1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận: TRIẾT HỌC nhân sinh quan phật giáo

22 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 40,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời với hệ thống giáo lý đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp. Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt, bên cạnh đạo Nho, đạo Lão và đạo Thiên chúa... ...Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận soi đường cho chúng ta. Nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong đó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng, tình cảm của một số bộ phận lớn dân cư Việt Nam. Việc xoá bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nó là không thể, nên chúng ta cần vận dụng một cách phù hợp để góp phần đạt được mục tiêu của thời kỳ quá độ cũng như sau này. Do đó, việc tìm hiểu nghiên cứu Phật giáo đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết. Việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá những mặt tiến bộ cũng như hạn chế, Phật giáo giúp ta hiểu rõ tâm lý người dân hơn và qua đó tìm ra được một phương cách để hướng đạo cho con người một cách chân chính, đúng đắn. Theo đạo để làm điều thiện, tránh cái ác. Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài; “ nhưng tư tưởng cơ bản về thế giới quan và nhân sinh quan trong uan niệm của Phật giáo ấn độ cổ đại. Sự ảnh hưởng của nhưng tử tưởng đó tới đời sống tâm linh của con người Việt Nam”

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn nhất trênthế giới, tồn tại rất lâu đời với hệ thống giáo lý đồ sộ và số lượng phật tử đôngđảo được phân bố rộng khắp Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế

kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởngsâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt, bên cạnh đạo Nho, đạo Lão vàđạo Thiên chúa

Tuy nhiên, tùy ở từng giai đoạn lịch sử của dân tộc mà học thuyết tư tưởng, tôngiáo này hay học thuyết tư tưởng, tôn giáo khác nắm vai trò chủ đạo, có tácđộng mạnh đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của người Việt, như Phật giáo ởthế kỷ thứ X - XIV, Nho giáo thế kỷ thứ XV - XIX, học thuyết Mác - Lênin từgiữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX Cho đến nay, những học thuyết này không giữđịa vị độc tôn mà song song cùng tồn tại với các học thuyết, tôn giáo khác, tácđộng vào đời sống xã hội

Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, chủnghĩa Mác - Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận soi đường cho chúng ta.Nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sứcsống dai dẳng, trong đó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng, tìnhcảm của một số bộ phận lớn dân cư Việt Nam Việc xoá bỏ hoàn toàn ảnh hưởngcủa nó là không thể, nên chúng ta cần vận dụng một cách phù hợp để góp phầnđạt được mục tiêu của thời kỳ quá độ cũng như sau này Do đó, việc tìm hiểunghiên cứu Phật giáo đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hếtsức cần thiết Việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá những mặt tiến bộ cũng như hạnchế, Phật giáo giúp ta hiểu rõ tâm lý người dân hơn và qua đó tìm ra được mộtphương cách để hướng đạo cho con người một cách chân chính, đúng đắn Theođạo để làm điều thiện, tránh cái ác

Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài; “ nhưng tư tưởng cơ bản về thế giới quan và nhânsinh quan trong uan niệm của Phật giáo ấn độ cổ đại Sự ảnh hưởng của nhưng

tử tưởng đó tới đời sống tâm linh của con người Việt Nam”

Kết cấu tiểu uận gồm 2 phần;

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THẾ GIỚI QUAN VÀ NHÂN SINHQUAN

Trang 2

CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SÔNG TÂM LINH CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THẾ GIỚI QUAN VÀ NHÂN SINH QUAN

I Khái niệm nhân sinh quan Phật giáo

Nhân sinh quan Phật giáo nguyên thủy là hệ thống quan niệm của Phật giáo

nguyên thủy về cuộc đời, nguyên nhân dẫn đến khổ đau và con đường giải thoát

Nhân sinh quan Phật giáo Ấn dộ là hệ thống quan niệm của Phật giáo về

cuộc đời con người, về nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ và con đường giải thoát từtrong Tứ diệu đế của Phật giáo

1.1.1 Cơ sở hình thành nhân sinh quan Phật giáo

1.1.2.1 Điều kiện khách quan

* Về mặt kinh tế - xã hội

Ấn Độ là một vương quốc rộng lớn có lịch sử từ rất lâu đời và là mộttrong những nơi có nền văn minh từ rất sớm, phát triển rực rỡ nhất trên thế giới.Vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Công nguyên Ấn Độ có lực lượng lao động dồidào, có trình độ phát triển cao Sự phát triển mọi mặt đời sống xã hội dẫn đến

sự phân chia giai cấp và mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt Đây là thời kỳphát triển cực thịnh của đạo Bà la môn cả về mặt tôn giáo lẫn vị trí chính trị xãhội Đạo Bà la môn đã chia đất nước và con người Ấn Độ ra thành bốn đẳng cấpvới quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ khác nhau

