- Quản lý, vận hành và khai thác mạng thông tin viễn thông điện lực đảm bảo vận hành ổn định, an toàn, liên tục, chất lượng phục vụ cao cho công tác chỉ đạo, điều hành sản xuất, vận hành
Trang 1PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TY THÔNG TIN VIỄN THÔNG ĐIỆN
LỰC ĐỂ CHUẨN BỊ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC
KINH DOANH (ETC)
I - QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY THÔNG TIN VIỄN
Trước đây, quy mô ngành điện chưa được lớn và việc đáp ứng nhu cầu thông tin cũng thuần tuý và chỉ trong phạm vi ngành nên thông tin là một phòng không lớn, đó là Phòng “thông tin điều độ” của Công ty điện lực I Đến ngày 01/04/1990 mới được thành lập Trung tâm thông tin.
Từ ngày thành lập trung tâm thông tin hoạt động tốt và hiệu quả Buổi đầu thành lập trung tâm thông tin có 118 người và là một đơn vị hoạch toán phụ thuộc trực thuộc Công ty điện lực I Nhiệm vụ lúc này của trung tâm thông tin là quản lý vận hành viễn thông điện lực của các nhà máy điện, các sở điện lực trong phạm vi miền Bắc.
Đến năm 1994 trung tâm thông tin được giao thi công công trình xây lắp mạng lưới thông tin cho đường dây 500Kv Bắc - Nam Trung tâm đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đảm bảo đúng tiến độ thi công an toàn cho người lao động và vận hành máy móc thiết bị Do những thành tích đạt được
và hiệu quả kinh doanh đến ngày 01 - 04 - 1995 Trung tâm thông tin đã được
mở rộng quy mô và phát triển thành Công ty thông tin viễn thông điện lực trực thuộc Tổng công ty điện lực Việt Nam Thời điểm mới thành lập Công ty
Công ty là một trong 12 đơn vị thành viên hạch toán độc lập trực thuộc Tổng công ty điện lực Việt Nam Hạch toán kinh doanh của Công ty phụ thuộc
Trang 2chủ yếu và doanh thu các hoạt động viễn thông và nguồn thu từ các hoạt động khác.
Sản phẩm chủ yếu của Công ty là cung cấp các dịch vụ viễn thông cho thông tin liên lạc, thông tin FAX toàn ngành, thông tin đường dây nóng (Hotline).
2 - Về chức năng nhiệm vụ của Công ty viễn thông điện lực
- Quản lý, vận hành và khai thác mạng thông tin viễn thông điện lực đảm bảo vận hành ổn định, an toàn, liên tục, chất lượng phục vụ cao cho công tác chỉ đạo, điều hành sản xuất, vận hành hệ thống điện và kinh doanh của Tổng công
ty điện lực Việt Nam.
- Bảo dưỡng, hiệu chỉnh, sửa chữa, cải tạo và nâng cấp hệ thiết bị thông tin viễn thông điện lực
- Tư vấn, thiết kế, lập dự án các công trình thông tin viễn thông.
- Lắp đặt các công trình thông tin viễn thông, các công trình điện 35 KV trở xuống.
- Làm các dịch vụ viễn thông về thông tin viễn thông trong và ngoài ngành, các dịch vụ thương mại kinh doanh xuất nhập khẩu.
II - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY THÔNG TIN VIỄN THÔNG ĐIỆN LỰC CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG
CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
1 - Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty, chức năng nhiệm vụ của các Phòng, ban.
Về tổ chức sản xuất kinh doanh, Công ty thông tin viễn thông điện lực bao gồm:
- Trung tâm viễn thông Miền Bắc VT-1
- Trung tâm viễn thông Miền Trung VT - 2
- Trung tâm viễn thông Miền Nam VT - 3
Ngoài ra, sắp tới thành lập 2 trung tâm: Trung tâm thiết kế viễn thông
và Trung tâm thương mại giao dịch.
Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến Giám đốc Công ty là người lãnh đạo cao nhất, có quyền chỉ huy toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh Giám đốc phụ trách chung, phụ trách các chức năng quản lý Giám đốc là chủ tài khoản, có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến sự tồn tại và phát triển của Công ty
Trang 3Ngoài ra, Giám đốc còn trực tiếp phụ trách các phòng nghiệp vụ như Văn phòng Công ty, Phòng tổ chức nhân sự, Phòng quan hệ quốc tế và xuất nhập khẩu, Phòng kế hoạch vật tư, Phòng kinh doanh, Phòng tài chính kế toán, Tổ công nghệ và thị trường.
