Hệ thống Protein đậu nành – Giá trị sinh học
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KĨ THUẬT HÓA HỌC
BỘ MÔN: CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
TIỂU LUẬN HÓA SINH
ĐỀ TÀI: HỆ THỐNG PROTEIN ĐẬU NÀNH- GIÁ TRỊ SINH HỌC
Lê Huỳnh Ngọc Liễu- 60701273
Lê Thị Tuyết Nhung- 60801485
Trang 2đã truyền sang Nhật, Hàn Quốc và Nam Á Đậu nành đã được biết đến như là một thứ thuốc ở các tài liệu từ Trung Quốc, Ai Cập và Mesopotamia ở những năm 1500 trước công nguyên hay sớm hơn Ở thời ấy, những hợp chất đã lên mốc, lên men từ đậu nành đã được sử dụng như là những chất kháng sinh để trị vết thương và giảm sưng.
Năm 1712, đậu nành được giới thiệu vào Châu Âu bởi Englebert
Trang 3tên cho nó là Glycine max bởi những nốt sần ở rễ Không may là đất và khí hậu
không thích hợp ở Châu Âu đã làm cho sự thử nghiệm sản xuất đậu nành bị ngưng
Cây đậu nành đến Mỹ những năm 1800 Thời đó đậu nành được sử dụng như một ballast (vật nặng để giữ cho tàu thuyền thăng bằng khi không có hàng) cho những thuyền có hành trình xa từ Trung Quốc và được dỡ hàng nhường chỗcho hàng hóa trong chuyến đi kế tiếp Vì tò mò, một vài nông dân đã trồng hạt đậu nành Cây đậu nành đầu tiên trồng ở Mỹ là cây đậu đã lớn lên ở
Pennsylvania
Năm 1829, những nông dân Mỹ đã trồng đậu nành theo vụ và đến năm
1898 Bộ Nông Nghiệp Mỹ đã đem về một số giống khác từ Châu Á
Năm 1904, George Washington Carver đã khám phá ra rằng đậu nành giàu protein và dầu Người tiên phong về đậu nành William J Morse đã trải qua hai năm ở Trung Quốc và đã thu được 10000 giống đậu nành khác phục vụ cho mục đích nghiên cứu ở Mỹ
Năm 1920, tiến sĩ John Harvey Kellogg đã đề ra sự thay thế đậu nành vàobữa ăn và sữa đậu nành cho người tiêu dùng Tuy nhiên nông dân Mỹ đã không nắm bắt thời cơ cho tới khi những cánh đồng đậu nành ở Trung Quốc bị tàn phátrong thế chiến thứ II và cuộc nội chiến ở Trung Quốc năm 1940
Trang 4Ngày nay đậu nành đã trở nên phổ biến và được trồng ở rất nhiều nước trên thế giới Protein đậu nành được thừa nhận là ngang hàng với protein thịt động vật, hay nói một cách dễ hiểu hơn là lượng và phẩm protein chứa trong nửa cup hạt đậu nành (khoảng 2 ounces) không khác biệt với lượng và phẩm protein chứa trong 5 ounces thịt bò steak.
