1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam

111 428 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Sức Cạnh Tranh Một Số Sản Phẩm Của Công Ty Cổ Phần Dinh Dưỡng Hồng Hà Tại Tỉnh Hà Nam
Tác giả Nguyễn Minh Tuấn
Người hướng dẫn ThS. Đỗ Trường Lâm
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 910 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khoá luận này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khoá luận này đều

đã được cảm ơn và mọi thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2011

Người cam đoan

Nguyễn Minh Tuấn

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành cuốn khoá luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn ThS Đỗ Trường Lâm đã tận tình giúp đỡ và định hướng em thực hiện đề tài thực tập tốt nghiệp Cảm ơn bố mẹ, các cô chú, anh chị công tác tại Công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà cũng như các cô chú, anh chị trong phòng kinh doanh của Công ty đã tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp đỡ

em trong quá trình thực tập tại Công ty.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về kiến thức thực tế nên chắc chắn cuốn khoá luận thực tập này còn nhiều thiếu sót Em mong được sự góp ý và giúp đỡ của thầy giáo và các cô chú, anh chị trong công ty

để bài luận văn tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.

Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2011

Sinh viên

Nguyễn Minh Tuấn

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh của công ty 39

Bảng 3.2: Các sản phẩm chính của công ty 44

Bảng 3.3: Báo cáo doanh thu bán hàng năm 2009 và 2010 46

Bảng 3.4: Báo cáo sản lượng bán hàng năm 2010 48

Bảng 4.1: Sản lượng tiêu thụ TACN tại tỉnh Hà Nam năm 2010 54

Bảng 4.2: So sánh thị phần TACN cho lợn của một số công ty 56

trên thị trường Hà Nam 56

Bảng 4.3: So sánh thị phần TACN cho gà đẻ của một số công ty 59

trên thị trường Hà Nam 59

Bảng 4.4: So sánh chủng loại sản phẩm HH cho lợn và gà đẻ 67

của Hồng Hà và CP năm 2011 67

Bảng 4.5: Tổng hợp ý kiến của các đại lý về chủng loại sản phẩm 68

Bảng 4.6: Đánh giá thu thập phiếu điều tra 70

Bảng 4.7: Đánh giá của các đại lý về chất lượng sản phẩm 72

Bảng 4.8: Thành phần dinh dưỡng cho lợn siêu nạc 74

Bảng 4.10: Chỉ tiêu chất lượng dinh dưỡng cho sản phẩm gà đẻ 74

từ 18 tuần tuổi đến kết thúc 74

Bảng 4.11: Giá bán các sản phẩm cho lợn và gà đẻ của công ty Hồng Hà 76

tháng 3/2011 76

Bảng 4.12: Giá bán một số sản phẩm cho lợn và gà đẻ 77

của các đối thủ cạnh tranh tháng 3/2011 77

Bảng 4.13: Điều tra ý kiến đại lý về giá bán 78

Bảng 4.14: Chiết khấu của công ty đối với các đại lý năm 2011 80

Bảng 4.15: Thưởng sản lượng của công ty đối với các đại lý 81

Bảng 4.16: Ma trận SWOT của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà 90

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Mô hình năm nhân tố cạnh tranh của M Porter 18

Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty 34

Hình 3.2 Biểu đồ cơ cấu lao động theo trình độ 36

Hình 3.3 Nguyên liệu sản xuất của công ty 41

Hình 3.4 Sơ đồ quy trình sản xuất của công ty 41

Hình 3.5 Sơ đồ tăng trưởng doanh thu của công ty 46

Hình 4.1 Sơ đồ thị phần của một số đối thủ cạnh tranh của Hồng Hà 57

về sản phẩm HH cho lợn 57

Hình 4.2 Sơ đồ thị phần của một số đối thủ cạnh tranh 60

của Hồng Hà về sản phẩm HH gà đẻ 60

Hình 4.3 Sơ đồ kênh phân phối của công ty 82

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CBCNV: Cán bộ công nhân viênĐTDH: Đầu tư dài hạn

ĐTNH: Đầu tư ngắn hạnHH: Hỗn hợp

STT: Số thứ tựTACN: Thức ăn chăn nuôiTAHH: Thức ăn hỗn hợpTAĐĐ: Thức ăn đậm đặcTBCN: Tư bản chủ nghĩaTSCĐ: Tài sản cố địnhTSLĐ: Tài sản lưu độngVCSH: Vốn chủ sở hữu