Dưới Giám đốc có 2 phó Giám đốc và một kế toán trưởng giúp việc là: Phó Giám đốc phụ trách kỹ thuật phụ trách trực tiếp phòng kỹ thuật và điều hành, các trung tâm viễn thông miền Bắc, Miền Trung, Miền Nam và giúp Giám đốc điều hành các đơn vị này.
Trang 4Giám đốc ETC
Trung tâm viễn thông Miền Bắc VT - 1 Trung tâm viễn thông Miền trung VT - 2 Trung tâm viễn thông Miền Nam VT - 3 Trung tâm thiết kế viễn thông Trung tâm thương mại và giao dịch
GIÁM ĐỐC CÔNG TY ETC
Kế toán trưởngPGĐ Kỹ thuật sản xuất PGĐ xây dựng cơ bản xuất Phòng hợp tác quốc tế và XNK Chủ tịch công đoàn ETC
Phòng kỹ thuật+ Điều hành Phòng quản lý công trìnhPhòng kinh doanh Bí thư Đoàn thanh niênETC
VT - 1 Phòng tư vấn thiết kế Văn phòng Công ty
Bảng 2.1: Về bộ máy quản lý và cơ chế điều hành của Công ty ETC
BẢNG 2.2: SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA ETC
( Nguồn: Phòng nhân sự)
Trang 5Phó Giám đốc xây dựng cơ bản phụ trách trực tiếp phòng quản lý công trình, phòng tư vấn thiết kế và giúp Giám đốc điều hành các đơn vị này.
Kế toán trưởng do Giám đốc Công ty đề bạt có vị trí tương đương như một phó Giám đốc Kế toán trưởng giúp Giám đốc tổ chức công tác kế toán thống kê và hạch toán kinh doanh cho Công ty Kế toán trưởng phụ trách trực tiếp phòng tài chính kế toán, đôn đốc các bộ phận trong Công ty.
Sau đó là các phòng nghiệp vụ của Công ty là các đơn vị tham mưu giúp Giám đốc chỉ đạo và quản lý các công tác nghiệp vụ cụ thể ở từng phòng.
Các phòng nghiệp vụ bao gồm:
1/ Văn phòng Công ty: Là đơn vị tổng hợp hành chính quản trị giúp Giám đốc chỉ đạo quản lý công tác hành chính, thi đua, tuyên truyền, văn thư lưu trữ
2/ Phòng kế hoạch vật tư: Tham mưu giúp Giám đốc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, thực hiện giao kế hoạch sản xuất cho các đơn vị, thống kê tổng hợp tình hình thực hiện kế hoạch và các hoạt động sản xuất kinh doanh, phân tích đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng vật tư thiết bị, quản lý việc sử dụng có hiệu quả vật tư thiết bị trong toàn Công ty.
3/ Phòng tổ chức nhân sự: Là đơn vị tham mưu giúp Giám đốc chỉ đạo quản lý về tổ chức cán bộ, pháp chế, lao động, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, khen thưởng kỷ luật trong toàn Công ty.
4/ Phòng kỹ thuật điều hành: Là đơn vị tham mưu giúp Giám đốc chỉ đạo về mặt kỹ thuật, điều hành thống nhất hoạt động của toàn bộ hệ thống thông tin trong Tổng công ty điện lực Việt Nam, thực hiện công tác thanh tra
an toàn của Công ty.
5/ Phòng tài chính kế toán: Là đơn vị tham mưu giúp Giám đốc về quản
lý tài chính và tổ chức công tác hạch toán kế toán của toàn Công ty.
6/ Phòng tư vấn thiết kế: Là đơn vị tham mưu giúp Giám đốc Công ty trong các lĩnh vực: Lập sơ đồ mạng viễn thông điện lực, lựa chọn cấu hình, phương thức, công nghệ, và các thiết bị cho hệ thống viễn thông đáp ứng yêu cầu ngành điện và theo kịp trình độ phát triển của Thế giới Đồng thời là đầu mối giải quyết các công việc liên quan đến lập dự án phát triển, xây dựng, cải tạo và nâng cấp các công trình thông tin viễn thông cho Công ty viễn thông điện lực đạt chất lượng và hiệu quả kinh tế, đảm bảo công tác dự toán thực hiện đúng chế độ quy định hiện hành của nhà nước cho các công trình đầu tư.
7/ Phòng kinh doanh: Tham mưu giúp Giám đốc chỉ đạo công tác kinh doanh dịch vụ viễn thông, kí kết hợp đồng cung ứng dịch vụ viễn thông, lập hồ
sơ thanh toán cước phí viễn thông đối với các đơn vị viễn thông trong và ngoài ngành điện.
