1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CHO CNNT Ở NƯỚC TA

29 198 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng tiêu thụ sản phẩm cho cnnt ở nước ta
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 1999
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 52,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng cả một thời gian dài diện tích trồng cà phê chưa được mở rộng,đến trước năm 1995 miền bắc có 14000 ha miền nam có 14.420 ha,cả nước25.420ha Sau ngày đất nươc thống nhất 1975, ngang

Trang 1

THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CHO CNNT Ở NƯỚC TA

I THỰC TRẠNG TTSP Ở THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI.

Theo báo cáo tổng cục hải quan tính đến ngày 20/11/99 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của việt nam là 19,945 tr USD nhập siêu 1,4% tổng tiêu ngạch Trong đó xuất khẩu 9,903tr USD, nhập khẩu 10,042 tr USD

BIỂU 2: CƠ CẤU MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM - 1999

(triệu tấn)

Trị giá (triệu USD)

4,23 0,3787 0,210

965 477 114,9 1.489

Trên cơ sở tổng hợp và phân tich tình hình dự báo, các chuyên gia bộ thương mại báo cáo tổng kim ngạch xuất khẩu 1999 ước11ty USD, tăng 17,5% so với 1998, vượt 10,5% so với kế hoạch Trong đó DNVN 8,55 ty USD, chiếm 77,7%, tăng 15,8%, dn có vốn đầu tư nước ngoài là 2,45 ty USD chiếm 22,3%, tăng 23,6% Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: gạo, dệt may, cà phê Tính đến tháng 11/99 4 mặt hàng công nghiệp đạt giá trị KNXK trên 1ty USD là: dầu thô,dệt may,da giầy, gạo Một số mặt hàng tuy KN chưa lớn nhưng có mức tăng cao: máy động lực, máy công nghiệp, sữa bột,dầu thực vật Cơ cấu xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tích cực hơn: tỷ trọng nguyên liệu thô và sơ chế giảm.

Trang 2

BIỂU 3: TỶ TRỌNG NGÀNH HÀNG XUẤT KHẨU

Giá trị (triệu USD)

Dệt may+Da giầy Thủ công mỹ nghệ Lĩnh vực khác

18,2 8,6 28 1,5 19,4

2000 950 3100 180 2130

1 Ngành cà phê

Theo thống kê của hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (VICOFA) niên vụ cà phê 1998-1999 Việt Nam XK 404.206 tấn cà phê nhân, tăng so với 97/98 khoảng 10.000 tấn.

BIỂU 4: DANH SÁCH 10 CÔNG TY XK CÀ PHÊ LỚN NHẤT VIỆT NAM

Khối lượng (tấn)

Giá trị (triệu USD)

Công ty TM du lịch Hiệp Phước

Công ty XNK Gia Lai

72,277 70,509 64,174 40,7 34,2 27,1 24,036 17,853 14,194 13,18

Trang 3

Những cây cà phê đầu tiên được trồng trên đất Việt Nam là do các giáo sỹ truyền giáo đưa vào trồng từ năm 1857 ở khu vực các nhà thờ tu viện thiên chúa giáo thuộc 2 tỉnh Quảng Bình,Quảng Trị Đến cuối thế kỷ 19 các đồn điền trồng cà phê đầu tiên là ở các tỉnh miền bắc: Hà Nam,Sơn Tây, Hoà Bình, Tuyên Quang, Phú Thọ, Phủ Quỳ Vào những năm 1920-1925 khi phát hiện ra vùng cao nguyên Bazan ở miền trung.Người ta mới mở ra các đồn điền cà phê ở Tây Nguyên Nhưng cả một thời gian dài diện tích trồng cà phê chưa được mở rộng,đến trước năm 1995 miền bắc có 14000 ha miền nam có 14.420 ha,cả nước25.420ha

Sau ngày đất nươc thống nhất 1975, ngang cà phê Việt Nam đi vào thơi kì phát triển,sản lượng sản xuất ra chủ yếu để XK thu ngoại tệ.theo số liệu tổng cục thống kê và ngành Cà phê thì sản xuất Cà phê của ta mỗi năm một tăng.

