn phòng công chứng dưới góc độ pháp luật về doanh nghiệp” của tác giả Hoàng Mạnh Thắng, Trường Đại học Luật

Thành phố Hồ Chí Minh Tại công trình này, tác giả đã trình bày cơ sở pháp

lý liên quan tới tổ chức và hoạt động của VPCC; bên cạnh đó tác giả cũng đã chỉ ra được tính đặc thù của hoạt động công chứng, và yêu cầu bảo đảm chất lượng cung ứng dịch vụ đối với sản phẩm là VBCC Tuy nhiên, Luận văn chỉ mới nhận diện các hình thức tổ chức VPCC theo Luật Công chứng năm 2006

mà chưa đi sâu phân tích để chỉ ra mối quan hệ giữa hoạt động công chứng với hình thức tổ chức VPCC, chưa luận giải về loại hình doanh nghiệp nào có thể áp dụng đối với VPCC trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động công chứng ở nước ta; chưa làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hình thức pháp lý của VPCC với việc VPCC chấm dứt hoạt động, giải thể VPCC, hợp nhất VPCC, sáp nhập VPCC, và chuyển nhượng VPCC

Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Pháp luật về thành lập và hoạt động của

tổ chức hành nghề công chứng và thực tiễn thực thi trên địa bàn thành phố

Hà Nội hiện nay” của tác giả Đặng Thị Hồng Thắm (Luận văn thạc sĩ, Khoa

Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013) Tại công trình này, tác giả đã chỉ

ra sự bất cập, hạn chế của loại hình VPCC hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân, từ đó tác giả cho rằng cần xóa bỏ loại hình VPCC do một CCV thành lập, VPCC chỉ được phép thành lập với điều kiện phải có từ hai CCV hợp danh trở lên Mặc dù, tác giả cho rằng đặc điểm cơ bản, quan trọng

Trang 30

nhất của hoạt động công chứng mang tính chuyên môn nghề nghiệp của cá nhân CCV [104,10], nhưng tác giả lại phủ nhận tính ưu việt của loại hình VPCC hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân; Tác giả đề xuất VPCC phải được tổ chức theo loại hình VPCC có từ hai CCV hợp danh trở lên những tác giả lại không đề cập đến những hạn chế, bất cập của loại hình công

ty hợp danh trong hoạt động công chứng như: chấm dứt hoạt động, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, chuyển nhượng VPCC v.v

Bài viết với nhan đề: “Một số vấn đề về quy chế pháp lý trong việc

thành lập hoạt động, chấm dứt hoạt động của văn phòng công chứng” của tác

giả Hà Thị Lan Anh đăng trên Tạp chí Nghề luật số: 1/2014 Tác giả đã nghiên cứu, phân tích cơ sở pháp lý về việc thành lập VPCC và chấm dứt hoạt động đối với VPCC Tuy nhiên, bài viết chưa dành nhiều thời lượng để phân tích những tác động đối với xã hội trong trường hợp VPCC chấm dứt hoạt động cũng như đề xuất giải pháp nhằm hạn chế tình trạng VPCC chấm dứt hoạt động dưới giác độ hình thức pháp lý của VPCC

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hình thức tổ chức doanh nghiệp ở

Việt Nam có khá nhiều công trình, bài viết như: ”Hợp đồng thành lập công ty

ở Việt Nam” của tác giả Ngô Huy Cương, Viện Nhà nước và Pháp luật

(2004), Luận án tiến sĩ luật học, ”Pháp luật về công ty hợp danh ở Việt Nam”

