Bên cạnh đó, công tác quản lý rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất cần phải được tăng cường để đáp ứng được theo các chuẩn mực, thông lệ quốc tế… Thực hiện chủ trương tái cơ cấu hoạt động
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp HCM
TRIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HCM – Năm 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp HCM
-
Đồn Trọng Tín
HỒN THIỆN
CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TẬP TRUNG
TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – Ngân hàng Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN HUY HỒNG
TP HCM – Năm 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu, phân tích và thực hiện của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng
Tp Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 09 năm 2011
Học viên
Đoàn Trọng Tín
Trang 4MỤC LỤC Trang
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ, hình vẽ vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Vốn huy động và điều chuyển vốn nội bộ 5
1.1.1 Vốn huy động của ngân hàng thương mại 5
1.1.1.1 Khái niệm 5
1.1.1.2 Tầm quan trọng của vốn huy động 6
1.1.1.3 Các hình thức huy động vốn của NHTM 7
1.1.2 Điều chuyển vốn nội bộ 10
1.1.2.1 Định nghĩa 10
1.1.2.2 Sự cần thiết phải tiến hành điều chuyển vốn nội bộ 10
1.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn điều chuyển nội bộ 11
1.2 Các cơ chế quản lý vốn của NHTM 12
1.2.1 Khái niệm cơ chế quản lý vốn 12
1.2.2 Cơ chế quản lý vốn phân tán 12
1.2.2.1 Khái niệm 12
1.2.2.2 Những tồn tại của Cơ chế quản lý vốn phân tán 13
1.2.3 Cơ chế quản lý vốn tập trung 13
1.2.3.1 Khái niệm 13
1.2.3.2 Mục đích thực hiện Cơ chế quản lý vốn tập trung 14
1.2.3.3 Các nguyên tắc thực hiện Cơ chế quản lý vốn tập trung 14
1.2.3.4 Ưu và nhược điểm của Cơ chế quản lý vốn tập trung 15
1.3 Bài học kinh nghiệm cho BIDV khi chuyển sang áp dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
Trang 5ii
CHƯƠNG 2 - TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TẬP
TRUNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 24
2.1 Giới thiệu khái quát về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam 24
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của BIDV 24
2.1.2 Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của BIDV 25
2.2 Nội dung Cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV 27
2.2.1 Nội dung cơ chế quản lý vốn phân tán được áp dụng trước đây tại BIDV 27
2.2.1.1 Nguyên tắc thực hiện của Cơ chế quản lý vốn phân tán 27
2.2.1.2 Những tồn tại của Cơ chế quản lý vốn phân tán 28
2.2.2 Nội dung cơ bản của Cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV 29
2.2.2.1 Xây dựng kế hoạch cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn 29
2.2.2.2 Quản lý rủi ro 29
2.2.2.3 Định giá chuyển vốn nội bộ 30
2.3 Tình hình thực hiện Cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV 31
2.3.1 Quá trình triển khai thực hiện Cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV 31
2.3.1.1 Ban hành văn bản triển khai thực hiện 31
2.3.1.2 Trách nhiệm thực hiện giữa Hội sở chính và chi nhánh 32
2.3.1.3 Xây dựng Chương trình phần mềm FTP 32
2.3.1.4 Tập trung rủi ro về Hội sở chính 35
2.3.2 Định giá chuyển vốn nội bộ 37
2.3.2.1 Giới thiệu về định giá chuyển vốn nội bộ 37
2.3.2.2 Nội dung luân chuyển vốn giữa các chi nhánh 38
2.3.2.3 Công thức xác định giá chuyển vốn 39
2.3.2.4 Các cơ chế hỗ trợ 40
2.3.2.5 Định giá cho các giao dịch mua bán vốn 41
2.3.2.6 Điều chỉnh chi phí/thu nhập mua bán vốn 45
2.3.2.7 Quy đổi chi phí, thu nhập mua bán vốn 48
2.3.2.8 Kết quả chi phí/thu nhập mua bán vốn 48
2.3.2.9 Hiệu quả hoạt động của đơn vị kinh doanh 49
2.3.2.10 Công cụ điều hành của Hội sở chính 52
Trang 62.4 Đánh giá chung về những kết quả đạt được và những tồn tại trong việc thực
hiện Cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV trong thời gian qua 52
2.4.1 Những kết quả đạt được khi triển khai thực hiện Cơ chế quản lý vốn tập trung 53 2.4.1.1 Một số kết quả đạt được 53
2.4.1.2 Đánh giá chung về những kết quả đạt được 56
2.4.2 Những tồn tại cần hoàn thiện trong thời gian tới 63
2.4.2.1.Cân bằng giữa các mục đích trong định giá FTP 64
2.4.2.2 Mục tiêu cơ cấu lại bảng tổng kết tài sản gặp khó khăn do biến động của thị trường tài chính tiền tệ 64
2.4.2.3 Việc quyết định lãi suất tại chi nhánh để thực hiện chính sách khách hàng 65
2.4.2.4 Các cơ chế hỗ trợ chỉ khắc phục tạm thời nhược điểm của Cơ chế FTP trước biến động thị trường 65
2.4.2.5 Chưa áp dụng cơ chế giá linh hoạt cho từng địa bàn, đặc biệt là những địa bàn có tính cạnh tranh cao trong việc huy động nguồn vốn 66
2.4.2.6 Ảnh hưởng của yếu tố chính sách 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3 - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TẬP TRUNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 69
3.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam 69
3.2 Giải pháp hoàn thiện Cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV 70
3.2.1 Đối với Hội sở chính 70
3.2.1.1 Xây dựng định hướng, cơ chế hoạt động và tổ chức thực hiện 70
3.2.1.2 Chịu trách nhiệm tổ chức quản lý rủi ro trong toàn hệ thống BIDV 71
3.2.1.3 Áp dụng giá mua-bán vốn FTP linh hoạt cho từng địa bàn, đảm bảo chi nhánh vừa hoạt động hiệu quả song vẫn đảm bảo tính cạnh tranh 71
3.2.1.4 Thực hiện FTP luỹ tiến để phát huy thế mạnh của từng chi nhánh 72
3.2.1.5 Điều hành FTP theo hướng khuyến khích huy động vốn 73
Trang 7iv
3.2.1.6 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động theo từng
bộ phận kinh doanh 73
3.2.1.7 Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế hỗ trợ 75
3.2.1.8 Về mục tiêu quản lý 76
3.2.1.9 Trách nhiệm phối hợp với Trung tâm vốn 76
3.2.2 Đối với Chi nhánh/đơn vị trực thuộc 79
3.2.2.1 Đào tạo nguồn nhân lực là cán bộ làm công tác nguồn vốn tại các chi nhánh 79
3.2.2.2 Tổ chức triển khai hoạt động kinh doanh tại chi nhánh theo các chỉ tiêu, giới hạn được giao 79
3.2.2.3 Nhận và xử lý các thông tin phản hồi từ thị trường; báo cáo đề xuất với Hội sở chính kịp thời 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80
KẾT LUẬN 81
PHỤ LỤC 01-CƠ CHẾ ĐỘNG LỰC HUY ĐỘNG VỐN NĂM 2010 82
PHỤ LỤC 02-BẢNG KỲ HẠN FTP 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
*
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ALCO ( Asset/Liability Management Conmittee): Hội đồng quản lý tài sản Nợ - Có BIDV (Bank for Investment and Development of Vietnam): Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
AGRI (Vietnam bank of Agriculture an Rual Development, Agribank): Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt nam
ACB (Asia commercial Bank): Ngân hàng Thương mại Cổ phần ÁChâu
CAR (Capital Adequacy Ratio): Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
Cơ chế FTP: Cơ chế định giá chuyển vốn nội bộ FTP (Fund Transfer Pricing)
IFRS: International Financial Reporting Standards-Chuẩn mực báo cáo tài chính Quốc tế FTP (Fund Transfer Pricing): Giá chuyển vốn nội bộ
FTP mua/bán vốn: là lãi suất do Trung tâm vốn quy định áp dụng đối với việc "mua/bán”
vốn giữa Trung tâm vốn với chi nhánh (đơn vị kinh doanh)
GL (General Ledger): Phân hệ Kế toán tổng hợp
HSC: Hội sở chính
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
NIM (Net Interest Margin): Hệ số thu nhập lãi ròng cận biên
OLAP ( On line Analytical Processing): Báo cáo phân tích trực tuyến
STB (Sacombank): Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương Tín
TCB (Techcombank): Ngân hàng Thương mại Cổ phần kỹ thương Việt nam
TSCĐ: Tài sản cố định
TSC: Tài sản có
TSN: Tài sản nợ
TA2: Dự án Hiện đại hoá ngân hàng triển khai tại BIDV –Giai đoạn 2007-2010
VCB (Joint Stock commercial Bank for foreign Trade of Vietnam, Vietcombank): Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt nam