Chính sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội vô cùng khắc nghiệt đã khiếncho những người thuộc đẳng cấp Thủ đà la căm ghét chế độ phân biệt đẳng cấp.Trước tình hình xã hội như vậy đã xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng chống lạiđạo Bà la môn và chế độ đẳng cấp của nó Tiêu biểu có đạo Phật với tinh thần

Trang 3

bình đẳng, bác ái và tình yêu thương con người đã đáp ứng nguyện vọng củađông đảo tầng lớp trong xã hội

* Về mặt tư tưởng lý luận

Tư tưởng của Phật giáo được lấy từ nguồn cảm hứng là khát vọng củangười dân Ấn Độ cổ được lưu truyền trong Ve da, được hiểu là nguồn tri thứccao cả, mang giá trị thiêng liêng và có lịch sử vào khoảng 2000 năm, lưu giữmột khối lượng lớn các tác phẩm văn học Các tác phẩm được truyền miệng từđời này qua đời khác, dần trở thành truyền thống gọi là Man tra góp phần to lớntrong việc hình thành Ve da, cho đến ngày nay Man tra còn lưu giữ dưới dạngbốn tập

Ba bộ phận văn học Ve da ra đời muộn hơn Brahamana, Aranyaka vàUpanisad mang đặc trưng của hệ thống lyc luận triết học phương Đông, về sautrở thành tiền đề tư tưởng lý luận của đạo phật Vì vậy đã có quan điểm chorằng: “Đứng về phương diện tư tưởng mà nói, tuy đạo Phật không thuộc giáo hệ

Bà la môn, song Phật giáo cũng thâu dụng những chỗ sở trường bà la môn giáo,

mà dung hòa thống nhất xa hẳn con đường cực đoan, theo lập trường trung đạo,sáng tạo một nền đạo pháp vừa mới mẻ, vừa kiện toàn để dẫn đường cho thếgian đó là đặc điểm vĩ đại nhất của đạo Phật” [71, tr.20] và một số tư tưởng khácmang ý nghĩa truyền thống, vấn đề cư bản trong tư tưởng là giải quyết các vấn

đề thế giới quan và nhân sinh quan

1.1.2.2 Yếu tố chủ quan

Thực trạng đời sống xã hội khắc nghiệt là động lực dẫn đến sự ra đời củanhững tư tưởng nhân văn và giải thoát Trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ xuấthiện nhiều trào lưu tư tưởng khác nhau chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp khắcnghiệt và Phật giáo là một trong những trào lưu tư tưởng đó

Đức Phật với lòng từ bi, hỉ xả tha thiết được cứu đời, cứu người, mặc dùxuất thân từ dòng dõi quý tộc nhưng lại có tư tưởng bình đẳng, không phân biệtsang hèn khi đánh giá con người luôn dựa trên phẩm chất đạo đức và trí tuệ của

họ mà không dựa vào của cải vật chất người đó đang có Chính điều này đã tạo

ra sự gần gũi, yêu thương và gắn bó giữa con người với con người Đồng thời

Trang 4

chỉ ra cho con người thấy sự đau khổ và diệt khổ, giải thoát con người từ trong

Tứ diệu đế

1.1.2 Nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo

Nghiên cứu sâu các Pháp mộn tu của Đạo phật, có 84.000 pháp mộn tương ứng 84.000 tâm thức chúng sinh, dù là Thiền tông, Mật tông, Tịnh độ tông ,

ta nhận thấy Đức Phật đã vận dụng phương pháp mà khoa học hiện nay gọi là tối

ưu hóa, vận trù học trong các pháp môn của mình, ứng dụng được cho bất

cứ hoàn cảnh nào, và bất cứ cá nhân, hoặc tập thể nào khác

Chúng ta có thể xem lại đoạn văn trong Kinh Hoa nghiêm Đức Phổ Hiền Bồ tát đã tuyên thuyết:

"Chư Phật tử! Nên biết rằng Thế giới hải có Thế giới hải vi trần số kiếp trụ, hoặc có A- tăng-kỳ kiếp trụ, hoặc có vô lượng kiếp trụ, hoặc có vô biên kiếp trụ, hoặc có vô đẳng kiếp trụ, hoặc có bất khả sổ kiếp trụ, hoặc có bất khả xưng kiếp trụ, hoặc có bất khả tư kiếp trụ, hoặc có bất khả lượng kiếp trụ, hoặc có bất thuyết kiếp trụ , có vi trần số kiếp trụ như vậy".(Trang 323,PHẬT

GIÁO TRONG THỜI ĐẠI KHOA HỌC, Trần Chung Ngọc, PHẬT HỌC CƠ BẢN -Nhà xuất bản Tôn Giáo-

Với cách trình bày trên ngài đã cho ta thấy sự vô tận của vũ trụ, vi trần theo một

số Kinh văn đã trình bày là lấy một hột cát sông Hằng chia nhỏ như toàn bộ số cát sông Hằng hiện có , và lấy hột cát đã được chia lại chia nhỏ như toàn bộ số cát sông Hằng lần hai , cứ thế tiếp tục gọi là "vi trần", với phương pháp sư phạm trực quan sinh động như vậy Đức Phật quả là nhà sư phạm tiêu biểu, và nếu chia như vậy vi trần có thể đã tiến đến đơn vị theo cách diễn đạt ngày nay là nguyên tử thậm chí là điện tử hoặc các hạt đã được phát hiện, Thế giới hải chúng

ta có thể hiểu là mô hình vũ trụ quan đã nêu trên,Trụ là giai đoạn kế sau giai đoạn hình thành của quy luật Thành, Tựu(Trụ), Hoại, Không của vạn sự vạn vật,Kiếp khoảng thời gian của giai đoạn thành, trụ, hoại, không, A-Tăng-kỳ là con

Trang 5

số vô cùng lớn, vô lượng không hạn về số lượng, vô biên là không hạn

chế về không gian, vô đẳng là không bằng hoặc không giống nhau, bất khả sổ là không thể đếm hết được, bất khả xưng là không thể nêu hết được, bất khả tư không thể nghĩ nhớ hết được dĩ nhiên bằng trí óc thông thường của chúng ta, bấtkhả lượng không thể tính toán được, bất khả thuyết là không thể nói ra hết được

1.1.2.1 Quan niệm trên phương diện cuộc đời con người

Khổ đế (theo tiếng Phạn gọi là Dukkha) tức là chân lý nói về sự khổ.

Phật giáo quan niệm cuộc đời con người là bể khổ, tồn tại là khổ “nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển”.

Bát khổ gồm: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, cầu bất đắc và

Ái biệt ly khổ: Kẻ mình thương yêu lại chia ly xa cách, luôn đem lòng nhớthương là khổ

Trang 6

Oán tắng hội khổ: Ghét nhau mà phải ở chung với nhau, mặt lại đối mặt hoặc ởgần kẻ nghịch thù là khổ.

Ngũ ấm xí thạnh khổ: Năm món hợp lại thành người (Sắc, thọ, tưởng, hành,thức) nếu không điều hòa với nhau, có món nào hưng thịnh là khổ

1.1.2.2 Quan niệm trên phương diện nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ con người

Tập đế, là những nguyên nhân sâu xa của những nỗi khổ ở trên Tập là chất

chứa, gom nhặt mỗi ngày nhiều hơn Đế là sự thật vững chắc, đúng đắn hơn cả

Nguồn gốc sinh ra khổ phải bắt nguồn từ Vô minh rồi đến tham, ái dẫncon người đến sự khao khát về dục vọng, khao khát được thỏa mãn nên lầmđường lạc lối mà đến với khổ đau Từ Vô minh và ái dục nên nảy sinh ra Tham,Sân, Si, Mạn, Nghi, Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ, Giới cấm thủ Đây

là mười nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ của con người, nguyên nhân chủ yếu vẫn

là tự thân của mỗi người vì Vô minh không hiểu luật duyên khởi và bản chấttính Không của muôn vật nên tự thân tạo ra nghiệp khổ chứ không phải do thầnthánh hay lực lượng siêu nhiên nào bên ngoài tác động gây nên