2 CẤU TẠO CÂY ĐẬU NÀNH:
Cây đậu nành có 4 loại lá : hai lá mầm, hai lá đơn, lá có ba lá chét và lá gốc Nốt sần là phần vỏ rễ phình ra và trong đó có vi khuẩn Rhizobium
Ở trong túi, vi khuẩn nhân nhanh cho tới khi một vài vi khuẩn hoặc dạng
vi khuẩn được hình thành Nốt sần có tập tính sinh trưởng hữu hạn và bám vào
rễ, phần giữa nốt sần là tế bào nhu mô đầy túi Bacteroids
Trang 5nhiễm vi khuẩn và phân chia mạnh tạo thành ống dẫn (nơi trao đổi giữa tế bào chủ và Bacteroids cố định đạm
Nốt sần có thể tăng trưởng đến 60 ngày thì bắt đầu giảm tuổi thọ từ giữa
và tiến dần ra ngoài, cuối cùng bị thối Đạm được cố định ở Bacteroids
Enzyme nitrogenase nằm ở Bacteroids chứa từ 2-5% tổng số đạm của nốtsần, nó có 2 ngăn : ngăn 1 chứa Mo-Fe-protein gọi là dinitrogenase và ngăn 2 làFe-protein gọi là dinitrogenase reductase
Trong quá trình cố định đạm sinh ra H2 Leghaemoglobin có ở trong nguyên sinh bao quanh Bacteroids và ở vỏ của Bacteroids, có vai trò đưa oxy vào mô nốt sần
Sản phẩm đầu tiên của cố định đạm là NH3 do vi khuẩn Brady
Rhizobium japonicum tiết ra hầu hết NH3 sau đó chuyển hóa vào glutamin và glutamate ở cylosol tế bào chủ, các nhà khoa học cũng cho rằng NH3 oxi hóa thành NO3- ở trong Bacteroids
Đậu nành thuộc nhóm vận chuyển ureide, allatoin và allansoic acid là dạng đạm chính được chuyển hóa từ nốt sần vào cây Ureide thủy phân thành urê và glyoxylate dưới sự xúc tác của allantoinase và allantoicase cho thấy trong quá trình chuyển hóa của allantoase dưới xúc tác của allantoicase
Allantoicase được hình thành được hình thành dưới xúc tác của
ureidoglycolase, nó chuyển thành glyoxylate và hai phân tử urê tiếp theo lại được chuyển hóa do men urease thành amin acid
Urease có mặt trong các bộ phận của cây Hoạt tính urease bị ức chế do thiếu nitơ nhưng Ni kích thích hoạt tính của urease, khi thiếu Ni dù đậu trồng ở điều kiện có nitơ, NO3- hay NH4 thì hiện tượng bị độc do urê có thể xảy ra, do
Trang 6đó urê là sản phẩm của quá trình chuyển hóa nitơ trong điều kiện cố định hay không cố định đạm.
Cây đậu nành cho nhiều hoa nhưng tỷ lệ hoa không thành quả chiếm 80% Đậu nành có hoa dạng cánh bướm đặc trưng, ống đài năm cánh không bằng nhau Tràng hoa gồm cánh hoa cờ phía sau, hai cánh bên và hai cánh thìa phía trước tiếp xúc nhau nhưng không dính vào nhau Bộ nhị gồm 10 nhị chia làm hai nhóm, nhóm 1 gồm 9 nhị và cuống dính với nhau thành một khối, nhóm
20-2 chỉ có một nhụy hoa, nhụy hoa có một là noãn Vòi nhụy cong về phía nhị
Hình: Cây đậu nành
Trang 7dẹt, dài và oval Ở hạt trưởng thành, đầu của rốn là lỗ noãn, lỗ này được bao phủ bởi một lớp màng Ở đầu kia của rốn là rãnh nhỏ
Vỏ đậu nành có 3 lớp : biểu bì, hạ bì và lớp nhu mô bên trong Do vỏ của lớp tế bào mô đậu có lớp cutin che phủ nên sự trao đổi khí không xảy ra, sự traođổi khí giữa phôi và mội trường qua rốn hạt Những mảnh của nội nhũ bị ép chặt vào vỏ hạt Lớp ngoài nội nhũ gọi là lớp aleuron gồm những tế bào hình lập phương nhỏ chứa đầy đạm
3 Thành phần hóa học của đậu nành:
Thành phần hóa học của đậu nành
Trang 8Vitamin B1 300 UI
Tỉ lệ phần trăm (%) theo khối lượng của axit amin trong đậu nành
Axit amin đậu tương
Alanine 2.9 % arginine 3.7 % axit aspartic 6.6 % cysteine 0.3 % axit glutamic 21.5 % Glycine 2.1 % histidine * 3.0 % isoleucine * 5.8 % leucine * 9 % lysine * 6.0 %
Trang 9proline 10.7 % serine 5.6 % threonine * 4.8 % tryptophan * 1.1 % tyrosine 5.6 % valine * 5.8 %( Ghi chú: * - Axit amin thiết yếu )