VTB (Vietnam Bank for Industry and Trade, Vietinbank): Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt nam
Trang 9vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng so sánh sự khác biệt giữa 2 Cơ chế quản lý vốn
Bảng 1.2 Một số nội dung chủ yếu của Cơ chế FTP đã được áp dụng tại hai ngân hàng DBS và OCBC
Bảng 2.1 Minh họa phần thu nhập của chi nhánh do chênh lệch lãi suất
Bảng 2.2 Tổng hợp chênh lệch mua-bán vốn của chi nhánh
Bảng 2.3 Quy mô huy động vốn của một số NHTM Việt nam (2005-2010)
Bảng 2.4 Khả năng thanh khoản của BIDV
Bảng 2.5 Chỉ tiêu về khả năng sinh lời, thu nhập, khả năng bù đắp rủi ro của BIDV (2005-2010)
Bảng 2.6 Bảng số liệu huy động vốn dân cư của BIDV giai đoạn (2007-2010) Bảng 2.7 Vai trò của HSC trong việc điều hành Cơ chế FTP trước biến động của thị trường tài chính – tiền tệ (2007-2010)
Bảng 2.8 Bảng kết quả huy động vốn phân theo địa bàn của BIDV giai đoạn (2007-2010)
Bảng 2.9 Bảng thu nhập, chi phí huy động vốn của BIDV giai đoạn (2007-2010) Bảng 2.10 Cơ cấu kỳ hạn huy động vốn của BIDV (2007-2010)
Bảng 2.11 So sánh lãi suất huy động giữa BIDV và một số NHTM trên địa bàn
TP HCM thời điểm 31/12/2010
Bảng 3.1 Gợi ý bảng giá FTP điều chỉnh cho các địa bàn có tính cạnh tranh cao trong lĩnh vực huy động vốn
Bảng 3.2 Gợi ý mức FTP luỹ tiến (VND, USD)
Bảng 3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động
*
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Hình 2.6 Tập trung rủi ro lãi suất về HSC
Hình 2.7 Luân chuyển vốn giữa các chi nhánh Hình 2.8 Các yếu tố quyết định trong việc xác định giá chuyển vốn Hình 2.9 Phân bổ lợi nhuận giữa chi nhánh và HSC
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước, được thành lập từ ngày 26/04/1957 với tên gọi ban đầu là Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam
Kể từ khi thành lập cho đến nay, công tác điều hành vốn nội bộ luôn được Ban lãnh đạo BIDV đặc biệt quan tâm hàng đầu Giai đoạn trước năm 2007, với việc áp dụng Cơ chế quản lý vốn phân tán, công tác điều hành vốn nội bộ của BIDV đã đạt được những kết quả nhất định BIDV đã huy động được nguồn vốn tích luỹ trong toàn xã hội để cho vay, tài trợ các dự án, các công trình trọng điểm quốc gia và đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì Cơ chế quản lý vốn phân tán qua một thời gian dài áp dụng đã bộc lộ những hạn chế nhất định, không còn phù hợp với xu thế phát triển của hoạt động ngân hàng hiện đại Cùng với sự mở cửa của thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam dẫn đến cạnh tranh gay gắt về vốn và lợi nhuận Thêm vào đó, áp lực lớn về mục tiêu tăng trưởng, hiệu quả hoạt động và hội nhập thị trường tài chính quốc tế đặt ra yêu cầu cho BIDV cần phải tính toán chính xác về giá thành tất cả các luồng tiền đi và đến ngân hàng Trên cơ sở đó, tính toán, đánh giá chính xác thu nhập và chi phí của từng đơn vị kinh doanh, từng mảng nghiệp vụ, từng khách hàng Bên cạnh đó, công tác quản lý rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất cần phải được tăng cường để đáp ứng được theo các chuẩn mực, thông lệ quốc tế…
Thực hiện chủ trương tái cơ cấu hoạt động ngân hàng theo mô hình ngân hàng hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội nhập phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời chuẩn bị từng bước cho kế hoạch hình thành các tập đoàn tài chính quy mô lớn trong tương lai, một trong những vấn đề trọng tâm của BIDV là công tác điều hành vốn nội bộ trong ngân hàng trở thành vấn đề cấp thiết Nhận thức được vấn đề này, BIDV đã tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra cơ chế quản lý vốn phù hợp với xu thế phát triển của một ngân hàng hiện đại Qua nghiên cứu, BIDV thấy rằng cần phải áp dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung theo thông lệ quốc tế nhằm một mặt tạo động lực thúc đẩy các chi nhánh tăng trưởng hoạt động kinh doanh một cách an toàn, hiệu quả, mặt khác, trang bị cho Hội sở chính công cụ mạnh để quản lý, điều hành về vốn, đặc biệt là quản lý về rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản
Trang 12Đến ngày 13/01/2007, BIDV đã chính thức triển khai Cơ chế quản lý vốn tập trung
trong toàn hệ thống Với Cơ chế quản lý vốn tập trung đã chuyển cơ chế quản lý vốn nội
bộ của BIDV từ cơ chế “vay - gửi” sang cơ chế “mua - bán” vốn Qua đó áp dụng giá “mua
- bán” vốn thống nhất cho tất cả các chi nhánh trong toàn hệ thống BIDV, làm cơ sở xác định thu nhập và chi phí chính xác cho từng chi nhánh và quan trọng là quản lý được các rủi ro trong công tác quản lý vốn như rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản
Trong điều kiện thị trường ổn định, Cơ chế quản lý vốn tập trung phát huy rất tốt thế mạnh của mình Tuy nhiên, kể từ khi chính thức áp dụng cho đến nay, trước những biến của thị trường, Cơ chế quản lý vốn tập trung đã bộc lộ những hạn chế nhất định, cần phải
có những giải pháp bổ sung, điều chỉnh để hoàn thiện
Hiện nay, không chỉ có BIDV là ngân hàng duy nhất áp dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung, nhưng là NHTM Nhà nước đầu tiên áp dụng Cơ chế này và có thực tiễn chuyển đổi sang cơ chế quản lý vốn mới tại BIDV đã đạt được những kết quả song cũng tồn tại những
hạn chế nhất định, vì thế, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu là “Hoàn thiện Cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV” làm đề tài nghiên cứu này
Mục tiêu nghiên cứu:
Hệ thống hoá cơ sở lý luận về vốn huy động và điều chuyển vốn nội bộ, các cơ chế quản lý vốn của các ngân hàng thương mại, so sánh những ưu và nhược điểm của từng cơ chế quản lý vốn để làm cơ sở nghiên cứu cho quá trình triển khai và ứng dụng Cơ chế quản
lý vốn tập trung tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Vịêt Nam Từ đó, rút ra những thành tựu và tồn tại qua thực tiễn ứng dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung, đồng thời, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện Cơ chế này tại BIDV
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp mô tả: Trình bày tình hình thực hiện Cơ chế quản lý vốn tập trung
tại BIDV Trên cơ sở đó, so sánh hiệu quả vận dụng hai cơ chế quản lý vốn cũ và mới
Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp toán học xác định cách tính toán
thu nhập, chi phí và các tiêu chí khác khi áp dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung
Phương pháp so sánh: Để đánh giá hiệu quả của công tác quản trị nguồn vốn của
BIDV trước và sau khi áp dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung, trên cơ sở số liệu thu thập
Trang 13được, tiến hành so sánh kết quả BIDV đạt được trước và sau khi triển khai Cơ chế quản lý vốn tập trung ; so sánh với nguồn vốn của các các ngân hàng thương mại khác để đánh giá hiệu quả Cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV
Số liệu trong luận văn được thu thập và xử lý từ 2 nguồn: dữ liệu nội bộ trong hệ thống BIDV và dữ liệu thu thập được từ các báo cáo thường niên của các NHTM
Đối tượng nghiên cứu:
Cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV (hay còn gọi là cơ chế FTP)
Phạm vi nghiên cứu:
Trong thành phần nguồn vốn của NHTM, vốn huy động giữ vai trò rất quan trọng Việc điều hành vốn nội bộ của Hội sở chính thông qua trung tâm vốn để kịp thời đáp ứng các nhu cầu sử dụng vốn để cho vay, đầu tư của các chi nhánh là yêu cầu cấp bách hiện nay Do đó, bài nghiên cứu này chỉ giới hạn trong phạm vi vốn huy động của các NHTM, các cơ chế quản lý vốn mà các NHTM đang áp dụng, tình hình thực hiện Cơ chế quản lý vốn tập trung để từ đó đánh giá những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế của Cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV
Giai đoạn nghiên cứu: Từ 2005 đến 2010, trong đó, trọng tâm phân tích giai đoạn 2007-2010 vì đây là giai đoạn BIDV chính thức áp dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
Một là, hệ thống hoá lý luận về vốn huy động và điều chuyển vốn nội bộ của các
