1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Hệ thống Protein đậu nành – Giá trị sinh học

47 1,9K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ Thống Protein Đậu Nành – Giá Trị Sinh Học
Tác giả Nguyễn Trần Tuấn Anh, Nguyễn Thế Ngọc Châu, Phan Thị Kiều Châu, Nguyễn Tấn Khoa, Lê Huỳnh Ngọc Liễu, Lê Thị Tuyết Nhung
Người hướng dẫn TS. Trần Bích Lam
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Công Nghệ Thực Phẩm
Thể loại tiểu luận
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 584,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống Protein đậu nành – Giá trị sinh học

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA KĨ THUẬT HÓA HỌC

BỘ MÔN: CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM

TIỂU LUẬN HÓA SINH

ĐỀ TÀI: HỆ THỐNG PROTEIN ĐẬU NÀNH- GIÁ TRỊ SINH HỌC

Lê Huỳnh Ngọc Liễu- 60701273

Lê Thị Tuyết Nhung- 60801485

Trang 2

đã truyền sang Nhật, Hàn Quốc và Nam Á Đậu nành đã được biết đến như là một thứ thuốc ở các tài liệu từ Trung Quốc, Ai Cập và Mesopotamia ở những năm 1500 trước công nguyên hay sớm hơn Ở thời ấy, những hợp chất đã lên mốc, lên men từ đậu nành đã được sử dụng như là những chất kháng sinh để trị vết thương và giảm sưng.

Năm 1712, đậu nành được giới thiệu vào Châu Âu bởi Englebert

Trang 3

tên cho nó là Glycine max bởi những nốt sần ở rễ Không may là đất và khí hậu

không thích hợp ở Châu Âu đã làm cho sự thử nghiệm sản xuất đậu nành bị ngưng

Cây đậu nành đến Mỹ những năm 1800 Thời đó đậu nành được sử dụng như một ballast (vật nặng để giữ cho tàu thuyền thăng bằng khi không có hàng) cho những thuyền có hành trình xa từ Trung Quốc và được dỡ hàng nhường chỗcho hàng hóa trong chuyến đi kế tiếp Vì tò mò, một vài nông dân đã trồng hạt đậu nành Cây đậu nành đầu tiên trồng ở Mỹ là cây đậu đã lớn lên ở

Pennsylvania

Năm 1829, những nông dân Mỹ đã trồng đậu nành theo vụ và đến năm

1898 Bộ Nông Nghiệp Mỹ đã đem về một số giống khác từ Châu Á

Năm 1904, George Washington Carver đã khám phá ra rằng đậu nành giàu protein và dầu Người tiên phong về đậu nành William J Morse đã trải qua hai năm ở Trung Quốc và đã thu được 10000 giống đậu nành khác phục vụ cho mục đích nghiên cứu ở Mỹ

Năm 1920, tiến sĩ John Harvey Kellogg đã đề ra sự thay thế đậu nành vàobữa ăn và sữa đậu nành cho người tiêu dùng Tuy nhiên nông dân Mỹ đã không nắm bắt thời cơ cho tới khi những cánh đồng đậu nành ở Trung Quốc bị tàn phátrong thế chiến thứ II và cuộc nội chiến ở Trung Quốc năm 1940

Trang 4

Ngày nay đậu nành đã trở nên phổ biến và được trồng ở rất nhiều nước trên thế giới Protein đậu nành được thừa nhận là ngang hàng với protein thịt động vật, hay nói một cách dễ hiểu hơn là lượng và phẩm protein chứa trong nửa cup hạt đậu nành (khoảng 2 ounces) không khác biệt với lượng và phẩm protein chứa trong 5 ounces thịt bò steak.

