Bảo hiểm thất nghiệp là một trong những chính sách về an sinh xã hội, được nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm, song thực tế ở Việt Nam cho thấy còn nhiều khó khăn, bất cập, vướng mắc t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ NGUYỄN VIỆT HÀ
B¶O HIÓM THÊT NGHIÖP
TRONG LUËT VIÖC LµM N¡M 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ NGUYỄN VIỆT HÀ
B¶O HIÓM THÊT NGHIÖP TRONG LUËT VIÖC LµM N¡M 2013
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ HOÀI THU
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất ký công trình nào khác Các số liệu, ví dụ như trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LÊ NGUYỄN VIỆT HÀ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin cảm ơn đến tất cả các quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học Luật Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà nội, những người đã truyền đạt cho em những kiến thức hữu ích làm cơ sở cho em thực hiện tốt luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn đến PGS.TS Lê Thị Hoài Thu đã tận tình hướng dẫn em trong thời gian thực hiện luận văn Cô đã hướng dẫn, chỉ bảo cho em rất nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy, cô Khoa đào tạo Sau đại học – Đại học Quốc gia Hà nội đã tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập
Sau cùng, em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè những người đã luôn bên em, động viên và khuyến khích em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiết sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/Cô và các bạn học viên./
Học viên
Lê Nguyễn Việt Hà
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 7
1.1 Khái quát chung về bảo hiểm thất nghiệp 7
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp 7
1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp 9
1.1.3 Ý nghĩa và vai trò bảo hiểm thất nghiệp 10
1.2 Sự điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 12
1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 12
1.2.2 Nguyên tắc pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 13
1.2.3 Nội dung pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 15
1.3 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp của một số nước trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam 27
1.3.1 Bảo hiểm thất nghiệp ở Nhật Bản 27
1.3.2 Bảo hiểm thất nghiệp ở Đức 29
1.3.3 Những gợi mở cho Việt Nam 31
Kết luận chương 1 33
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRONG LUẬT VIỆC LÀM NĂM 2013 VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI VIỆT NAM 34
2.1 Thực trạng các quy định về bảo hiểm thất nghiệp 34
Trang 62.1.1 Về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp 34
2.1.2 Về điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp 37
2.1.3 Về chế độ bảo hiểm thất nghiệp 40
2.1.4 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 47
2.2 Thực tiễn thi hành bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 49
2.2.1 Những kết quả đạt được 49
2.2.2 Những hạn chế 57
2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế 58
Kết luận chương 2 61
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRONG LUẬT VIỆC LÀM NĂM 2013 VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM 62
3.1 Yêu cầu của việc hoàn thiện quy định về bảo hiểm thất nghiệp trong Luật Việc làm năm 2013 và nâng cao hiệu quả thực hiện bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 62
3.2 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện bảo hiểm thất nghiệp trong Luật Việc làm năm 2013 65
3.2.1 Giải pháp pháp lý nhằm hoàn thiện luật Việc làm năm 2013 65
3.2.2 Về tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp 67
Kết luận chương 3 75
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASXH An sinh xã hội
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
NSDLĐ Người sử dụng lao động NTN Người thất nghiệp
TCTN Trợ cấp thất nghiệp
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thất nghiệp là một trong hiện tượng kinh tế - xã hội mà hầu hết các nước trên thế giới phải đương đầu Dân số tăng nhanh, sự suy thoái của nền kinh tế, hoạt động kinh doanh thua lỗ là một trong những nguyên nhân hàng đầu gia tăng tình trạng thất nghiệp đối với NLĐ Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển, ổn định kinh tế, chính trị xã hội của mỗi quốc gia rất là lớn, làm cho NLĐ mất đi khoản thu nhập vốn để nuôi sống bản thân và gia đình
họ, đẩy họ vào hoàn cảnh túng quẫn, lãng phí nguồn lực của xã hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến nền kinh tế bị đình trệ Thất nghiệp gia tăng làm cho tình hình xã hội chính trị bất ổn, các tệ nạn xã hội và tội phạm gia tăng làm phá hủy các giá trị đạo đức, văn hóa, gia đình và xã hội Khi tình trạng thất nghiệp kéo dài thì đồng nghĩa với việc chất lượng cuộc sống của bản thân và gia đình sẽ không được đảm bảo dẫn đến nhiều hệ lụy trong cuộc sống, suy giảm niềm tin của NLĐ đến những chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Từ những tính chất cấp bách trên, ngày 01/01/2009 tại Việt Nam, Luật bảo hiểm thất nghiệp đã bắt đầu có hiệu lực nhằm bảo vệ, hỗ trợ những đối tượng lao động thất nghiệp Cho đến nay, loại hình bảo hiểm này đã được thực hiện rộng rãi ở các địa phương với những quy định hết sức chặt chẽ, đem lại nhiều ý nghĩa to lớn cũng như tác dụng tích cực về mặt xã hội
Như những các thành phố lớn và các quốc gia trên thế giới, trước những bối cảnh của toàn cầu hóa tại Việt Nam đang chịu những ảnh hưởng những khó khăn nhất định của nền kinh tế thế giới, trong đó có sự gia tăng số NLĐ mất việc làm Do vậy, việc hạn chế thất nghiệp và bảo đảm ổn định đời sống NLĐ trong trường hợp bị thất nghiệp là yêu cầu cũng là mục tiêu quan trọng của nước ta
Trang 10Bảo hiểm thất nghiệp là một trong những chính sách về an sinh xã hội, được nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm, song thực tế ở Việt Nam cho thấy còn nhiều khó khăn, bất cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện, thực hiện pháp luật bảo hiểm như: đối tượng tham gia BHTN còn hạn chế dẫn tới một
bộ phận không nhỏ NLĐ chưa được bảo đảm quyền lợi khi họ mất việc làm, tình trạng NSDLĐ nợ đóng BHTN; sự lợi dụng của NLĐ đối với việc chi trả BHTN, NLĐ chưa phổ cập những kiến thức về BHTN Vì vậy, việc tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm khắc phục các tình trạng đó ở Việt Nam là điều cần thiết để được bảo đảm quyền BHTN cho người bị mất việc, góp phần củng cố niềm tin của NLĐ đối với chính sách, pháp luật của nhà nước, ổn định trong đời sống
Với mong muốn tìm hiểu rõ những vấn đề mới mẻ này là lí do em chọn
đề tài: “Bảo hiểm thất nghiệp trong Luật Việc làm năm 2013”
2 Tình hình nghiên cứu
Từ thực tiễn của việc thất nghiệp trên địa bàn cả nước, có thể thấy tầm quan trọng của việc áp dụng và thực hiện pháp luật BHTN; bởi sự tác động của việc thực hiện pháp luật BHTN đến nhận thức của mỗi NLĐ là rất quan trọng, vì thế thực hiện pháp luật BHTN một cách hiệu quả cũng được xem như là biện pháp làm giảm thiểu, hỗ trợ người thất nghiệp
Ở nước ta, trong mọi tiến trình sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, Đảng và Nhà nước đã nhận thức rõ ASXH là một trong những vấn đề cần phải được xem xét
kĩ lưỡng Hơn nữa, ASXH là mục tiêu, chính sách phát triển của mỗi quốc gia nhằm thúc đẩy phúc lợi của người dân thông qua các biện pháp hỗ trợ đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn lực đầy đủ trong đó có quyền được BHTN