NHTM; phân tích, so sánh các cơ chế quản lý vốn của các NHTM đang áp dụng để từ đó thấy được tính ưu việt, vượt trội nhất của Cơ chế quản lý vốn tập trung
Hai là, phân tích tình hình thực hiện Cơ chế Quản lý tập trung tại BIDV, qua đó,
đánh giá những kết quả đạt được và những tồn tại để từ đó, đề xuất những giải pháp hoàn thiện Cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV
Nội dung, kết cấu của Luận văn: gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn huy động và điều chuyển vốn nội bộ của các
NHTM, các cơ chế quản lý vốn và Cơ chế quản lý vốn tập trung tại NHTM Chương này đựơc trình bày trên cơ sở lý thuyết có liên hệ thực tiễn ứng dụng, triển khai tại các NHTM
ở Việt Nam
Trang 14 Chương 2: Phân tích tình hình thực hiện Cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV,
từ đó, đánh giá chung về những kết qua đạt được và những tồn tại trong việc thực hiện Cơ
chế quản lý vốn này tại BIDV
Chương 3: Trên cơ sở định hướng phát triển của BIDV và quan điểm hoàn thiện
Cơ chế quản lý vốn tập trung, nội dung chương 3 đề xuất các giải pháp hoàn thiện Cơ chế
quản lý vốn tập trung tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
*
Trang 15CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Vốn huy động và điều chuyển vốn nội bộ:
1.1.1 Vốn huy động của ngân hàng thương mại:
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có vốn NHTM được coi là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, do vậy, việc tiến hành các biện pháp nghiệp vụ nhằm tạo lập nguồn vốn để tổ chức hoạt động kinh doanh là vấn đề vô cùng quan trọng đối với mỗi NHTM Thông qua các nghiệp vụ đa dạng và phong phú trong lĩnh vực nguồn vốn, mỗi NHTM đã hình thành cho mình một khối lượng vốn cần thiết, đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh Thành phần nguồn vốn của NHTM bao gồm: Vốn điều lệ và các quỹ; Vốn huy động; Vốn đi vay; Vốn khác Trong thành phần nguồn vốn nói trên, vốn huy động giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM
1.1.1.1 Khái niệm:
Vốn huy động là vốn thuộc sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế, được ngân hàng
tạm thời quản lý và sử dụng để kinh doanh trong một thời gian xác định sau đó sẽ hoàn trả lại cho chủ sở hữu
- Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn của NHTM, là nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của NHTM Tuy nhiên, khi đến hạn ngân hàng phải hoàn trả cho chủ sở hữu cả vốn gốc và lãi nên vốn huy động luôn biến động Khi sử dụng nguồn vốn này NHTM phải thiết lập dự trữ để đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản
- NHTM huy động vốn trong nền kinh tế bằng các nghiệp vụ: nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn; nhận tiền gửi tiết kiệm; phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại công cụ nợ khác
Nguồn vốn huy động đóng vai trò quan trọng nhưng cũng không kém phần rủi ro cho NHTM Nếu NHTM không có chiến lược quản trị thanh khoản tốt sẽ dẫn đến tình trạng thừa và thiếu hụt thanh khoản vượt mức giới hạn cho phép, hoặc nếu như khách hàng rút vốn hàng loạt tại cùng một thời điểm, dẫn đến nguy cơ gây ra sụpo đỗ và phá sản của hệ thống ngân hàng
Trang 161.1.1.2 Tầm quan trọng của vốn huy động:
Đối với nền kinh tế:
- NHTM là kênh cung ứng vốn quan trọng hàng đầu cho của nền kinh tế Thông qua huy động vốn của ngân hàng, các khoản tiền nhàn rỗi, lẻ tẻ của đối tượng trong nền kinh tế tập trung thành một khối lượng lớn, sử dụng vốn cho vay đầu tư sinh lời đáp ứng cho các yêu cầu của nền kinh tế - xã hội Hầu hết các nước trên thế giới nguồn vốn huy động của các ngân hàng luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn NHTM đã góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển
- Với nghiệp vụ huy động vốn, NHTM có điều kiện tiếp cận và thu hút một khối lượng khách hàng rất lớn với NHTM, có tác dụng kích thích khơi dậy các tiềm năng về vốn huy động đến mức cao nhất các nguồn vốn trong nền kinh tế Bên cạnh đó việc quản lý thu chi tiền cho khách hàng, NHTM góp phần kiểm soát lạm phát và các hoạt động của nền kinh tế cũng như diễn biến xu hướng biến động trong nền kinh tế để Nhà nước kịp thời đưa
tệ, thanh toán… Tạo ra nguồn lợi nhuận đảm bảo cho sự phát triển vững mạnh cho NHTM
- Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu (bao gồm của pháp nhân và thể nhân) gửi vào ngân hàng, mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sủ dụng Quy mô huy động vốn càng lớn thì khả năng cho vay càng cao
- Huy động vốn là cơ sở để ngân hàng thu hút khách hàng đến giao dịch để góp phần nâng cao uy tín và thương hiệu của ngân hàng
Trang 17 Đối với khách hàng:
- Với nghiệp vụ huy động vốn giúp cho khách hàng thuận lợi thực hiện tích luỹ để dành các khoản thu nhập nhàn rỗi chưa sử dụng cho mục tiêu hay nhu cầu tài chính đã dự
định trong tương lai
- Với những hình thức huy động vốn phong phú của ngân hàng, khách hàng dể dàng lựa chọ một hình thức huy động phù hợp theo yêu cầu về lãi suất, thời hạn, cách tính lãi và thanh toán lãi, mục đích của mình… Bên cạnh đó, từ những hình thức này đương nhiên quy định một hợp đồng kinh tế được ký kết hay thoả ước giữa ngân hàng và khách hàng, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho khách hàng được hưởng lãi, và đảm bảo an toàn về tài sản Có thể nói đây là hình thức đầu tư an toàn, không thể thiếu được trong doanh mục đầu tư của bất kỳ nhà đầu tư trên thị truờng tài chính Lãi suất ngân hàng được coi là thu nhập của các hình thức đầu tư khác trên thị trường trước khi nhà đầu tư quyết định lựa chọn hình thức đầu tư hợp lý
- Đối với khách hàng, việc nắm giữ quyền sở hữu các chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm,
kỳ phiếu, trái phiếu, cũng như những cứng từ có giá khác… Ngoài việc được quyền hưởng lãi, họ còn có thể dể dàng mua bán chuyển nhượng các chứng từ có giá trên thị trường, tạo nên tính thanh khoản cao cho người chủ sở hữu nó Nhờ vậy khách hàng có thể dể dàng chuyể đổi các tài sản này thành tiền mặt bất cứ lúc nào, bằng cách cầm cố, chiết khấu cho NHTM hoặc bán lại trên thị trường tiền tệ
- Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng có thể tiếp cận những tiện ích của các dịch vụ ngân hàng, bảo đản đáp ứng ngày càng phong phú,
đa dạng nhu cầu của khách hàng khi đến giao dịch với NHTM
1.1.1.3 Các hình thức huy động vốn của NHTM:
Vốn huy động tồn tại duới nhiều hình thức, hay nói cách khác là ngân hàng huy động
vốn từ nhiều nguồn khác nhau, phổ biến nhất là các nguồn sau đây:
Tiền gửi không kỳ hạn:
Tiền gửi không kỳ hạn còn được gọi là tiền gửi giao dịch, tiền gửi thanh toán Hình thức tiền gửi này, xuất hiện rất lâu và gắn liền với sự xuất hiện của NHTM thời sơ khai, xuất phát từ nhu cầu thanh toán, chuyển tiền và phát triển cho đến ngày nay Đây là nguồn vốn tiềm năng có quy mô lớn mà chi phí huy động thấp nhất, gắn liền và liên quan đến mọi
Trang 18hoạt động giao dịch của ngân hàng Để sử dụng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng, các khách hàng phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng và
có số dư nhất định để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình Như vậy, xét về bản chất, khi mở và gửi tiền vào tài khoản này, mục tiêu của khách hàng không phải là tìm kiếm các khoản lãi từ số dư tài khoản
Do chủ tài khoản có quyền chi tiêu bất kỳ khi nào trong thời gian làm việc của ngân hàng trong phạm vi số dư có trên tài khoản của mình nên việc “tận dụng” số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng làm nguồn vốn cho ngân hàng là rất hạn chế Ngân hàng chỉ có thể sử dụng một tỷ lệ thấp trên số dư tài khoản của khách hàng làm nguồn vốn kinh doanh của mình Do vậy, lãi suất tiền gửi áp dụng đối với loại tài khoản rất thấp, hay nói cách khác, chi phí cho nguồn vốn huy động theo hình thức này là rất rẻ (thậm chí ở nhiều nuớc trên thế giới, số dư tài khoản loại này ngân hàng không trả lãi cho khách hàng) Ngoài ra, việc thanh toán qua tài khoản tiền gửi không kỳ hạn còn giúp tăng nguồn thu phí dịch vụ cho các NHTM, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động thanh toán của nền kinh tế