2 CẤU TẠO CÂY ĐẬU NÀNH:

Cây đậu nành có 4 loại lá : hai lá mầm, hai lá đơn, lá có ba lá chét và lá gốc Nốt sần là phần vỏ rễ phình ra và trong đó có vi khuẩn Rhizobium

Ở trong túi, vi khuẩn nhân nhanh cho tới khi một vài vi khuẩn hoặc dạng

vi khuẩn được hình thành Nốt sần có tập tính sinh trưởng hữu hạn và bám vào

rễ, phần giữa nốt sần là tế bào nhu mô đầy túi Bacteroids

Trang 5

nhiễm vi khuẩn và phân chia mạnh tạo thành ống dẫn (nơi trao đổi giữa tế bào chủ và Bacteroids cố định đạm

Nốt sần có thể tăng trưởng đến 60 ngày thì bắt đầu giảm tuổi thọ từ giữa

và tiến dần ra ngoài, cuối cùng bị thối Đạm được cố định ở Bacteroids

Enzyme nitrogenase nằm ở Bacteroids chứa từ 2-5% tổng số đạm của nốtsần, nó có 2 ngăn : ngăn 1 chứa Mo-Fe-protein gọi là dinitrogenase và ngăn 2 làFe-protein gọi là dinitrogenase reductase

Trong quá trình cố định đạm sinh ra H2 Leghaemoglobin có ở trong nguyên sinh bao quanh Bacteroids và ở vỏ của Bacteroids, có vai trò đưa oxy vào mô nốt sần

Sản phẩm đầu tiên của cố định đạm là NH3 do vi khuẩn Brady

Rhizobium japonicum tiết ra hầu hết NH3 sau đó chuyển hóa vào glutamin và glutamate ở cylosol tế bào chủ, các nhà khoa học cũng cho rằng NH3 oxi hóa thành NO3- ở trong Bacteroids

Đậu nành thuộc nhóm vận chuyển ureide, allatoin và allansoic acid là dạng đạm chính được chuyển hóa từ nốt sần vào cây Ureide thủy phân thành urê và glyoxylate dưới sự xúc tác của allantoinase và allantoicase cho thấy trong quá trình chuyển hóa của allantoase dưới xúc tác của allantoicase

Allantoicase được hình thành được hình thành dưới xúc tác của

ureidoglycolase, nó chuyển thành glyoxylate và hai phân tử urê tiếp theo lại được chuyển hóa do men urease thành amin acid

Urease có mặt trong các bộ phận của cây Hoạt tính urease bị ức chế do thiếu nitơ nhưng Ni kích thích hoạt tính của urease, khi thiếu Ni dù đậu trồng ở điều kiện có nitơ, NO3- hay NH4 thì hiện tượng bị độc do urê có thể xảy ra, do

Trang 6

đó urê là sản phẩm của quá trình chuyển hóa nitơ trong điều kiện cố định hay không cố định đạm.

Cây đậu nành cho nhiều hoa nhưng tỷ lệ hoa không thành quả chiếm 80% Đậu nành có hoa dạng cánh bướm đặc trưng, ống đài năm cánh không bằng nhau Tràng hoa gồm cánh hoa cờ phía sau, hai cánh bên và hai cánh thìa phía trước tiếp xúc nhau nhưng không dính vào nhau Bộ nhị gồm 10 nhị chia làm hai nhóm, nhóm 1 gồm 9 nhị và cuống dính với nhau thành một khối, nhóm

20-2 chỉ có một nhụy hoa, nhụy hoa có một là noãn Vòi nhụy cong về phía nhị

Hình: Cây đậu nành

Trang 7

dẹt, dài và oval Ở hạt trưởng thành, đầu của rốn là lỗ noãn, lỗ này được bao phủ bởi một lớp màng Ở đầu kia của rốn là rãnh nhỏ

Vỏ đậu nành có 3 lớp : biểu bì, hạ bì và lớp nhu mô bên trong Do vỏ của lớp tế bào mô đậu có lớp cutin che phủ nên sự trao đổi khí không xảy ra, sự traođổi khí giữa phôi và mội trường qua rốn hạt Những mảnh của nội nhũ bị ép chặt vào vỏ hạt Lớp ngoài nội nhũ gọi là lớp aleuron gồm những tế bào hình lập phương nhỏ chứa đầy đạm