của tác giả Nguyễn Thị Huệ, Học viện Khoa học xã hội (2012), Luận án tiến

sĩ luật học; “Hoàn thiện pháp luật về các loại hình công ty trong nền kinh tế

thị trường ở Việt Nam”, của tác giả Trần Ngọc Liêm, Trường Đại học Luật

Hà Nội (2002), Luận án tiến sĩ luật học, “Chuyển đổi hình thức công ty theo

pháp luật Việt Nam”, của tác giả Hoàng Anh Tuấn, Khoa Luật, Đại học Quốc

gia Hà Nội (2012), “Hình thức pháp lý doanh nghiệp xã hội: Kinh nghiệm

nước Anh và một số gợi mở cho Việt Nam” (2015) của tác giả Phan Thị

Thanh Thủy, “Xây dựng chế định pháp luật về công ty hợp vốn đơn giản ở

Trang 31

Việt Nam” của tác giả Nguyễn Vinh Hưng đăng trên Tạp chí Khoa học

ĐHQG Hà Nội, tập 32, số 1 (2016); “Vài bình luận về pháp luật doanh

nghiệp tư nhân” đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQG, Luật học 26 (2010) và

bài viết “Khái niệm công ty hợp danh tại Luật Doanh nghiệp năm 2005” của

tác giả Ngô Huy Cương đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử v.v Các công trình, bài viết về hình thức tổ chức doanh nghiệp ở nước ta khá đa dạng, và tương đối toàn diện, nghiên cứu sinh sẽ kế thừa các kết quả này và được phản ảnh cụ thể trong Luận án

TCHNCC tự do ở nước ta dưới tên gọi VPCC được tổ chức và hoạt động theo mô hình doanh nghiệp lần đầu tiên được khai sinh theo Luật Công chứng năm 2006, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 Có thể nói, các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn trong việc tổ chức, hoạt động của VPCC ở nước ta còn khá mới, các công trình nghiên cứu về công chứng trong thời gian qua chủ yếu đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn dưới giác độ nội dung của hoạt động công chứng, quản lý nhà nước về công chứng, xã hội hóa hoạt động công chứng v.v; trong khi đó, các công trình nghiên cứu về hình thức tổ chức của doanh nghiệp tập trung chủ yếu nghiên cứu về bản chất, đặc trưng pháp lý về hình thức, loại hình doanh nghiệp nói chung

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước, có thể khẳng định, cho đến nay ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về hình thức pháp lý của VPCC theo pháp luật Việt Nam; chưa có công trình nào nghiên cứu để giải quyết mối quan hệ giữa hoạt động công chứng với hình thức tổ chức VPCC

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Thể chế công chứng là nội dung quan trọng và rất cần thiết trong đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước có

Trang 32

nền kinh tế thị trường phát triển Đối với nhiều nước, chế định công chứng đã được quy định khá rõ và cụ thể trong các văn bản pháp luật thực định, hệ thống tổ chức công chứng được xây dựng và đi vào hoạt động ổn định, hoạt động nghiên cứu khoa học về hoạt động công chứng đã có bề dày lịch sử nhất định nên các vấn đề cơ bản về công chứng, về mô hình tổ chức, hoạt động của

cơ quan công chứng đã được giải quyết cơ bản Đối với các nước thuộc phe

xã hội chủ nghĩa trước đây, khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ tới các thiết chế chính trị, xã hội v.v trong đó có hoạt động công chứng Công tác nghiên cứu không chỉ dừng ở những vấn đề cơ bản trong hoạt động công chứng mà còn phải giải quyết vấn

đề về xã hội hóa công chứng cũng như các vấn đề liên quan tới chuyển đổi từ

mô hình công chứng nhà nước sang mô hình công chứng hành nghề tự do dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường

Nước Pháp được xem là điển hình mẫu về mô hình công chứng La - Tinh, nghề công chứng có bề dày lịch sử, các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động công chứng ở Pháp khá phong phú và toàn diện Trong

số những công trình mà nghiên cứu sinh có điều kiện tiếp cận phải kể đến

công trình “Notariat” của tác giả J.F.Pillebout do Nhà xuất bản Paris ấn hành

năm 1984 Đây là công trình có nội dung khá đầy đủ, toàn diện đề cập tới các vấn đề lý luận cơ bản trong hoạt động công chứng như: Lịch sử hình thành và phát triển của nghề công chứng; bản chất, chức năng, vai trò của công chứng; các nguyên tắc hành nghề công chứng; trách nhiệm, nghĩa vụ của CCV; giá trị pháp lý của VBCC; quy chế hành nghề, bổ nhiệm CCV; quy chế thành lập, giải thể, chuyển giao VPCC v.v Có thể nói đây là những công trình rất có giá trị cần tham khảo khi nghiên cứu về thể chế công chứng nói chung đặc biệt là nghiên cứu về trường phái công chứng Latinh trong đó có nội dung về hình thức tổ chức VPCC

Trang 33

Công trình “Cơ sở Hiến pháp của hoạt động công chứng” của tác giả

T.Talinhitrencô, (Nhà xuất bản Mátxcơva, năm 2001) Tại công trình này, tác giả đã đi sâu phân tích mối quan hệ giữa Hiến pháp với hoạt động công chứng, ảnh hưởng của các nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền tới tổ chức và hoạt động công chứng, khả năng chuyển giao một số quyền hạn, hoạt động của Nhà nước cho các chế định của xã hội dân sự Tác giả cũng đi sâu phân tích tinh thần của Hiến pháp qua đó làm rõ bản chất pháp lý của công chứng với tính chất là một nghề nghiệp độc lập; Bên cạnh đó, các nội dung như: công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng, vai trò của công chứng trong việc thúc đẩy các hoạt động giao lưu dân sự v.v cũng được tác giả đề cập trong tác phẩm này

Công trình “So sánh chế độ công chứng của Trung Quốc với các nước

phát triển phương Tây” của tác giả Chu Hải Xuân (Nhà xuất bản Tư pháp

Trung Quốc, năm 2002) Với công trình này, tác giả đã tập trung nghiên cứu chế độ công chứng ở các nước phương Tây mà điển hình là nước Pháp trong mối tương quan với chế định công chứng ở Trung Quốc, trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về công chứng như chức năng, mục đích của công chứng; nguyên tắc hành nghề, trách nhiệm pháp lý của người thực hiện công chứng, chứng thực v.v, từ đó tác giả đưa ra một số khuyến nghị, kinh nghiệm nhằm phát triển hoàn thiện hơn nữa chế định công chứng của Trung Quốc Thể chế công chứng của Trung Quốc cũng tương tự như ở Việt Nam trong việc chuyển đổi từ mô hình công chứng bao cấp sang mô hình công chứng hành nghề tự do

Công trình “Tìm hiểu về tính chất của cơ cấu công chứng trong thể chế

kinh tế thị trường” của tác giả Lưu An Cát, (Nhà xuất bản Bắc Kinh, năm

2001) và “Nghiên cứu và kiến nghị một số vấn đề về xã hội hóa hành nghề

công chứng theo Luật Công chứng”, của tác giả Đoàn Vĩ (Tạp chí Tư pháp

Trang 34

Trung Quốc số: 9/2006) Tại các công trình nêu trên, các tác giả đã chỉ ra sự tác động của nền kinh tế thị trường đối với thể chế công chứng ở Trung Quốc

và phân tích các vấn đề cơ bản liên quan tới xã hội hoá hoạt động công chứng

ở Trung Quốc; đồng thời các tác giả cũng đã chỉ ra những khó khăn trong việc thực hiện xã hội hóa hành nghề công chứng, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách xã hội hóa công chứng ở Trung Quốc