Trang 68/ Phòng quản lý công trình: Tham mưu giúp Giám đốc trong lĩnh vực quản lý các công trình sửa chữa lớn, quản lý các dự án đầu tư, quản lý công tác thẩm định, kinh tế dự toán.
9/ Phòng quan hệ quốc tế và xuất nhập khẩu: Tham mưu giúp Giám đốc chỉ đạo các công việc trong các lĩnh vực quốc tế Tìm hiểu tiếp cận thị trường quốc tế có liên quan đến việc hoạt động của Công ty và làm công tác tiếp thị quảng cáo cho Công ty, tham gia nghiên cứu giá cả vật tư thiết bị nhập khẩu, tham mưu cho lãnh đạo chọn bạn hàng, đối tác với nước ngoài, công nghệ phù hợp với sản xuất của Công ty.
10/ Tổ công nghệ và thị trường: Nghiên cứu đưa vào áp dụng các công nghệ mới phù hợp với Công ty, sửa chữa , bảo dưỡng, thay thế các thiết bị công nghệ bị hỏng hoặc lạc hậu trong Công ty Đồng thời tổ công nghệ và thị trường còn có nhiệm vụ tìm thị trường cho các sản phẩm dịch vụ của Công ty.
Các đơn vị sản xuất trực tiếp bao gồm:
1/ Trung tâm viễn thông Miền Bắc (VT- 1): Là đơn vị sản xuất trực thuộc Công ty, hoạt động trên phạm vi miền Bắc với chức năng nhiệm vụ như sau:
Quản lý vận hành mạng viễn thông điện lực Miền Bắc, đảm bảo thông tin thông suốt, đạt chất lượng và độ tin cậy cao đáp ứng yêu cầu thông tin của ngành điện phía Bắc.
Sửa chữa các trang thiết bị viễn thông, không ngừng nâng cao chất lượng, tham gia quá trình đổi mới công nghệ trang thiết bị do Công ty giao thuộc địa phận quản lý của trung tâm.
Tổ chức kiểm tra vận hành chất lượng thông tin và tổ chức chỉ đạo phối hợp các chướng ngại trong mạng viễn thông 500KV.
Đảm bảo thông tin thông suốt phục vụ hoạt động của cơ quan Tổng công
ty điện lực Việt Nam, Bộ công nghiệp, Cơ quan Công ty điện lực 1, Công ty điện lực Hà Nội, nhanh chóng khắc phục sự cố thông tin trong khu vực này.
Quản lý vận hành, sửa chữa mạng cung cấp điện và dự phòng cho thiết
bị thông tin, viễn thông hệ thống điện cho điều độ hệ thống điện Miền Bắc, điều
độ hệ thống điện Quốc gia và khu vực quan trọng của Tổng công ty điện lực Việt Nam.
2/ Trung tâm viễn thông (VT- 2)
Chức năng, nhiệm vụ giống (VT- 1) nhưng phạm vi hoạt động là địa bàn miền Trung.
3/ Trung tâm viễn thông (VT- 3)
Chức năng, nhiệm vụ giống (VT- 1) nhưng phạm vi hoạt động là địa bàn miền Nam.
Trang 7Từ thực tế tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ của Công ty, ta rút ra:
Ưu điểm: Tổ chức bộ máy trong Công ty là trực tuyến, nên nhiệm vụ giữa các phòng ban chức năng là không chồng chéo, đảm bảo tính thống nhất từ trên xuống dưới trong hoạt động quản trị Hơn nữa, với tổ chức bộ máy của Công ty đã xoá bỏ được một cấp quản trị phải nhận nhiều mệnh lệnh quản trị khác nhau.
Nhược điểm: Với tổ chức bộ máy trong Công ty là trực tuyến thì đường
ra quyết định là dài, nhiều cấp quản trị, quản trị cấp càng cao thì công việc quản trị là nhiều nên rất khó tập trung vào một số nhiệm vụ nhất định Với mô hình này sẽ không tận dụng được các chuyên gia trong hoạt động quản trị.
2 - Đặc điểm vật tư nguyên liệu cho sản xuất
Vật tư Công ty tiêu dùng chủ yếu là các loại tổng đài, tải ba, đo lường xa,
vi ba, thiết bị động lực, thiết bị truyền dẫn, hệ thống thông tin vô tuyến, tải ba, máy thu phát
Phần lớn vật tư, thiết bị đều nhập khẩu cho nên mất rất nhiều thời gian cho việc nhập khẩu và nhập khẩu với số lượng lớn.