Tiền gửi có kỳ hạn:
Tiền gửi có kỳ hạn là hình thức tiền gửi huy động các khoản tiền để dành tạm thời
chưa sử dụng mà khi gửi vào khách hàng chỉ được rút ra ra sau một khoản thời gian nhất định Tiền gửi có kỳ hạn có đặc điểm như sau:
- Với hình thức gửi tiền này, khách hàng chỉ được rút tiền ra sau một kỳ hạn nhất định Đây là nguồn vốn tương đối ổn định, xác định kỳ hạn cụ thể nên có thể được sử dụng không chỉ để cấp tín dụng ngắn hạn mà còn được sử dụng để cấp tín dụng trung, dài hạn
- Tiền gửi có kỳ hạn có thể đuợc phân thành nhiều loại theo kỳ hạn ngày, tuần, tháng
- Tiền gửi có kỳ hạn thường có quy mô số dư trung bình lớn hơn so với các khoản tiền gửi tiết kiệm, tạo nguồn vốn tương đối lớn cho hoạt động ngân hàng Tuy nhiên, nguồn vốn này sẽ tạo sức ép cho ngân hàng nếu khách hàng muốn rút với số lượng lớn
Tiền gửi tiết kiệm:
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm,
được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi
tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi Tài khoản tiền gửi tiết kiệm không được sử dụng để phát hành séc và thực hiện các giao dịch thanh
Trang 19toán, trừ trường hợp chuyển khoản sang tài khoản tiền vay hoặc tài khoản khác của chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó
Nhìn chung, tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn tương đối ổn định, cho phép ngân hàng chủ động trong việc sử dụng vốn để cấp tín dụng, đầu tư Tuy nhiên, lãi suất áp dụng cho các khoản tiền gửi tiết kiệm thường cao hơn và quy mô số dư trung bình của những khoản tiền gửi này thường có giá trị không lớn Thông qua các hình thức tiền gửi tiết kiệm khác nhau, ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng Thông thường có 2 loại
kiệm, sau khi xuất trình các giấy tờ hợp lệ
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ được rút ra sau một kỳ hạn nhất định
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có thể được phân thành nhiều loại theo kỳ hạn ngày, tuần, tháng
- Khách hàng được rút tiền tiết kiệm trước hạn nếu có thỏa thuận với tổ chức nhận
tiền gửi tiết kiệm khi gửi tiền và được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi
tiết kiệm
Phát hành chứng từ có giá:
Chứng từ có giá là giấy chứng nhận do ngân hàng phát hành để huy động vốn, xác
nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một khoảng thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi
và các điều khoản cam kết khác giữa ngân hàng và khách hàng Căn cứ vào thời hạn, giấy
tờ có giá được chia thành hai loại:
- Chứng từ có giá ngắn hạn là giấy tờ có giá có thời hạn dưới một năm bao gồm kỳ
phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
- Chứng từ có giá dài hạn là giấy tờ có giá có thời hạn từ một năm trở lên, bao gồm
trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác
Trang 20Huy động vốn qua phát hành chứng từ có giá có thời hạn của NHTM được thực hiện tập trung theo từng đợt, phục vụ nhu cầu vốn theo mục tiêu của ngân hàng, ổn định hơn so với nguồn vốn huy động dưới các hình thức tiền gửi Tuy nhiên, hình thức huy động vốn này thường có lãi suất và chi phí phát hành cao
Tiền gửi thanh toán khác:
Ngoài những hình thức tiền gửi nêu trên hiện nay các NHTM cón có tiền tiền gửi ký quỹ L/C, tiền gửi đặt cọc, tiền gửi séc bảo chi… Đây là hình thức tiền gửi theo yêu cầu của khách hàng gắn liền với các nghiệp vụ khác của NHTM
1.1.2 Điều chuyển vốn nội bộ:
1.1.2.1 Định nghĩa:
- “Vốn điều chuyển nội bộ” là vốn huy động của từng chi nhánh được điều hoà trong
toàn hệ thống thông qua hoạt động của trung tâm vốn nhằm để bảo đảm nguồn vốn có cơ
cấu vốn ổn định, hợp lý, có hiệu quả
- “Điều chuyển vốn nội bộ” là công việc điều hoà (phân bổ) nguồn vốn từ chi nhánh
thừa vốn nhưng chưa có nhu cầu sử dụng sang chi nhánh thiếu vốn nhằm đáp ứng nhu cầu
sử dụng vốn để cho vay, đầu tư của các chi nhánh
1.1.2.2 Sự cần thiết phải tiến hành điều chuyển vốn nội bộ:
Trong hoạt động kinh doanh của mỗi hệ thống NHTM, tại mỗi thời điểm đều đồng thời có các chi nhánh thừa vốn và thiếu vốn trong một thời gian nhất định Khi đó, trung tâm vốn của hội sở chính đứng ra dàn xếp, phân bổ vốn cho cho các chi nhánh, từ chi nhánh thừa vốn nhưng chưa có nhu cầu sử dụng sang chi nhánh thiếu vốn và ngược lại Công tác điều hòa vốn rất quan trọng vì có những lợi ích sau: chủ động, quản lý được nguồn vốn trong toàn hệ thống; không gây lãng phí nguồn vốn do chi nhánh thừa vốn, thiếu vốn; lợi ích về kỳ hạn điều hoà vốn; lợi ích về tính thuận tiện; lợi ích về chi phí vay,
về thời gian xử lý…
Như vậy các trung tâm vốn đã giải bài toán điều hòa vốn toàn diện và có hiệu quả hơn Với các hoạt động đa dạng của mình, các trung tâm vốn giúp cho mỗi hệ thống NHTM khai thác nhiều nguồn vốn phục vụ cho hoạt động của toàn hệ thống và phát huy triệt để sức mạnh của các nguồn vốn đó thông qua việc quản lý tập trung thống nhất các
Trang 21nguồn vốn, điều hòa linh hoạt, có hiệu quả; phát huy được tối đa thế mạnh về các nguồn lực vật chất cũng như nguồn lực con người của từng chi nhánh trong toàn hệ thống… Tóm lại, công tác điều chuyển vốn nội bộ thật sự cần thiết trong hoạt động của mỗi hệ thống NHTM
1.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn điều chuyển nội bộ:
Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô:
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến vốn điều chuyển nội bộ trong các hệ thống NHTM Trước tiên phải kể đến là chính sách tài chính - tiền tệ của Nhà nước trong từng thời kỳ đều ảnh hưởng đến hoạt động điều hoà vốn của mỗi hệ thống NHTM Nếu là chính sách nới lỏng tiền lệ, điều hành linh hoạt thì công tác điều hòa vốn được thực hiện dễ dàng, thuận lợi và có hiệu quả và ngược lại
- Thực trạng nền kinh tế ảnh hưởng lớn đến hoạt động điều hòa vốn của của mỗi hệ
thống NHTM Khi nền kinh tế ở tình trạng suy giảm, nhiều doanh nghiệp thu hẹp quy mô đầu tư, tích luỹ thấp nên nguồn vốn huy động của từng chi nhánh bị giảm sút và hoạt động điều vốn của mỗi hệ thống NHTM gặp rất nhiều khó khăn Ngược lại khi nền kinh tế có chiều hướng tăng trưởng tốt thì nhu cầu mở rộng đầu tư của doanh nghiệp tăng lên, tích luỹ lớn, nguồn vốn huy động của từng chi nhánh tăng lên nên việc điều hòa vốn dễ dàng hơn
- Trình độ phát triển kinh tế cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động điều hòa vốn của
mỗi hệ thống NHTM Nền kinh tế cao với hành lang pháp lý chặt chẽ, đầy đủ, việc điều hòa vốn sẽ cho kết quả tốt hơn, toàn diện hơn
Các nhân tố thuộc môi trường vi mô:
- Tình hình tài chính của mỗi hệ thống NHTM - đây là một trong những yếu tố quyết
định đến thành công hay thất bại của việc điều hòa vốn
- Hiệu quả sử dụng vốn có tác động rất lớn đến hoạt động điều hòa vốn, với vai trò
thúc đẩy hoặc kìm hãm việc huy động vốn của mỗi hệ thống NHTM
- Lãi suất điều chuyển vốn nội bộ là nhân tố tác động mạnh mẽ đến việc điều hòa
vốn của mỗi hệ thống NHTM Vốn điều chuyển được từng chi nhánh huy động từ nhiều nguồn khác nhau và phải trả bằng những chi phí khác nhau Điều đó giúp các nhà quản trị nguồn vốn có thể giải các bài toán về điều hòa vốn một cách dễ dàng
Trang 22- Định hướng phát triển của mỗi hệ thống NHTM Nếu dự kiến trong tương lai toàn
hệ thống NHTM sẽ tập trung tăng trưởng tín dụng, mở rộng đầu tư dự án thì việc điều hòa vốn sẽ khẩn trương hơn để tìm kiếm nguồn vốn cho đầu tư phát triển và ngược lại…
1.2 Các cơ chế quản lý vốn của NHTM:
1.2.1 Khái niệm cơ chế quản lý vốn:
- “Cơ chế” là cách thức, theo đó một quá trình thực hiện Hiểu một cách cô đọng, “cơ
chế” là muốn đạt kết quả của một quá trình, một công việc nào đó, người ta lập ra một