Bên cạnh đó cũng phải kể tới một số công trình, bài viết của một số

chuyên gia, tác giả người Nga về xã hội hóa hoạt động công chứng như: “Mô

hình công chứng Latinh trong bối cảnh toàn cầu hoá”, của tác giả A.Tal-Pis,

(Tạp chí Tư pháp Nga số: 9/2003); “Triển vọng phát triển công chứng ở Liên

bang Nga”, của tác giả M.Kis-li-sin (Tạp chí Tư pháp Nga số: 5/2003) và

“Những phòng công chứng song song ngoài ngân sách”, của tác giả

G.Treremnưc, (Tạp chí Tư Pháp Nga số: 9/1997) v.v Các công trình, bài viết nêu trên đã phản ảnh những vấn đề cơ bản trong công cuộc xã hội hóa công chứng ở Nga như: Sự ảnh hưởng của quá trình quốc tế đến thực tiễn hoạt động công chứng của Nga; Vai trò của công chứng trong hợp tác kinh tế quốc tế; Vai trò của công chứng trong thế giới hiện đại, trong nền kinh tế thị trường.v.v; Các tác giả cũng đã phân tích, đánh giá mô hình công chứng ngoài ngân sách nhà nước, cơ chế tự chủ về tài chính và chế độ trách nhiệm vật chất của CCV v.v dưới giác độ là tổ chức dân sự, doanh nghiệp

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1.3.1 Những kết quả nghiên cứu Luận án đƣợc kế thừa

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy các công trình ở nước ngoài nghiên cứu về TCHNCC tự do được tiếp cận ở các góc độ khác nhau Đối với các nước có bề dày lịch sử phát triển mô hình công chứng hành nghề

tự do đã xây dựng được cơ sở lý luận vững chắc về chế định công chứng nói chung cũng như thiết lập được hệ thống tổ chức cung ứng dịch vụ công chứng

Trang 35

vận hành ổn định và bền vững Trong khi đó, đối với các nước chuyển đổi từ

mô hình công chứng bao cấp sang mô hình công chứng hành nghề tự do còn tồn tại sự khác biệt nhất định trong đó có vấn đề về hình thức tổ chức VPCC

Vì vậy, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài mà nghiên cứu sinh có điều kiện tiếp cận có giá trị tham khảo rất hữu ích, đặc biệt khi đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, những công trình này không có ý nghĩa áp đặt hay loại bỏ việc nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này Nhìn chung các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã kiến tạo nền tảng

lý luận khá vững chắc những vấn đề cơ bản về công chứng, về mô hình tổ TCHNCC tự do, các kết quả dưới đây sẽ được kế thừa trong Luận án, cụ thể như:

(1) Một là, Những vấn đề lý luận cơ bản về công chứng như: Bản chất,

Dưới giác độ nghiên cứu về hình thức tổ chức doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công chứng, luận án không chỉ kế thừa những kết quả từ các công trình nghiên cứu lý luận, thực tiễn về hoạt động công chứng mà còn kế thừa kết quả từ các công trình nghiên cứu về bản chất, hình thức pháp lý của các loại hình doanh nghiệp Trên cơ sở đó luận giải thực trạng hình thức pháp

Trang 36

lý của VPCC theo pháp luật Việt Nam cũng như làm cơ sở khoa học để kiến nghị các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hình thức pháp lý của VPCC ở Việt Nam

1.3.2 Những vấn đề Luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Luận án nghiên cứu những vấn đề mới sau đây:

- Nghiên cứu lý luận cơ bản về hoạt động công chứng; xác định mối quan hệ giữa hoạt động công chứng và hình thức pháp lý của VPCC; nghiên cứu các hình thức tổ chức VPCC trên thế giới;

- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định và áp dụng quy định về hình thức pháp lý của VPCC theo pháp luật Việt Nam, chỉ ra những bất cập, hạn chế cũng như nguyên nhân của chúng;

- Đề xuất định hướng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về hình thức pháp lý của VPCC theo pháp luật Việt Nam

1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án đã xác định các câu hỏi nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu tập trung vào ba vấn đề lớn đó là lý luận, thực trạng và giải pháp về hình thức pháp lý của VPCC theo pháp luật Việt Nam

- Câu hỏi nghiên cứu chung: Ở Việt Nam, hình thức pháp lý của VPCC

đã phù hợp với yêu cầu của thực tiễn chưa? Những hạn chế, bất cập là gì? Yếu tố nào chi phối hình thức pháp lý của VPCC? Hình thức pháp lý nào phù hợp có thể áp dụng đối với VPCC? Các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hình thức pháp lý của VPCC ở Việt Nam là gì ?