BIỂU 5: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, XK CÀ PHÊ QUA CÁC NĂM

Năm Diện tích (ha) lượng Sản

sản suất

Khối lượng XK theo niên vụ (tấn)

Kim ngạch (Triệu USD)

240.000 350.000 360.000 410.530

233.000 246.000 350.000 390.000 360.000

520 420 400 600 540

Sản xuât Cà phê Việt Nam có những điều kiện thuận lợi về khí hậu, đất đai, tập chung ở Tây Nguyên, Dông Nam Bộ, các tỉnh miền trung và miền núi phía bắc (Sơn La, Lai châu, Yên Bái, Hà Giang),điều kiện thổ nhưỡng khí hậu ở vùng này thích hợp với loại Cà phê Arabica nên năng xuất khá cao Tây nguyên với bốn tỉnh: Đắc Lắc, Lâm Đồng, Gia Lai, Kom Tum là khu vực chủ lực của ngành Cà phê Việt Nam Diện tích Cà phê của khu vực này lên tới 180.000 ha chiếm hơn 78% tổng diện tích trồng Cà phê cả nước trong đó Đắc Lắc với diện tích và sản lượng Cà phê là lớn nhất, chiếm 60% của cả khu Tây Nguyên sự

mở rộng của chính sách XNK theo nghị định số 57/1998/ND – CP của chính phủ đã tạo nhiều thuận lợi cho các DN có thể tham gia xuất khẩu Cà phê Từ 30

Trang 4

DN XK Cà phê vụt tăng lên 100 DN Riêng Đắc Lắc từ 16 DN tăng lên 26 DN Hiẹn nay sản lượng sản xuất Cà phê của Đắc Lắc chiếm 60% tổng sản lượng Cà phê cả nước Theo thống kê của sở thương mại Đắc Lắc Sản lượng Cà phê xuất khẩu niên vụ 98 / 99 (1/10/98 – 30/9/99) đạt 218.596 tấn, tăng 3,5% so với niên vụ 97/98, kim ngạch khoảng 300 triệu USD, giảm 7,2% Sản lượng tăng, kim ngạch giảm là do giá giảm, giá XK bình quân khoảng 1.372 USD/tấn, giảm 10% so với 97/98 đây là lần đầu tiên sau nhiều năm KNXK Cà phê Đắc Lắc giảm do giá thế giới giảm tỷ lệ Cà phê R1 của Đắc Lắc vùa qua đạt thấp, khoảng 18000 tấn, chiếm 8% tổng lượng xuất khẩu thấp hơn tỷ lệ R1 chung của cả nước 11% làm giảm KNXK (Chỉ riêng hai loại Cà phê chất lượng R1,R2 chênh lệch 100 USD/tấn, giữa R2 –5% và R2 -8% chênh lệch 40 đến 60 USD/tấn).

Điều đáng mừng là chất lượng Cà phê xuất khẩu của Việt Nam ngày càng

có uy tín trên thị trường Thế giới:

BIỂU 6: CHẤT LƯỢNG XUẤT KHẨU TĂNG HÀNG NĂM(ĐƠN VỊ:%)

6 45 44 5

7 60 27 6

16 72 5 7

Thị trường XK ngày nay càng được mở rộng Trước năm 90 khoảng 50% khối lượng cà phê XK của Việt Nam là sang thị trường Liên Xô và Đông Âu,50% còn lại là sang thị trường Singapore thực chất là một thị trường trung chuyển Đến năm 1996 XK cà phê Việt Nam đã sang tới 30 quốc gia, chủ yếu là XK trực tiếp Đặc biệt cà phê Việt Nam đã được XKtrực tiếp sang các thị trường khó tính như Đức, Anh,ý Đáng lưu ý là Mỹ thị trường nổi tiếng là khó xâm nhập nhưng năm 1996 đã tiêu thụ khoảng 1/3 khối lượng cà phê XK của Việt Nam.Hiên nay Đức đă trở thành nhà nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam.Trong 11 tháng năm 99 vừa qua tổng lượng xuất khẩu : 362000 tấn kim ngạch khoảng 500 triệu USD