Sau khi BHTN ra đời, đã có những văn bản pháp lý có giá trị trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, trong đó có chế định BHTN song cũng chỉ đưa ra các nội dung cơ bản liên quan đến BHTN chứ không có điều nào quy định
cụ thể về BHTN Còn nay, theo Luật việc làm 2013 thì: BHTN là chế độ
Trang 11nhằm bù đắp phần thu nhập của NLĐ khi bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ BHTN Với khái niệm này về BHTN thể thiện BHTN là chế độ nhằm bảo đảm quyền lợi cho NLĐ bị thất nghiệp
Sự ra đời của BHTN đã thể hiện được nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Sau mười năm được thực thi, nhiều các bài viết, hội thảo, các công trình nghiên cứu khoa học, đề tài về vấn đề này, trong đó có các bài viết, công trình tiêu biểu như:
- Luận án tiến sĩ luật học “Chế độ BHTN trong nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam” (2005) của NCS Lê Thị Hoài Thu đã chỉ ra rõ một cách hệ thống
những nội dung chủ yếu của chế độ BHTN, các yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng chế độ BHTN ở Việt Nam, bên cạnh đó còn có sự so sánh với quy định của Tổ chức lao động quốc tế và một số nước trên thế giới
- Luận án tiến sĩ luật học “Quản lí nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở
nước ta hiện nay” của NCS Nguyễn Quan Trường cũng đã cung cấp các luận
cứ khoa học cho các cơ quan hoạch địch, thực thi pháp luật, chính sách về BHTN để phục vụ cho việc điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện QLNN về BHTN
ở Việt Nam
- Đề tài khoa học: “Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam – thực trạng và
giải pháp” của trường Học viện Tài chính cũng đã đi sâu, làm rõ các vấn đề
về quá trình thực hiện BHTN và cách khắc phục những tồn đọng
- Ngoài ra còn có các bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học, các
phương tiện truyền thông như: “Những bất cập trong thi hành pháp luật về
BHTN”, “Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp Việt Nam qua các thời kỳ”,
“Những điểm mới về chính sách BHTN”, “Kinh nghiệm quốc tế về triển khai bảo hiểm thất nghiệp”,
Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát trên cho thấy, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn và các bài viết nghiên cứu về
Trang 12BHTN cũng như đã làm rõ các nội dung cơ bản của BHTN nhưng chủ yếu tập trung nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, chính sách thi hành và các hoạt động về BHTN Tuy nhiên, những cơ chế về việc thi hành pháp luật chưa thực sự đầy đủ, chưa rõ ràng Vì thế đòi hỏi cần phải có những công trình nghiên cứu bổ sung, khắc phục góp phần hoàn hiện hệ thống thi hành pháp luật về BHTN
Bên cạnh đó, các công trình trên đã đi sâu vào nghiên cứu về nội dung
cơ bản của BHTN, chỉ ra thực trạng và giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật BHTN nhưng chưa có công trình cụ thể nào nghiên cứu, phân tích về
thực trạng thực hiện pháp luật BHTN ở Việt Nam Do vậy, đề tài “Bảo hiểm
thất nghiệp trong luật việc làm năm 2013” sẽ đi sâu thêm về những vấn đề
cũng như thực trạng về BHTN ở Việt Nam từ khi có hiệu lực đến nay
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu với mục đích làm rõ những vấn đề chung về BHTN, khái quát hệ thống pháp luật về BHTN hiện nay ở Việt Nam và đánh giá thực trạng quá trình áp dụng BHTN tại Việt Nam để có thể nhận ra được những mặt làm được và những khuyết điểm còn tồn tại để có các giải pháp, kiến nghị sửa đổi hoàn thiện pháp luật Vì vậy luận văn tập trung vào những nhiệm vụ chính sau đây:
Thứ nhất, làm sâu sắc thêm khái niệm, nội dung pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp
Thứ hai, phân tích thực trạng pháp luật bảo hiểm thất nghiệp cũng như đánh giá hiệu quả quá trình thực hiện pháp luật BHTN trong Luật Việc làm năm 2013, đồng thời chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân
Thứ ba, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thi hành pháp luật BHTN ở Việt Nam
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi tập trung làm rõ những lý luận chung về thất nghiệp và pháp luật về BHTN; thực trạng pháp luật BHTN và thực tiễn thi hành để từ đó đưa
ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật BHTN ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá, thực trạng thi thành pháp luật BHTN ở Việt Nam
5 Nội dung nghiên cứu
- Khái quát về bảo hiểm thất nghiệp
- Thực trạng thi hành pháp luật bảo hiểm thất nghiệp trong Luật Việc làm năm 2013
- Giải pháp nâng cao hiệu quả việc thi hành pháp luật bảo hiểm thất nghiệp trong Luật Việc làm năm 2013
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: tổng hợp, nghiên cứu và phân tích các tài liệu về lý luận có liên quan đến đề tài; lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật cụ thể là pháp luật về BHTN; đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề ASXH với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa gắn với việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong đó có quyền được BHTN; các tài liệu trong và ngoài nước về thực thi pháp luật BHTN
- Các phương pháp cụ thể được sử dụng trong luận văn: phương pháp logic; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích – tổng hợp; phương pháp thống kê; phương pháp quy nạp, diễn dịch Các phương pháp này có thể được sử dụng riêng rẻ hoặc có thể được kết hợp với nhau để làm sáng tỏ một số vấn đề cụ thể
Trang 147 Ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn của luận văn
Về ý nghĩa khoa học: Luận văn làm rõ hơn nữa vấn đề cơ bản về thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp Đi sâu vào phân tích thực trạng pháp luật về BHTN trong luật Việc làm năm 2013 hiện nay và thực tiễn thi hành để tìm ra những điểm hạn chế, giải pháp khắc phục
Về ý nghĩa thực tiễn: luận văn có giá trị như một tài liệu tham khảo về vấn đề BHTN tại Việt Nam Luận văn cũng đưa ra cái nhìn bao quát về việc thi hành pháp luật BHTN tại Việt Nam, giúp các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương có thể xem xét nghiên cứu này để có thể ngày càng hoàn thiện chính sách và quy định về BHTN
8 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu và phụ lục và có 3 chương chính:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp và sự điều
chỉnh của pháp luật
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thi
hành tại Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện bảo hiểm
thất nghiệp trong Luật Việc làm năm 2013 và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT
1.1 Khái quát chung về bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
Các quốc gia trên thế giới khi phát triển kinh tế đều gặp phải các thách thức và khó khăn nhất định, trong đó gồm có các vấn đề về tài chính, lạm phát, thâm hụt ngân sách, cho đến thực trạng tốt nghiệp, nhu cầu giải quyết việc làm cho người dân Trong những năm trở lại đây tình trạng thất nghiệp ngày càng tăng cao và khó kiểm soát Theo số liệu bản báo cáo “Vấn đề việc làm thế giới năm 2014” của ILO thì số người thất nghiệp trên toàn cầu đã đạt đến con số 203,2 triệu người, dự báo sẽ tăng lên đến 213 triệu người vào năm
2019 [19] Ảnh hưởng thất nghiệp tới các quốc gia là rất lớn, làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế, gia tăng lạm phát, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của NLĐ Không những thế, nó còn gây ra bất ổn trong xã hội, gia tăng tỉ lệ tội phạm Từ những lý do như vậy, để có hướng giải quyết tình trạng thất nghiệp thì chúng ta cần có những cái nhìn đúng đắn, đánh giá khách quan và làm rõ khái niệm thất nghiệp