- Giả thuyết nghiên cứu chung: Ở Việt Nam chưa có sự phân định giữa chức năng hành nghề thuộc về CCV và chức năng hỗ trợ hành nghề thuộc về VPCC Đây là nguyên nhân tồn tại những vướng mắc, không nhất quán, bất

Trang 37

cập khi xây dựng pháp luật về hình thức pháp lý của VPCC Từ đó, có thể thấy rằng cần đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những hạn chế trong việc xây dựng pháp luật về hình thức pháp lý của VPCC ở Việt Nam

Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu chung và làm rõ giả thuyết nghiên cứu chung, Luận án phải trả lời các câu hỏi nghiên cứu cụ thể và làm rõ các giả thuyết nghiên cứu cụ thể trong các mảng nghiên cứu sau:

- Một là, đối với vấn đề nghiên cứu lý luận

Câu hỏi nghiên cứu cụ thể về lý luận: Các khái niệm về “Văn phòng

công chứng”, “hình thức pháp lý của văn phòng công chứng” ?, khái niệm, mục đích công chứng ?, đặc điểm của hoạt động công chứng?, Chức năng của VPCC ? Các hình thức pháp lý có thể áp dụng đối với VPCC ? Điều kiện thiết lập các hình thức pháp lý của VPCC ?

Giả thuyết nghiên cứu cụ thể về lý luận: Các khái niệm về “Văn phòng

công chứng”, “hình thức pháp lý của văn phòng công chứng” chưa được diễn giải đầy đủ ở Việt Nam Hiện vẫn chưa xây dựng được mô hình lý luận bao quát, toàn diện về hình thức pháp lý của VPCC, chưa phân định chức năng hành nghề và chức năng hỗ trợ hành nghề, chưa xác định điều kiện thiết lập hình thức pháp lý của VPCC

- Hai là, đối với vấn đề nghiên cứu thực trạng pháp luật

Câu hỏi nghiên cứu cụ thể về thực trạng: Loại hình công ty hợp danh

có đảm bảo cho sự phát triển bền vững đối với hệ thống VPCC ở nước ta? Loại hình công ty hợp danh có đáp ứng chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng triệt để ở nước ta? Những khó khăn, vướng mắc và bất cập khi thực thi quy định công ty hợp danh là loại hình doanh nghiệp duy nhất áp dụng đối với VPCC trên thực tế là gì ?

Trang 38

Giả thuyết nghiên cứu cụ thể về thực trạng: Luật Công chứng năm

2014 chỉ cho phép VPCC hoạt động theo loại hình công ty hợp danh đã hạn chế quyền tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp đối với CCV, cản trở tiến trình xã hội hóa hoạt động công chứng, tạo sự bất cập trên thực tiễn trong trường hợp VPCC chấm dứt hoạt động, chuyển nhượng, hợp nhất, sáp nhập v.v; hệ thống VPCC sẽ không thể phát triển ổn định, bền vững và đảm bảo tính kế thừa dưới hình thức công ty hợp danh Nguyên nhân của những bất cập bao gồm cả chủ quan và khách quan, trong đó phần lớn là do nguyên nhân chủ quan

- Ba là, đối với vấn đề nghiên cứu giải pháp

Câu hỏi nghiên cứu cụ thể về giải pháp: sự cần thiết của việc nghiên

cứu các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hình thức pháp lý của VPCC ?, Các giải pháp là gì?

