1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực cạnh tranh và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp

25 697 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Năng lực cạnh tranh và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại bài luận
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 54,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo từ điển kinh doanh của Anh, cạnh tranh được hiểu là “sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một

Trang 1

Năng lực cạnh tranh và sự cần thiết nâng cao năng

lực cạnh tranh của Doanh nghiệp

I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH:

1 Khái niệm và vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:

1.1 Khái niệm về cạnh tranh:

Cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất,trao đổi hàng hóa và phát triển kinh tế thị trường Trong bất kỳ một lĩnh vực,ngành nghề nào thì khái niệm về cạnh tranh cũng xuất hiện nhưng ở các góc độ

và mục đích khác nhau Chính vì vậy, mặc dù cạnh tranh không phải là một kháiniệm mới song rất khó để đưa ra một định nghĩa cụ thể, rõ ràng và thống nhất

Theo Các Mác: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu

tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận cao nhất”.

Theo từ điển kinh tế: “Cạnh tranh là quá trình ganh đua hoặc tranh giành

giữa ít nhất hai đối thủ nhằm có được những nguồn lực hoặc ưu thế về sản phẩm hoặc khách hàng về phía mình, đạt được lợi ích tối đa”.

Theo từ điển kinh doanh của Anh, cạnh tranh được hiểu là “sự ganh đua,

kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”.

Với những quan niệm trên, phạm trù cạnh tranh được hiểu là quan hệ kinh

tế, ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi

1.2 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:

Trang 2

Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với lợinhuận và cạnh tranh Cạnh tranh tác động đến mọi thành phần trong nền kinh tế.

Đối với toàn bộ nền kinh tế

Cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế và nâng cao năng suất lao động xãhội Như chúng ta đã biết, kết quả của cạnh tranh là loại bỏ các doanh nghiệp cóchi phí sản xuất kinh doanh cao, kinh doanh không hiệu quả Một nền kinh tếmạnh là khi có các công ty, doanh nghiệp vững mạnh và có khả năng cạnh tranhcao

Cạnh tranh sẽ đảm bảo việc điều chỉnh quan hệ cung - cầu Cạnh tranh sẽ làtiền đề thuận lợi làm cho sản xuất thích ứng linh hoạt dưới sự biến động của cầu

và công nghệ sản xuất Cạnh tranh tác động một cách tích cực đến việc phânphối thu nhập tạo sự cân bằng trên thị trường

Bên cạnh đó, cạnh tranh còn là nguyên nhân thúc đẩy sự đổi mới về mọimặt của nền kinh tế

Đối với doanh nghiệp

Cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là điều tất yếu

và bất khả kháng Cạnh tranh là cuộc đua mà trong đó các doanh nghiệp luônphải tìm cách để vươn lên chiếm ưu thế và giành thắng lợi Muốn vậy, doanhnghiệp cần phải xây dựng cho mình một chiến lược cạnh tranh hợp lý Coi cạnhtranh như là một công cụ, là bàn đạp vươn lên

Cạnh tranh buộc các nhà sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm cóchất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học,công nghệ trong đó cao hơn để đáp ứng với thị hiếu của khách hàng Điều này

đã khiến các doanh nghiệp cần phải lựa chọn phương án chiến lược tối ưu như:chi phí sản xuất thấp nhất, công nghệ hiện đại, sử dụng có hiệu quả các nguồnlực để giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm

Trang 3

Cạnh tranh thúc đẩy sản xuất và phát triển, cạnh tranh sẽ đào thải nhữngdoanh nghiệp hoạt động yếu kém, giúp doanh nghiệp tìm tòi và khắc phụcnhững yếu điểm để vươn lên nắm giữ thị trường Doanh nghiệp nào có cácchính sách cạnh tranh hiệu quả sẽ tạo ra được vị thế trên thị trường, tăng doanhthu và lợi nhuận Tuy nhiên, vị thế cạnh tranh chỉ mang tính tương đối, khônghoàn toàn triệt để Vì vậy, doanh nghiệp phải luôn nhìn nhận cạnh tranh, điềukiện cạnh tranh là các căn cứ quan trọng để xây dựng chiến lược phát triển chodoanh nghiệp.