Trang 5

BIỂU 7: THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM

Thị trường xuất khẩu cà phê của Việt

Đức Mỹ Italia Tây Ban Nha Anh Bỉ

16,5 15,5 10,6 8,8 7,7 6,3

Cà phê đặc sản (Gounmet coffee) được quảng cáo bằng tên hấp dẫn: Cà phê trăng rằm (full moon coffee) hay cà phê gã chăn bò thứ thiệt (real Cowboy coffee) tiêu thụ đang tăng nhanh chóng trên thế giới, các cửa hiệu chuyên bán cà phê đặc sản đang mọc lên như nấm tại Mỹ,các thành phố lớn ở Châu Âu và Nhật Bản nhưng mức tiêu thụ của Mỹ giảm từ 10kg/người/năm nay chỉ ở mức 4kg Nguyên nhân của tình trạng này là phần lớn cà phê tiêu thụ

ở Mỹ không phải là loại có phẩm chất cao nhất nên hiện nay Mỹ đang tích cực quảng cáo, khuyến trương cho loại cà phê này người tiêu dùng Mỹ thích loại cà phê này và thị trường tăng tốc độ 30%/năm đây là một thị trường đầy hứa hẹn cho xuất khẩu cà phê Việt Nam sang Mỹ, nếu chất lượng cà phê của Việt Nam đạt được tiêu chuẩn quốc tế về độ axit, mùi quả và các mùi vị khác

Theo dự đoán mới nhất của Bộ nông nghiệp Mỹ sản lượng cà phê thế giới 99/2000 giảm 20%(2,13tr bao)so vụ trước còn 104,5 tr bao:

BIỂU 8: SẢN LƯỢNG CÀ PHÊ THẾ GIỚI

Sản Lượng (tr bao) 97,67 106,63 104,50

Brazin Côlômbia Indônêxia Việt Nam Mêxicô

23,5 12,03 7,2 6,67 4,97

34,7 11 6,85 6,33 4,95

26,5 12,7 7,2 6,45 5,3 Tiêu thụ 101,86 103,2 104,30

Trang 6

Sau niên vụ cà phê 97/98 bội thu,KNXK đạt khoảng 600 tr USD,thì niên vụ 98/99 lại chịu nhều biến đọng.Sản lượng cà phê quả năm nay giảm không nhiều,nhưng sản lượng cà phê hạt đạt thấp 394.000 tấn cà phê nhân,bằng 90- 98% so vụ trước.Chất lượng cà phê không được cải thiện: cỡ hạt nhỏ, tỉ lệ hạt đen,vỡ nhiều do thời tiết khô hạn,ở giữa năm rồi mưa kéo dài cuối năm 98,mưa cuối vụ ở Tây Nguyên gây ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc,thu hoạch,bảo quản,phơi sây.Trong khi đó cà phê thế giới lại được mùa lớn ước đạt 106,8tr bao(1 bao=60kg) tăng khoảng 9,1tr bao so vụ trước,riêng Brazin đạt trên 3tr bao.Mặt khác nhu cầu tiêu thụ càphê trên thế giới có phần giảm sút do khủng hoảng tài chính khu vực

Tình hình đó làm giá càphê giảm nhanh chóng ở mức 1305USD/tấn,giảm khảng 250USD/tấn so với cùng kì năm ngoái,giảm 200USd/tânso với đầu năm nay.Giá cà phê Rôbusta loạI 2 có 5% hạt đen vỡ đã xuống ở mức 1280- 1290USD/tấn,giảm 18% so với tháng 1 năm 99(1567USD/tấn).Sáu tháng đầu năm 99, khó khăn đang chồng chất thì các DNXK cà phê lại phải chịu thêm giá cước vận chuyển tăng.Từ ngày 1/4/99 giá cước tăng thêm 150USD đi các nước Châu Âu và 750USD đi các nước Băc Mỹ trên mỗi container 20 feet.Năm