hình thức tổ chức phù hợp, định ra phương cách thực hiện, vận hành quá trình, công việc
đó Trên thực tế, khái niệm “cơ chế” bao hàm nghĩa rộng hơn Đó là một hình thức tổ chức, kèm theo đó là chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cả bộ máy, của từng bộ phận và từng cá nhân trong bộ máy đó, để vận hành Tất nhiên, trong đó có cả vai trò điều
hành, quản lý, thực hiện, tiến tới đạt bằng được mục đích đề ra cho bộ máy đó
- “Cơ chế quản lý vốn” của NHTM có thể được hiểu là hệ thống cơ chế kế toán - quản
lý vốn điều chuyển nội bộ của hệ thống NHTM, thông qua công tác điều chuyển vốn nội
bộ, nhằm bảo đảm nguồn vốn của NHTM có cơ cấu vốn ổn định, hợp lý, có hiệu quả Hiện nay, các ngân hàng thương mại áp dụng chủ yếu hai cơ chế quản lý vốn: Cơ chế quản lý vốn phân tán và Cơ chế quản lý vốn tập trung
1.2.2 Cơ chế quản lý vốn phân tán:
- Hoạt động theo cơ chế “vay - gửi” với lãi suất áp dụng là lãi suất điều chuyển vốn nội bộ Các chi nhánh chỉ chuyển/nhận vốn phần chênh lệch giữa các khoản vốn huy động
và nhu cầu sử dụng vốn để cho vay, đầu tư Hội sở chính nhận/chuyển vốn đối với phần
vốn dư thừa/thiếu hụt của chi nhánh
- Lãi suất điều chuyển vốn nội bộ cũng chỉ áp dụng cho phần chênh lệch này
- Mọi rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, dự trữ bắt buộc,… đều do chi nhánh chịu
Trang 231.2.2.2 Những tồn tại của Cơ chế quản lý vốn phân tán:
- Theo cơ chế vay - gửi này, mỗi chi nhánh hoạt động như một ngân hàng độc lập, chủ động quyết định huy động vốn, sử dụng vốn (tự cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn)
Do đó mức độ tập trung vốn thấp, phân tán, chức năng quản lý vốn (quản lý rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất) không tập trung, bị dàn trải tại tất cả các đơn vị, gây khó khăn trong kiểm soát rủi ro toàn ngành
- Điều hành cân đối vốn toàn ngành tại hội sở chính bị động; quản trị nguồn vốn trong toàn hệ thống chưa hiệu quả
- Đánh giá mức độ đóng góp của chi nhánh vào kết quả chung toàn ngành chưa chính
xác, các chính sách chưa thể hiện được tính nhất quán và bình đẳng chung trong hệ thống;
- Chưa đánh giá được mức độ đóng góp của các đơn vị vào kết quả chung của toàn hệ thống Với cơ chế “vay - gửi” như trên, khi mà các chính sách chưa thể hiện được tính nhất quán và bình đẳng chung trong hệ thống, hiệu quả của chi nhánh bị ảnh hưởng rất lớn Lợi nhuận của chi nhánh không chỉ đến từ hoạt động kinh doanh thông thường mà còn phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động chuyển vốn nội bộ, hiệu quả hoạt động của các chi nhánh chưa được đánh giá một cách khách quan, chính xác do vậy chưa thực sự khuyến khích chi nhánh trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
- Quy mô hoạt động của các chi nhánh ngày càng phát triển, đồng nghĩa với khối lượng phát sinh giao dịch vốn nội bộ ngày càng tăng, đòi hỏi số lượng thao tác cho nghiệp
vụ chuyển vốn nội bộ ngày càng nhiều, mất nhiều thời gian cho xử lý sự vụ
1.2.3 Cơ chế quản lý vốn tập trung :
1.2.3.1 Khái niệm:
- Cơ chế quản lý vốn tập trung hay còn được gọi là Cơ chế FTP (Fund Transfer
Pricing) được định nghĩa là một hệ thống các cơ chế kế toán - quản lý nhằm đo lường giá
trị của chi phí cơ hội của các khoản vốn huy động và nhu cầu sử dụng vốn để cho vay và
đầu tư; trong đó, toàn bộ nguồn vốn được tập trung tại hội sở chính của NHTM (thông qua trung tâm vốn)
- Hội sở chính sẽ “mua” toàn bộ các khoản vốn huy động của các chi nhánh và “bán” toàn bộ vốn cho các nhu cầu sử dụng vốn để cho vay, đầu tư của các chi nhánh Các chi
nhánh trở thành các đơn vị kinh doanh, thực hiện “mua – bán” vốn với hội sở chính Các
Trang 24chi nhánh phải trả lãi đối với hoạt động mua vốn và được nhận lãi khi bán vốn cho hội sở chính (gọi chung là giá chuyển vốn nội bộ - giá FTP) Giá chuyển vốn nội bộ sẽ do hội sở chính quy định từng thời kỳ
Hình 1.1 Minh họa cơ chế “mua- bán” vốn:
- Thu nhập/chi phí của từng chi nhánh được xác định thông qua chênh lệch mua bán vốn với hội sở chính
- Chức năng quản lý rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất đều được tập trung quản lý tại hội sở chính
1.2.3.2 Mục đích thực hiện Cơ chế quản lý vốn tập trung :
- Thực hiện phân bổ chi phí, thu nhập “mua-bán” vốn một cách khách quan, công bằng để đánh giá đúng mức độ đóng góp của các chi nhánh vào thu nhập chung của toàn
- Phát huy được lợi thế kinh doanh của các chi nhánh trên các địa bàn khác nhau
1.2.3.3 Các nguyên tắc thực hiện Cơ chế quản lý vốn tập trung :
Nguyên tắc 1: Quản lý vốn tập trung và thống nhất tại hội sở chính:
Nguồn vốn được quản lý theo nguyên tắc tập trung, toàn hệ thống là một bảng tổng
kết tài sản thống nhất và duy nhất, đảm bảo kiểm soát thu nhập - chi phí, nâng cao hiệu quả
kinh doanh ngân hàng, phát huy thế mạnh của từng chi nhánh và tối đa hóa lợi nhuận
Trung tâm vốn
Tiền gửi Chứng từ có giá Vốn huy động khác
Cho vay
Đầu tư
Tài trợ dự án
Trang 25 Nguyên tắc 2: Quan hệ điều chuyển vốn nội bộ thực hiện thông qua cơ chế
- Chi nhánh phải trả lãi cho hoạt động “mua” vốn và nhận được lãi khi “bán” vốn
cho Hội sở chính Lãi suất, hay giá của hoạt động “mua – bán” vốn (giá chuyển vốn FTP) trong từng thời điểm do Trung tâm vốn xác định và thông báo tới các đơn vị kinh doanh
- Giá chuyển vốn là công cụ quan trọng trong hoạt động điều hành vốn tại hội sở
chính và là căn cứ để xác định hiệu quả hoạt động trong kỳ của mỗi đơn vị kinh doanh Hiệu quả hoạt động của chi nhánh sẽ được đánh giá chuẩn xác theo tiêu thức thống nhất trên cơ sở chênh lệch giữa lãi suất thực hiện với khách hàng và giá chuyển vốn nội bộ
Nguyên tắc 3: Chức năng quản lý rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất được tập trung quản lý tại hội sở chính:
- Công tác quản trị, điều hành vốn tập trung vào một đầu mối duy nhất là hội sở
chính, chịu trách nhiệm quản lý tập trung rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất Chi nhánh
thực sự trở thành các đơn vị kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận từ các hoạt động cung cấp
dịch vụ cho khách hàng
- Việc quản lý rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất được thực hiện thông qua việc hội sở
chính giao các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh, các chỉ tiêu giới hạn, hạn mức và phân cấp,
uỷ quyền đến các bộ phận thực hiện
1.2.3.4 Ưu điểm và nhược điểm của Cơ chế quản lý vốn tập trung :
Ưu điểm:
- Quản lý tập trung rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất:
Đây là hai loại rủi ro chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Trước khi ứng dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung, các chi nhánh tự chịu trách nhiệm việc quản lý rủi ro trong hoạt động dẫn đến sự phân tán trong chiến lược hoạt động kinh doanh, không hiệu quả và không kiểm soát được thường xuyên hoạt động của các chi nhánh Với Cơ chế quản
Trang 26lý vốn tập trung, chi nhánh chỉ tập trung vào công việc kinh doanh, toàn bộ rủi ro nêu trên chuyển về hội sở chính quản lý
- Hạn chế tình trạng thừa/thiếu thanh khoản:
Trong Cơ chế quản lý vốn tập trung, mọi giao dịch của chi nhánh đều tập trung về hội sở chính thông qua trung tâm vốn Khi huy động được nguồn tiền gửi, chi nhánh thực
hiện bán toàn bộ cho trung tâm vốn Khi có nhu cầu sử dụng vốn để cho vay đầu tư,…chi
nhánh thực hiện mua lại vốn từ trung tâm vốn Trung tâm vốn sẽ thực hiện động tác luân chuyển vốn giữa các chi nhánh Vì thế, các chi nhánh không cần quan tâm đến vấn đề thanh khoản vì tình trạng thừa hoặc thiếu thanh khoản tại chi nhánh sẽ không tồn tại nữa
- Phương pháp quản lý nguồn vốn thống nhất nhưng không can thiệp vào hoạt động kinh doanh cụ thể của từng chi nhánh:
Điều này thể hiện qua việc hội sở chính định một giá điều chuyển vốn thống nhất và thực hiện “mua- bán” vốn với các chi nhánh mà không can thiệp cụ thể vào hoạt động của từng chi nhánh