Đối với khách hàng

Cạnh tranh làm cho người tiêu dùng được tiêu dùng hàng hóa cũng nhưdịch vụ có chất lượng cao hơn với giá thành hợp lý hơn và nhu cầu của ngườitiêu dùng cũng được đáp ứng tốt hơn Có được như vậy là vì có cạnh tranh nênhàng hóa trong nước và trao đổi quốc tế trở nên phong phú và đa dạng về chủngloại, bao bì, mẫu mã và hơn hết là chất lượng ngày càng tốt hơn mà giá lại rẻhơn

2 Phân loại cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:

2.1 Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường:

- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Trong thị trường sẽ xuất hiện hai

đối tượng là người bán và người mua Người bán đại diện cho bên cung còn ngườimua đại diện cho bên cầu Người bán thì muốn bán giá cao, người mua mong muađược giá thấp, họ cạnh tranh với nhau nhằm thu được lợi ích cao nhất về mình

- Cạnh tranh giữa người mua với nhau: Người mua là những người tiêu

dùng hàng hóa Họ không chỉ cạnh tranh với nhau về tiêu dùng những loại hànghóa giống nhau mà còn về những loại hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng khác nhau

Họ cạnh tranh để mua được nhiều loại hàng hóa, dịch vụ với một mức chi phínhất định, nhưng lợi ích tiêu dùng lại lớn nhất

Trang 4

- Cạnh tranh giữa người bán với nhau: Người bán là những người cung cấp

hàng hóa Cũng giống như người mua, không chỉ những người cung cấp mộtloại hàng hóa, dịch vụ giống nhau mới cạnh tranh nhau mà những người cungcấp hàng hóa, dịch vụ khác nhau cũng cạnh tranh với nhau Họ cạnh tranh đểbán được nhiều hàng hóa với giá cao hơn và thu được nhiều lợi nhuận hơn

2.2 Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế:

- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cạnh tranh giữa các công ty, doanh

nghiệp cùng sản xuất một loại hàng hóa nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch

Do đó, để thu được lợi nhuận các doanh nghiệp sẽ thi đua cạnh tranh nhau vềkhoa học kỹ thuật, phải luôn cải tiến công cụ sản xuất, máy móc thiết bị

- Cạnh tranh ngoài ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng

minnh các doanh nghiệp của một ngành với những ngành khác nhằm đạt đượclợi nhuận cao nhất và tìm kiếm được nơi đầu tư có lợi

2.3 Căn cứ vào thị trường:

- Cạnh tranh hoàn hảo: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường mà

trong đó không phải chỉ có một người tiêu dùng hay sản xuất nào đó, là bộ phậnlớn của thị trường có ảnh hưởng cá nhân đến giá cả của thị trường

Đặc điểm của thị trường này:

+ Có vô số người bán và người mua độc lập trên thị trường

+ Hàng hóa có tính đồng nhất cao, dễ thay thế cho nhau trên thị trường.+ Người bán và người mua đều không ảnh hưởng đến giá cả, thị trườngcủa sản phẩm, tức là họ phải chấp nhận giá của thị trường

+ Trong thị trường của cạnh tranh hoàn hảo thì người bán và người muađều có thể tự do tham gia hay rút khỏi thị trường mà không bị ràng buộc

- Cạnh tranh không hoàn hảo: Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là

thị trường gồm cạnh tranh độc quyền và cạnh tranh tập đoàn, mà trong đó chỉ cómột số hãng cung ứng mức cung ứng của toàn bộ thị trường về mọi loại hànghóa và dịch vụ nào đó

Trang 5

+ Cạnh tranh độc quyền: được hiểu là thị trường trong đó có nhiều hãngsản xuất và bán những sản phẩm tương tự như nhau, các sản phẩm này có thểthay thế cho nhau nhưng không hoàn hảo Các hãng cạnh tranh với nhau bằngviệc bán những sản phẩm “dị biệt hóa”.