Hàm lượng acid amin không thay thế trong protein đậu nành
Các acid amin không thay thế
Trang 10Trong đậu nành còn chứa photpholipid, các loại axit béo không thay thế
có lợi cho sức khỏe, các loại carbohydrates trong đậu nành thường có : các polysaccharide không hòa tan như hemicellulose, các peptin,
cellulose và các oligosaccharide như hexose, rafinose, stachiose,
verbascose
Ngoài ra, đậu nành cũng rất giàu có về chất sinh tố và chất khoáng như vitamin B1, B2, B3, B6, Niacin, calcium, iron, zinc Tro của đậu nành rất giàu sắt và kẽm
Ðậu nành cũng có nhiều chất xơ
II Hệ thống protein đậu nành:
Trang 11glutinin
-320000-
350000
600000
Tỷ lệ và đặc trưng của các đọan protêin hòa tan trong nước của đậu tương
Các globulin 7S và 11 S chiếm trên 70% tổng lượng protein của hạt Tỷ lệ nằm giữa 0,5 và 3
a Globulin 11S: được cấu tạo từ 12 “tiểu phần” tương đối ưa béo :
+6 tiểu phần có tính axit (A)
+6 tiểu phần có tính kiềm (B)
Người ta đã biết “tiểu phần” khởi đầu AB là đơn chuỗi được tách ra do sựthủy phân ở gian đọan cuối “ribosom” Polipeptit A luôn luôn gắn liền với B qua cầu đisunfua Do đó người ta cũng có thể coi glixinin được cấu tạo từ 6
“tiểu phần” AB
Trang 12Mô hình cấu trúc của Globulin 11 S hay glixinin: các đơn vị được sắp
xếp thành hai hình sáu cạnh chồng lên nhau tạo cho phân tử có 1 hình thể cầu rắn chắc Mỗi tiểu phần A sẽ nằm gần 3 tiểu phần B và ngược lại Trong phân
tử có từ 42 đến 46 nguyên tử S ở dưới dạng các cầu disunfua nối các dưới đơn
vị hoặc trong nội bộ một dưới đơn vị
Sự có mặt một nhóm tiol sẽ làm dễ
dàng cho sự trao đổi cầu disunfua
H1.Glixinin gồm H2 Sơ đồ cấu trúc của phân tử Glixinin
6 “tiểu phần” AB A- tiểu phần có tính axít
B- tiểu phần có tính kiềm
Trang 13H3 Phân tử glixinin
Glixinin dễ dàng phân li thành các “tiểu phần” của mình khi gia nhiệt đến
800C, ở lực ion thấp(0,01), ở PH axit hay kiềm hoặc khi có mặt urea, chất tẩy rửa hoặc là tác nhân khử Khi lực ion cao hơn thì cấu trúc bậc bốn lại bền vững
Ở pH trung tính và có lực ion bằng 0.1 glixinin tự liên hợp lại nhưng mức độ trùng hợp còn bé
b Globulin 7S: là -conglixinin, thường chiếm gần 35% trọng lượng
protein của hạt, là một glucoprotein chứa gần 5% gluxit Phân tử cấu tạo nên từ 3 tiểu phần , ’, và , có tính axit
+ Các tiểu phần , ’(M~ 54000) có thành phần axit amin rất giống nhau, thiếu xistein và xistin
+ tiểu phần (M~42000) không chứa xistein và metionin
Ơ PH giữa 5 và 10, khi lực ion yếu (M~0,1), -conglixinin tạo thành 1dime gồm 6 tiểu phần (M~370000).Khi ở môi trường axit hoặc bazơ hay khi thẩm tích ở lực ion 0,5 thì phân tử sẽ tự phân li thành các tiểu phần
Trang 14
Sơ đồ các tiểu phần của 7S
Trong các thực phẩm có PH trung tính và không được gia nhiệt thì các globulin 7S và 11S nói chung đều ở trạng thái hoạt động, không bị biến tính, phân tử ở dạng dime (7S) và oligome (11S) vì lực ion yếu.Các xử lí nhiệt và thay đổi PH sẽ làm biến tính cấu trúc bậc 2, bậc 3 và bậc 4
Trong đọan 7S còn có:
+ Các hemaglutinin(lectin) mà phân tử của chúng có thể tạo phức khá bền vững với các hợp chất gluxit.Tương tác giữa các lectin với các glucoprotein
có mặt trên bề mặt các hồng cầu sẽ làm ngưng kết các tế bào này Loại
carbonhydrat này chứa prôtêin được cho là thành phần tạo nên 4 subunits khôngđồng nhất, mỗi loại có phân tử lượng dao động từ 30.000 đến 120.000 Trong vài loại thực phẩm hemaglutinin được chỉ ra là làm giảm sự tiêu thụ của prôtêinnhưng chúng không làm ảnh hưởng đến chất lượng của prôtêin đậu nành