1998 Việt Nam xuất khẩu cà phê vào 36 thị trường nước ngoài,nhưng riêng 4 tháng đầu năm 99,12 thị trường giảm tỉ trọng nhâp khẩu.Các thị trường có tỉ trọng giảm mạnh đáng lưu ý là Mỹ giảm 9,5% Thái Lan giảm 2,5%, Pháp – 1,6%, Iran năm 98 nhập khẩu 2% thì bốn tháng đầu năm chưa nhập nhưng cũng có một số thị trường tăng tỉ trọng nhập khẩu cà phê Việt Nam Trong 4 tháng đầu năm 99 Thuỵ Sĩ tăng 5% Italia tăng 2,1% so cùng kỳ

Điều đáng quan tâm là năm nay do nắm được thông tin giá cả cho nên người trồng cà phê đã không bán ồ ạt, khống chế số lượng nhằm giữ giá cà phê Hiện nay lượng lưu kho trong DN và trong dân còn khá lớn khỏng 65 đến

60000 tấn riêng các DN của VINACOFFE còn năm nghìn tấn.

2 Ngành dệt

2.1 Tình hình sản xuất.

Trong những năm của thập kỷ 90, ngành dệt có tốc độ phát triển không

ổn định, tốc độ tăng trưởng đạt 13% năm 1994, sau giảm xuống dưới 1% vào năm 1995, và lại tăng lên 14% vào năm 1997 Tốc độ phát triển không đều nói

Trang 7

trên một phần là do sự yếu kém của ngành dệt trong việc chiếm lĩnh thị trường trong nước của các sản phẩm dệt Việt Nam so với sản phẩm dệt ngoại, phần khác là do thiếu nguồn vốn nhập trang thiết bị và nguyên liệu cho sản xuất vào những năm 1995 và 1996 (Xem Vietnam Investment Review ngày 18/2/1996).

BẢNG 9: NHỮNG CHỈ TIÊU CƠ BẢN CỦA NGÀNH DỆT

Tỷ trọng giá trị tổng sản lượng ngành

Giá trị tổng sản lượng của ngành dệt -

Tỷ trọng giá trị tổng sản lượng dệt trong

giá trị tổng sản lượng ngành dệt - may 79,6 74,5 67,7 64,2 62,7 62,7 Tốc độ tăng trưởng giá trị tổng sản

Nguồn: Niên giám thống kê

Ghi chú: số liệu của năm 1993 và 1994 tính theo giá cố định năm 1989, số liệu của các năm khác tính theo giá cố định năm 1994.

* Số liệu năm 1998 là ước tính

Tỷ trọng giá trị tổng sản lượng ngành dệt trong GDP có xu hướng giảm dần, chiếm gần 4% GDP năm 1993 xuống còn gần 2% GDP năm 1998 Và ngay trong ngành dệt - may cũng phản ánh xu hướng này Mặc dù dệt vẫn chiếm tỷ trọng cao trong ngành dệt - may, nhưng tỷ trọng của ngành dệt đã giảm đi rất nhiều, từ gần 80% năm 1993, xuống còn hơn 6% năm 1998.

BẢNG 10: TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HÀNG NĂM CỦA MỘT SỐ MẶT HÀNG DỆT QUAN

TRỌNG TRONG NHỮNG NĂM 1994-1998 (TÍNH THEO HIỆN VẬT)

Đơn vị: %

Trang 8

Ghi chú: * số liệu năm 1998 là ước tính

2.2 Thực trạng công nghệ, trang thiết bị.

Thực trạng công nghệ, trang thiết bị của ngành dệt rất khác nhau tuỳ thuộc vào các lĩnh vực khác nhau của ngành như kéo sợi, dệt thoi, dệt kim, nhuộm, in và hoàn tất Mặc dù ngành đã có nỗ lực đầu tư đổi mới trang thiếtbị, xong nhìn chung toàn ngành, công nghệ, trang thiết bị vẫn ở trong tình trạng lạc hậu so với các nước trong khu vực.