+ Cạnh tranh tập đoàn: trong thị trường, hàng hóa và dịch vụ có thể giốngnhau một ít, có thể khác nhau một ít, các hàng hóa mới thì khó gia nhập thịtrường và giá cả thì luôn cứng nhắc

II – NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH:

1 Khái niệm năng lực cạnh tranh:

Năng lực cạnh tranh là thuật ngữ ngày càng được sử dụng rộng rãi trongrất nhiều các lĩnh vực nhưng đến nay vẫn là khái niệm khó hiểu và rất khó đolường

Theo Từ điển thuật ngữ kinh tế học, năng lực cạnh tranh là khả năng

giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa năng lực cạnh

tranh là “khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc

khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”

2 Phân loại năng lực cạnh tranh:

Đã có rất nhiều những nhà chuyên môn đã nghiên cứu và có những côngtrình nghiên cứu công phu về năng lực cạnh tranh Chẳng hạn như Momaya(2002), Ambastha và cộng sự (2005), hoặc các tác giả người Mỹ nhưHenricsson và các cộng sự (2004)… đã hệ thống hóa và phân loại các nghiêncứu và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo 3 loại: nghiên cứunăng lực cạnh tranh hoạt động, năng lực cạnh tranh dựa trên khai thác, sử dụngtài sản và năng lực cạnh tranh theo quá trình

Trang 6

Năng lực cạnh tranh hoạt động là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh

tranh chú trọng vào những chỉ tiêu cơ bản gắn với hoạt dộng kinh doanh trênthực tế như: thị phần, năng suất lao động, giá cả, chi phí v.v… Theo những chỉtiêu này, doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là những doanh nghiệp cócác chỉ tiêu hoạt động kinh doanh hiệu quả, chẳng hạn như năng suất lao độngcao, thị phần lớn, chi phí sản xuất thấp…

Năng lực cạnh tranh dựa trên tài sản là xu hướng nghiên cứu nguồn hình

thành năng lực cạnh tranh trên cơ sở sử dụng các nguồn lực như nhân lực, côngnghệ, lao động Theo đó, các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là nhữngdoanh nghiệp sử dụng các nguồn lực hiệu quả như nguồn nhân lực, lao động,công nghệ, đồng thời có lợi thế hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực này

Năng lực cạnh tranh theo quá trình là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh

tranh như các quá trình duy trì và phát triển năng lực năng lực cạnh tranh Cácquá trình bao gồm: quản lý chiếc lược, sử dụng nguồn nhân lực, các quá trìnhtác nghiệp (sản xuất, chất lượng…)

3 Các cấp độ năng lực cạnh tranh:

3.1 Năng lực cạnh tranh của Quốc gia:

Năng lực cạnh tranh của Quốc gia hay của một nền kinh tế được hiểu làthực lực và lợi thế mà nền kinh tế hay quốc gia đó huy động được để duy trì vàcải thiện vị trí của nó so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường thế giớimột cách lâu dài và có ý nhằm thu được lợi ích ngày càng cao cho nền kinh tếhay cho quốc gia mình

3.2 Năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp:

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thếcạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sửdụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững

3.3 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm:

Trang 7

Khách hàngNgười cung cấp

Sản phẩm thay thế

Các công tytrong ngànhKinh tế

Công nghệ

Chính trị

Xã hộiĐối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Năng lực cạnh tranh sản phẩm là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ đượcnhanh chóng trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên cùng mộtthị trường Hay nói cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằngthị phần của sản phẩm đó

III – CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP:

Hình 1.1: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter

Môi trường vĩ mô Môi trường ngành

Trang 8

1 Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp:

1.1 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô:

Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là sự so sánh về giá trị của đồng tiền trong nước với đồngtiền của các quốc gia khác Thay đổi về tỷ giá hối đoái có tác động trực tiếp đếntính cạnh tranh của sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất trên thị trường quốc tế.Khi giá trị của đồng tiền trong nước thấp hơn so với giá trị của các đồng tiềnkhác, hàng hóa sản xuất trong nước sẽ tương đối rẻ hơn, còn hàng hóa sản xuấtngoài nước sẽ tương đối đắt hơn

Tỷ lệ lạm phát

Lạm phát gây xáo trộn nền kinh tế làm cho sự tăng trưởng kinh tế chậmlại, tỷ lệ lãi suất tăng và sự biến động của đồng tiền trở nên không lường trướcđược Nếu lạm phát tăng liên tục, các hoạt động đầu tư trở thành công việc hoàntoàn may rủi Thực trạng của lạm phát là làm cho tương lai kinh doanh trở nênkhó dự đoán được, khi đó nó sẽ hạn chế sự hoạt động của nền kinh tế, gây nêntình trạng thất nghiệp, và cuối cùng thì đẩy nền kinh tế rơi vào tình trạng khủnghoảng