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài được thực hiện tại Công ty Cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà nhằm đưa ra những cơ sở lý luận và thực tiến về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, tìm hiểu thực trạng sản xuất kinh doanh, tiêu thụ các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trên thị trường Hà Nam Đề tài tiến hành nghiên cứu sức cạnh tranh của 2 sản phẩm là HH cho lợn và HH cho gà đẻ tại thị trường Hà Nam

Trong kinh tế khái niệm cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành giật một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thương trường Cạnh tranh có thể đem lại lợi ích cho người khác song xét dưới góc độ toàn xã hội cũng có những mặt tích cực (chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn ) Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế là tối đa hóa lợi ích, đối với người sản xuất kinh doanh là có lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi Cạnh tranh là một trong những động lực cơ bản và là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường, không có cạnh tranh thì không có kinh tế thị trường

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ được nhanh trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên thị trường Hay nói một cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó; năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc độ cung cấp, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua bán, v.v

Công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà là một công ty con của tập đoàn Long Hải được thành lập năm 2004 tại KCN Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh

Hà Nam trên tổng diện tích 4ha, đến cuối năm 2008 mở rộng thêm 2ha Hiện nay công ty có 281 lao động, trong đó chủ yếu là lao động phổ thông Hồng

Trang 8

Hà là một công ty chuyên sản xuất TACN với các sản phẩm TA cho gia súc

và gia cầm Hàng năm công ty có tăng trưởng doanh thu khá đều, tốc độ tăng trưởng doanh thu đạt khoảng 30% - 40%

Tại thị trường Hà Nam, năm 2010 tổng sản lượng tiêu thụ của sản phẩm HH cho lợn và cho gà đẻ của Hồng Hà đạt 11.000 tấn Hiện tại, Hồng

Hà đang là công ty có thị phần đứng thứ 2 trên thị trường Hà Nam sau công ty

CP Sản phẩm chủ đạo của Hồng Hà tại thị trường Hà Nam là các sản phẩm

HH cho lợn siêu nạc và lợn lai Các công ty lớn đang cạnh tranh với Hồng Hà hiện có CP, Con cò, Cargill, Dabaco,…

Hồng Hà là công ty có năng lực cạnh tranh trên thị trường Hà Nam về sản phẩm HH cho gà đẻ và HH cho lợn Các sản phẩm của công ty tương đối

đa dạng, phong phú, chất lượng tốt, có các chính sách đối với khách hàng phù hợp, là một công ty có thương hiệu tại Hà Nam về sản xuất TACN Tuy nhiên, giá cả các sản phẩm tương đối cao, mẫu mã bao bì chưa bắt mắt, hệ thống kênh phân phối chưa đáp ứng được nhu cầu tiện dụng của người chăn nuôi làm ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của công ty

Qua sự phân tích ma trận đánh giá các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của công ty có kết luận rằng: Năng lực cạnh tranh của công ty là khá tốt Công ty có một số thế mạnh nhất định như chất lượng sản phẩm tốt, sản phẩm đa dạng, phong phú, thị trường Hà Nam là thị trường tiêu thụ gần công ty sản xuất, Tuy nhiên công ty cũng bộc lộ một

số điểm yếu là dây chuyền sản xuất thấp, giá cả sản phẩm cao, mạng lưới tiêu thụ tại Hà Nam chưa chặt chẽ,

Căn cứ vào phân tích điểm mạnh điểm yếu, cơ hội và thách thức của Công ty từ đó đề xuất một số giả pháp về thị trường, về nội lực tài chính, hoạch định chiến lược sản phẩm, cho Công ty để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

Trang 9

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc đất nước ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo ra tiền đề nhưng cũng rất nhiều thách thức đối với sự phát triển của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp nước ta đang từng bước thoát khỏi tình trạng trì trệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều doanh nghiệp đã tạo lập và nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của mình trên thị trường và được người tiêu dùng chấp nhận Thêm vào đó, trong xu thế hội nhập hiện nay, cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt không chỉ trong phạm vi quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu Vì vậy, sự cạnh tranh trên thị trường của các thành phần kinh tế ngày càng gay gắt, khốc liệt