Hiện nay, mỗi quốc gia có những tỉ lệ thất nghiệp khác nhau Ví dụ, Việt Nam có tỉ lệ người thất nghiệp chiếm 3,1% đứng thứ 25 trên thế giới (2014), Lào chiếm 1,3% đứng thứ 6 trên thế giới (2012), Trung Quốc là nước đông dân nhất trên thế giới, có nền kinh tế phát triển hơn so với các nước nhưng tỉ lệ thất nghiệp chỉ chiếm 4,1% đứng thứ 36 trên thế giới (2014) [12]
Từ đó, việc ra đời BHTN có ý nghĩa và vai trò quan trọng đối với việc xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật về BHTN trong đời sống xã hội cũng như việc xác định vị trí, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về BHTN
Trang 16Trên thế giới, BHTN lần đầu tiên được ghi nhận trong các văn bản pháp lý của các quốc gia sau cuộc đại cách mạng công nghiệp lần thứ hai vào cuối thế kỷ 20, khi mà trong thời gian này là sự bùng nổ của nạn thất nghiệp,
sự phân hóa giai cấp, tầng lớp sâu sắc Các quốc gia đầu tiên áp dụng pháp luật BHTN là vương quốc Anh (1911); sau đó là Iatalia và Mỹ (1935); Pháp (1958); Trung Quốc (1986) [12]
Theo Công ước số 102 năm 1952 của ILO đã chỉ ra rằng BHTN là một trong các nhánh của BHXH, là một biện pháp hỗ trợ thiết thực về mặt tài chính cho NLĐ trong lúc mất việc làm nhằm giúp họ khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống Tuy nhiên, ở một số quốc gia khác, xuất phát từ quan điểm BHTN chỉ mang tính chất thụ động, hỗ trợ tạm thời Vì vậy, quy định BHTN nằm trong hệ thống pháp luật việc làm như: Canada, Hàn Quốc, Nhật Bản,…
Tại Việt Nam, theo Từ điển tiếng việt, BHTN được hiểu là “bảo đảm những quyền và lợi ích cho NLĐ, công nhân, viên chức khi không làm việc
Trang 171.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp
BHTN hỗ trợ cho việc tái tạo việc làm và đời sống của NLĐ khi thất nghiệp được diễn ra bình thường Bên cạnh đó, BHTN là một trong những hệ thống các chế độ của BHXH, BHTN cũng có những đặc điểm riêng như sau:
Một là, BHTN ngoài mục đích nhằm hỗ trợ khó khăn cho NLĐ khi
họ không có việc làm và tạm thời mất đi nguồn thu nhập mà còn hỗ trợ trong việc hoạt động tìm kiếm, tạo việc làm và đào tạo dạy nghề cho NLĐ thất nghiệp
Hai là, BHTN được áp dụng cho những người đang trong độ tuổi lao động, có sức lao động nhưng bị mất việc làm tạm thời không có thu nhập và sẵn sàng trở lại làm việc
Ba là, BHTN giúp NLĐ trở lại thị trường lao động khi bị thất nghiệp Các cơ quan BHTN phải vừa hoàn thành tốt chuyên môn trong lĩnh vực chi trả trợ cấp thất nghiệm, vừa phải nắm bắt các thông tin trên thị trường lao động để giới thiệu việc làm, đào tạo dạy nghề cho phù hợp với lĩnh vực công việc đối với NLĐ bị thất nghiệp
Bốn là, các cơ quan BHTN phải linh hoạt trong việc quan hệ với các trung tâm thới thiệu việc làm, trung tâm đào tạo dạy nghề và các chương trình quốc gia liên quan đến lĩnh vực việc làm
Năm là, điều kiện hưởng chế độ BHTN có nhiều khó khăn hơn so với các chế độ BHXH khác Điển hình trong việc xác định NLĐ có việc làm hay không có việc làm, có thu nhập hay không có thu nhập
Như vậy, tuy là một phần của BHXH nhưng BHTN còn mở rộng hơn khả năng khống chế và khắc phục hậu quả đối với các vấn đề rủi ro, vừa đảm bảo cuộc sống cơ bản cho lao động mất việc làm, vừa hỗ trợ một cách tích cực cho NLĐ và doanh nghiệp
Trang 181.1.3 Ý nghĩa và vai trò bảo hiểm thất nghiệp
BHTN là một chế định rất quan trọng trong việc hỗ trợ NLĐ, góp phần làm ổn định nên kinh tế- xã hội với đất nước Mặt khác còn góp phần phát triển một xã hội hài hòa các lợi ích của NLĐ cũng như NSDLĐ BHTN còn góp phần đáp ứng nguyện vọng của đông đảo NLĐ, đảm bảo mục tiêu ASXH Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, nguy cơ mất việc đối với NLĐ rất cao, việc chủ động thực hiện chế độ BHTN cho người NLĐ sẽ giúp NLĐ trong việc tìm kiếm việc làm tạo thuận lợi cho việc thúc đẩy nền kinh tế, gia tăng hội nhập kinh tế, quốc tế Chính vì lí do đó, BHTN có ý nghĩa quan trọng đối với quốc gia nói chung và nền kinh tế thị trường, đời sống xã hội của NLĐ và NSDLĐ nói riêng
Về lĩnh vực kinh tế
BHTN có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế cả nước Trong đó phải nói đến các chế độ của BHTN đã giúp cho các cơ quan kiểm soát nguồn nhân lực hiệu quả, giúp NLĐ bị thất nghiệp sớm có công việc ổn định, tránh lãng phí nguồn nhân lực Sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả cũng chính là giúp cho năng xuất sản suất gia tăng về hàng hóa và dịch vụ, phát triển nền kinh tế
Khi người dân ổn định được việc làm, thu nhập để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của bản thân và gia đình sẽ giúp cho quốc gia giảm được tình trạng thất nghiệp, nhu cầu xã hội tăng cao, dịch vụ hàng hóa nhanh chóng được tiêu thụ,
cơ hội phát triển kinh doanh, giảm lạm phát,… Trong mỗi quốc gia, tỉ lệ thất nghiệp cũng là những thước đo quan trọng cho sự phát triển của một đất nước
so với các nước trên thế giới Nguồn tài nguyên con người là sự vô giá nếu biết khai thác và bảo vệ sẽ giúp cho nền kinh tế phát triển không ngừng
Đối với người lao động
Chính sách BHTN là chỗ dựa cả về tinh thần và vật chất cho NLĐ
Trang 19trong thời gian họ bị mất việc làm, mất đi nguồn thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, thì BHTN giúp họ có thể ổn định cuộc sống, có điều kiện học nghề và tìm việc làm mới Nhờ vào các chính sách BHTN mà trong khoảng thời gian NLĐ sẽ được hỗ trợ một khoảng chi phí ổn định Khoảng chi phí này tuy rằng không lớn nhưng cũng một phần tạo điều kiện cho NLĐ
có thêm cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp với mình BHTN được cho là một công cụ có thể giải quyết tình trạng thất nghiệp của NLĐ hiện nay, là một trong những chính sách xã hội quan trọng cần được quan tâm nhiều hơn và phát triển trong tương lai NLĐ tự giác tham gia BHTN là thể hiện trách nhiệm với bản thân và gia đình
Thực hiện tốt chính sách này sẽ góp phần cải thiện phúc lợi xã hội, góp phần cải thiện cuộc sống của NLĐ ngày một tốt hơn
Đối với người sử dụng lao động
Các chính sách BHTN yêu cầu NSDLĐ phải có trách nhiệm, nghĩa vụ với NLĐ khi họ bị rơi vào tình cảnh thất nghiệp
Đối với NSDLĐ, nhờ có BHTN mà NSDLĐ sẽ không cần phải tốn chi phí để trợ cấp cho những người thất nghiệp, ngoài ra NSDLĐ có quyền được
sử dụng quỹ để chi trả cho việc đào tạo lại, đào tạo nâng cao tay nghề cho NLĐ Cho nên, NSDLĐ sẽ được giảm bớt gánh nặng tài chính nhờ có việc tham gia BHTN
Về mặt xã hội
Thực hiện chính sách BHTN là biện pháp hiệu quả để giải quyết nạn thất nghiệp, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bởi vì khi thất nghiệp diễn ra thương xuyên sẽ làm cho nền kinh tế trị trường suy thoái, bất ổn Lúc này, BHTN với các quy định trợ cấp về thất nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm việc làm là sự bảo đảm cần thiết cho NLĐ có một cuộc sống bình thường khi mất việc làm, giảm gánh nặng về chi tiêu cho Nhà nước, và bảo vệ những giá trị tiến bộ của xã hội
Trang 20Như vậy chúng ta đã có thể thấy được rằng nền kinh tế thị trường hội nhập nhiều rủi ro như hiện nay, những rủi ro này sẽ khiến cho NLĐ có thể
bị thất nghiệp Điều này sẽ ảnh hưởng đến những NLĐ, NSDLĐ và đặc biệt là nhà nước Vì vậy, BHTN là chính sách đáng được quan tâm và phát triển để cho NLĐ, NSDLĐ và nhà nước tránh được những rủi ro trong nền kinh tế thị trường
1.2 Sự điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp
1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp
Hệ thống pháp luật về BHTN đầu tiên trên thế giới áp dụng và thực hiện là Vương Quốc Anh (1911), tiếp theo đó là Italia Năm 1935, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ bắt đầu thực hiện, Cộng hòa Pháp thực hiện năm 1958, Trung Quốc bắt đầu thực hiện vào năm 1986 [34] Đến nay đã có hơn 70 quốc gia thực hiện chế độ BHTN
Pháp luật về BHTN là một chế định trong hệ thống các chế định BHXH, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến BHTN trong đó có mối quan hệ giữa NSDLĐ với NLĐ bị mất việc; giữa NLĐ thất nghiệp với cơ quan quản lý BHTN và các mối quan hệ khác liên quan đến BHTN; được hình thành do có sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ dưới sự bảo trợ của nhà nước Theo đó chế độ này quy định mức đóng góp, điều kiện hưởng, cách thức chi trả quyền lợi bảo hiểm và các giải pháp nhằm
hỗ trợ cho NLĐ bị mất việc khắc phục khó khăn, sớm có cơ hội tiếp cận việc
làm mới [15]
Có thể khái quát khái niệm pháp luật BHTN như sau: “Pháp luật về BHTN là một bộ phận trong hệ thống các quy định về BHXH, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả TCTN để bù đắp thu nhập cho NTN và thực hiện các biện pháp đưa họ sớm trở lại làm việc”
Trang 211.2.2 Nguyên tắc pháp luật bảo hiểm thất nghiệp
Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật BHTN bao gồm những tư tưởng cơ bản chủ đạo chi phối toàn bộ quá trình thực hiện BHTN mà được tuân theo được quy định tại Điều 41 Luật việc làm năm 2013:
Thứ nhất, bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm thất nghiệp
Nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm – chia sẻ rủi ro – đã có từ rất lâu BHTN cũng dựa trên nguyên tắc cơ bản trên để tương trợ các cá nhân trong
xã hội, theo nguyên tắc số đông bù số ít Vì vậy, việc tham gia BHTN bắt buộc đối với cả NLĐ và NSDLĐ Những chủ thể này đều phải có trách nhiệm tham gia BHTN và đây được coi là một nội dung trong hợp đồng lao động Nhà nước sẽ thực hiện chức năng quản lý và hỗ trợ khi cần thiết Điều này có các tính chất tương trợ, lấy số đông bù số ít Vì không phải NLĐ nào cũng rơi vào tình trạng thất nghiệp
Thứ hai, mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương của người lao động
Tiền lương của NLĐ nhận được phụ thuộc vào mức tiền lương do NSDLĐ quy định trong hợp đồng lao động hoặc dựa trên hợp đồng làm việc do Nhà nước quy định Trên cơ sở mức sống, mức thu nhập bình quân thực tế của đại đa số NLĐ, mức thu nhập bình quân đầu người… Nhà nước quy định mức đóng để đảm bảo cho mức thu nhập này luôn thăng bằng tương đối, nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ tham gia bảo hiểm và gia đình họ
Thứ ba, mức hưởng BHTN được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp
Việc đưa ra các quy định về mức đóng, thời gian đóng sẽ quyết định đến mức hưởng BHTN là bao nhiêu Vậy nên, việc quy định tỉ lệ này phải đảm bảo được mức sống tối thiểu cho NLĐ, xuất phát từ vai trò quan trọng
Trang 22của BHTN đó là hỗ trợ cuộc sống cho NLĐ khi bị mất thu nhập do bị mất việc làm Việc xác định mức hưởng trợ cấp BHTN phải đảm bảo được khả năng chi trả cho quỹ bảo hiểm và tính khuyến khích NLĐ chủ động tìm kiếm việc làm nhằm thoát khỏi tình trạng thất nghiệp Nếu quy định tỉ lệ hưởng trợ cấp BHTN quá thấp, thời gian được hưởng quá ít sẽ không bảo đảm được mức sống tối thiểu cho NLĐ, làm mất đi ý nghĩa của BHTN Nhưng nếu quy định mức trợ cấp BHTN quá cao, thời gian hưởng trợ cấp kéo dài lại dẫn đến những khó khăn cân đối tài chính giữa thu và chi BHTN, dễ gây tâm lý ỷ lại trông chờ vào sự giúp đỡ của BHTN, không tích cực tìm việc làm của NLĐ và một bộ phận lao động muốn được thất nghiệp Đây cũng là điểm khác biệt trong việc xác định mức trợ cấp BHTN so với các loại trợ cấp BHXH thông thường
Thứ tư, việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia
Người tham gia BHTN khi đóng phí BHTN là nhằm dự trữ trước một khoản tài chính, nhằm để phòng những trường hợp rủi ro xảy ra có liên quan đến việc làm Khi gặp rủi ro này, chi phí trong cuộc sống của NLĐ và gia đình họ thì tăng lên trong khi mức thu nhập của họ bị mất đi Trong trường hợp này các khoản tiền BHTN giữ vai trò cần thiết và quan trọng góp phần bù đắp vào sự thiếu hụt thu nhập của NLĐ và gia đình họ nhằm ổn định cuộc sống, khắc phục khó khăn, hỗ trợ, giúp đỡ họ vượt qua khó khăn trước mắt
Để thực hiện được mục tiêu trên thì cần phải thực hiện triệt để nguyên tắc BHTN phải thuận tiện, đơn giản, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH Khi những NLĐ gặp rủi ro dẫn tới họ rơi vào hoàn cảnh khó khăn vì vậy hơn lúc nào hết cần có sự trợ giúp và chia sẻ một cách kịp thời để có thể khắc phục được những rủi ro đã gặp phải
Các quy định về trình tự, quy trình giải quyết chế độ BHTN từng bước được hoàn thiện hướng dẫn đơn giản, phù hợp, thuận tiện cho NLĐ Việc giải
Trang 23quyết chế độ BHTN đã áp dụng cơ chế “một cửa” liên thông, tạo thuận lợi cho đối tượng khi nộp hồ sơ giải quyết chế độ
Thứ năm, quỹ bảo hiểm thất nghiệp được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm an toàn và được Nhà nước bảo hộ
Bảo hiểm thất nghiệp là chính sách quan trọng, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, chứa đựng cả nội dung kinh tế, nội dung xã hội, nội dung pháp lý Để đảm bảo thực hiện hài hòa các nội dụng nói trên và đạt được mục tiêu mà BHTN đặt ra thì việc thực hiện BHTN trước hết là trách nhiệm của Nhà nước Nhà nước là người trực tiếp tổ chức, chỉ đạo và quản lý toàn
bộ sự nghiệp BHTN thông qua việc ban hành các quy định pháp luật về BHTN và kiểm tra thực hiện các quy định đó Mặt khác, quỹ BHTN cùng với
ý nghĩa là một quỹ tích lũy hình thành trên cơ sở đóng góp của ba bên (Nhà nước – Người sử dụng lao động – Người lao động), nhằm giúp đỡ về mặt vật chất cho NLĐ khi họ gặp rủi ro, khó khăn khi bị mất việc làm Do đó bên cạnh nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm cho các chủ thể tham gia quan hệ lao động thì Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ quỹ BHTN và trong trường hợp cần thiết thì Nhà nước có các biện pháp để bảo toàn giá trị quỹ, đảm bảo sự an toàn về tài chính cho quỹ BHTN
1.2.3 Nội dung pháp luật bảo hiểm thất nghiệp
1.2.3.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp
Đối tượng tham gia BHTN về cơ bản gồm có: Người lao động, người
sử dụng lao động và Nhà nước
Người lao động
Từ nội dung của Công ước số 44 của ILO về “Công ước về bảo đảm tiền trợ cấp cho người thất nghiệp không tự nguyện” ngày 23/06/1934, BHTN được áp dụng với tất cả những NLĐ được trả tiền công, tiền lương [16] Tuy nhiên, tùy vào bối cảnh xã hội từng nước mà có thể quy định thêm về một số
Trang 24đối tượng ngoại lệ khác như người giúp việc, lao động tại nhà, công chức nhà nước, lao động mùa vụ, lao động trẻ sát cận độ tuổi lao động quy định, lao động quá độ tuổi quy định, lao động đang được hưởng chế độ hưu trí,… Công ước này không áp dụng cho thủy thủ, thủy thủ đánh cá và lao động nông nghiệp Sở dĩ đây những trường hợp trên không được áp dụng công ước do để quản lý được các đối tượng này khó khăn do đặc thù công việc luôn có sự phân tán, không cố định dẫn đến việc tham gia đăng ký, đóng góp và quản lý
họ là rất phức tạp Hơn nữa, những công việc của họ không mang tính thường xuyên, liên tục, cụ thể nên rất khó xác định họ có đang rơi vào tình trạng thất nghiệp hay không Trong khi đối tượng hưởng BHTN phải là những người trong độ tuổi lao động, bị mất việc làm không do lỗi của họ (không phải là thất nghiệp tự nguyện), tức là bị chấm dứt hợp đồng lao động do không có việc làm, bị sa thải, không đáp ứng được yêu cầu của NSDLĐ, nhưng có khả năng làm việc và luôn sẵn sàng quay trở lại làm việc