Giả thuyết nghiên cứu cụ thể về giải pháp: Cần thiết phải tăng cường

tập trung giải pháp lập pháp nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về hình thức pháp

lý của VPCC ở Việt Nam;

Trang 39

Kết luận Chương 1

1 Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước một mặt đã xây dựng cơ sở lý luận vững chắc những vấn đề cơ bản về công chứng như: chức năng công chứng, bản chất công chứng, nguyên tắc hoạt động công chứng, giá trị pháp lý của VBCC v.v với tư cách là nội dung của hoạt động công chứng, mặt khác đã tạo dựng được cơ sở lý luận về hình thức pháp lý của doanh nghiệp với tư cách hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh Do đó, khi

nghiên cứu đề tài “Hình thức pháp lý của Văn phòng công chứng theo pháp

luật Việt Nam” thì không thể không kế thừa những thành tựu từ các công

trình nghiên cứu trước đó cả về lý luận và thực tiễn Tuy vậy, hoạt động công chứng có tính đặc thù riêng so với các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường, mặt khác VPCC lại là vấn đề khá mới mẻ ở Việt Nam, có thể nói chưa có một công trình chuyên sâu nghiên cứu về VPCC dưới giác độ hình thức pháp lý của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công chứng

2 Mặt khác, từ tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy,

có sự khác biệt từ quan điểm lập pháp về hình thức pháp lý của VPCC giữa Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới Có nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là sự khác biệt về môi trường pháp lý, hệ thống chính trị, điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội Vì vậy, các kết quả của các công trình nghiên cứu ở nước ngoài không mang tính áp đặt cho việc nghiên cứu đề tài mà chỉ có giá trị tham khảo nhằm tiếp thu những yếu tố hợp lý góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam

3 Từ các câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiền cứu và các phương pháp nghiên cứu sẽ giúp nghiên cứu sinh xác định mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể mà Luận án phải giải quyết như: xây dựng hệ thống lý luận, thực trạng áp dụng pháp luật và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về hình thức pháp

lý của VPCC ở Việt Nam

Trang 40

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG VÀ HÌNH THỨC PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÕNG CÔNG CHỨNG

2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 2.1.1 Khái niệm công chứng và đặc điểm của hoạt động công chứng

2.1.1.1 Khái niệm công chứng

Xét về mặt ngữ nghĩa, thuật ngữ “Công chứng” trong tiếng Pháp là Notariat, tiếng Anh – Notary, tiếng Đức – Notaciat, tiếng Nga - Hotapiat đều

có gốc Latinh là Notarius có nghĩa là ghi chép, lập văn bản [11,15], [44, 8] Ở nước ta, trong thời Pháp thuộc và chính quyền Sài Gòn trước năm 1975 sử dụng thuật ngữ “Chưởng khế” “Chưởng khế” có nghĩa là người có chức năng chứng thực và quản lí giấy tờ khế ước, công chứng viên [111, 244], còn “khế ước” được hiểu là giấy giao kèo về việc mua bán, thuê, vay v.v [111, 629] Sau năm 1945 ở nước ta còn sử dụng thuật ngữ “thị thực” [25] và “nhận thực”[26] Thuật ngữ “công chứng” chính thức xuất hiện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta tại Thông tư số: 574/QLTPK ngày 10 tháng 10 năm 1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng Nhà nước Dưới đây, chúng ta sẽ tìm hiểu về khái niệm công chứng và khái niệm công chứng viên được quy định trong hệ thống pháp luật một số quốc gia trong hệ thống pháp luật Việt Nam và quan điểm của một số chuyên gia trong nước về vấn đề này

Tại Điều 1, Pháp lệnh số: 45-2500 ngày 02/11/1945 của Cộng hòa Pháp

về Điều lệ Công chứng quy định: "Công chứng viên là viên chức công được

bổ nhiệm để lập các hợp đồng và văn bản mà theo đó các bên phải hoặc muốn đem lại một tính xác thực, giống như các văn bản của các cơ quan công

Ngày đăng: 04/09/2020, 17:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w