Đối với lĩnh vực kéo sợi: đến năm 1996 ngành có 800.124 suốt kéo sợi và 3.520 rô tơ kéo sợi Trong số đó có 90.600 là suốt mới mua (chiếm 11,32%), với 55.960 suốt mua cũ của các nước Tây Âu; 107.000 suốt được cải tiến (chiếm 13,4%) Công suất kéo sợi hàng năm tăng lên 70.000 tấn, với chỉ số Nm là 61 (Báo cáo của VINATEX).

Đối với lĩnh vực dệt thoi: năm 1996 ngành có 10.500 máy dệt thoi Máy nhập mới chỉ chiếm 15% Khoảng 50% máy dệt thoi là quá cũ và không còn khả năng sản xuất.

Đối với lĩnh vực dệt kim: công nghệ dệt kim của ngành khá hiện đại so với các công nghệ khác Phần lớn các máy dệt kim nhập của Trung Quốc, Tiệp và Đông Đức từ trước năm 1986 đều đã thanh lý và chuyển nhượng cho địa phương Hiện nay các doanh nghiệp dệt lớn của Nhà nước đều sử dụng máy dệt kim nhập của các nước như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Đức từ sau năm 1996; 30% số máy này thuộc thế hệ mới, một số máy đã được vi tính hoá Vì chất lượng sợi bông kém nên hầu hết các doanh nghiệp chọn phương án sản xuất sử dụng sợi Pe/Co để sản xuất những sản phẩm dệt đơn giản như vải màn, vải valise, chưa quan tâm đến sản xuất các loại vải cao cấp như vải trang trí, vải thảm, vải dùng trong xây dựng,

Đối với lĩnh vực nhuộm, in và hoàn tất: Tất cả các thiết bị in, nhuộm và hoàn tất là nhập từ nước ngoài Hiện nay 35% thiết bị in và nhuộm trong

Trang 9

ngành nhập từ năm 1986 trở lại đây (khoảng 300 máy) Tất cả các thiết bị này đều thuộc thế hệ A2, A3 và vẫn hoạt động tốt Số còn lại nhập từ trước năm

1985, thậm chí có những máy nhập từ những năm 60 Theo chủ trương của VINATEX những máy này cần phải giải quyết dần.

Năm 1997, công suất sử dụng máy móc, thiết bị của ngành là 75% Năm

1998, tình hình còn xấu đi nhiều do tác động của khủng hoảng tài chính khu vực.

Nhìn chung, tình trạng công nghệ lạc hậu đã làm cho ngành dệt không có khả năng đáp ứng yêu cầu về chất lượng của nguyên liệu đầu vào cho ngành may, ngành may phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu, và như vậy đất nước mất đi nhiều cơ hội cho sản xuất thay thế nhập khẩu trong các khâu sử dụng khá nhiều lao động của ngành dệt.

2.3 Thị trường các sản phẩm.

a Thị trường trong nước:

Trên thị trường trong nước, các nhà sản xuất của ngành dệt phải cạnh tranh với các đối thủ mạnh hơn trong khu vực Là thành viên của ASEAN và đang trong quá trình thực hiện AFTA, thị trường Việt Nam là sân chơi của các nước trong khu vực Do vậy chiếm lĩnh thị trường nội địa là một thách thức rất lớn đối với các nhà sản xuất dệt Việt Nam.

Theo thống kê của VINATEX, trong những năm vừa qua tỷ trọng tiêu thụ nội địa trong tổng số hàng dệt sản xuất trong nước chỉ chiếm khoảng 55% Điều này chứng tỏ hàng dệt Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước

cả về chất lượng và số lượng.

b Thị trường xuất nhập khẩu

Từ khi Việt Nam thực hiện quá trình đổi mới (từ năm 1989), giá trị xuất khẩu hàng dệt có tăng lên, tuy là mức tăng không bằng ngành may Cũng như ngành may, ngành dệt đã chuyển từ thị trường Liên Xô cũ và Đông Âu sang thị trường phương Tây và Châu Á Thị trường xuất khẩu hàng dệt hiện nay của Việt Nam bao gồm thị trường có quota và phi quota Thị trường Eu là thị trường xuất khẩu có quota Dệt Việt Nam bắt đầu xâm nhập thị trường này từ năm 1993 khi Hiệp định buôn bán hàng dệt may giữa Việt Nam và EU được ký kết và có hiệu lực Cho đến nay kim ngạch xuất khẩu hàng dệt vào thị trường