Trong khi đó, theo Công ước số 102 của ILO, Điều 21, thì đối tượng nhận TCTN phải thuộc trường hợp những người được bảo vệ, đó là:
Những người làm công ăn lương được quy định, tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương; hoặc mọi người thường trú mà phương tiện sinh sống trong khi trường hợp bảo vệ xảy ra không vượt quá giới hạn quy định theo Điều 67; hoặc, nếu đã có bản tuyên bố để áp dụng Điều 3, bao gồm những người làm công ăn lương mà tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương làm việc trong các cơ sở công nghiệp đang sử dụng 20 người trở lên và trường hợp bảo vệ phải bao gồm tình trạng gián đoạn thu nhập như pháp luật hoặc quy định quốc gia quy định, và xảy ra do không thể có được một công việc thích hợp, trong tình hình người được bảo vệ có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc (Điều 20) [16]
Trang 25Theo Khoản 1 Điều 11 Công ước số 168 về “Xúc tiến việc làm và Bảo
vệ chống thất nghiệp” năm 1988 quy định:
Những người được bảo vệ sẽ bao gồm những người làm công ăn lương theo quy định không ít hơn 85% toàn bộ những người làm công
ăn lương, kể cả người làm công ăn lương khu vực công cộng và những người học nghề Cũng vẫn có thể loại trừ việc bảo vệ đối với những NLĐ làm công ăn lương mà pháp luật hoặc quy định bảo đảm
có việc làm đến tuổi nghỉ hưu bình thường [4, Điều 11, Khoản 2] Như vậy, quy định mới này đã góp phần mở rộng đối tượng được bảo vệ,
đó là người làm công ăn lương khu vực công cộng và những người học nghề
Theo Điều 10 Công ước số 168 quy định những trường hợp thất nghiệp bao gồm: thất nghiệp toàn phần là trường hợp được xác định bị mất nguồn sống do không có khả năng đạt được việc làm phù hợp (do ảnh hưởng bởi các yếu tố như độ tuổi, thời gian làm việc trước đó, kinh nghiệm làm việc, tình hình của thị trường lao động, [4, Điều 21, Khoản 2], nếu là người có khả năng lao động, có thể được làm việc và tìm kiếm việc làm hơn thế; thất nghiệp từng phần là trường hợp được xác định bị mất tiền lương do tạm thời giảm bớt công việc bình thường tại nhà hoặc do pháp luật quy định; hay được xác định bởi
sự đình chỉ hoặc sự giảm bớt thu nhập do đình chỉ công việc tạm thời mà không
có bất cứ sự gián đoạn nào trong mối quan hệ việc làm bởi những lý do, đặc biệt
là kinh tế, công nghệ, cơ cấu hoặc nhu cầu tự nhiên tương tự
Công ước 168 cũng khuyến cáo, mỗi nước thành viên cố gắng mở rộng các trường hợp được bảo vệ thuộc diện thất nghiệp từng phần, khuyến khích việc trả thêm trợ cấp làm việc không trọn giờ cho những NLĐ đang tìm kiếm việc làm đầy đủ Đồng thời, trừ phi có quy định khác với Công ước 168, mỗi nước thành viên sẽ có thể lựa chọn một hoặc nhiều phương pháp bảo vệ dù có hay không có hệ thống đóng góp, hoặc bằng sự kết hợp giữa các hệ thống đó
Trang 26(Điều 12) Tuy nhiên, sự bảo vệ đó có thể được giới hạn, tùy thuộc vào nguồn trợ cấp, hoàn cảnh của người được trợ cấp và gia đình họ Hơn nữa, để được hưởng TCTN, NTN phải hoàn thành một thời gian làm việc nhưng không được vượt quá mức cần thiết để tránh sự lạm dụng Khoảng thời gian làm việc cần thiết đối với từng nghề nghiệp phải được xem xét, cân đối với những NLĐ thời vụ (Điều 17) Những quy định này không chỉ bảo đảm bù đắp thu nhập bị mất do gián đoạn công việc của NLĐ mà còn là sự bảo đảm, bảo vệ cho quyền lợi của người mất việc, góp phần thực hiện tốt chính sách ASXH của mỗi quốc gia nơi có NTN
Điều 26 Công ước 168 còn đề ra những quy định đặc biệt cho người mới xin việc trong trường hợp chưa bao giờ hoặc không được xem là thất nghiệp, hoặc chưa bao giờ hoặc không được tham gia chương trình bảo vệ NTN như: những thiếu niên đã hoàn thành chương trình học, thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự bắt buộc, người mãn hạn tù và yêu cầu mỗi nước thành viên phải xác định rõ trong báo cáo theo Điều 22, Điều lệ của ILO những trường hợp cụ thể nào trong số đó được bảo vệ
Như vậy, theo tinh thần các Công ước quốc tế liên quan đến BHTN, đối tượng tham gia BHTN không chỉ thuộc trường hợp thất nghiệp toàn phần mà còn cả trường hợp thất nghiệp từng phần Để hạn chế xung đột xảy ra trong xã hội, vì mục tiêu phát triển ổn định, bền vững, Công ước khuyến nghị các nước thành viên có biện pháp bảo vệ cả hai đối tượng này Song, cho dù thế nào, đối tượng tham gia BHTN cũng phải đáp ứng điều kiện là người làm công ăn lương (có thể mở rộng thêm đối tượng tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia), có khả năng lao động và sẵn sàng làm việc
Trong quá trình các nước thành viên nội luật hóa các công ước quốc tế liên quan, do đặc điểm xã hội và chính sách kinh tế của từng quốc gia mà có sự khác nhau trong việc quy định đối tượng tham gia BHTN Ví dụ, ở Đức, cả
Trang 27NLĐ có hợp đồng lao động trong các doanh nghiệp sử dụng 1 lao động trở lên, không phụ thuộc vào mức thu nhập đều là đối tượng bắt buộc tham gia BHTN, chỉ trừ có công chức Nhà nước không cần tham gia do họ có thời gian phục vụ Nhà nước là cả đời Học sinh, sinh viên và NLĐ làm việc dưới 18 giờ trong tuần hoặc có mức thu nhập ít hơn 1/7 thu nhập trung bình của tất cả các thành viên của BHTN cũng không phải tham gia loại bảo hiểm này [14]
Người sử dụng lao động
Đối tượng của BHTN không chỉ áp dụng đối với NLĐ mà còn là cả NSDLĐ NSDLĐ là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho NLĐ Theo quy định, đối tượng này có quyền tham gia BHTN Thực tế cho thấy, BHTN không chỉ bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng cho NLĐ mà còn cho cả NSDLĐ Trong trường hợp có NLĐ mất việc làm, NSDLD không phải bỏ ra một khoản chi phí lớn để giải quyết chế độ TCMV cho NLĐ, như vậy, họ sẽ được san sẻ gánh nặng trả trợ cấp Bởi nhờ có tham gia đóng BHTN nên khi NLĐ bị mất việc làm thì NSDLĐ sẽ không phải đối mặt với việc trả TCMV nữa, mà thay vào đó đã có cơ quan quản lý về BHTN chịu trách nhiệm chi trả
Hơn nữa, đóng BHTN là một hình thức chia sẻ rủi ro với người đã có cống hiến trong kinh doanh, giúp NLĐ cũng an tâm cống hiến sức lực của mình Ngoài ra, để chính sách ASXH đi vào hiện thực thì việc tham gia BHTN còn là nghĩa vụ bắt buộc đối với NSDLĐ Hiện tại, trong các Điều ước quốc tế chưa quy định điều kiện cụ thể cho nhóm đối tượng này, mà phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính sách ASXH, mỗi quốc gia đặt ra những điều kiện tham gia BHTN nhất định cho NSDLĐ
Nhà nước
Nhà nước tham gia vào BHTN như một phần đảm bảo sự tồn tại của hình thức bảo hiểm này Không chỉ thể hiện vai trò trong việc xây dựng chính
Trang 28sách, bắt buộc thực hiện, đa số các Chính phủ đều hỗ trợ một phần xây dựng quỹ BHTN Tùy theo quy định pháp luật từng nước mà mức hỗ trợ, hình thức đóng góp vào quỹ BHTN ở các nước là khác nhau Ví dụ như ở Việt Nam, quỹ được đóng góp bằng 1% quỹ tiền lương tháng, NSSDLĐ đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những NLĐ tham gia BHTN và Nhà nước hỗ trợ tối
đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN của những NLĐ đang tham gia BHTN nhưng ở Nhật Bản, NLĐ chỉ đóng 0,6% còn Chính phủ phải đóng 25% tổng mức chi
1.2.3.2 Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp
Theo Công ước số 44 của ILO, người thất nghiệp phải đáp ứng được đủ các điều kiện sau để được hưởng TCTN: [16]