- Bộ máy quản lý gọn nhẹ, hiện đại, loại bỏ được một số báo cáo, giảm thiểu các báo cáo thủ công:
Kết quả hoạt động kinh doanh của từng chi nhánh được thực hiện mỗi ngày thông qua hệ thống quản lý của Cơ chế quản lý vốn tập trung - Hệ thống báo cáo FTP (sẽ được trình bày cụ thể ở chương 2- Chương trình báo cáo định giá chuyển vốn nội bộ FTP) Vì thế đã loại bỏ được một số công tác báo cáo về nguồn vốn, tiền tệ, công tác báo cáo thanh khoản mỗi ngày, báo cáo hoặc lập kế hoạch về nhu cầu thanh khoản… Các báo cáo khác (nếu có) được tổng hợp tự động thông qua chương trình báo cáo FTP và có thể được chiết xuất ra file excel
Nhược điểm:
- Hạn chế thao tác nghiệp vụ tại các chi nhánh:
Cơ chế quản lý vốn tập trung là tiền đề công nghệ để hình thành tập đoàn tài chính ngân hàng trên tất cả giao dịch về tiền tệ, dịch vụ ngân hàng, quản trị rủi ro được tập trung
về hội sở chính thông qua các trung tâm vốn Trong tương lai, các chi nhánh chỉ đóng vai trò là nơi giao dịch, tiếp xúc với khách hàng, tiếp nhận nhu cầu khách hàng và đưa về
Trang 27Trung tâm xử lý Vì vậy, các thao tác nghiệp vụ tại chi nhánh sẽ bị hạn chế dần, làm hạn
chế trình độ nghiệp vụ của các nhân viên ngân hàng, hạn chế kinh nghiệm chuyên môn…
- Chi phí ứng dụng cao:
Để áp dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung thì phải đảm bảo được triển khai đồng bộ đến tất cả các chi nhánh ngân hàng trong toàn hệ thống Đối với các ngân hàng có mạng lưới chi nhánh rộng lớn (như Agribank), việc đầu tư cho phát triển công nghệ ứng dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung đòi hỏi phải có tiềm lực vốn rất lớn
Nói tóm lại, công tác quản trị nguồn vốn huy động đóng vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của một ngân hàng Với Cơ chế quản
lý vốn tập trung, trung tâm vốn thật sự trở thành trung tâm điều hành vốn trong hệ thống ngân hàng, xoá bỏ Cơ chế quản lý vốn phân tán như trước đây, giảm thiểu tối đa chi phí sử dụng vốn và rủi ro điều hành vốn
Bảng 1.1 Bảng so sánh sự khác biệt giữa 2 cơ chế quản lý vốn:
Nội dung Cơ chế quản lý vốn phân tán Cơ chế quản lý vốn tập trung
dư thừa và thiếu hụt vốn
- Chi nhánh tự quản lý chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn – cho vay, theo đó chi nhánh
“kinh doanh kỳ hạn” với hội
sở chính
- Vốn được cân đối tập trung duy nhất tại trung tâm vốn của hội sở chính Theo đó, chi nhánh sẽ được thu nhập lãi từ “kinh doanh” “bán” toàn bộ vốn huy động cho hội sở chính và chịu chi phí trả lãi đối với các khoản “mua” vốn từ hội sở chính để đáp ứng nhu cầu cho vay, đầu tư của chi nhánh (thông qua lãi suất FTP)
- Thu nhập của chi nhánh đến từ cả hai hoạt động, huy động vốn và cho vay, qua đó giúp phát huy thế mạnh của từng địa bàn Những địa bàn có thế mạnh huy động vốn, thu nhập từ huy động vốn chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu nhập của chi nhánh
Những điểm khác biệt giữa 2 cơ chế quản lý vốn
Trang 28- Công tác cân đối vốn được thực hiện tại hội sở chính, chi nhánh chỉ tập trung vào việc kinh doanh trên thị trường nên tính chuyên môn hóa cao
- Hội sở chính không định hướng được lãi suất trên toàn bộ nguồn vốn huy động toàn ngành
- Lãi suất FTP luôn được điều chỉnh bám sát thị trường, thực sự trở thành định hướng lãi suất đối với hoạt động cho vay, huy động vốn tại chi nhánh,
là kênh phát tín hiệu nhanh nhạy của hội sở chính để chi nhánh quyết định lãi suất
- Điều hành cân đối vốn tập trung tại hội sở chính đã khắc phục việc kinh doanh kỳ hạn tại chi nhánh, chi nhánh không cần quan tâm đến việc quản lý chênh lệch kỳ hạn giữa vốn huy động và vốn cho vay, đầu tư (đây là nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản) Hội sở chính sẽ đảm nhiệm vai trò này thông qua điều hành lãi suất FTP
để tái cơ cấu bảng tổng kết tài sản
vốn, gia tăng chi phí
- Ngoài ra chi nhánh còn phát sinh
- Tiền gửi tại NHNN phải chịu chi phí FTP, do đó, chi nhánh đã chú ý hơn trong tiết giảm vốn tồn đọng và chuyển về Hội sở chính, vừa tập trung nguồn vốn đảm bảo thanh khoản, vừa tiết kiệm chi phí vốn
- Không mất phí chuyển tiền
Trang 29thêm chi phí chuyển tiền giữa chi
nhánh – hội sở chính
- Không kiểm soát được chi phí vốn phát sinh từ các khoản huy động lãi suất cao
- FTP đã hỗ trợ đắc lực trong việc khống chế chi phí vốn đầu vào ở mức nhất định, hạn chế tình trạng chi nhánh huy động vốn lãi suất quá cao, đặc biệt là trong tình trạng chênh lệch giá giữa thị trường 1 và thị trường 2
- Không thấy rõ được thu nhập của chi nhánh đối với từng hoạt động, từng giao dịch
- Tất cả các chi nhánh đều được định giá công bằng ở một mức FTP chung, đưa các chi nhánh về một mặt bằng quy mô, kỳ hạn, loại tiền đối với các hoạt động, do đó, đánh giá mức độ đóng góp của chi nhánh vào lợi nhuận chung toàn ngành là công bằng
- Xác định ngay được lãi/lỗ của từng giao dịch, qua đó, có thể xác định mức lợi nhuận đóng góp của từng bộ phận/chi nhánh
- Không phải xử lý các công việc điều chuyển vốn nội bộ
1.3 Bài học kinh nghiệm cho BIDV khi chuyển sang áp dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung:
Qua tìm hiểu được biết hiện nay hầu hết các ngân hàng hiện đại của nhiều quốc gia trên thế giới đều áp dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung
Trang 30Để học tập kinh nghiệm, BIDV đã tiến hành khảo sát việc triển khai áp dụng Cơ chế tại hai NHTM lớn hàng đầu của Singapore là DBS và OCBC, kết quả khảo sát như sau:
Bảng 1.2 Một số nội dung chủ yếu của Cơ chế FTP đã được áp dụng tại hai ngân
có chênh lệch
- Thông thường, tại Singapore, thị trường có tính thanh khoản cao và đồng SGD được tự do chuyển đổi (có khả năng giao dịch ngoài lãnh thổ cao) nên Treasury thường thực hiện đầu tư hoặc đi vay được toàn bộ phần dư thừa, thiếu hụt này, không diễn ra tình trạng
dư thừa hoặc thiếu hụt chung như thị trường Việt Nam
- Như vậy, trạng thái của TTV luôn = 0 (do đã chuyển toàn bộ phần
dư thừa, thiếu hụt về Treasury) và theo đó, Treasury là bộ phận đảm bảo thanh khoản của toàn hệ thống, không phải TTV
Thành phần
cấu thành
nên giá FTP
- FTP đối với vốn huy động và sử dụng vốn để cho vay, đầu tư
- Điều chỉnh đối với các khoản thanh toán, rút trước hạn
- Thưởng thanh khoản
- Giá FTP giữa Trung tâm vốn và các bộ phận kinh doanh được định giá căn cứ theo lãi suất thị trường (lãi suất bình quân giữa giá chào mua và chào bán bid-offer trên thị trường Liên ngân hàng)
Trang 31+ Các khoản không xác định kỳ hạn như tiền gửi không kỳ hạn, cho vay thấu chi: áp FTP theo kỳ hạn có xu hướng định giá lại (thường
áp dụng 3 tháng) + Các tài sản không xác định được kỳ hạn như tài sản cố định, các khoản đầu tư: Áp FTP theo kỳ hạn dự kiến nắm giữ
+ Các khoản mục đàm phán, lãi suất được đàm phán theo quy mô của nguồn vốn, thường là của Treasury: thoả thuận với Treasury, khối bán buôn
+ FTP được điều chỉnh hàng ngày, lấy từ một nguồn độc lập (Reuters, Bloomberg)
Điều chỉnh
FTP
- Đối với các khoản mục có thanh toán, rút trước hạn gây rủi ro lãi suất, thanh khoản cho ngân hàng: tính lại FTP đã áp theo FTP kỳ hạn thực tế của khoản mục và phân bổ lại cho các đơn vị kinh doanh
+ Đối với các khoản mục nguồn vốn trung dài hạn, do bị định hạng tín nhiệm thấp nên ngân hàng phải trả lãi cao hơn lãi trên thị trường nên cần phải gia tăng FTP đối với các khoản mục này
+ Đối với các khoản cho vay trung dài hạn, sử dụng vốn dài hạn cũng bị áp FTP cao do đã sử dụng vốn dài hạn
- Lãi suất thưởng thanh khoản thường được xác định là một mức nhất định đối với từng dải kỳ hạn ngay từ đầu năm, áp dụng cho các dải
kỳ hạn như không kỳ hạn, từ 1-2 năm, 2-3 năm, 3-5 năm
Trang 32(Nguồn: Tài liệu Hội thảo “Thu nhập – Chi phí FTP” năm 2011 của BIDV)