1.1.2.3 Quan niệm trên phương diện giải thoát con người

Diệt đế là chân lý khẳng định mọi nỗi khổ trên đời đều có thể tận diệt, đây

là chân lý cao cả chấm dứt sự khổ gọi là Niết bàn Khi hết khổ thì đó cũng là lúccon người được giải thoát, con người được tự do, mà không bị chìm đắm trongluân hồi Theo triết lý Phật giáo muốn vậy phải diệt mọi ái dục, diệt bỏ được vôminh, đạt tới sự sáng tỏ trong tâm hồn con người đưa chúng sinh tiến tới Niếtbàn

Đạo đế chân lý này chỉ ra con đường cụ thể để diệt trừ những nguyên

nhân của sự đau khổ dẫn đến an lạc Đây không phải là cách tu tập khổ hạnh, màbằng trí tuệ để đạt đến sự giải thoát đó là Bát chính đạo gồm: Chính kiến; Chính

tư duy; Chính ngữ; Chính nghiệp; Chính mệnh; Chính tinh tấn; Chính niệm;

Trang 7

Chính định.

Bát chính đạo

- Nhóm trí tuệ:

Chính kiến (正正): hiểu biết chân chính: hiểu biết về nhân quả, duyên khởi,

hiểu biết về sự vật hiện tượng chân thực, như chúng đang là, không kèm theocảm xúc, cảm tính, hiểu biết 4 chân lý về khổ và cách thoát khổ Từ đó, biểu hiện thái độ sống không làm khổ mình, khổ người

Chính tư duy (正正正): suy nghĩ hướng đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt,

an tịnh, thắng trí và giác ngộ

- Nhóm đạo đức:

Chính ngữ (正正正): lời nói chân chính: lời nói sự thật, lời nói hòa hợp,

đoàn kết, mang tính xây dựng, mang lại an vui hạnh phúc cho người khác

Chính nghiệp (正正): hành vi chân chính: không sát sanh, không trộm cắp,

không ngoại tình, Các hành vi được khuyến khích: chia sẻ sở hữu hợp pháp với những người kém may mắn hơn, sống chung thủy một vợ một chồng, giữsức khỏe để chăm sóc bảo vệ người thân

Chính mạng (正正): nghề nghiệp chân chính để nuôi sống thân mạng:

không làm nghề đồ tể vì giết động vật hàng loạt

Chính tinh tấn (正正正): nỗ lực kiên trì chân chính: tiếp tục làm những việc

thiện đang làm, hiện thực hóa những việc thiện có ý định làm, từ bỏ những việc bất thiện đang làm, loại bỏ ý định về những việc bất thiện sẽ làm

- Nhóm thiền định:

Chính niệm (正正): sự làm chủ các giác quan trong các tư thế: đi, đứng,

nằm, ngồi, nói, nín, động, tịnh, thức và ngủ, làm chủ cảm xúc và thái độ sống

Trang 8

Chính định (正正正): 4 tầng thiền: sơ thiền (ly dục ly ác pháp sinh hỷ lạc,

có tầm, có tứ), nhị thiền (diệt tầm, diệt tứ, định sinh hỷ lạc, nội tĩnh, nhất tâm), tam thiền (ly hỷ, trú xả), tứ thiền (xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh) cùng với những phương pháp hỗ trợ như tứ niệm xứ, quán niệm hơi thở, địnhsáng suốt được đề cập trong kinh tạng Pali Sau khi đã đạt tứ thiền, hành giả dẫn tâm về Tam minh gồm: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh Chứng tam minh xong, hành giả giải thoát hoàn toàn, thành tựu thánh

quả A-la-hán, các vị A-la-hán tuyên bố "Tái sinh đã tận, hạnh thánh đã thành, việc nên đã làm, không còn trở lại sinh tử này nữa".

Tám con đường chính đạo nói trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, trongPhật giáo phân ra thành ba nhóm gọi là tam học: Giới; Định; Tuệ

1.1.3 Quan điểm cơ bản về thế giới quan trong Phật giáo Ấn dộ

Nhiều tôn giáo khác cho rằng Trái Đất là trung tâm của vũ trụ, là nơi được

Thượng đế ưu ái nhất Nhưng Đạo Phật thì cho rằng Trái Đất chỉ là một trong muôn vàn các thế giới cùng tồn tại, mỗi thế giới lại có những đặc điểm khác nhau, thế giới mà chúng ta đang sống chỉ giống như một hạt cát trong vũ trụ Phật Thích Ca nói rằng: Ngài chỉ là vị Phật truyền đạo trong cõi Ta Bà (tên gọi Trái Đất trong Phật giáo) mà thôi, chứ thực ra còn có vô số các cõi thế giới khác nữa Cũng tương ứng như vậy, ngoài Phật Thích Ca thì còn có vô số các vị Phật khác đã, đang hoặc sẽ xuất hiện và truyền đạo ở các cõi thế giới khác nhau (tiêu biểu như Phật Nhiên Đăng, Phật Padumuttara, Phật Tỳ Bà Thi từng xuất hiện cách đây rất lâu ở những cõi thế giới khác, khi cõi Ta Bà (tức Trái Đất hiện nay) còn chưa hình thành)