3 Thành phần hóa học của đậu nành:

Thành phần hóa học của đậu nành

Trang 8

Vitamin B1 300 UI

Tỉ lệ phần trăm (%) theo khối lượng của axit amin trong đậu nành

Axit amin đậu tương

Alanine 2.9 % arginine 3.7 % axit aspartic 6.6 % cysteine 0.3 % axit glutamic 21.5 % Glycine 2.1 % histidine * 3.0 % isoleucine * 5.8 % leucine * 9 % lysine * 6.0 %

Trang 9

proline 10.7 % serine 5.6 % threonine * 4.8 % tryptophan * 1.1 % tyrosine 5.6 % valine * 5.8 %( Ghi chú: * - Axit amin thiết yếu )

Hàm lượng acid amin không thay thế trong protein đậu nành

Các acid amin không thay thế

Trang 10

Trong đậu nành còn chứa photpholipid, các loại axit béo không thay thế

có lợi cho sức khỏe, các loại carbohydrates trong đậu nành thường có : các polysaccharide không hòa tan như hemicellulose, các peptin,

cellulose và các oligosaccharide như hexose, rafinose, stachiose,

verbascose

Ngoài ra, đậu nành cũng rất giàu có về chất sinh tố và chất khoáng như vitamin B1, B2, B3, B6, Niacin, calcium, iron, zinc Tro của đậu nành rất giàu sắt và kẽm

Ðậu nành cũng có nhiều chất xơ

II Hệ thống protein đậu nành:

Trang 11

glutinin

-320000-

350000

600000

Tỷ lệ và đặc trưng của các đọan protêin hòa tan trong nước của đậu tương

Các globulin 7S và 11 S chiếm trên 70% tổng lượng protein của hạt Tỷ lệ nằm giữa 0,5 và 3

a Globulin 11S: được cấu tạo từ 12 “tiểu phần” tương đối ưa béo :

+6 tiểu phần có tính axit (A)

+6 tiểu phần có tính kiềm (B)

Người ta đã biết “tiểu phần” khởi đầu AB là đơn chuỗi được tách ra do sựthủy phân ở gian đọan cuối “ribosom” Polipeptit A luôn luôn gắn liền với B qua cầu đisunfua Do đó người ta cũng có thể coi glixinin được cấu tạo từ 6

“tiểu phần” AB

Trang 12

Mô hình cấu trúc của Globulin 11 S hay glixinin: các đơn vị được sắp

xếp thành hai hình sáu cạnh chồng lên nhau tạo cho phân tử có 1 hình thể cầu rắn chắc Mỗi tiểu phần A sẽ nằm gần 3 tiểu phần B và ngược lại Trong phân

tử có từ 42 đến 46 nguyên tử S ở dưới dạng các cầu disunfua nối các dưới đơn

vị hoặc trong nội bộ một dưới đơn vị

Sự có mặt một nhóm tiol sẽ làm dễ

dàng cho sự trao đổi cầu disunfua

H1.Glixinin gồm H2 Sơ đồ cấu trúc của phân tử Glixinin

6 “tiểu phần” AB A- tiểu phần có tính axít

B- tiểu phần có tính kiềm

Trang 13

H3 Phân tử glixinin

Glixinin dễ dàng phân li thành các “tiểu phần” của mình khi gia nhiệt đến

800C, ở lực ion thấp(0,01), ở PH axit hay kiềm hoặc khi có mặt urea, chất tẩy rửa hoặc là tác nhân khử Khi lực ion cao hơn thì cấu trúc bậc bốn lại bền vững