Công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà là một doanh nghiệp trẻ trong hệ thống các doanh nghiệp của Việt Nam Với 2 nhãn hàng là thức ăn chăn nuôi Cánh Buồm Đỏ và Maxgro, công ty đã có các sản phẩm tại hầu hết các tỉnh miền Bắc Trong điều kiện là một doanh nghiệp trẻ mới được thành lập nhưng công ty cổ phẩn dinh dưỡng Hồng Hà đã có chỗ đứng nhất định trên thị trường Trong năm vừa qua sản lượng tiêu thụ của công ty Hồng Hà chiếm khoảng 5% tổng sản lượng tiêu thụ của ngành chăn nuôi Ban giám đốc công

ty đang có kế hoạch đưa sản lượng tiêu thụ của công ty lên tốp 5 doanh nghiệp có sản lượng tiêu thụ thức ăn chăn nuôi lớn nhất cả nước và mở rộng thị trường sang các tỉnh phía Nam Thị trường tiêu thụ của công ty là khá rộng lớn, tuy nhiên hiện nay bùng nổ liên tiếp các đại dịch như: cúm gia cầm, H5N1 ở gia cầm; lở mồm long móng, tai xanh ở lợn dịch bò điên Cùng với

đó là sự cạnh tranh của các công ty thức ăn chăn nuôi liên doanh với nước ngoài Vấn đề tiêu thụ thức ăn chăn nuôi của các công ty nội địa trở nên khó khăn hơn Bên cạnh đó trước diễn biến thất thường của thời tiết, dịch bệnh phát triển với nhiều loại bệnh mới đã làm ngành chăn nuôi thiệt hại không

Trang 10

nhỏ Từ đó không những làm cho tình hình tiêu thụ TACN bị giảm sút mà còn gây thiệt hại đến kinh tế của bà con nông dân Thời tiết diễn biến phức tạp còn làm cho nguồn nguyên liệu của các công ty chế biến thức ăn chăn nuôi không ổn định gây ảnh hưởng tới quá trình sản xuất và nhu cầu tiêu thụ TACN trên thị trường Một số công ty nhập khẩu nguồn nguyên liệu từ nước ngoài như công ty Hồng Hà còn chịu ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái tăng làm cho giá các sản phẩm TACN tăng cao đẩy giá của sản phẩm chăn nuôi lên

Công ty tuy đã đạt được một số thành tựu nhất định nhưng vẫn gặp khó khăn vướng mắc ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của công ty Do đó, để góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trên thị trường tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của một số sản phẩm thức ăn chăn nuôi của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

1 Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về sức cạnh tranh của hàng hoá

2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của một số sản phẩm TACN Hồng Hà tại thị trường tỉnh Hà Nam

3 Đánh giá thực trạng sức cạnh tranh của một số sản phẩm thức ăn chăn nuôi Hồng Hà trên thị trường tỉnh Hà Nam

4 Đề xuất một số giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh cho một số sản phẩm thức ăn chăn nuôi trên thị trường tỉnh Hà Nam

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 11

Nghiên cứu sức cạnh tranh của một số sản phẩm TACN của công ty Hồng Hà trên thị trường tỉnh Hà Nam và một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm thức ăn chăn nuôi trên thị trường tỉnh Hà Nam.

1.4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu:

- Sức cạnh tranh là gì? Các yếu tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh? Các biện pháp để nâng cao sức cạnh tranh?

- Thực trạng sức cạnh tranh của sản phẩm HH cho lợn và cho gà đẻ của công ty Hồng Hà trên thị trường Hà Nam?

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh sản phẩm sức cạnh tranh của một số sản phẩm?

- Các biện pháp để nâng cao sức cạnh tranh của một số sản phẩm tại thị trường Hà Nam?