+Các chất kìm hãm proteaza như antitripxin Kunitz, antitripxin Birk
Bowman-+ Có thể bị khử hoạt nếu sản phẩm được gia nhiệt đầy đủ trong điều kiện môi trường ấm
Trang 15+ Lipoxygenase là 1 lọai prôtêin có phân tử lượng khỏang 105.000 Enzym này tạo nên cấu trúc của hydroperoxides bằng cách thêm oxygen vào nối đôi của axit linoleic và linolinic Sự đứt gãy của hydroperoxides có thể dẫn đến sự ôxi hóa lipit và sự tạo thành flavor trong prôtêin đậu nành 10 loại hương
đậu có liên quan tới prôtêin đậu nành được cho là đến từ sự biến tính do ôxi hóacủa lipid có liên kết chặt chẽ với phân tử prôtêin
Phân tử -conglixinin
c Chuỗi 2S: Chứa từ 8-22% prôtêin đậu nành và bao gồm 1 số enzym
Phân tử lượng trung bình 26.000
Chứa chất ức chế trypsin Phần nhỏ hơn của những chất ức chế này là chất ức chế Bowman-Birk, gồm 71 amino axit không tan có phân tử lượng
7861 Mặc dù phân tử lượng nhỏ nhưng prôtêin này có thể tạo dime, trime hoặc liên kết với các prôtêin khác 1 lọai chất ức chế trypsin khác là Kunitz Nó lớn
Trang 16hơn nhiều, gồm 181 axit amin và có phân tử lượng 21.500 Prôtêin này có 2 cầudisunfua và không được chắc như Bowman-Birk
Là 1 loại prôtêin có tính đối xứng cao bao gồm nhiều vòng liên kết chặt chẽ Những vòng này được giữ chặt bởi 7 liên kết disunfit Trong khi tổng lượng prôtêin đậu nành có rất ít lưu hùynh thì chất ức chế này có nhiều systein Tác dụng ức chế trypsin là do liên kết giữa lysin-16 và serine-17, thường thì trypsin có thể tách liên kết Lys-Ser, nhưng cấu trúc vòng ngăn quá trình tách xảy ra Vì vậy, trypsin bám vào phân tử , nhưng không tách được liên kết, từ đó không được giải phóng để tách liên kết khác
Ở 1 đầu khác của phân tử Leucine-43 và serine-44 gây ra tác dụng tương
tự với chymotrypsin Do có nhiều liên kết disunfit nên phân tử prôtêin nhỏ này
có cấu trúc vững chắc, bền ới nhiệt, khó bị biến tính
Liên kết giữa Arginine-63 và isoleucine-64 tạo cơ chế ức chế động Trypsin có thể tách liên kết này nhưng nó không thể được giải phóng khi tiếp xúc với liên kết đó Chuỗi 3 chỉ ra liên kết phức tạp giữa Kunitz và porcine trypsin Liên kết Arg-Ile tiếp xúc với phần hoạt động của phân tử trypsin Phổ tia X cho thấy có đến 300 nguyên tử ở chỗ tiếp xúc 2 prôtêin này nên chất ức chế đủ mạnh để vô hoạt trypsin
2 Tính chất của Protein đậu nành:
a Sự phân li và sự tập hợp của protein đậu nành:
Trang 17Khi đun nóng dung dịch -conglixinin loãng ở PH=7-8 và lực ion yếu, đến 1000C thì các phân tử của chúng sẽ phân li thành các tiểu phần mà không kèm theo các hiện tượng tập hợp phân tử.
Khi gia nhiệt đến 1000C dung dịch glixinin có nồng độ loãng(<1%P/V), ởPH=7-7,6 và lực ion 0,2-0,4 thì các phân tử cũng phân li thành các tiểu phần và sau đó thì tập hợp lại
Khi đun nóng đến 800C một dung dịch vừa chứa glixinin và
-conglixinin có nồn độ loãng (<1%P/V protein) ở PH =8 thì các phản ứng phân
Nếu đưa lực ion của dung dịch lên 0,5 bằng cách thêm NaCl(0,5M) thì các ion Na+và Cl- sẽ thủ tiêu lực hút tĩnh điện giửa hai dưới đơn vị của phức Khi đó các dưới đơn vị kiềm tính giải phóng sẽ tự tập hợp lại và kết tủa do các tương tác ưa béo trong khi đó các dưới đơn vị -conglixinin háo nước hơn nên vẫn ở trạng thái hoà tan
Khi đun nóng dung dịch protein đậu nành 1% đến 950C ở PH =7 không
có các khử với các lực ion khác nhau người ta thấy quá trình tập hợp sẽ thuận
Trang 18lợi khi lực ion tăng 0 đến 0,2 M Tốc độ tập hợp sẽ tăng trong khoảng PH từ 4 đến 6 nhưng sẽ gần bằng 0 khi PH axit hoặc kiềm.