Vật tư phục vụ sản xuất kinh doanh của Công ty thường lớn, tinh khiết, đòi hỏi phải bảo quản cẩn thận Vì vậy phải bao gói đúng kỹ thuật Chủng loại vật tư để sản xuất đa dạng, mỗi loại lại có tính chất sử dụng khác nhau, tất cả vật tư đưa vào sử dụng đều phải đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng về tính chất cơ lý và các yêu cầu kỹ thuật.
Vấn đề bảo quản đòi hỏi kho chứa vật tư phải được bố trí sắp xếp hợp lý
và theo từng khu vực riêng biệt.
Nhận xét : Muốn cho sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục, đều đặn thì phải thường xuyên đảm bảo đủ vật tư về số lượng, kịp về thời gian, đúng quy cách, phẩm chất, đồng bộ sẽ đáp ứng được yêu cầu của sản xuất nhịp nhàng, cân đối, đúng kế hoạch và thoả mãn được nhu cầu của khách hàng.
Nếu đảm bảo vật tư không đầy đủ, không kịp thời, không đồng bộ và dẫn đến ngừng trệ trong sản xuất Trong bất cứ lúc nào cũng phải đảm bảo vật tư
để đáp ứng các yêu cầu trên Ngoài ra, phải tính đến giá cả chi phí vận chuyển, bốc xếp, cấp phát vật tư một cách tốt nhất hoàn thành được mục tiêu kế hoạch
đề ra.
3 - Đặc điểm máy móc thiết bị dây chuyền công nghệ.
Về máy móc và thiết bị , Công ty chủ yếu nhập khẩu từ các nước Liên Xô,
Mỹ, Nhật, Đức, Đài loan, Anh, Thuỵ Điển, Hà Lan, Na uy, và thoả mãn tương đối một số điều kiện như hiện đại về công nghệ, giá thành phải chăng Cách
Trang 8thức mua máy móc và thiết bị của Công ty là xem báo giá ở một số nước có sản phẩm và công nghệ, sau đó tổ chức đấu thầu và lựa chọn máy móc phù hợp với Công ty về giá cả và công nghệ.
Do đặc điểm của ngành thông tin viễn thông nên máy móc và thiết bị được sử dụng 24/24.
Về khấu hao máy móc và thiết bị ở Công ty là khấu hao đường thẳng, thường là một máy móc khi đưa vào sử dụng được tính thời gian hữu dụng là
có chế độ sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ.
4 - Đặc điểm về lao động tiền lương.
Về lao động tiền lương, Công ty trả lương làm theo hai đợt trong tháng vào các ngày 10 và 30, 31 hàng tháng.
Công ty trả lương theo hình thức khoán doanh thu theo quyết định số 546/ĐVN - TCKT ngày 2 tháng 8 năm 1995 và công văn số 3109/ĐVN/ TCKT ngày 7/8/97 quy định: Với khai thác trong ngành là 270đ/1000đ doanh thu và khai thác ngoài ngành là 350đ/1000đ doanh thu Công ty dùng công cụ đòn bẩy tiền lương nên thu nhập của người lao động không bị phụ thuộc vào năm công tác mà chỉ phụ thuộc vào khả năng làm việc của họ.
( Bảng 2.4)
Bảng 2.3: Nguyên giá, giá trị hao mòn, giá trị còn lại của máy móc thiết bị
Đơn vị: triệu đồng.
xuất Nguyên giá Giá trị hao mòn Giá trị còn lại
Nguồn ở trạm và sở điện lực Liên xô 1314 1314 0
Trang 9Hệ thống thông tin vô tuyến Đài Loan 6751 4188 2563
Máy móc thiết bị khác Việt Nam 9056 4166 4890
Dùng cho thông tin liên lạc Hà Lan 3298 1658 1640
II Máy móc thiết bị động lực Na uy 162 74 88
III Dụng cụ làm việc đo
lường thí nghiệm Thuy Điển 131 81 50
( Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Qua bảng 2.4 ta thấy kế hoạch đặt ra là lớn nhưng thực hiện được phần lớn dừng ở mức 80% năm 1999, sang năm 2000 tình hình có cải thiện hơn, kế hoạch đặt ra là gần sát với thực hiện Nhưng xét về tổng thể thì năm 2000 các chỉ tiêu đạt cao hơn năm 1999 Số lượng lao động là tăng, thu nhập bình quân/người/tháng năm 2000 là cao hơn năm 1999.