1.4.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà là công ty có khả năng cạnh tranh về một số sản phẩm như sản phẩm HH cho lợn và cho gà đẻ trên thị trường Hà Nam

- Các sản phẩm của công ty Hồng Hà được đánh giá cao trên thị trường

Hà Nam

- Tiềm lực của Hồng Hà trên thị trường Hà Nam là rất lớn

Trang 12

PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái quát chung về cạnh tranh

2.1.1.1 Các quan điểm về cạnh tranh

Theo cách hiểu thông thường thì cạnh tranh là quá trình mà các chủ thể tìm mọi biện pháp để vượt lên so với các đối thủ về một lĩnh vực nhất định Theo cách hiểu này thì cạnh tranh xuất hiện trên tất cả các hoạt động sống hàng ngày của con người

Theo Các Mác thì “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận siêu ngạch” Ở đây, Các Mác đã đề cập tới vấn đề cạnh tranh trong xã hội tư bản chủ nghĩa mà đặc trưng của chế độ này là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, do vậy theo quan điểm này thì cạnh tranh có nguồn gốc từ chế độ tư hữu Cạnh tranh được xem là sự chèn ép nhau để tồn tại, là “cá lớn nuốt cá bé” Như vậy, quan điểm đó về cạnh tranh được nhìn nhận từ góc độ tiêu cực

Trong diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức hợp tác

và phát triển kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa về cạnh tranh, cố gắng kết hợp cả doanh nghiệp, ngành, quốc gia như sau: “Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”

Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh không chỉ là môi trường và động lực của sự phát triển mà còn

là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội và tạo động lực cho sự phát triển Do đó, ta có quan điểm đầy đủ về cạnh tranh như sau:

“Cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hoá cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng và thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều

Trang 13

hàng hoá và thu được lợi nhuận cao, nâng cao được vị thế của mình trên thị trường”

Theo tôi cạnh tranh là sự ganh đua nhau về lợi nhuận của ngành kinh doanh Sự ganh đua đó có thể là ganh đua giữa nội bộ ngành đó hoặc giữa các ngành kinh tế với nhau Trong nền kinh tế vĩ mô, lợi nhuận của nền kinh tế có thể coi là một chiếc bánh Người sản xuất nào cũng muốn được miếng bánh thật to Từ đó những người sản xuất tìm đủ mọi cách để quảng cáo, marketing thương hiệu của mình tới người tiêu dùng nhằm nâng cao doanh thu và tối đa hóa lợi nhuận của mình Còn về người tiêu dùng thì họ cạnh tranh nhau về lợi ích sử dụng Người tiêu dùng luôn muốn mua với giá cả hợp lý nhất và chất lượng sử dụng cũng như mẫu mã sản phẩm tốt nhất Do đó các nhà sản xuất phải sản xuất ra những sản phẩm phù hợp với khả năng tiêu dùng của các khách hàng mục tiêu

Cạnh tranh có thể đưa lại lợi ích cho người này và gây thiệt hại cho người khác song xét dưới góc độ toàn lợi ích xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực (chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn…) Cạnh tranh là một trong những động lực cơ bản và là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường, không có cạnh tranh thì không có kinh tế thị trường

2.1.1.2 Vai trò của cạnh tranh

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá, khái niệm cạnh tranh hầu như không tồn tại Nhưng từ khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang cơ chế thị trường thì cạnh tranh cũng như quy luật cạnh tranh được thừa nhận và vai trò của cạnh tranh được thể hiện rõ nét hơn, thể hiện:

 Cạnh tranh đảm bảo điều chỉnh giữa cung và cầu

 Cạnh tranh cho phép sử dụng tài nguyên tối ưu

 Cạnh tranh khuyến khích áp dụng khoa học – kỹ thuật

 Cạnh tranh thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng

Trang 14

 Cạnh tranh thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.

2.1.1.3 Phân loại cạnh tranh

Có nhiều cách phân loại cạnh tranh, ta hãy xét một số căn cứ để phân loại cạnh tranh như sau:

a)Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế

 Cạnh tranh trong nội bộ ngành

Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất kinh doanh một loại hàng hoá, dịch vụ Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp hoạt động kinh doanh thậm chí bị phá sản, còn doanh nghiệp nào chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường, uy tín cũng như vị thế của doanh nghiệp ngày càng được nâng cao

sẽ dẫn đến sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân

b) Căn cứ vào trạng thái cạnh tranh trên thị trường

Xét theo trạng thái cạnh tranh trên thị trường thì cạnh tranh được phân làm 2 loại: cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo

 Cạnh tranh hoàn hảo

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường mà ở đó có rất nhiều người sản xuất và bán sản phẩm tương tự nhau về phẩm chất, quy cách, chủng loại, mẫu mã Giá cả của sản phẩm là do cung cầu trên thị trường xác định Người bán có thể bán toàn bộ hàng hoá của mình nhưng theo giá thị trường

Dù có tăng hay giảm sản lượng hàng hoá bán ra thì cũng không có tác động gì

Trang 15

đến giá cả thị trường Việc định giá của doanh nghiệp không cách nào hơn là phải tự thích ứng với giá hiện có trên thị trường.