EU tăng lên hàng năm Canada và NaUy cũng là thị trường có quota, nhưng

Trang 10

giá trị xuất khẩu sang hai thị trường này rất không đáng kể Thị trường xuất khẩu phi quota được mở rộng mạnh trong những năm gần đây Nhật Bản là thị trường phi quota lớn nhất về mặt hàng dệt Hồng Công, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc là những nước nhập khẩu khá nhiều hàng dệt của Việt Nam Hiện nay Việt Nam vẫn tiếp tục xuất khẩu hàng dệt sang Nga và các nước Đông Âu, nhưng chủ yếu dưới hình thức đổi hàng và thanh toán nợ.

BẢNG 11: TRỊ GIÁ XUẤT KHẨU CỦA NGÀNH DỆT - MAY VIỆT NAM

Đơn vị: (Triệu USD)

Việt Nam là một nước nhập khẩu ròng lớn về hàng dệt Tỷ lệ thương mại ròng

âm ở mức cao trong suốt 10 năm vừa qua (UNIDO and DSI/MPI, 1998) Trong khi đó các nước Trung Quốc, Inđônêxia, Thái Lan đều có một ngành công nghiệp dệt xuất khẩu khá lớn Điều này cho thấy là trong một môi trường chính sách thích hợp, Việt Nam có thể đi theo hướng của các nước kể trên.

Trang 11

Việt Nam thực thi chính sách bảo hộ đối với một số mặt hàng dệt sản xuất được trong nước Thuế xuất nhập khẩu đối với các sản phẩm này tương đối cao (40-50%) Tuy vậy ngành dệt Việt Nam vẫn chịu sự cạnh tranh rất mạnh

từ phía hàng ngoại Hàng năm nhập khẩu các mặt hàng dệt (kể cả nguyên liệu cho ngành dệt và sản phẩm dệt) chiếm 6-7% tổng giá trị nhập khẩu của cả nước Nhập khẩu hàng dệt cho mục đích tiêu dùng chiếm phần lớn số hàng dệt nhập (4-5% tổng giá trị nhập khẩu của cả nước).

Tóm lại, từ những trình bày trên cho thấy là ngành dệt Việt Nam trong những năm 90 là ngành công nghiệp thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu, đã phấn đấu vươn lên xuất khẩu Và ngành đã thu được những thành công nhất định Nhưng nhìn chung khả năng cạnh tranh còn yếu, chưa đủ mạnh để chiếm lĩnh thị trường trong nước và tăng cường xuất khẩu, tốc độ tăng trưởng của ngành không cao và không ổn định Thực trạng này của ngành là do nhiều yếu

tố tác động Có những yếu tố là khách quan, nhưng cũng có những yếu tố chủ quan.

II. THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA

Thị trường trong nước số cung ngày càng vượt quá số cầu cạnh tranh ngày càng gay gắt:

Số cung: thêm nhiều DN ra nhập thị trường, năng lực sản xuất của các DN ngày càng ra tăng- sự hiện diện của các DN có vốn nước ngoài – hàng ngoại nhập đặc biệt là hàng nhập lậu không ngừng tấn công vào thị trường nội địa.

Số cầu: gia tăng chậm hơn so với số cung – sức mua có khả năng thanh toán còn hạn chế – nhu cầu ngày càng đa dạng và ngày càng trở nên khó tính Nền kinh tế nước ta đang ở trong giai đoạn cuối cùng của thế kỷ XX, sau nhiều năm hoạt động mức tăng trưởng cao thì hiện nay tốc độ tăng trưởng đã chậm lại và giảm sút 6 tháng đầu năm 1999 GDP tăng 4,3% mức thấp nhất so cùng kỳ 3 năm trước, cụ thể:

BIỂU 12: MỨC TĂNG TRƯỞNG GDP

+9,1

+13,7 +2,0

+6,7

+12,6 +2,0

+4,3 +10,4

Trang 12

Chỉ số giá tám tháng đầu năm tăng 0,8% so tháng 12/98 là mức thấp nhất so cùng kỳ 5 năm trở lại đây Chỉ số giá giảm liên tục trong 6 tháng liền từ tháng 3dến tháng 8.