BIDV bắt đầu triển khai Cơ chế quản lý vốn tập trung kể từ ngày 13/01/2007 Việc chuyển đổi từ Cơ chế quản lý vốn phân tán sang Cơ chế quản lý vốn tập trung là phù hợp với xu thế phát triển của hoạt động ngân hàng và trình độ công nghệ thông tin tiến tiến và hiện đại trên thế giới Với Cơ chế quản lý vốn tập trung, toàn hệ thống là một ngân hàng duy nhất, xoá bỏ việc điều chuyển vốn bằng tiền trong hệ thống như hiện nay và chuyển sang áp dụng hệ thống định giá chuyển vốn nội bộ để xác định thu nhập, chi phí vốn định
kỳ của từng chi nhánh Quan trọng là quản lý được các rủi ro trong công tác quản trị vốn như rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản
Từ ngày 03/07/2008, BIDV chính thức áp dụng mô hình tổ chức theo dự án Hiện đại
hoá ngân hàng (gọi tắt là dự án TA2) Dự án TA2 được thực hiện bởi nhóm chuyên gia tư
vấn từ tập đoàn bảo hiểm ING của Hà Lan và Học viện Ngân hàng Bỉ (BBA) Dự án tập trung vào các hoạt động chủ yếu như: chuyển đổi mô hình quản trị điều hành, chiến lược kinh doanh, chiến lược công nghệ thông tin, chiến lược sản phẩm dịch vụ, trong đó, Cơ chế quản lý vốn tập trung là bước chuyển đổi mang tính chiến lược, quan trọng nhất
Điều hành
vốn
- Do bộ phận phụ trách FTP nằm tại khối tài chính nên tại các ngân hàng khảo sát, chủ yếu FTP là nhằm mục đích phân bổ thu nhập, chi phí để đánh giá các hoạt động, các đơn vị kinh doanh
- Đôi khi FTP cũng được sử dụng cho mục đích điều hành vốn, như khi tỷ lệ cho vay/ huy động vốn cao, cần khuyến khích huy động vốn, có thể thưởng thêm FTP cho các giao dịch huy động vốn trong một khoảng thời gian nhất định Tuy nhiên, việc thưởng thêm chỉ xác định cho 1 hoạt động, ví dụ là huy động vốn đối với cho vay vẫn giữ nguyên giá FTP để đảm bảo đánh giá chính xác hoạt động này Nói cách khác, chỉ điều chỉnh FTP đối với huy động vốn và không điều chỉnh tăng FTP đối với cho vay
- Ngoài ra, do thị trường rất thanh khoản nên phần thưởng tăng thêm
để khuyến khích chỉ chiếm một phần nhỏ trong cấu phần FTP, thường không dịch chuyển FTP xa rời lãi suất thị trường
Trang 33Qua thực tiễn áp dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung của các ngân hàng nước ngoài, những bài học kinh nghiệm mà BIDV đã rút ra được khi chuyển sang áp dụng
Cơ chế quản lý vốn tập trung, cụ thể như sau:
- Toàn hệ thống BIDV phải quán triệt nhận thức việc chuyển đổi cơ chế quản lý vốn
từ phân tán sang tập trung là phù hợp với xu thế phát triển của hoạt động ngân hàng và trình độ công nghệ thông tin tiến tiến và hiện đại trên thế giới
- Chuyển đổi sang phương thức quản lý nguồn vốn tập trung đòi hỏi mỗi đơn vị, mỗi cán bộ của BIDV cần nghiên cứu, quán triệt những thay đổi cơ bản giữa hai cơ chế, những kiến thức quản lý ngân hàng hiện đại qua đó nhận thức rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của mình
và đơn vị mình trong công tác quản lý vốn
- Áp dụng Cơ chế quản lý vốn mới đòi hỏi BIDV phải đổi mới mô hình tổ chức cho phù hợp, phân công trách nhiệm quản lý rõ ràng giữa các đơn vị và xây dựng quy trình nghiệp vụ cụ thể để triển khai thực hiện Để thực hiện Cơ chế quản lý vốn tập trung cần có các điều kiện nhất định về cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ
- Các chi nhánh trong hệ thống BIDV chưa quen với việc xác định lãi suất cho vay và huy động căn cứ vào hệ thống giá FTP Do đó, để hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao, các Chi nhánh cần điều chỉnh cơ cấu cho vay và huy động vốn hợp lý, xác định thời hạn cho vay, huy động phù hợp với kỳ hạn FTP nhằm đảm bảo có được một lãi suất biên ròng cao nhất và đặc biệt lưu ý tất cả các khoản vay phải được thực hiện theo lãi suất thả nổi./
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày cơ sở lý luận về cơ chế quản lý của các NHTM, trong đó, trình bày sơ lược về vốn huy động và điều chuyển vốn nội bộ; các cơ chế quản lý vốn của NHTM, trong đó, tập trung phân tích ưu và nhược điểm của Cơ chế quản lý vốn tập trung,
so với Cơ chế quản lý vốn phân tán - giảm tối đa chi phí sử dụng vốn và rủi ro điều hành vốn Từ đó, khẳng định tính cần thiết trong việc ứng dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung vào hoạt động quản trị nguồn vốn của các NHTM Tuy nhiên, bản thân Cơ chế quản lý vốn tập trung cũng tồn tại những nhược điểm nhất định Phần nghiên cứu Chương 2 sẽ trình bày chi tiết hơn những tồn tại cần khắc phục và đề xuất các giải pháp thích hợp để hoàn thiện ở Chương 3
*
Trang 34CHƯƠNG 2 -TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TẬP TRUNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Trước khi đi vào tìm hiểu Cơ chế quản lý vốn tập trung đang được thực hiện tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chúng ta sẽ tìm hiểu sơ lược về quá trình hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức, bộ máy của BIDV
2.1 Giới thiệu khái quát về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam:
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của BIDV:
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (Tên tiếng Anh: Bank for Investment and Development of Vietnam – BIDV), tiền thân là Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam, thành lập vào ngày 26/04/1957 Địa điểm đặt trụ sở chính: 35 hàng Vôi, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Tính đến 31/12/2010, BIDV là một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam về quy mô vốn (Vốn điều lệ của BIDV là: 14.600 tỷ đồng), về mạng lưới hoạt động
(597 điểm, trong đó có 113 chi nhánh và 349 phòng giao dịch và 135 quỹ tiết kiệm trên toàn quốc), về khả năng cung cấp các dịch vụ ngân hàng và về mức độ ứng dụng công
nghệ ngân hàng hiện đại trong giao dịch Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam như sau:
- Ngày 26/04/1957, Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam (trực thuộc Bộ Tài chính)- tiền thân của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - được thành lập theo quyết định: 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ
- Ngày 24/06/1981, Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo Quyết định
số 259 – CP của Hội đồng Chính phủ
- Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo Quyết định số: 401-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Hiện nay, BIDV đang hoàn tất thủ tục chuyển đổi thành Tập đoàn tài chính ngân hàng hoạt động trên 4 lĩnh vực: Ngân hàng - Bảo hiểm - Chứng khoán - Đầu tư Tài chính Sau khi thành lập Tập đoàn, BIDV sẽ tiến hành công tác cổ phần hoá BIDV bắt đầu triển khai Cơ chế quản lý vốn tập trung từ ngày 13/01/2007
Trang 352.1.2 Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của BIDV:
Đến nay, BIDV đã hoàn thành Đề án chuyển đổi mô hình tổ chức Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam giai đoạn 2007 – 2010, thông qua mô hình cơ cấu- tổ chức- bộ máy chủ yếu tại Trụ sở chính BIDV đến 31/12/2007 và 31/12/2009 cùng mô hình, mạng lưới chi nhánh đến 31/12/2008 và 31/12/2009
Đề án chuyển đổi mô hình tổ chức hệ thống theo hướng hình thành và phân định rõ theo 4 khối chức năng: Khối công ty, Khối đơn vị sự nghiệp & Văn phòng đại diện, Khối ngân hàng, Khối liên doanh và góp vốn cổ phần
Mô hình cơ cấu- tổ chức- bộ máy của BIDV hiện nay như sau:
(Xem sơ đồ 2.1)
Trang 36Sơ đồ 2.1 Mô hình cơ cấu- tổ chức- bộ máy hệ thống BIDV
KHỐI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP & VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN
KHỐI NGÂN HÀNG
KHỐI LIÊN DOANH, GÓP VỐN CP
Cty cho thuê
Trung tâm Đào tạo (BTC)
Văn phòng Đại diện Miền Trung
Văn phòng Đại diện Miền Nam
Văn phòng Đại diện tại Cambodia
Văn phòng Đại diện tại Myanmar
Chi nhánh
Sở giao dịch 1
Chi nhánh Sở giao dịch 2
Chi nhánh Sở giao dịch 3
113 Chi nhánh,
349 PGD và
135 QTK
Ngân hàng Liên doanh VID- Public
Ngân hàng Liên doanh Lào- Việt (Lào)
Ngân hàng Liên doanh Việt- Nga
Cty Liên doanh Quản lý Đầu tư BIDV-
Cty Liên doanh Tháp BIDV
Các đơn vị có vốn góp CP của BIDV (*)
Trang 37(*) Các công ty do BIDV là cổ đông sáng lập hoặc nắm cổ phần chi phối như: Công