Tỷ lệ lãi suất

Trang 9

Tỷ lệ lãi suất có thể tác động đến mức cầu đối với sản phẩm của doanhnghiệp Tỷ lệ lãi suất rất quan trọng khi người tiêu dừng thường xuyên vay tiền

để thanh toán các khoản mua bán hàng hóa của mình Tỷ lệ lãi suất còn quyếtđịnh mức chi phí về vốn và do đó quyết định mức đầu tư Chi phí này là nhân tốchủ yếu khi quyết định tính khả thi của chiến lược

1.1.2 Yếu tố kỹ thuật - công nghệ:

Ngày nay công nghệ được coi là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh vàphát triển Thay đổi về công nghệ có thể làm cho các sản phẩm hiện đang sảnxuất trở nên lỗi thời trong một khoảng thời gian ngắn Cũng với thời gian đó cóthể tạo ra được sản phẩm mới Như vậy, công nghệ đồng thời có thể vừa là cơhội cũng như mối đe dọa của doanh nghiệp Do sự phát triển nhanh chóng củacông nghệ đã diễn ra xu hướng làm ngắn lại chu kỳ sống của sản phẩm Bêncạnh đó, công nghệ cũng tạo ra nhiều phương pháp sản xuất mới, những phươngpháp này cũng sẽ là những cơ hội hoặc thách thức cho doanh nghiệp Vì vậy,các doanh nghiệp phải lường trước được những thay đổi do công nghệ mang lại

1.1.3 Các yếu tố chính trị - pháp luật:

Các yếu tố chính trị - pháp luật cũng có tác động lớn đến mức độ thuậnlợi và khó khăn của môi trường kinh doanh trong doanh nghiệp Các doanhnghiệp hoạt động phải tuân theo các quy định của chính phủ về thuê mướn nhâncông, thuế, quảng cáo, nơi đặt nhà máy và bảo vệ môi trường,… Những quyđịnh này cũng có thể là cơ hội hoặc mối đe dọa với doanh nghiệp Việc tạo ramôi trường kinh doanh lành mạnh thông qua luật pháp và quản lý nhà nước sẽđảm bảo cho sự phát triển, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là bình đẳng vàlành mạnh

1.1.4 Các yếu tố văn hóa, tự nhiên và xã hội:

Trang 10

Cùng với sự phát triển kinh tế, các yếu tố xã hội ngày càng có tác độngnhiều hơn đến họat động kinh doanh của các doanh nghiệp Yếu tố xã hội baogồm các vấn đề nhân khẩu như quy mô và tốc độ dân số, cơ cấu dân số, tìnhtrạng hôn nhân và gia đình, sự đô thị hóa,…; vấn đề văn hóa như bản sắc,truyền thống, phong tục tập quán, lối sống, trào lưu, xu hướng,…

1.2 Các yếu tố thuộc môi trường vi mô (môi trường ngành):

Sử dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter, theo mô hìnhnày thì ảnh hưởng đến cầu trúc cạnh tranh trong một ngành gồm có các yếu tốsau:

● Khả năng cạnh tranh của các đối thủ tiềm ẩn

● Sự cạnh tranh của các sản phẩm thay thế

● Sức ép của khách hàng

● Áp lực từ phía nhà cung cấp

● Mức độ cạnh tranh của các đối thủ trong ngành

1.2.1 Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn:

Đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện không ở trong ngành nhưng cókhả năng nhảy vào hoạt động kinh doanh trong ngành đó Tác động của cácdoanh nghiệp này đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đến đâu hoàntoàn phụ thuộc vào sức mạnh cạnh tranh của các doanh nghiệp đó như côngnghệ chế tạo, quy mô… Sự xuất hiện của các đối thủ mới này có thể là yếu tốlàm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp hay còn làm thay đổi bức tranh cạnh tranhngành Dù thay đổi cục diện cạnh tranh kiểu nào thì sự xuất hiện của các đối thủtiềm ẩn cũng làm gia tăng mức cạnh tranh của ngành Do đó, các doanh nghiệpđang hoạt động tìm mọi cách để hạn chế các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn nhảyvào lĩnh vực kinh doanh của họ