Bảng 2.4 : Quỹ tiền lương, BHXH,BHYT, KPCĐ trong 2 năm 1999 và
Trang 10Xét đến cơ cấu chất lượng lao động năm 1999 và năm 2000.
Bảng 2.5: Cơ cấu chất lượng lao động
Đơn vi: Người
- Kỹ sư hoá vô cơ hữu
Nhận xét
Về tổng số CBCNV năm 2000 lớn hơn năm 1999 là 14 người, trong đó số CBCNV nam tăng 4 (lao động ), nữ tăng 10 (lao động ) Ta thấy tăng như vậy là chưa hợp lý Bởi vì, Công ty viễn thông Điện lực thì số CBCNV nam là cần nhiều hơn nữ.
Nhưng xét về tổng thể thì năm 1999 CBCNV nam chiếm 79,59%, nữ chiếm 20,41% Sang năm 2000 CBCNV nam chiếm 78,3% còn nữ chiếm 21,7%
là hợp lý với điều kiện sản xuất của đơn vị kinh doanh dịch vụ thông tin viễn thông trải dài trên toàn quốc cả những nơi rừng núi hẻo lánh, điều kiện khắc nghiệt thích hợp với nam Sở dĩ sự biến động từng chi tiết của nam và nữ là không tốt nhưng biến động về tổng thể là tốt vì sự biến động chung là ít, không đáng kể.
Trang 11Về chất lượng lao động :
Trình độ đại học, cao đẳng ở hai năm 1999 và 2000 lần lượt là 55,47%, 54,97%, năm 2000 thấp hơn năm 1999 nhưng về số tuyệt đối là tăng 5 người Trong đó:
+ Kỹ sư viễn thông tăng 3 người hay tăng 0,13% con số này tuy nhỏ nhưng xét xu hướng chung là thích hợp với Công ty.
+ Kỹ sư hoá vô cơ, hữu cơ tăng là 4 người hay tăng 0,6% Đây cũng là một con số tốt tuy thấp hơn so với thực tế đòi hỏi.
+ Kỹ sư kinh tế và các ngành khác là giảm 2 người hay giảm 1,22 % xét
về xu hướng chung thì tốt nhưng xét về tỷ lệ toàn bộ thì không tốt vì hiện Công
ty ngày một mở rộng thì cũng cần tăng đội ngũ cán bộ này Hơn nữa, phần lớn
là đi từ các lớp sơ cấp, trung cấp lên đại học tại chức nên cũng có nhiều hạn chế Cần tăng đội ngũ cán bộ kinh tế có năng lực làm việc tốt, tăng kỹ sư viễn thông cho phù hợp với sự phát triển chung.
Trình độ trung cấp bậc cao và công nhân lành nghề năm 2000 là cao hơn năm 1999 về số tuyệt đối nhưng tỷ lệ này so với Công ty và so với nhiệm vụ của Tổng công ty giao là còn thấp.
có tổ chức kỷ luật và có tính thần hợp tác cao độ để sản xuất được ăn khớp nhịp nhàng, hiệu quả.
Nhược điểm: Về cơ cấu giữa đại học, cao đẳng, trung cấp bậc cao, công nhân lành nghề còn chưa hợp lý.
Bảng 2.6: Về số lượng lao động năm 1999 và năm 2000.
Đơn vị: Người
99/2000 Số
lượng trọng % tỉ Số lượng trọng %tỉ
Trang 12vì trong quá trình phát triển mở rộng quy mô Công ty thành lập thêm một số phòng, hai phân xưởng vận hành thành hai Trung tâm viễn thông miền Bắc nên bổ sung cán bộ quản lý cho phần mở rộng đó (trưởng, phó trung tâm, trưởng, phó quản đốc) Cán bộ quản lý chủ yếu được cân nhắc, đề bạt từ số nhân viên quản lý có trình độ và kinh nghiệm Số lượng nhân viên phục vụ tăng
9 (lao động ) hay 1,58% là do điểm trụ sở làm việc có sự di chuyển và ở nhiều nới khác nhau, máy móc thiết bị cần lau chùi, bảo dưỡng nên nhân viên phục
vụ ở các đơn vị và nhân viên tổ môi trường tăng lên.
Qua hai năm 1999 và năm 2000 ta có nhận xét như sau:
Một là, lãi sau thuế năm 2000 là cao hơn năm 1999 là 216 triệu đồng trong khi vốn sản xuất bình quân năm 2000 là giảm so với năm 1999 là 11064 triệu đồng Nên năm 2000 một đồng vốn sản xuất bình quân đã mang lại lãi sau thuế cao hơn năm 1999 là 0,016 đồng.
Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu tài chính.
2 Vốn sản xuất bình quân 76962 65898 - 11064
3 Mức danh lợi theo vốn 0,076 Một đồng
vốn sản xuất kinh sản xuất kinh doanh 0,092 Một đồng vốn 0,016
Trang 13sản xuất=(2)
) 1 ( doanh một năm
sản sinh được 0,076 đ lãi sau thuế
một năm sản sinh được 0,092 đ lãi sau
0,191 Một đồng vốn cố định một năm sản sinh được 0,19 đồng lãi sau
thuế
0,255 Một đồng vốn cố định một năm sản sinh được 0,255 đồng lãi sau thuế
xuất (J) 365 (ngày) 365 (ngày)
* Số vòng quay của vốn
lưu động
( ) ( ) ( )
2 6
1 6
=
H
1,013 (vòng) trong một năm vốn lưu động quay được 1,013 vòng
1,039 (vòng) trong một năm vốn lưu động quay được 1,039
0,026 vòng
quân
0,962: để tạo ra 1 đồng doanh thu cần 0,962 đồng vốn lưu động bình quân
351 (ngày) Một vòng quay của vốn lưu động bình quân trong kỳ là
351 ngày
- 9 ngày
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Hai là, về vốn cố định bình quân năm 2000 là giảm so với năm 1999 là
6769 triệu đồng nên năm 2000 một đồng vốn cố định bình quân đã mang lại lãi sau thuế cao hơn năm 1999 là 0,64 đồng.
Ba là, về tốc độ chu chuyển vốn lưu động của Công ty trong hai năm qua: Doanh thu thuần năm 2000 là thấp hơn năm 1999 là 3253 triệu đồng, vốn lưu động bình quân năm 2000 là thấp hơn năm 1999 là 4295 triệu đồng Nhưng số
Trang 14vòng quay của vốn lưu động năm 2000 là nhanh hơn năm 1999 là 0,026 (vòng) Như vậy năm 2000 để có một đồng doanh thu thuần sẽ cần ít hơn 0,025 đồng vốn lưu động bình quân so với năm 1999.
Số ngày của vòng quay vốn lưu động năm 2000 là ít hơn năm 1999 là 9 ngày.
Vậy, qua bảng 2.7 ta thấy tình hình sử dụng vốn của Công ty năm sau hiệu quả hơn năm trước Nhưng xét từng chi tiết ta thấy vòng quay của vốn lưu động là thấp cần phải rút ngắn chu kỳ sản xuất Hơn nữa, một đồng vốn đem vào sản xuất kinh doanh thì khả năng sinh lợi còn là thấp.
6 Đặc điểm về thị trường tiêu thụ và sản phẩm của Công ty.
Về thị trường tiêu thụ sản phẩm: Công ty có thị trường rộng lớn là được độc quyền phục vụ chuyên ngành cho sản xuất kinh doanh của Tổng công ty điện lực Việt Nam Vì vậy, thị trường là rộng lớn Hiện khả năng đáp ứng của Công ty là còn thấp Mà nguyên nhân cũng một phần là do sự phát triển của ngành điện còn thấp nên khả năng phục vụ của Công ty còn nhiều hạn chế Một
số nơi cần điều độ quá trình sản xuất kinh doanh Tổng công ty điện lực vẫn phải sử dụng mạng viễn thông của bưu điện Đây chính là khe hở của viễn thông điện lực Cần khắc phục để tránh tình trạng “lấn sân” của bưu chính viễn thông
Về sản phẩm của Công ty:
Thứ nhất là sản phẩm chính là quản lí mạng viễn thông trên toàn quốc Sau là Công ty có bề dày kinh nghiệm trong xây lắp thông tin, điều khiển các công trình lớn như:
Tham gia xây dựng, hiệu chỉnh tuyến cáp quang OPGW trên đường trục siêu cao áp Bắc Nam Công ty đang quản lý và vận hành xây dựng
hệ thống viễn thông, điều khiển nhà máy điện Phú Mỹ, nhiệt điện Phả Lại, nhà máy thuỷ điện Yaly, Vĩnh Sơn, Hàm Thuận Đa My, đài phát thanh Nam Bộ.
Đã và đang lắp ráp SKD và cung cấp tải ba số ESB 2000i của hãng Siemens tủ bảng điện, tủ bảng điều khiển và tủ bảng rơ le bảo vệ công nghệ số cho các trạm 110KV - 220KV lưới điện trên toàn quốc.