Thuộc đối tượng hưởng BHTN: Bị mất việc làm do nguyên nhân nằm ngoài mong muốn chủ quan của họ Có năng lực là, việc và luôn sẵn sàng trở lại làm việc Đây là điều kiện quan trọng mà luật BHTN của các nước đều đặt lên hàng đầu
Để nhận được TCTN, NTN phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm việc làm tại cơ quan lao động có thẩm quyền trong nhất định được pháp luật quy định Quy định này ở mỗi quốc gia là khác nhau, ví dụ như ở Nhật Bản, NTN nhất thiết phải đăng ký tại cơ quan bảo đảm việc làm quốc gia, có khả năng và năng lực làm việc, luôn sẵn sàng khi có cơ hội việc làm mới; NTN phải đăng
ký thường xuyên 4 tuần 1 lần [38]; Pháp luật Thụy Điển quy định điều kiện hưởng TCTN là NLĐ phải hoàn toàn khỏe mạnh, có khả năng làm việc ít nhất
3 giờ một ngày và 7 ngày một tuần, tích cực tìm kiếm việc làm phù hợp và phải đăng ký tại trung tâm tìm kiếm việc làm của Chính phủ Việc đăng ký này là cần thiết vì nó giúp cho cơ quan quản lý theo dõi, kiểm soát được số người thất nghiệp cũng như chi trả bảo hiểm một cách hợp lý cũng như giúp NLĐ thể hiện được sự chủ động và mong muốn tìm kiếm việc làm của mình Một số nước
Trang 29quy định rất cụ thể về việc điều tra thu nhập của người được hưởng TCTN, nếu NTN có nguồn thu nhập khác thì sẽ không được hưởng TCTN [36]
NTN phải có sổ BHTN Sổ BHTN được coi là căn cứ pháp lý chứng minh sự tham gia bảo hiểm của NTN, được ghi trong đó bao gồm mức đóng
và thời gian đóng BHTN
Các trường hợp NTN bị mất việc làm do lỗi cố ý của mình hoặc tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng; từ chối một việc làm phù hợp do cơ quan giới thiệu việc làm giới thiệu, có hành vi gian lận để hưởng trợ cấp thì không được hưởng TCTN
1.2.3.3 Quy trình hưởng bảo hiểm thất nghiệp
Những người muốn tham gia BHNT, khi đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật BHTN thì được tham gia BHTN và để được hưởng quyền lợi cần tiến hành các thủ tục sau:
Thứ nhất, người thất nghiệp phải đăng ký thất nghiệp
NLĐ sau khi bị mất việc làm, cần phải tiến hành các thủ tục để đăng ký thất nghiệp, việc này không những giúp cho cơ quan quản lý lao động nắm bắt được tình hình thất nghiệp mà còn giúp cho NLĐ nhanh chóng tìm được việc làm mới
Thứ hai, nộp hồ sơ đề nghị giải quyết hưởng bảo hiểm thất nghiệp
Trong một khoảng thời gian nhất định kể từ ngày NLĐ đăng ký thất nghiệp, NLĐ bị thất nghiệp phỉa nộp đủ hồ sơ hưởng BHTN Cơ quan quản lý
có trách nhiệm tiếp nhận các trường hợp và thẩm định hồ sơ BHTN Hồ sơ bao gồm: đơn đề nghị BHTN và các văn bản kèm theo có xác nhận về việc NLĐ đủ điều kiện hưởng BHTN Hồ sơ hợp lệ và đầy đủ thì NLĐ sẽ được quyết định hưởng BHTN trong đó bao gồm thời gian hưởng và mức hưởng BHTN Trong trường hợp hồ sơ không đầy đủ và hợp lệ, cơ quan quản lý sẽ trả lại cho NLĐ hồ sơ để bổ sung
Trang 30Thứ ba nhận tiền trợ cấp thất nghiệp
Trong một thời hạn nhất định, kể từ ngày NLĐ có quyết định hưởng TCTN, NLĐ sẽ nhận được khoản tiền TCTN từ cơ quan có thẩm quyền Khoản trợ cấp này phụ thuộc vào khoảng thời gian đóng, mức đóng của người tham gia BHTN và được giới hạn, để quy định số tiền nhận trợ cấp là ít hay nhiều
Thứ tư, tạm dừng và chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp
Người thất nghiệp đủ điều kiện hưởng BHTN, nhưng nếu họ phạm theo quy định tại Điều 20, Điều 21 – Công ước số 168 thì họ có thể bị từ chối, hủy
bỏ, gián đoạn hoặc bị cắt giảm trợ cấp [33]
Thứ năm hỗ trợ học nghề
Theo Công ước số 168:
Mỗi Nước thành viên sẽ tuyên bố như một quyền được ưu tiên về mục tiêu chính sách đã được dự kiến khuyến khích đầy đủ việc lựa chọn việc làm tự do và có hiệu quả bằng mọi biện pháp phù hợp, bao gồm cả bảo đảm xã hội Những biện pháp này bao gồm cả dịch
vụ việc làm, đào tạo nghề và hướng nghiệp [4, Điều 7]
Theo chính sách của Công ước số 168, những NLĐ bị thất nghiệp sẽ được trợ giúp về mặt pháp lý trong việc tìm kiếm việc làm và tự do chọn lựa việc làm để có một cuộc sống ổn định và phát triển Mỗi quốc gia đều có những quy định pháp lý khác nhau về BHTN nhưng vẫn phải đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc, điều kiện mà Điều ước quốc tế đưa ra và không trái với các quy định, đối với các nước là thành viên của Điều ước Quốc tế
1.2.3.4 Mức hưởng và thời gian hưởng bảo hiểm thất nghiệp
Cơ sở để xác định mức hưởng và thời gian hưởng BHTN phụ thuộc vào mức đóng và thời gian đóng BHTN Mức hưởng BHTN được tính trên số tiền TCTN mà NLĐ nhận được Còn thời gian hưởng BHTN là thời gian mà NLĐ được BHTN đảm bảo cho việc thực hiện các chế độ là chế độ TCTN, hỗ trợ
Trang 31tìm kiếm việc làm, học nghề và BHYT Mức hưởng BHTN là số tiền hoặc dịch vụ mà NLĐ tham gia BHTN nhận được hoặc được chi trả từ quỹ BHTN
Số tiền này có thể do NLĐ trực tiếp nhận hàng tháng để thêm vào phần thu nhập bị mất do không có việc làm Ngoài ra, NLĐ còn được quỹ BHTN chi trả trong trường hợp họ nhận tư vấn, giới thiệu việc làm hoặc học nghề Đây
là chế độ khác với BHXH Mức hưởng BHTN được xác định dựa trên cơ sở nhiều yếu tố về mức độ đóng góp vào quỹ BHTN của người tham gia và thời gian đóng góp hoặc dựa trên cơ sở nhu cầu đào tạo nghề, hỗ trợ tìm việc làm
để sớm có được việc làm mới Thời gian hưởng BHTN, theo khuyến cáo của ILO, thời gian trợ cấp dài hay ngắn tùy thuộc vào khả năng tài chính của quỹ BHTN Điều 24 Công ước số 102 của ILO quy định rằng việc chi trả TCTN
có thể hạn chế trong vòng 13 tuần trong phạm vi một năm còn theo Công ước
số 168 của ILO thì khoảng thời gian này là 26 tuần
1.2.3.5 Các chế độ của bảo hiểm thất nghiệp
Thứ nhất, chế độ trợ cấp thất nghiệp:
Chế độ TCTN là khoản tiền BHTN chi trả cho NLĐ khi đáp ứng đủ điều kiện hưởng BHTN Số tiền TCTN được trả cho mỗi cá nhân sẽ phụ thuộc mức đóng và thời gian đóng BHTN Hiện nay, mức đóng và thời gian đóng để hưởng TCTN mỗi quốc gia được quy định khác nhau, tùy thuộc điều kiện kinh tế và chính sách ASXH của từng nước Ở nước ta, mức đóng BHTN được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công hàng tháng của NLĐ còn thời gian đóng để hưởng BHTN của NLĐ, tối thiểu 12 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc
Theo quy định tại Điều 21 – Công ước số 102 thì những người được hưởng TCTN gồm: những người làm công ăn lương được quy định, tổng ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương; hoặc mọi người thường trú mà phương tiện sinh sống trong khi trường hợp bảo vệ xảy ra không
Trang 32vượt quá giới hạn theo quy định theo Điều 67 hoặc khi đã có bản tuyên bố để
áp dụng Điều 3, phải bao gồm những loại làm công ăn lương được quy định, tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp đang sử dụng 20 người trở lên Và ít nhất phải bảo đảm cho người được bảo vệ đã có thâm niên có thể được coi là cần thiết, để tránh sự lạm dụng Tức là những người được hưởng TCTN phải có thâm niên theo quy định của mỗi nước tránh tình trạng lợi dụng quỹ để được hưởng trợ cấp, gây thâm hụt nguồn quỹ [16]
Về nguyên tắc, mức TCTN phải thấp hơn mức thu nhập của NLĐ khi còn đi làm nhưng vẫn phải đảm bảo đời sống tối thiểu cho người thất nghiệp Công ước số 102 năm 1952 của ILO yêu cầu mức hưởng TCTN không thấp hơn 45% mức thu nhập trước khi mất việc Công ước này quy định thêm rằng giới hạn chuẩn của mức thu nhập tối đa để làm căn cứ đóng bảo hiểm phải được ấn định cao đến mức sao cho có thể đảm bảo rằng mức tối thiểu 45% sẽ được áp dụng đối với tất cả NLĐ Công ước của ILO về thúc đẩy việc làm và bảo vệ chống thất nghiệp số 168 năm 1988 còn đòi hỏi cao hơn, tỷ lệ nói trên được thay bằng tỷ lệ 50% mức thu nhập trước đó Mức hưởng TCTN thường được giới hạn bằng một tỷ lệ % tiền lương bình quân, sao cho tỷ lệ đáp ứng được mức độ sinh hoạt tối thiểu Kinh nghiệm thực hiện chế độ BHTN ở một