ty cho thuê máy bay (VALC), Công ty Đầu tư và Phát triển Campuchia (IDCC), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Camphuchia (BIDC), Công ty Bảo hiểm (CVI), Công ty CP phát triển đường cao tốc BIDV (BEDC), Công ty Đầu tư tài chính (BFI), Công ty CP Công đoàn BIDV (BUC)
2.2 Nội dung Cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV :
Trước khi chính thức chuyển sang áp dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung vào ngày 13/01/2007 cho đến nay, BIDV đã áp dụng Cơ chế quản lý vốn phân tán, có nội dung chủ
yếu như sau:
2.2.1 Nội dung của Cơ chế quản lý vốn phân tán được áp dụng trước đây tại BIDV:
Trước khi chuyển sang áp dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung vào ngày 13/01/2007, BIDV áp dụng Cơ chế quản lý vốn phân tán
Theo Cơ chế này, các chi nhánh thực hiện quản lý vốn độc lập thông qua hoạt động của phòng nguồn vốn tại từng chi nhánh Các chi nhánh tự cân đối vốn trên cơ sở tuân thủ các qui định của ngành và hệ thống về quản lý rủi ro, quản lý thanh khoản và dự trữ bắt buộc tại NHNN Chi nhánh phải mở ít nhất 1 tài khoản tại NHNN địa phương và tại một
Tổ chức tín dụng khác để đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời và an toàn vốn
2.2.1.1 Nguyên tắc thực hiện của Cơ chế quản lý vốn phân tán:
Hình 2.1 Cơ chế quản lý vốn cũ
(Nguồn: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Cơ chế quản lý vốn tập trung [5])
Chi nhánh 2: Thừa vốn
Trung tâm vốn
Nhu cầu sử
dụng
huy động
Vốn huy động
Nhu cầu
sử dụng vốn
Trang 38 Nguyên tắc 1: Hoạt động theo cơ chế vay - gửi với lãi suất áp dụng là lãi suất điều
Nguyên tắc 3: Nếu tách biệt vấn đề hạch toán thì mỗi chi nhánh có thể coi như một
ngân hàng độc lập; tại mỗi chi nhánh đều có bảng cân đối riêng, trong đó, có phân loại TSN (chủ yếu là các khoản vốn huy động) và TSC (chủ yếu là các khoản sử dụng vốn để cho vay, đầu tư) theo kỳ hạn và theo mức độ rủi ro Thông thường, kèm theo đó không bao gồm các hỗ trợ về quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro thanh khoản HSC thường yêu cầu từng chi nhánh tự cân đối nguồn vốn huy động và nhu cầu sử dụng vốn để cho vay, đầu tư
Nguyên tắc 4: Mọi rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản đều do chi nhánh chịu
2.2.1.2 Những tồn tại của Cơ chế quản lý vốn phân tán:
- Quản lý vốn phân tán, gây lãng phí vốn: Các chi nhánh phải tự “chạy” nguồn với
chi phí cao; không tận dụng được nguồn vốn nội bộ, không thực hiện luân chuyển vốn giữa
các đơn vị trên các địa bàn khác nhau
- Nếu trên cùng một địa bàn có nhiều hơn một chi nhánh của một hệ thống NHTM thì
các chi nhánh này có thể cạnh tranh với nhau tương tự như đối với một NHTM khác để thu hút khách hàng bằng các biện pháp tiêu cực như tăng lãi suất huy động, giảm lãi suất cho vay,…làm gia tăng chi phí huy động vốn
- Các chi nhánh, dưới áp lực hoàn thành kế hoạch kinh doanh, dùng biện pháp kỹ thuật tạm thời nhằm tăng số dư huy động để đạt mức kế hoạch do HSC giao (ví dụ, vào
thời điểm cuối năm, khách hàng có có số dư trên tài khoản tiền gửi từ các nguồn thu thanh toán, thay vì sử dụng nguồn vốn trên để phục vụ cho hoạt động kinh doanh hoặc trả nợ vay
trước hạn của khách hàng thì các chi nhánh thường thoả thuận với khách hàng tạm thời để lại số dư trên trên tài khoản tiền gửi cho đến khi qua ngày đầu năm sau…) Điều này dẫn
đến tình trạng số dư huy động của các ngân hàng tăng cao vào cuối năm và giảm nhanh vào những ngày đầu năm sau nhưng không có cơ chế kiểm soát
Trang 39- Đánh giá mức độ đóng góp của chi nhánh vào kết quả chung toàn ngành chưa chính xác thông qua việc giao chỉ tiêu doanh thu và chi phí; các chính sách chưa thể thực hiện
được tính nhất quán và bình đẳng chung trong hệ thống
- Quy mô hoạt động của các chi nhánh ngày càng phát triển, đồng nghĩa với khối lượng phát sinh giao dịch vốn nội bộ ngày càng gia tăng, đòi hỏi số lượng thao tác cho
nghiệp vụ chuyển vốn nội bộ ngày càng nhiều, mất thời gian cho xử lý sự vụ
2.2.2 Nội dung cơ bản của Cơ chế quản lý vốn tập trung tại BIDV:
2.2.2.1 Xây dựng kế hoạch cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn:
HSC xây dựng kế hoạch cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn chủ yếu của toàn hệ thống và tiến hành phân khai các chỉ tiêu cụ thể giao cho từng chi nhánh, bao gồm:
- Các chỉ tiêu phản ánh quy mô, cơ cấu, tăng trưởng: tổng tài sản, dư nợ tín dụng, huy động vốn (cuối kỳ/bình quân), thị phần tín dụng, thị phần huy động;
- Các chỉ tiêu hạn mức: Giới hạn tín dụng; Giới hạn dư nợ tín dụng trung, dài hạn; Hạn mức đầu tư kinh doanh trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn;
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả: Lợi nhuận trước thuế; Tỷ suất lợi nhuận/Tổng tài
sản (ROA); Tỷ suất lợi nhuận/Vốn Chủ sở hữu (ROE); Tỷ lệ thu nhập lãi ròng cận biên-
NIM (Net Interest Margin);
- Các chỉ tiêu chất lượng tín dụng: Tỷ lệ nợ nhóm II/Tổng dư nợ; Tỷ lệ nợ xấu/tổng
dư nợ; Tỷ lệ giảm lãi treo; Tỷ lệ dư nợ có tài sản bảo đảm/tổng dư nợ;
- Các chỉ số thanh khoản: Giá trị tối đa, tối thiểu của chỉ số dự trữ thanh toán, trong
đó có chỉ số dự trữ sơ cấp; Giá trị tối thiểu chỉ số thanh khoản trong 1 ngày, 7 ngày, 1 tháng; Tỷ lệ tối đa dư nợ/số dư nguồn vốn huy động (hệ số Q); Tỷ lệ tối đa dư nợ trung dài hạn/tổng dư nợ; Hệ số bù đắp rủi ro (hệ số CAR)
Trong các nội dung trên, phần chỉ tiêu về chi phí đã được loại bỏ khi áp dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung
2.2.2.2 Quản lý rủi ro:
Quản lý rủi ro thanh khoản:
Hội sở chính tập trung quản lý rủi ro thanh khoản toàn ngành, trong đó bao gồm xác định nhu cầu thanh khoản từng thời điểm, thực hiện dự trữ thanh khoản, xây dựng và thực
hiện các biện pháp bù đắp thiếu hụt thanh khoản, đề xuất xử lý khủng hoảng thanh toán,…
Trang 40Việc quản lý thanh khoản cũng bao gồm cả việc mở, đóng và hoạt động của tài khoản Nostro Đối với tài khoản Nostro hiện đại, chi nhánh tiếp tục được duy trì hoạt động cho đến khi HSC yêu cầu đóng lại HSC cũng chịu trách nhiệm thiết lập và công bố thời điểm dừng thanh toán; thực hiện điều chuyển vốn giữa các tài khoản Nostro theo yêu cầu quản
lý thanh khoản hoặc yêu cầu của chi nhánh (nếu có); đối chiếu tài khoản Nostro…
Quản lý rủi ro lãi suất:
Lãi suất là yếu tố do thị trường quyết định, mặt khác nó lại tác động rất lớn đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng Chính vì vậy mà các ngân hàng phải chủ động điều chỉnh cơ cấu của nguồn vốn huy động hoặc của dư nợ cho vay để tăng lợi nhuận và hạn chế đến mức thấp nhất các tác động bất lợi của lãi suất
-Trên cơ sở xác định các giới hạn rủi ro có thể chấp nhận của ngân hàng, Ban Quản lý rủi ro Thị trường và tác nghiệp phối hợp cùng Ban Thông tin quản lý & Hỗ trợ ALCO đề xuất các phương pháp quản lý, đồng thời đề xuất các hạn mức thực hiện đối với khe hở kỳ hạn và khe hở nhạy cảm lãi suất;
-Xuất phát từ bảng tổng kết tài sản và dự kiến diễn biến thị trường, định kỳ Ban Thông tin quản lý & Hỗ trợ ALCO xây dựng các phương án duy trì giá trị các khe hở trong giới hạn xác định, dự kiến mức đọ rủi ro của từng phương án và đề xuất biện pháp để quản
lý rủi ro lãi suất
2.2.2.3 Định giá chuyển vốn nội bộ:
- Định giá chuyển vốn nội bộ là nội dung cơ bản, cốt lõi của Cơ chế quản lý vốn tập trung; là điều kiện cần thiết để thực hiện quản lý được các nội dung khác của Cơ chế quản
lý vốn tập trung
- Với cơ chế Định giá chuyển vốn nội bộ, HSC sẽ “mua” toàn bộ các khoản vốn huy động từ các chi nhánh và “bán” toàn bộ vốn cho các nhu cầu sử dụng vốn để cho vay, đầu
tư của chi nhánh Các chi nhánh trở thành các đơn vị kinh doanh, thực hiện “mua – bán”
vốn với HSC Các chi nhánh phải trả lãi đối với hoạt động mua vốn và được nhận lãi khi
bán vốn cho HSC (gọi chung là giá chuyển vốn nội bộ - FTP) Giá chuyển vốn nội bộ sẽ
do HSC quy định từng thời kỳ Cơ chế định giá chuyển vốn nội bộ sẽ chấm dứt việc điều chuyển vốn bằng tiền giữa Hội sở chính và chi nhánh, chuyển chức năng của chi nhánh