7 Tình hình kinh doanh của Công ty trong thời gian qua.
Trong những năm qua Công ty đã đạt được những kết quả sau:
Bảng 2.8: Tình hình kinh doanh của Công ty
Đơn vị tính: Triệu đồng
1 Doanh thu Công ty 15464 20447 25786 30769 33791 35937
2 Nộp ngân sách nhà nước 2737 4765 6323 8580 8957 9442
Trang 153 BHXH, BHYT, KPCĐ 763 211 246 338 355 379
4 Lợi nhuận sau thuế 2959 4725 6083 5941 5846 6062
( Nguồn : Phòng tài chính kế toán)
Hình1: So sánh các chỉ tiêu trong các năm.
Qua bảng số liệu trên ta có nhận xét, từ khi thành lập đến nay doanh thu của Công ty là tăng lên theo từng năm Nộp ngân sách cũng tăng thể hiện phần đóng góp của Công ty vào ngân sách nhà nước là đáng kể.
Lợi nhuận tăng đều từ năm 1995 đến năm 1997, năm 98,99 có giảm nhưng là con số không đáng kể Sang đến năm 2000 lợi nhuận sau thuế tăng thể hiện Công ty làm ăn là tốt trong những năm qua Hiện nay Công ty đang quản lý 2946 máy điện thoại 5 số với giá thuê bao là 16200 đ /máy giảm 40% so với giá thuê bao của Bưu chính Viễn thông hiện nay là 27000 đ /máy.
So với tốc độ phát triển trung bình của ngành 15% thì tốc độ phát triển của Công ty là 18%, cao hơn trung bình ngành nên Công ty kinh doanh có hiệu quả.
Về nộp ngân sách Nhà nước tăng dần trong các năm, từ 2737 triệu đồng năm 1995 ( năm thành lập ) đến năm 2000 con số này đã tăng lên tới 9442 triệu đồng gấp 3,5 lần Quỹ của Công ty tăng từ 3800 triệu đồng năm 1995 thì đến năm 2000 đã lên tới 9297 triệu đồng gấp 2,5 lần Lợi nhuận sau thuế tăng
từ 2959 triệu đồng năm 1995 lên 6062 triệu đồng năm 2000 gấp 2 lần so với năm.
Về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn ngày càng tăng biểu hiện Công ty chú trọng ngày càng nhiều đến cán bộ công nhân viên từ đó kích thích họ gắn bó với Công ty và yên tâm công tác.
Qua một số sự so sánh trên ta có nhận xét: Tình hình kinh doanh của Công ty qua các năm là tốt Công ty không những đứng vững được trong điều kiện kinh
tế thị trường mà ngày càng thích nghi và kinh doanh ngày càng có lãi Công ty
đã làm được một số việc rất khó là hạ giá thành được thấp hơn Bưu chính Viễn thông Đây có thể nói là ưu điểm lớn nhất của Công ty.
Tuy nhiên, nhược điểm của Công ty ở chỗ chưa phục vụ được hết thị trường trong ngành và việc phục vụ chỉ đơn thuần là điều độ sản xuất từ Tổng Công ty xuống các trung tâm điều độ Điện và phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của ngành Điện.
III PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TY THÔNG TIN VIỄN THÔNG ĐIỆN LỰC ĐỂ CHUẨN BỊ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH VÀ PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP.
Trang 16Công ty thông tin viễn thông Điện lực là một doanh nghiệp nhà nước đã trải qua 7 năm hoạt động độc lập kể từ khi tách ra khỏi Công ty điện lực 1 Đồng thời với quá trình đó là chuyển đổi nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường nên Công ty vừa đảm bảo phục vụ tốt cho quá trình sản xuất kinh doanh của ngành Điện do Tổng công ty Điện lực giao vừa kinh doanh
có lãi Do chịu sự quản lý của Tổng công ty Điện lực Việt nam nên hiện nay Công ty vẫn đang thực hiện quá trình kinh doanh theo các kế hoạch của Tổng công ty Điện lực giao cho trên tinh thần kế hoạch dài hạn của Tổng công ty Điện lực - từ 5 đến 10 năm - Công ty thông tin viễn thông Điện lực đề ra kế hoạch ngắn hạn - thường là một năm - trình lên Tổng công ty -Điện lực phê duyệt để thực hiện Các kế hoạch ngắn hạn thường là thực hiện từng bước trong kế hoạch dài hạn Từ đó đòi hỏi Công ty không chỉ dừng lại ở mức phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục tiêu ngắn hạn mà còn là từng bước thực hiện tốt để hoàn thành các kế hoạch trong dài hạn của Tổng công ty để vừa phù hợp với sự phát triển của ngành Điện, vừa đảm bảo thoả mãn nhu cầu xã hội, đồng thời đứng vững trước sức ép của thị trường.