Phật giáo có khái niệm Tiểu thiên thế giới (1 ngàn hành tinh), Trung thiên thế giới (1 triệu hành tinh), đại thiên thế giới (1 tỷ hành tinh), Tam thiên đại thiên thế giới (3 nghìn tỷ hành tinh) Đức Phật nói vũ trụ này lại có "vô số Tam thiên

đại thiên thế giới", tức là số lượng các thế giới khác nhau gần như là vô hạn

Trang 9

Phật Thích Ca từng nói: "Trên vũ trụ này còn vô số những thế giới khác, trong một ly nước cũng có vô số những con trùng trong đó" Đối chiếu theo quan điểm

khoa học hiện đại, thì "Tam thiên đại thiên thế giới" chính là tương ứng với một thiên hà, còn những con trùng trong bát nước chính là vi khuẩn, và quả thực

là trong vũ trụ có vô số thiên hà, cũng như trong 1 ly nước có vô số vi khuẩn

Một vài tôn giáo khác coi loài người là sinh vật tối thượng Còn Phật giáo quan

niệm "chúng sinh là bình đẳng", loài người (nhân giới) cũng chỉ là một kiếp

sống như các loài sinh vật khác (súc sinh giới, a-tu-la giới, thiên giới), loài

người cũng không phải là tối thượng (loài người kém hơn các "chư Thiên" về

sức mạnh và trí tuệ) Song dù là loài người, "chư Thiên" hay súc sinh thì cũng đều là sinh vật, phải chịu quy luật Nhân quả (làm thiện gặp thiện, làm ác gặp ác), không sinh vật nào là vĩnh cửu mà đều phải có lúc chết, lúc chết thì sẽ luân hồi sang kiếp sống khác, kiếp sau như thế nào thì phải tùy vào việc làm nhiều thiện nghiệp hay ác nghiệp (ví dụ: một người mà làm nhiều điều thiện thì kiếp sau có thể luân hồi thành 1 vị "chư Thiên", nhưng nếu mà làm nhiều điều ác thì kiếp sau lại trở thành súc sinh)

Phật giáo cũng nói về thần thánh và gọi đó là các "chư Thiên", nhưng Đức Phật

nói rằng các vị thần đó cũng chỉ là một dạng sinh vật sống trong 1 thế giới khác

Họ có sức mạnh và trí tuệ vượt trội con người, nhưng bản thân họ cũng có

những giới hạn: họ không thoát khỏi được luật Nhân - Quả, không thoát khỏi được sinh tử luân hồi), cũng không phải là bất tử (dù tuổi thọ của họ rất dài lâu, nhưng rồi cũng phải đến lúc họ chết đi) Như vậy, Phật giáo coi các "chư Thiên" không phải là đấng tối cao toàn năng, mà chỉ là một dạng sống văn minh hơn loài người mà thôi Đối chiếu theo quan điểm khoa học hiện đại, có thể coi

các "chư Thiên" mà Phật giáo nói tới chính là những nền văn minh ngoài Trái

Đất có trình độ cao hơn hẳn so với loài người

Trang 10

1.1.4 Sự khác biệt giữa các tôn giáo khác

1.1.4.1 Quan niệm về thế giới:

1. Trong khi đó, các tôn giáo độc thần cho rằng đấng tối cao của họ là vĩnh hằng, bất biến và sáng tạo ra vạn vật, cho rằng đấng tối cao đó không sinh

ra từ đâu mà đã có khi vạn vật chưa tồn tại Còn Phật giáo thì cho rằng mọi sự vật, hiện tượng (trừ cõi Niết Bàn) đều là vô thường, không thể tồntại vĩnh hằng, có sinh thì phải có diệt Duyên khởi thì sinh, duyên tận thì diệt Ngay cả không gian, thời gian, các hành tinh và cả vũ trụ cũng vậy, cũng có khởi đầu, biến đổi và cuối cùng là kết thúc Trong Kinh Khởi thế nhân bổn, Phật thuyết giảng rằng đã có vô số các thế giới giống như Trái Đất từng được hình thành, phát triển rồi bị hủy diệt trong quá khứ, và tương lai cũng sẽ có vô số các thế giới sinh ra rồi hủy diệt như vậy (ngày nay, khoa học hiện đại đã chứng minh được rằng Mặt trời sẽ tàn lụi sau khoảng 5 tỷ năm nữa, Trái Đất cũng theo đó mà bị hủy diệt)