số nước cho thấy: Ở Hàn Quốc mức hưởng BHTN là 50% thu nhập của NLĐ ở tháng trước khi họ bị mất việc làm Mức hưởng tối thiểu là 70% mức tiền lương tối thiểu.10 Ở Mông Cổ, mức hưởng trợ cấp ở mức tối thiểu bằng 75% mức tiền lương tối thiểu, được chi trả tối đa 76 ngày, tính từ ngày hết hợp đồng lao động theo qui định của Bộ luật Lao động Ở Trung Quốc, mức hưởng trợ cấp BHTN theo một nguyên tắc chung là thấp hơn mức tiền lương tối thiểu nhưng phải cao hơn mức sống tối thiểu của cư dân thành thị hoặc ở Bulgaria mức hưởng là 60% tiền lương trước khi thất nghiệp và 80% lương tối thiểu,…
Trang 33Thứ hai, chế độ hỗ trợ học nghề và tư vấn giới thiệu việc làm:
Theo Công ước số 168:
Mỗi Nước thành viên sẽ tuyên bố như một quyền ưu tiên về mục tiêu chính sách đã được dự kiến khuyến khích đầy đủ việc lựa chọn việc làm tự do và có hiệu quả bằng mọi biện pháp phù hợp, bao gồm cả bảo đảm xã hội Những biện pháp này bao gồm cả dịch vụ việc làm, đào tạo nghề và hướng nghiệp [4, Điều 7]
Bên cạnh việc hỗ trợ khó khăn cho NLĐ khi rơi vào tình trạng thất nghiệp, một trong những mục tiêu cơ bản khác của BHTN là tạo điều kiện cho NLĐ tiếp tục tham gia thị trường lao động Chế độ này nhằm mục đích đào tạo nghề hoặc nâng cao tay nghề cho người thất nghiệp, giúp họ tìm kiếm việc làm mới Cơ quan BHXH trích từ quỹ BHTN để hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho các doanh nghiệp, hỗ trợ để người thất nghiệp tự đi học nghề hoặc trực tiếp tổ chức dạy nghề cho người thất nghiệp
Thứ ba, chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề nhằm duy trì việc làm cho NLĐ:
Mục đích của chế độ này là tìm kiếm việc làm mới cho NLĐ bằng nhiều biện pháp khác nhau, mà quan trọng nhất là thông qua hoạt động cuả các trung tâm giới thiệu việc làm Tuy nhiên, để được hưởng các chế độ hỗ trợ tìm việc làm, NLĐ phải đáp ứng đủ các điều kiện mà pháp luật quy định Đồng thời, khi đủ điều kiện hưởng, thì cũng như các chế độ nêu trên, NLĐ sẽ được hưởng các quyền lợi cụ thể
Theo quy định của Công ước số 122 ngày 9/7/1964 về chính sách việc làm [33] Để kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao mức sống, đáp ứng nhu cầu về nhân công và giải quyết thất nghiệp và thiếu việc làm, mỗi Nước thành viên phải tuyên bố và áp dụng các chính sách việc làm, như một mục tiêu thiết yếu, một chính sách tích cực nhằm xúc tiến toàn dụng lao
Trang 34động, có năng suất và được tự do lựa chọn Nâng cao các chính sách, về vấn
đề việc làm cho NLĐ nhằm tránh tình trạng NLĐ rơi vào tình trạng thất nghiệp Và chính sách đó phải nhằm bảo đảm rằng sẽ có việc làm cho tất cả những người sẵn sàng làm việc và đang kiếm việc làm; việc làm đó càng có năng suất càng tốt và sẽ có sự tự do lựa chọn việc làm và cơ may rộng lớn nhất cho mỗi NLĐ để đạt được trình độ tay nghề và sử dụng được trình độ tay nghề và năng khiếu của mình trong một công việc thích hợp, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, chính kiến, dòng dõi dân tộc hoặc nguồn gốc xã hội
Chính sách đó sẽ phải chú ý đến các giao đoạn và trình độ phát triển kinh tế, cũng như những mối quan hệ giữa các mục tiêu về việc làm với các mục tiêu kinh tế và xã hội khác, và sẽ được áp dụng bằng các phương pháp phù hợp với điều kiện và tập quán quốc gia Vì vậy, bên cạnh những vấn đề tuân thủ pháp luật quốc tế, cần phù hợp với điều kiện của từng quốc gia
1.2.3.6 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Quỹ BHTN là một quỹ độc lập tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước Đối tượng tham gia xây dựng quỹ BHTN bao gồm NLĐ, người sử dụng lao động và Nhà nước Cũng như BHXH, NLĐ tham gia BHTN đóng góp một tỷ lệ nhất định trong phần thu nhập của mình NSDLĐ đóng góp bằng một tỷ lệ phần trăm theo quy định so với quỹ tiền lương hàng tháng chi trả cho NLĐ Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách hoặc từ tiền sinh lời của hoạt đồng đầu tư từ quỹ nhằm bù đắp phần còn thiếu Hầu hết các nước đều có quy định cụ thể về mức đóng BHTN để đảm bảo an toàn cho sự tồn tại của quỹ nhưng tỷ lệ đóng góp giữa các bên tại các nước là không giống nhau Có nước quy định NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước đóng góp như nhau, có những nước lại quy định NSDLĐ đóng gấp đôi NLĐ, Nhà nước chỉ tiến hành
bù thiếu Quỹ này được sử dụng cho việc trợ cấp một phần thu nhập cho NTN
Trang 35và chi trả cho các hoạt động hỗ trợ NTN tìm lại việc làm Như vậy khác với các loại hình BHXH khác, BHTN không chỉ đơn thuần là việc thu và chi tiền bảo hiểm Ở Việt Nam, cơ quan quản lý và chi trả quỹ BHTN là Bảo hiểm Xã hội Việt Nam
1.3 Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp của một số nước trên thế giới
và gợi mở cho Việt Nam
Các quốc gia trên thế giới đã cung cấp một cái nhìn tổng thể về sự đa dạng của thực tiễn và cách tiếp cận trong các chế độ chính sách BHTN Sự ra đời của BHTN ở các quốc gia đã xuất hiện từ lâu, nhưng ở Việt Nam loại hình này mới đi vào hoạt động được 8 năm vào năm 2009 Các quốc gia xuất hiện sớm nhất phải kể đến Đan Mạch vào năm 1907; Canada vào năm 1940; Pháp vào năm 1958,… Dưới đây là những so sánh để có được cái nhìn tổng thế về BHTN ở Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới
1.3.1 Bảo hiểm thất nghiệp ở Nhật Bản [34]
Nhật Bản là một trong những nước có hệ thống ASXH hiện đại và tiên tiến nhất trên thế giới Bảo hiểm thất nghiệp được bắt đầu tại Nhật Bản vào năm 1947 và các vấn đề giải quyết cho NLĐ thất nghiệp tại Nhật đang được thực hiện theo Luật Bảo hiểm việc làm năm 1974 sửa đổi bổ sung năm 2003 Các chính sách pháp luật liên quan đến NLĐ luôn là ưu tiên hàng đầu, bao gồm cả chính sách về “BHTN” Trên thực tế, Nhật bản không gọi bất kỳ cái tên nào là BHTN trong các văn bản pháp luật chính thống mà thay vào đó là cụm từ “Bảo hiểm việc làm”, trong đó quy định những nội dung liên quan đến TCTN và giải quyết những quyền lợi cho NLĐ thất nghiệp
Về nguồn hình thành quỹ BHTN: thông thường NLĐ sẽ đóng 0.5% mức lương tháng trừ một số công việc có mức đóng cao hợn như các nghề nông, lâm, ngư nghiệp hay liên quan đến xây dựng với mức đóng là 0,6% Về phía NSDLĐ họ sẽ đóng 0.85% quỹ tiền lương, với những ngành nghề nông,
Trang 36lâm, ngư nghiệp thì sẽ đóng mức này là 0,95% Những người chủ lao động trong lĩnh vực xây dựng sẽ phải đóng với mức cao nhất là 1,05% Về phía Nhà nước sẽ có mức hỗ trợ là 13,5%
Về điều kiện hưởng TCTN: NLĐ đã đóng BHTN từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi bị mất việc làm; đăng ký thất nghiệp tại phòng bảo đảm việc làm công, và NLĐ phải có mong muốn tìm việc, sẵn sàng; có trách nhiệm thông báo tình hình tìm kiếm việc làm hàng tháng cho văn phòng bảo đảm việc làm biết Thời gian hưởng TCTN phụ thuộc vào độ tuổi và thời gian đóng phí bảo hiểm: bị mất việc do doanh nghiệp phá sản hoặc thừa lao động thì NLĐ sẽ được hưởng trợ cấp từ 90 đến 330 ngày; các trường hợp mất việc khác được hưởng từ 90 đến 150 ngày Tỷ lệ trợ cấp hàng ngày phụ thuộc vào tiền lương bình quân trong vòng 06 tháng gần đây: lương 2.330 – 4650 JPY, mức trợ cấp 80%
TCTN có 4 hoạt động chính gồm có: trợ cấp mặt tài chính trong giai đoạn thất nghiệp và tìm kiếm việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề, hỗ trợ xúc tiến việc làm, hỗ trợ chuyển tiếp