Ở pH trung tính và có lực ion bằng 0.1 glixinin tự liên hợp lại nhưng mức độ trùng hợp còn bé

b Globulin 7S: là -conglixinin, thường chiếm gần 35% trọng lượng

protein của hạt, là một glucoprotein chứa gần 5% gluxit Phân tử cấu tạo nên từ 3 tiểu phần , ’, và  , có tính axit

+ Các tiểu phần , ’(M~ 54000) có thành phần axit amin rất giống nhau, thiếu xistein và xistin

+ tiểu phần  (M~42000) không chứa xistein và metionin

Ơ PH giữa 5 và 10, khi lực ion yếu (M~0,1), -conglixinin tạo thành 1dime gồm 6 tiểu phần (M~370000).Khi ở môi trường axit hoặc bazơ hay khi thẩm tích ở lực ion 0,5 thì phân tử sẽ tự phân li thành các tiểu phần

Trang 14

Sơ đồ các tiểu phần của 7S

Trong các thực phẩm có PH trung tính và không được gia nhiệt thì các globulin 7S và 11S nói chung đều ở trạng thái hoạt động, không bị biến tính, phân tử ở dạng dime (7S) và oligome (11S) vì lực ion yếu.Các xử lí nhiệt và thay đổi PH sẽ làm biến tính cấu trúc bậc 2, bậc 3 và bậc 4

Trong đọan 7S còn có:

+ Các hemaglutinin(lectin) mà phân tử của chúng có thể tạo phức khá bền vững với các hợp chất gluxit.Tương tác giữa các lectin với các glucoprotein

có mặt trên bề mặt các hồng cầu sẽ làm ngưng kết các tế bào này Loại

carbonhydrat này chứa prôtêin được cho là thành phần tạo nên 4 subunits khôngđồng nhất, mỗi loại có phân tử lượng dao động từ 30.000 đến 120.000 Trong vài loại thực phẩm hemaglutinin được chỉ ra là làm giảm sự tiêu thụ của prôtêinnhưng chúng không làm ảnh hưởng đến chất lượng của prôtêin đậu nành

+Các chất kìm hãm proteaza như antitripxin Kunitz, antitripxin Birk

Bowman-+ Có thể bị khử hoạt nếu sản phẩm được gia nhiệt đầy đủ trong điều kiện môi trường ấm

Trang 15

+ Lipoxygenase là 1 lọai prôtêin có phân tử lượng khỏang 105.000 Enzym này tạo nên cấu trúc của hydroperoxides bằng cách thêm oxygen vào nối đôi của axit linoleic và linolinic Sự đứt gãy của hydroperoxides có thể dẫn đến sự ôxi hóa lipit và sự tạo thành flavor trong prôtêin đậu nành 10 loại hương

đậu có liên quan tới prôtêin đậu nành được cho là đến từ sự biến tính do ôxi hóacủa lipid có liên kết chặt chẽ với phân tử prôtêin

Phân tử -conglixinin

c Chuỗi 2S: Chứa từ 8-22% prôtêin đậu nành và bao gồm 1 số enzym

Phân tử lượng trung bình 26.000

Chứa chất ức chế trypsin Phần nhỏ hơn của những chất ức chế này là chất ức chế Bowman-Birk, gồm 71 amino axit không tan có phân tử lượng

7861 Mặc dù phân tử lượng nhỏ nhưng prôtêin này có thể tạo dime, trime hoặc liên kết với các prôtêin khác 1 lọai chất ức chế trypsin khác là Kunitz Nó lớn

Trang 16

hơn nhiều, gồm 181 axit amin và có phân tử lượng 21.500 Prôtêin này có 2 cầudisunfua và không được chắc như Bowman-Birk