b Biến tính tạo gel của protein đậu nành:
Khi dung dịch protein đậu nành có nồng độ đậm đặc (>5% P/V) được đun nóng ở PH gần trung tính thì sẽ tao gel Dung dịch đầu tiên qua một trạng thái lỏng có độ nhớt tăng cao, giai đọan tiền gel
Khi lực ion còn yếu thì trạng thái này sẽ xảy ra từ lúc 700C là thời điểm
mà -conglixinin được giãn mạch hoàn toàn
Khi lực ion cao thì việc tăng độ nhớt chỉ xảy ra ở nhiệt độ cao hơn Việc tạo thành gel protein sẽ phụ thuộc vào cân bằng giữa liên kết protein – nước và liên kết protein – protein
Độ cứng của gel protein đâu nành sẽ giảm cùng nồng độ NaCl và khi vượt quá một nhiệt độ nào đó
Axit hoá dung dịch protein đậu nành đến PH =5,5 hoặc thêm ion Ca2+ sẽ làm đông tụ protein thành từng cục tương đối đàn hồi Nếu đun nóng các cục đãthu được bằng kết tủa đẳng điện hoặc bằng canxi sẽ làm các chuổi polypeptide
bị giãn mạch và tạo nên một mạng lưới protein ba chiều có kết cấu của một gel thực thụ
Sự tạo thành gel của protein đậu nành cũng có thể thực hiện bằng kiềm hoá rồi tiếp đó trung hoà, protelizo hạn chế hoặc thêm các dung môi có thể hoà
Trang 19Cả glixinin lẫn -conglixinin đều bị biến tính khi tiếp xúc với hỗn hợp nước - etanol có hàm lượng rượu trên 20% Rượu càng kị nước có nghĩa là mạch cacbon càng dài thì giãn mạch protein càng nhanh và độ cứng của gel thu được càng lớn Giữa các aa không cực và rượu đã xảy ra các tương tác ưa béo Khi nồng độ rượu vượt quá 40% thì xảy ra các hiện tượng đông tụ nhưng khôngtạo ra gel, có thể là do giảm hoạt độ nước nên các liên kết protein – nước đã bị thay thế bằng các liên kết protein – protein.
c Một vài tính chất khác:
Prôtêin đậu nành cực kỳ bền nhiệt, có thể chịu nhiệt đến 77oC Tuy nhiên
ở nhiệt độ đó prôtêin không thể tan trở lại.Prôtêin đậu nành có thể bền nhiệt đến
100oC Khi thêm vào các yếu tố làm tăng lức ion 7S globulin 7S nhạy với nhiệt hơn
Trong phần lớn các ứng dụng của đậu nành việc gia nhiệt thấp để vô hoạtcác enzym là cần thiết.Tuy nhiên trong vài ứng dụng, prôtêin đậu nành gia nhiệt
ở nhiệt độ thấp được thêm vào các chất có chứa lipoxygenase hoạt động Nhữngứng dụng đặc biệt này đòi hỏi phải xảy ra sự ôxy hóa Sự ôxy hóa này có thể gây ra sự phá hủy màu sắc và vì thế tẩy trắng sản phẩm Nó cũng có thể gây ra
sự ôxy hóa những nhóm sunfit tự do từ liên kết disunfua Cả 2 chức năng này đều quan trọng trong việc chuẩn bị bột nguyên liệu cho công nghiệp làm bánh
3 Giá trị dinh dưỡng:
Protein của đậu nành có giá trị cao không chỉ về sản lượng thu hoạch mà
nó chứa đầy đủ tám loại amino acids thiết yếu (essential amino acids) cho cơ
Trang 20thể con người Hàm lượng của các chất amino acids này tương đương với hàm lượng của các chất amino acids của trứng gà, đặc biệt là của tryptophan rất cao, gần gấp rưỡi của trứng Vì thế khi nói đến giá trị của protein ở đậu nành cao là nói đến hàm lượng lớn của nó cả sự đầy đủ và cân đối của tám loại amino acids.