Trang 11

Theo M Porter, những nhân tố tác động đến quá trình tham gia thị trườngcủa các đối thủ mới đó là: các rào cản thâm nhập thị trường, hiệu quả kinh tếcủa quy mô, bất lợi về chi phí do các nguyên nhân khác, sự khác biệt hóa sảnphẩm, yêu cầu về vốn cho sự thâm nhập, chi phí chuyển đổi, sự tiếp cận cáccách phân phối, các chính sách quản lý vĩ mô,…

1.2.2 Sự cạnh tranh của sản phẩm thay thế:

Sản phẩm thay thế là những sản phẩm của các doanh nghiệp trong nhữngngành khác nhau nhưng thỏa mãn những nhu cầu của người tiêu dùng giốngnhư các doanh nghiệp trong ngành Những doanh nghiệp này thường cạnh tranhgián tiếp với nhau Càng nhiều loại sản phẩm thay thế xuất hiện bao nhiêu sẽcàng tạo ra sức ép lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp bấynhiêu Đặc điểm của sản phẩm thay thế như: sản phẩm sẽ được tiếp tục đưa vàosản xuất hay sẽ được sử dụng trong tiêu dùng cũng như tính chất của sản phẩmthay thế đều tác động trực tiếp, tạo ra sức ép đối với doanh nghiệp

Như vậy, sự tồn tại những sản phẩm thay thế hình thành một sức ép cạnhtranh rất lớn, nó giới hạn mức giá mà một doanh nghiệp có thể định ra và do đó

giới hạn mức lợi nhuận của doanh nghiệp Ngược lại, nếu sản phẩm của một

doanh nghiệp có rất ít các sản phẩm thay thế, doanh nghiệp đó có cơ hội để tănggiá và lợi nhuận

1.2.3 Sức ép từ khách hàng:

Trang 12

Khách hàng của doanh nghiệp là những người có cầu về sản phẩm haydịch vụ do doanh nghiệp cung cấp Đối với mọi doanh nghiệp, khách hàngkhông chỉ là các khách hàng hiện tại mà phải tính đến cả khách hàng tiềm ẩn.Khách hàng là người tạo ra lợi nhuận, tạo ra sự thắng lợi của doanh nghiệp Họđược xem như là sự đe dọa mang tính cạnh tranh khi đẩy giá cả xuống hoặc khi

họ yêu cầu chất lượng sản phẩm và dịch vụ tốt hơn làm cho chi phí hoạt độngcủa doanh nghiệp tăng lên Ngược lại, nếu người mua có những yếu thế sẽ tạocho doanh nghiệp cơ hội để tăng giá và kiếm nhiều lợi nhuận hơn Người mua

có thể gây áp lực với doanh nghiệp đến mức nào phụ thuộc vào thế mạnh của họtrong mối quan hệ với doanh nghiệp

Theo M Porter, những yếu tố tạo áp lực cho người mua đó là:

 Khi ngành cung cấp gồm nhiều doanh nghiệp nhỏ còn người mua chỉ là

số ít doanh nghiệp nhưng có quy mô lớn

 Khi người mua mua với số lượng lớn, họ có thể sử dụng sức mua củamình để yêu cầu được giảm giá

 Khi người mua có thể lựa chọn đơn đặt hàng giữa các doanh nghiệp cungứng cùng loại sản phẩm

1.2.4 Áp lực từ phía nhà cung cấp:

Người cung cấp được coi là sự đe dọa với doanh nghiệp khi họ có thể đẩymức giá hàng hóa cung cấp cho doanh nghiệp lên, làm tăng chi phí và ảnhhưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Các doanh nghiệp thường quan hệ vớicác tổ chức cung cấp các nguồn hàng khác nhau như thiết bị vật tư, nguồn laođộng và tài chính Yếu tố làm tăng thế mạnh của các tổ chức cung ứng cũngtương tự như các yếu tố làm tăng thế mạnh của người mua sản phẩm

Ngày đăng: 18/10/2013, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter - Năng lực cạnh tranh và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp
Hình 1.1 Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w