Do vậy, việc hoạch định chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp trong tương lai là điều Công ty quan tâm và theo đuổi vì đó là nhằm đến một mục tiêu tăng trưởng bền vững.
Thực tế hoạt động của Công ty trong những năm qua cho thấy, mặc dù chưa hoạch định một chiến lược kinh doanh cho Công ty nhưng tư duy và đề xuất hành động thực tiễn trong quá trình quản lý, quản trị kinh doanh của Công ty trong những năm qua đã hình thành nên một số yếu tố nền tảng của chiến lược kinh doanh, một số biện pháp định hướng của Công ty đã mang nhiều dáng dấp của những mô hình chiến lược kinh doanh
Như vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng bền vững điều đầu tiên là phải nắm được xu hướng biến động về mọi mặt, muốn vậy ta phải phân tích đầy đủ, đúng môi trường kinh doanh để làm căn cứ xây dựng chiến lược.
1 Những thuận lợi và khó khăn của Công ty thông tin viễn
thông Điện lực do tác động của môi trường vĩ mô.
Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp cho Công ty trả lời được câu hỏi: Công ty đang phải đối mặt với những gì? Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố chủ yếu sau:
Các yếu tố kinh tế.
Các yếu tố Chính Phủ - Pháp luật.
Các yếu tố tự nhiên.
Các yếu tố kỹ thuật - Công nghệ
Các yếu tố nhân khẩu học.
1.1 Các nhân tố kinh tế.
Trang 17Đối với mỗi doanh nghiệp các nhân tố kinh tế luôn có những tác động hết sức quan trọng, có thể tác động trực tiếp và gián tiếp đến doanh nghiệp Những động thái của nền kinh tế luôn tiểm ẩn những cơ hội và đe doạ Đặc biệt trong nền thị trường đầy biến động thì các doanh nghiệp càng cần phải phân tích một cách khoa học để thích ứng, nhạy bén với môi trường bên ngoài
và tầm nhìn xa.
1.1.1 Các yếu tố kinh tế quốc tế
Một là, nền kinh tế Thế giới vừa bước qua cuộc khủng hoảng bắt nguồn
từ Châu Á và lan ra toàn cầu Cuộc khủng hoảng này làm cho nhiều nước rơi vào sự suy thoái đã ảnh hưởng lớn đến sự đầu tư của các nước vào Việt Nam.
Năm 1996 tổng mức đầu tư nước ngoài vào Việt nam là 8497,3 tr USD thì đến năm 1999 chỉ còn 1534,76 triệu USD (nguồn thời báo đầu tư VN số 429) Tuy nhiên thời điểm khó khăn nhất đã qua, nền kinh tế Thế giới đang có dấu hiệu hồi phục sau cuộc khủng hoảng Trong năm 2000 một số nước có mức đầu
tư lớn vào Việt Nam đã có mức tăng trưởng đáng kể.
Bảng 2.9: Tốc độ tăng trưởng một số nước đầu tư vào Việt Nam năm 2000.
TT Nước Mức đầu tư vào Việt Nam (triệu USD) Tăng trưởng (%)
ty nói riêng Cụ thể là với mức đầu tư nước ngoài vào Hà Nội tăng dần lên thì tạo nên sự tăng trưởng trong các ngành, đẩy nhu cầu tiêu dùng điện lên cao Vì vậy Tổng công ty điện cần tăng năng suất của mình và xây dựng thêm nhiều công trình thuỷ điện mới Từ đó đẩy mạnh nhu cầu sử dụng mạng viễn thông của Công ty trong quá trình sản xuất Hơn nữa, từ thực tế đòi hỏi cao, Công ty
sẽ bằng nguồn vốn tự có, từ Tổng công ty hỗ trợ để nâng cao khả năng phục vụ của mình.
Hai là, xu thế phát triển khu vực hoá, toàn cầu hoá với sự hiện diện của các khối, các hiệp hội thực sự là một nhân tố quan trong tác động đến hoạt động và sự phát triển không những của một Công ty, một ngành mà tác động đến cả một quốc gia Nền kinh tế Việt Nam sẽ thực sự chịu các tác động mạnh khi gia nhập AFTA và xa hơn nữa là WTO.
Việc gia nhập AFTA là một bước phát triển tất yếu để tránh sự tụt hậu của Việt Nam Đây sẽ là điều kiện để Công ty viễn thông Điện lực tiếp xúc với