Đậu nành là một loại thực vật quen thuộc đối với người Việt Nam mình
Nó là nguyên liệu dùng để chế biến các loại tương, chao, đậu hủ và một số thực phẩm chay lạt khác Hiện nay trên thế giới người ta sản xuất rất nhiều đậu nành
để làm thực phẩm cho người và cho gia súc
Hạt đậu nành có giá trị dinh dưỡng và kinh tế rất cao
Ví dụ: Công ty Trung ương đậu nành Mỹ( Central soya Co USA) đã làm 1 contính so sánh một mẫu Anh đất để nuôi bò thịt, bò sữa hay trồng tiểu mạch hoặcđậu nành để nuôi sống 1 con người Kết quả:
Trang 21Trong đậu nành có chứa chất lecithin, có tác dụng làm cho cơ thể conngười trẻ lâu, sung sức, tăng thêm trí nhớ và tái tạo các mô, cũng làm cứngxương và tăng sức đề kháng của cơ thể
So với các loại rau quả, ngũ cốc, đậu nành chứa một trữ lượng chất
Protein dồi dào hơn cả
So với thịt động vật, đậu nành có nhiều chất dinh dưỡng hơn: 100 gr đậu nành có 411 calo, 34 gr protein, 18 gr béo,165mg calcium, 11mg sắt; trong khi
đó thịt bò loại ngon chỉ có 165 calo, 21gr protein, 9gr béo, 10mg calcium, 2.7mg sắt
Protein của đậu nành không có cholesterol, và ít chất béo có hại saturated fats thường có nơi thịt động vật Ngoài ra trong đậu nành có nhiều vitamin B hơn bất cứ thực phẩm nào, đậu nành cũng chứa nhiều vitamin A, D và các chất khoáng khác
Ðậu nành chứa hàm lượng dầu béo cao hơn các loại đậu khác nên được coi là loại cây cung cấp dầu thảo mộc Chất béo lipid của đậu nành có chứa một
tỷ lệ cao chất fatty acid không bão hòa (unsaturated fats), có mùi vị thơm ngon, cho nên dùng dầu đậu nành thay thế cho mỡ động vật có thể tránh được bệnh xơcứng động mạch
Trang 22III Protein đậu nành trong sản xuất:
1 Các phương pháp xác định giá trị Protein:
1849 Buiret Protein phản ứng với Cu2+ cho phức
xanh ở pH cao, điều kiện kiềm Màu của dung dịch phụ thuộc vào lượng protein có trong mẫu Những phương pháp cải tiến bao gồm đưa thêm vào ethylen glycol hay glycerine để ổn định
1883 Kjeldahl Khi đốt nóng thực phẩm kiểm nghiệm
với H2SO4 đậm đặc, các hợp chất hữu
cơ bị oxy hóa : Carbon và hydro tạo thành CO2 và H2O, nitơ sau khi được giải phóng dưới dạng NH3 sẽ kết hợp với H2SO4 tạo thành
2NH3 + H2SO4 (NH4)2SO4
tan trong dung dịch
Trang 23một lượng dư H2SO4 0.1N Định phân
H2SO4 còn lại bằng NaOH 0.1N
(NH4)2SO4 + 2NaOH
Na2SO4 + H2O + 2NH3
2NH4OH + H2SO4dư (NH4)2SO4 + 2H2O
1944 Dye blinding Protein phản ứng với thuốc nhuộm
hữu cơ tạo phức không tan Các thuốcnhuộm được sử dụng là : Amido Black10b, Acid Orange 12, Orange G
1951 Lowry Hỗn hợp CuSO4.5H2O và Natri-Kali
tartrate phản ứng với protein khi có mặt thuốc Folin tạo màu xanh biếc đo
ở 750nm Cường độ màu của dung dịch tỷ lệ với nồng độ protein
1976 Bradford Protein phản ứng với thuốc nhuộm
Coomassie Brilliant Blue tạo phức xanh Đo mật độ quang ở 595nm
1985 Bicinchonini
c acid
Giống với phương pháp Lowry nhưngthay BCA cho thuốc Folin BCA là 2,2’ diquinolyl – 4,4’ dicarboxylic acid