Nhìn chung, chúng ta có thể thấy chính sách BHTN của Nhật Bản tương đối tiến bộ, phù hợp với một nền kinh tế phát triển với một lực lượng lao động không phải quá trẻ Có thể thấy độ tuổi lao động được hưởng TCTN
ở đây lên đến tận 65 tuổi, cao hơn rất nhiều các quốc gia khác trên thế giới Việc đóng góp quỹ bảo hiểm việc làm thì NSDLĐ có mức đóng cao hơn NLĐ, tạo ra sự tin tưởng nơi NLĐ Các chính sách của Nhật Bản không chỉ
hỗ trợ về mặt tài chính, mà nó là một hệ thống hỗ trợ đảm bảo việc làm lâu dài cho NLĐ thông qua các chế độ khác nhau Ngoài ra, họ còn đưa ra những quy định, chính sách ngay từ khi NLĐ mất việc làm như quy định hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực hay nâng cao trình độ tay nghề khi vẫn đang làm việc Đây chính là những biện pháp phòng ngừa tình trạng thất nghiệp từ xa Chính
Trang 37vì vậy, Việt Nam đang từng bước học hỏi theo mô hình của Nhật Bản bằng việc chuyển chế độ BHTN từ BHXH sang Luật Việc làm, đồng thời cũng đã học hỏi được một số điểm tiến bộ của Nhật
1.3.2 Bảo hiểm thất nghiệp ở Đức [34]
Bảo hiểm thất nghiệp tại Đức được thực hiện vào đầu thế kỷ 19 vào năm 1919 và được chính thức hóa vào năm 1927, là một cấu thành trong hệ thống BHXH của Đức bao gồm bảo hiểm y tế, BHTN, bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm chăm sóc BHTN là một chương trình của BHXH bắt buộc dựa trên sự đóng góp tài chính của NLĐ và chủ sử dụng lao động Năm 2003, tỷ lệ đóng góp BHTN là 6,5% lương trong đó NLĐ đóng 50% chủ sử dụng lao động đóng 50%
Chế độ BHTN được chi trả hàng tháng với tỷ lệ thay thế lương là 67% hoặc 60% mức lương thực tế tháng cuối cùng của NLĐ trước khi thất nghiệp, không bao gồm các khoản thu nhập và tài sản khác Năm 2003, tổng số tiền chi cho chế độ BHTN gần 30 tỷ Euro
Điều kiện hưởng chế độ là NLĐ phải có hợp đồng tối thiểu 12 tháng trong một giai đoạn xem xét (3 năm cuối trước khi đăng ký thất nghiệp) và đã đóng BHTN bắt buộc Trong một số trường hợp đặc biệt (ví dụ: chăm sóc thành viên gia đình, chăm sóc trẻ em dưới 3 tuổi) thười gian này được loại trừ khỏi gian đoạn xem xét Đối với NLĐ làm việc thường xuyên dưới 12 tháng trong một năm vì lý do đặc thù của công việc (gọi là các lao động thời vụ) thì chỉ cần có đủ 6 tháng làm việc và đóng BHTN bắt buộc NLĐ nước ngoài có công việc thường xuyên có thể nhận được chế độ BHTN theo các điều kiện tương tự như NLĐ Đức
Đối tượng hưởng chế độ BHTN bắt buộc là người bị thất nghiệp, đã đăng ký tại cơ quan việc làm địa phương và đủ điều kiện về thời gian làm việc
và đóng bảo hiểm Người trên 65 tuổi sẽ không nhận được chế độ BHTN
Trang 38Người thất nghiệp là người làm công ăn lương bị mất việc tạm thời và đang tìm công việc làm mới Các công việc tại Đức đòi hỏi thời gian làm việc dưới
15 giờ/tuần hoặc có một khoảng thu nhập dưới 325 Euro (hoặc lao động độc lập tự do có mức thu nhập tương tự) được gọi là “việc làm phụ” – cũng có thể đăng ký và hưởng chế độ BHTN
Chương trình BHTN yêu cầu đối tượng hưởng chết độ phải chứng tỏ sự sẵn sàng nhận công việc mới và các nỗ lực của họ nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp Theo yêu cầu của cơ quan việc làm, đối tượng hưởng thụ phải đưa ra bằng chứng về các nỗ lực của họ đã thực hiện để tìm việc làm Khi đã đăng ký thất nghiệp, những người hưởng chế độ thất nghiệp phải có trách nhiệm báo cáo với cơ quan việc làm nếu đươc yêu cầu
Mức hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp
Lương thất nghiệp được chi bằng 60% lương thực tế sau khi đã trừ các khoản đóng góp bắt buộc (thuế thu nhập, đóng góp BHXH, BHYT) Trong trường hợp NLĐ có ít nhất một trẻ em phụ thuộc sẽ được nhận mức lương thất nghiệp là 67% lương thực tế Mức lương thất nghiệp khác nhau tùy thuộc vào mức lương đóng bảo hiểm mà NLĐ phải đóng Có một mức trần đóng bảo hiểm để xác định mức lương thất nghiệp tối đa (tại thời điểm 2001 là 4.448 Euro) Mức trần này được điều chỉnh hàng năm theo mức tăng lương chung Lương thất nghiệp dựa trên tổng thu nhập trung bình hàng tuần làm căn cứ đóng bảo hiểm trong khoảng 52 tuần trước khi yêu cầu hưởng BHTN
Để tính toán mức hưởng, đầu tiên các khoản mà NLĐ có nghĩa vụ phải nộp theo luật pháp sẽ được khấu trừ đi từ thu nhập chưa chịu thuế - ví dụ, các loại thuế thu nhập và các khoản đóng góp BHXH, BHYT Các tỷ lệ được đề cập ở trên được tính từ tổng thu nhập thực tế Thu nhập từ chế độ BHTN không phải chịu thuế Trong thời gian thất nghiệp, đối tượng hưởng chế độ vẫn được tiếp tục tham gia BHYT trong một quỹ y tế công Cơ quan việc làm cũng đóng bảo hiểm hưu trí bắt buộc cho người hưởng chế độ thất nghiệp
Trang 39Thời gian hưởng chế độ
Sau khi bị mất việc làm, không có giai đoạn chờ áp dụng cho người thất nghiệp trước khi nhận phúc lợi Khoảng thời gian hưởng chế độ thất nghiệp tùy vào thời gian làm việc có đóng bảo hiểm trước đó (trong gian đoạn 7 năm trước khi bị thất nghiệp) và tuổi của người thất nghiệp Theo quy định của Liên minh Châu âu, người thất nghiệp có thể tìm việc trong các nước Liên minh châu Âu khoảng 3 tháng và có thể lưu tại đó trong thời gian này và sẽ tiếp tục được nhận lương thất nghiệp Thời gian hưởng chế độ không bị gián đoạn trong các kỳ nghỉ (không quá 3 tuần) nếu thông báo cho cơ quan việc làm
1.3.3 Những gợi mở cho Việt Nam
Thông qua việc tìm hiểu về các chính sách, quy định pháp luật của BHTN các nước như Nhật Bản và Đức đã rút cho những đặc điểm cho ta thấy, mỗi nước đều có những quan điểm khác nhau về quy định và điều chỉnh cũng khác nhau tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể và điều kiện kinh tế của mỗi nước Tuy nhiên, tất cả đều hướng tới một nguyên tắc chung đó là bù đắp một phần chi phí tạm thời cho NLĐ thất nghiệp và tạo cơ hội cho họ tìm kiếm việc làm mới Bên cạnh đó, mỗi nước đều có những quy định để Việt Nam tham khảo và học hỏi:
Theo quy định về đối tượng tham gia BHTN tại Nhật Bản, NLĐ được hưởng TCTN lên đến tận 65 tuổi, cao hơn rất nhiều so với các nước khác Có thể thấy, Nhật Bản rất chú trọng đến việc quan tâm và chăm sóc những người cao tuổi nhưng kinh tế còn khó khăn Đây là một chính sách đáng được nhân rộng ra cả nước, như vậy NLĐ sẽ yên tâm làm việc vì luôn có những chính sách hỗ trợ của chính phủ trợ giúp kể cả khi về già
Đối tượng lao động tham gia BHTN ở Đức, người nước ngoài có công việc thường xuyên có thể nhận được chế độ BHTN theo các điều kiện tương
tự như NLĐ Đức vậy là pháp luật BHTN tại Đức đã mở rộng đối tượng tham
Trang 40gia BHTN, cả người nước ngoài đang làm việc tại Đức đều có thể tham gia BHTN Đây là một chính sách rất hay của chính phủ Đức, như vậy sẽ giúp quốc gia Đức giữ chân được nhiều người làm việc tại Đức Với chính sách BHTN, NLĐ nước ngoài sẽ yêu tâm làm việc Từ đó, sẽ giúp cho mối quan hệ hữu nghị giữa các nước thêm chặt chẽ, đây cũng là một trong những chính sách ngoại giao của Đức Như vậy, quyền con người dược bảo đảm ở nước ngoài mà không chỉ ở bản địa mới có Tùy vào từng điều kiện của mỗi nước
mà có hay không việc đưa người nước ngoài vào làm đối tượng được tham gia BHTN Ở Việt Nam chưa có quy định về người nước ngoài được tham gia BHTN nhưng bên cạnh đó, NLĐ nước ngoài vẫn được bảo đảm về các chính sách ASXH khác như BHYT, BHXH Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi các chính sách của Đức về việc mở rộng đối tượng tham gia BHTN đó là NLĐ nước ngoài vào làm việc và sinh sống tại Việt Nam Vì như vậy, sẽ giữ được nhiều NLĐ nước ngoài đến Việt nam làm việc hơn Và tất cả mọi người đều mong rằng tất cả NLĐ đều thuộc đối tượng được tham gia BHTN trong một tương lai không xa