2. Nhiều tôn giáo cho rằng Trái Đất là trung tâm của vũ trụ Đạo Phật thì chorằng Trái Đất chỉ là một trong muôn vàn các thế giới cùng tồn tại, mỗi thếgiới lại có những đặc điểm khác nhau, Trái Đất chỉ giống như một hạt cát

trong vũ trụ Phật giáo có khái niệm Tiểu thiên thế giới (1 ngàn hành tinh), Trung thiên thế giới (1 triệu hành tinh), đại thiên thế giới (1 tỷ hành tinh), Tam thiên đại thiên thế giới (3 nghìn tỷ hành tinh) Đức Phật nói vũ

trụ này lại có vô số Tam thiên đại thiên thế giới, tức là số lượng các thế

giới khác nhau gần như là vô hạn Phật Thích Ca từng nói: "Trên vũ trụ này còn vô số những thế giới khác, trong một ly nước cũng có vô số những con trùng trong đó" Quan điểm này hiện nay đã được khoa học

hiện đại chứng minh là đúng (theo thuật ngữ của khoa học hiện đại thì

"Tam thiên đại thiên thế giới" chính là tương ứng với một thiên hà, còn những con trùng trong bát nước chính là vi khuẩn)

Trang 11

1.1.4.2 Quan niệm về loài người và thần linh:

1. Các tôn giáo khác coi loài người là sinh vật tối thượng Còn trong Phật giáo, loài người (nhân giới) cũng chỉ là một kiếp sống như các loài vật khác (súc sinh giới, a-tu-la giới, thiên giới), có kiếp sống còn cao cấp hơnloài người và các kiếp sống có sức mạnh khác nhau Song dù là người, a-tu-la, trời hay súc sinh thì cũng đều là sinh vật, phải chịu quy luật Nhân quả (làm thiện gặp thiện, làm ác gặp ác), không sinh vật nào là vĩnh cửu

mà đều phải có lúc chết, lúc chết thì sẽ luân hồi sang kiếp sống khác, kiếpsau như thế nào thì phải tùy vào việc làm nhiều thiện nghiệp hay ác

nghiệp (ví dụ: một người mà nhiều điều thiện thì kiếp sau có thể lên thiêngiới, nhưng kiếp sau mà làm điều ác thì kiếp sau nữa lại trở thành súc sinh)

2. Trong phần lớn các tôn giáo khác, các vị thần thánh được coi là có quyền lực siêu nhiên, loài người không thể nào đạt tới cấp độ năng lực của họ Đức Phật cũng nói về thần thánh, nhưng ngài nói rằng các vị thần cũng chỉ là một dạng sinh vật trong các thế giới Kiếp trước của các vị thần cũng chỉ là người hoặc loài vật, nhưng vì họ tạo ra nhiều thiện nghiệp nênkiếp này họ được phước báo, được đầu thai làm thần linh Họ có quyền năng siêu phàm nhưng không phải là toàn năng (họ không thoát khỏi được luật Nhân - Quả, không thoát khỏi được sinh tử luân hồi), họ cũng không phải là bất tử (dù tuổi thọ của họ rất dài lâu, có khi lâu hơn cả một chu kỳ thế giới, nhưng rồi cũng phải đến lúc họ chết đi) Đức Phật giảng như sau: một người nếu hành thiện tích đức, tu luyện thiền căn đủ mức thì kiếp sau họ sẽ được luân hồi vào các cõi Trời, trở thành một vị thần, nhưng khi phước báo hết thì thọ mạng của vị thần đó cũng hết, họ sẽchết và lại phải tiếp tục đầu thai vào kiếp sau (Phật nói rằng trong một số tiền kiếp, ngài từng là Thiên chủ Đế Thích, vua cõi trời Đao Lợi, từng trị

vì rất lâu nhưng rồi cũng phải chết đi) Đối chiếu theo quan điểm hiện

Ngày đăng: 04/09/2020, 09:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w