BIỂU 13: CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 8 THÁNG ĐẦU NĂM 1999

Tháng T3 T4 T5 T6 T7 T8 Chỉ số giá giảm 0,7% 0,6% 0,4% 0,3% 0,4% 0,5% Tổng cầu xã hội giảm sút, lượng lượng hàng tồn kho của một số ngành như sau (tính đến tháng 6 năm 1999)

BIỂU 14: LƯỢNG TỒN KHO TÍNH ĐẾN THÁNG 6/1999 Ngành Lượng tồn kho (triệu tấn) Trị giá(tỷ đồng)

200 1700 160 220 150 100

Tỷ lệ lao động không có việc làm tăng lên Mỗi năm nước ta có từ 1,8 đến 2,0tr người đến tuổi lao động cần phải được thu hút vào khu vực sản xuất Tuy nhiên do kinh tế 6 tháng đầu năm gặp khó khăn nên số người đến tuổi lao động không được thu hút vào khu vực sản xuất, đồng thời có hiện tượng “chảy ngược “lao động từ một số ngành sản xuất gặp khó khăn ra thị trường lao động tự do, làm tăng áp lực lao động dư thừa, tạo sức ép giảm giá trị ngày công.

Tóm lại, giá cả thị trường liên tục giảm xảy ra đồng thời với sự suy giảm tốc độ tăng trưởng GDP tăng tỷ lệ lao động khong có việc làm là những đặc trưng cơ bản tạo ra hiện tượng thiểu phát của nền kinh tế trong 7 tháng đầu năm 1999.

Tuy nhiên cho đến nay các giải pháp kích cầu của nhà nước đã bắt đầu phát huy tác dụng, chỉ số giá tiêu dùng bắt đầu nhích lên.Tháng 11 giá tiêu dùng tăng 0,4% so với tháng10.Trong 11 nhóm hàng hoá dịch vụ có 5 nhóm

Trang 13

gia tăng (lương thực,thực phẩm,thiết bị đồ dùng gia đình văn hoá thể thao giải trí ) đáng chú ý là lương thực tăng cao nhất 1,7%.theo dự đoán tháng 12 chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng tăng thậm chí còn cao hơn tháng 11.

* Ngành dệt.

Từ những phân tích về thực trạng của ngành dệt và những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của ngành, chúng ta thấy rằng khả năng cạnh tranh của ngành còn khá khiêm tốn, ngành dệt mới chỉ đang ở giai đoạn đầu của quá trình thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu, phấn đấu vươn lên xuất khẩu Trong chiến lược phát triển các ngành thì ngành dệt may thuộc nhóm ngành có tính cạnh tranh cao và được ưu tiễn hỗ trợ phát triển từ phía Nhà nước Nhà nước đã thi hành một số chính sách hỗ trợ cho ngành Nhưng từ thực tế ngành dệt đang gặp rất nhiều khó khăn và có xu hướng giảm sút, nên một câu hỏi được đặt ra ở đây là ngành dệt có khả năng phát triển thực sự hay không trong điều kiện môi trường chính sách phù hợp hơn Câu trả lời là có, bởi vì so với may ngành dệt có sức cạnh tranh kém hơn, xong dệt vẫn là ngành sử dụng khá nhiều lao động so với nhiều ngành khác và sự yếu kém của ngành dệt hôm nay hoàn toàn có thể được cải thiện bằng những thay đổi về điều kiện sản xuất, năng lực quản lý, về thể chế, Phần này xin tập trung vào phân tích một

số chính sách của Nhà nước có tác động tới ngành dệt, đó là:

- Chính sách tài chính và đầu tư:

Nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước cho các doanh nghiệp của ngành dệt với lãi suất ưu đãi và có sự bảo lãnh của Chính phủ Trên thực tế chỉ các doanh nghiệp dệt quốc doanh được hưởng sự

ưu đãi này Ví dụ, nếu như doanh nghiệp nào được hưởng chính sách ưu tiên đầu tư của Nhà nước, doanh nghiệp đó chỉ phải chịu lãi suất là 0,3%/tháng, thấp hơn nhiều so với vốn vay đầu tư thông thường khác là 0,7%/tháng (theo kết quả điều tra các doanh nghiệp dệt do Viện kinh tế tiến hành năm 1998- 1999) Tuy nhiên sự hỗ trợ này của Nhà nước rất không đáng kể Kết quả điều tra kể trên cho thấy là chỉ có 6 trong số 24 doanh nghiệp dệt quốc doanh được hưởng chính sách này Và trong số đó thì 3 doanh nghiệp được hỗ trợ 80-100% vốn đầu tư, còn 3 doanh nghiệp chỉ được hỗ trợ không quá 50% vốn đầu tư Nguồn vốn cho vay đầu tư lớn nhất chỉ khoảng 50 triệu đồng.

Doanh nghiệp dệt tư nhân rất khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn tài chính cho cả vốn đầu tư và vốn lưu động Thứ nhất, các doanh nghiệp dệt tư

Trang 14

nhân thường là mới thành lập, có quy mô nhỏ Các ngân hàng Nhà nước rất ngại cho doanh nghiệp tư nhân vay vì các doanh nghiệp này không có sự bảo lãnh và không có độ tin cậy (kinh doanh tư nhân ở Việt Nam vẫn chưa gây được lòng tin trong dân chúng) Thứ hai, các doanh nghiệp tư nhân thường không đáp ứng được yêu cầu thế chấp theo thủ tục cho vay của ngân hàng Rõ ràng là khu vực dệt tư nhân phát triển mà không có sự giúp đỡ từ khu vực tài chính chính thức Chi phí vay vốn để hoạt động từ các nguồn tài chính không chính thức cao hơn khá nhiều là từ các nguồn tài chính chính thức Điều này làm tổn hại đến khu vực dệt tư nhân nói riêng và đến khả năng cạnh tranh của ngành nói chung.

Mặc dù các doanh nghiệp dệt quốc doanh có thuận lợi hơn trong việc vay vốn từ khu vực tài chính chính thức, xong trên thực tế không hoàn toàn như vậy Theo kết quả điều tra các doanh nghiệp dệt may của Viện kinh tế học thì mức lãi suất trung bình cho vốn vay lưu động mà các doanh nghiệp quốc doanh phải trả cao hơn là mức lãi suất trần do Ngân hàng Nhà nước ấn định Điều đó cho thấy là cả các doanh nghiệp quốc doanh đôi khi cũng phải đi vay

từ các nguồn tài chính không chính thức.

BẢNG 15: MỨC LÃI SUẤT TRẦN CHO VỐN LƯU ĐỘNG

- Chính sách thương mại:

Ngày đăng: 18/10/2013, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 9: NHỮNG CHỈ TIÊU CƠ BẢN CỦA NGÀNH DỆT - THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CHO CNNT Ở NƯỚC TA
BẢNG 9 NHỮNG CHỈ TIÊU CƠ BẢN CỦA NGÀNH DỆT (Trang 7)
BẢNG 11: TRỊ GIÁ XUẤT KHẨU CỦA NGÀNH DỆT - MAY VIỆT NAM - THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CHO CNNT Ở NƯỚC TA
BẢNG 11 TRỊ GIÁ XUẤT KHẨU CỦA NGÀNH DỆT - MAY VIỆT NAM (Trang 10)
BIỂU 16: BẢNG ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG MỘT SỐ NƯỚC. - THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CHO CNNT Ở NƯỚC TA
16 BẢNG ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG MỘT SỐ NƯỚC (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w