Là 1 loại prôtêin có tính đối xứng cao bao gồm nhiều vòng liên kết chặt chẽ Những vòng này được giữ chặt bởi 7 liên kết disunfit Trong khi tổng lượng prôtêin đậu nành có rất ít lưu hùynh thì chất ức chế này có nhiều systein Tác dụng ức chế trypsin là do liên kết giữa lysin-16 và serine-17, thường thì trypsin có thể tách liên kết Lys-Ser, nhưng cấu trúc vòng ngăn quá trình tách xảy ra Vì vậy, trypsin bám vào phân tử , nhưng không tách được liên kết, từ đó không được giải phóng để tách liên kết khác

Ở 1 đầu khác của phân tử Leucine-43 và serine-44 gây ra tác dụng tương

tự với chymotrypsin Do có nhiều liên kết disunfit nên phân tử prôtêin nhỏ này

có cấu trúc vững chắc, bền ới nhiệt, khó bị biến tính

Liên kết giữa Arginine-63 và isoleucine-64 tạo cơ chế ức chế động Trypsin có thể tách liên kết này nhưng nó không thể được giải phóng khi tiếp xúc với liên kết đó Chuỗi 3 chỉ ra liên kết phức tạp giữa Kunitz và porcine trypsin Liên kết Arg-Ile tiếp xúc với phần hoạt động của phân tử trypsin Phổ tia X cho thấy có đến 300 nguyên tử ở chỗ tiếp xúc 2 prôtêin này nên chất ức chế đủ mạnh để vô hoạt trypsin

2 Tính chất của Protein đậu nành:

a Sự phân li và sự tập hợp của protein đậu nành:

Trang 17

Khi đun nóng dung dịch -conglixinin loãng ở PH=7-8 và lực ion yếu, đến 1000C thì các phân tử của chúng sẽ phân li thành các tiểu phần mà không kèm theo các hiện tượng tập hợp phân tử.

Khi gia nhiệt đến 1000C dung dịch glixinin có nồng độ loãng(<1%P/V), ởPH=7-7,6 và lực ion 0,2-0,4 thì các phân tử cũng phân li thành các tiểu phần và sau đó thì tập hợp lại

Khi đun nóng đến 800C một dung dịch vừa chứa glixinin và

-conglixinin có nồn độ loãng (<1%P/V protein) ở PH =8 thì các phản ứng phân

Nếu đưa lực ion của dung dịch lên 0,5 bằng cách thêm NaCl(0,5M) thì các ion Na+và Cl- sẽ thủ tiêu lực hút tĩnh điện giửa hai dưới đơn vị của phức Khi đó các dưới đơn vị kiềm tính giải phóng sẽ tự tập hợp lại và kết tủa do các tương tác ưa béo trong khi đó các dưới đơn vị -conglixinin háo nước hơn nên vẫn ở trạng thái hoà tan

Khi đun nóng dung dịch protein đậu nành 1% đến 950C ở PH =7 không

có các khử với các lực ion khác nhau người ta thấy quá trình tập hợp sẽ thuận

Trang 18

lợi khi lực ion tăng 0 đến 0,2 M Tốc độ tập hợp sẽ tăng trong khoảng PH từ 4 đến 6 nhưng sẽ gần bằng 0 khi PH axit hoặc kiềm.

b Biến tính tạo gel của protein đậu nành:

Khi dung dịch protein đậu nành có nồng độ đậm đặc (>5% P/V) được đun nóng ở PH gần trung tính thì sẽ tao gel Dung dịch đầu tiên qua một trạng thái lỏng có độ nhớt tăng cao, giai đọan tiền gel

Khi lực ion còn yếu thì trạng thái này sẽ xảy ra từ lúc 700C là thời điểm

mà -conglixinin được giãn mạch hoàn toàn

Khi lực ion cao thì việc tăng độ nhớt chỉ xảy ra ở nhiệt độ cao hơn Việc tạo thành gel protein sẽ phụ thuộc vào cân bằng giữa liên kết protein – nước và liên kết protein – protein

Độ cứng của gel protein đâu nành sẽ giảm cùng nồng độ NaCl và khi vượt quá một nhiệt độ nào đó

Axit hoá dung dịch protein đậu nành đến PH =5,5 hoặc thêm ion Ca2+ sẽ làm đông tụ protein thành từng cục tương đối đàn hồi Nếu đun nóng các cục đãthu được bằng kết tủa đẳng điện hoặc bằng canxi sẽ làm các chuổi polypeptide

bị giãn mạch và tạo nên một mạng lưới protein ba chiều có kết cấu của một gel thực thụ

Sự tạo thành gel của protein đậu nành cũng có thể thực hiện bằng kiềm hoá rồi tiếp đó trung hoà, protelizo hạn chế hoặc thêm các dung môi có thể hoà

Trang 19

Cả glixinin lẫn -conglixinin đều bị biến tính khi tiếp xúc với hỗn hợp nước - etanol có hàm lượng rượu trên 20% Rượu càng kị nước có nghĩa là mạch cacbon càng dài thì giãn mạch protein càng nhanh và độ cứng của gel thu được càng lớn Giữa các aa không cực và rượu đã xảy ra các tương tác ưa béo Khi nồng độ rượu vượt quá 40% thì xảy ra các hiện tượng đông tụ nhưng khôngtạo ra gel, có thể là do giảm hoạt độ nước nên các liên kết protein – nước đã bị thay thế bằng các liên kết protein – protein.

c Một vài tính chất khác:

Prôtêin đậu nành cực kỳ bền nhiệt, có thể chịu nhiệt đến 77oC Tuy nhiên

ở nhiệt độ đó prôtêin không thể tan trở lại.Prôtêin đậu nành có thể bền nhiệt đến

100oC Khi thêm vào các yếu tố làm tăng lức ion 7S globulin 7S nhạy với nhiệt hơn

Trong phần lớn các ứng dụng của đậu nành việc gia nhiệt thấp để vô hoạtcác enzym là cần thiết.Tuy nhiên trong vài ứng dụng, prôtêin đậu nành gia nhiệt

ở nhiệt độ thấp được thêm vào các chất có chứa lipoxygenase hoạt động Nhữngứng dụng đặc biệt này đòi hỏi phải xảy ra sự ôxy hóa Sự ôxy hóa này có thể gây ra sự phá hủy màu sắc và vì thế tẩy trắng sản phẩm Nó cũng có thể gây ra

sự ôxy hóa những nhóm sunfit tự do từ liên kết disunfua Cả 2 chức năng này đều quan trọng trong việc chuẩn bị bột nguyên liệu cho công nghiệp làm bánh

3 Giá trị dinh dưỡng:

Protein của đậu nành có giá trị cao không chỉ về sản lượng thu hoạch mà

nó chứa đầy đủ tám loại amino acids thiết yếu (essential amino acids) cho cơ

Trang 20

thể con người Hàm lượng của các chất amino acids này tương đương với hàm lượng của các chất amino acids của trứng gà, đặc biệt là của tryptophan rất cao, gần gấp rưỡi của trứng Vì thế khi nói đến giá trị của protein ở đậu nành cao là nói đến hàm lượng lớn của nó cả sự đầy đủ và cân đối của tám loại amino acids.

Đậu nành là một loại thực vật quen thuộc đối với người Việt Nam mình

Nó là nguyên liệu dùng để chế biến các loại tương, chao, đậu hủ và một số thực phẩm chay lạt khác Hiện nay trên thế giới người ta sản xuất rất nhiều đậu nành

để làm thực phẩm cho người và cho gia súc

Hạt đậu nành có giá trị dinh dưỡng và kinh tế rất cao

Ví dụ: Công ty Trung ương đậu nành Mỹ( Central soya Co USA) đã làm 1 contính so sánh một mẫu Anh đất để nuôi bò thịt, bò sữa hay trồng tiểu mạch hoặcđậu nành để nuôi sống 1 con người Kết quả:

Trang 21

Trong đậu nành có chứa chất lecithin, có tác dụng làm cho cơ thể conngười trẻ lâu, sung sức, tăng thêm trí nhớ và tái tạo các mô, cũng làm cứngxương và tăng sức đề kháng của cơ thể

So với các loại rau quả, ngũ cốc, đậu nành chứa một trữ lượng chất

Protein dồi dào hơn cả

So với thịt động vật, đậu nành có nhiều chất dinh dưỡng hơn: 100 gr đậu nành có 411 calo, 34 gr protein, 18 gr béo,165mg calcium, 11mg sắt; trong khi

đó thịt bò loại ngon chỉ có 165 calo, 21gr protein, 9gr béo, 10mg calcium, 2.7mg sắt

Protein của đậu nành không có cholesterol, và ít chất béo có hại saturated fats thường có nơi thịt động vật Ngoài ra trong đậu nành có nhiều vitamin B hơn bất cứ thực phẩm nào, đậu nành cũng chứa nhiều vitamin A, D và các chất khoáng khác

Ðậu nành chứa hàm lượng dầu béo cao hơn các loại đậu khác nên được coi là loại cây cung cấp dầu thảo mộc Chất béo lipid của đậu nành có chứa một

tỷ lệ cao chất fatty acid không bão hòa (unsaturated fats), có mùi vị thơm ngon, cho nên dùng dầu đậu nành thay thế cho mỡ động vật có thể tránh được bệnh xơcứng động mạch

Trang 22

III Protein đậu nành trong sản xuất:

1 Các phương pháp xác định giá trị Protein:

1849 Buiret Protein phản ứng với Cu2+ cho phức

xanh ở pH cao, điều kiện kiềm Màu của dung dịch phụ thuộc vào lượng protein có trong mẫu Những phương pháp cải tiến bao gồm đưa thêm vào ethylen glycol hay glycerine để ổn định

1883 Kjeldahl Khi đốt nóng thực phẩm kiểm nghiệm

với H2SO4 đậm đặc, các hợp chất hữu

cơ bị oxy hóa : Carbon và hydro tạo thành CO2 và H2O, nitơ sau khi được giải phóng dưới dạng NH3 sẽ kết hợp với H2SO4 tạo thành

2NH3 + H2SO4  (NH4)2SO4

tan trong dung dịch

Trang 23

một lượng dư H2SO4 0.1N Định phân

H2SO4 còn lại bằng NaOH 0.1N

(NH4)2SO4 + 2NaOH 

Na2SO4 + H2O + 2NH3

2NH4OH + H2SO4dư  (NH4)2SO4 + 2H2O

1944 Dye blinding Protein phản ứng với thuốc nhuộm

hữu cơ tạo phức không tan Các thuốcnhuộm được sử dụng là : Amido Black10b, Acid Orange 12, Orange G

1951 Lowry Hỗn hợp CuSO4.5H2O và Natri-Kali

tartrate phản ứng với protein khi có mặt thuốc Folin tạo màu xanh biếc đo

ở 750nm Cường độ màu của dung dịch tỷ lệ với nồng độ protein

1976 Bradford Protein phản ứng với thuốc nhuộm

Coomassie Brilliant Blue tạo phức xanh Đo mật độ quang ở 595nm

1985 Bicinchonini

c acid

Giống với phương pháp Lowry nhưngthay BCA cho thuốc Folin BCA là 2,2’ diquinolyl – 4,4’ dicarboxylic acid

Ngày đăng: 30/10/2012, 10:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

H1.Glixinin gồm  H2. Sơ đồ cấu trúc của phân tử Glixinin - Hệ thống Protein đậu nành – Giá trị sinh học
1. Glixinin gồm H2. Sơ đồ cấu trúc của phân tử Glixinin (Trang 14)
Bảng 1: Giá trị sinh học của một số thực phẩm thực vật - Hệ thống Protein đậu nành – Giá trị sinh học
Bảng 1 Giá trị sinh học của một số thực phẩm thực vật (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w