 Cạnh tranh không hoàn hảo

Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là loại thị trường phổ biến trong điều kiện cạnh tranh hiện nay Đây là thị trường mà phần lớn các sản phẩm là không đồng nhất, cùng một sản phẩm có thể chia làm nhiều thứ loại, nhiều chất lượng Sản phẩm tương tự có thể được bán với nhiều nhãn hiệu khác nhau, mỗi nhãn hiệu đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau Người bán có thể tạo ra uy tín độc đáo riêng biệt với người mua vì nhiều lý do khác nhau, như tạo được lòng tin ở khách hàng hay cách thức quảng cáo gây ấn tượng với người mua, làm cho người mua thích mua của người cung ứng này hơn người cung ứng khác Trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, các cá nhân bán hàng hoặc nhà sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực có thể chi phối được giá cả sản phẩm của mình trên thị trường

c) Căn cứ vào chủ thể kinh tế tham gia thị trường

 Cạnh tranh giữa những người bán với nhau

Là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất, chiếm đa số trên thị trường Khi sản xuất hàng hoá càng phát triển, càng có nhiều người bán dẫn đến cạnh tranh gay gắt trên nhiều phương diện và hình thức đa dạng khác nhau Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ một mặt tác động đến nhà sản xuất, mặt khác làm thay đổi nhu cầu của người mua nên dần làm biến đổi vị trí của các yếu tố cạnh tranh Giá cả là yếu tố thứ nhất của cạnh tranh Đây là hình thức cạnh tranh được sử dụng nhiều nhất Khi nhu cầu con người tăng lên thì yếu tố chất lượng sản phẩm chiếm vị trí chính yếu Ngày nay thì yếu tố thời gian và tổ chức tiêu thụ sản phẩm là rất quan trọng

 Cạnh tranh giữa người bán với người mua

Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt trên thị trường Người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất song người mua lại

Trang 16

muốn mua với giá thấp nhất Giá cuối cùng là giá thống nhất giữa người bán với người mua sau khi quyết định mặc cả với nhau mà theo đó hoạt động mua bán được thực hiện.

 Cạnh tranh giữa những người mua với nhau

Là cuộc cạnh tranh xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu Khi lượng cung một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó quá thấp so với nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh giữa những người mua sẽ trở nên quyết liệt Khi đó, giá cả hàng hoá dịch vụ sẽ tăng vọt nhưng do hàng hoá khan hiếm nên người mua vẫn sẵn sàng trả giá cao cho hàng hoá mình cần Kết quả là người bán thu được lợi nhuận cao còn người mua bị thiệt

d) Căn cứ vào tính chất cạnh tranh trên thị trường

 Cạnh tranh lành mạnh

Cạnh tranh lành mạnh là cạnh tranh được thực hiện theo khuôn khổ của pháp luật, doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh bằng chính năng lực, sức mạnh, uy tín của mình Cạnh tranh lành mạnh tạo ra tính công bằng, trung thực cho tất cả các thực thể kinh tế và làm cơ sở cho doanh nghiệp nói riêng

và toàn bộ nền kinh tế nói chung phát triển một cách ổn định và bền vững

 Cạnh tranh không lành mạnh

Cạnh tranh không lành mạnh là cạnh tranh bằng một số thủ đoạn âm mưu, lợi dụng các khe hở hay vi phạm pháp luật để tranh giành lợi thế kinh doanh, triệt hạ lẫn nhau, không xuất phát từ nội lực chân chính của doanh nghiệp Cạnh tranh không lành mạnh không phải là cơ sở để cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển lâu dài

2.1.1.4 Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp

a) Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm

Để có thể cạnh tranh về chất lượng sản phẩm bắt buộc các doanh nghiệp phải đầu tư nghiên cứu, cải tiến kỹ thuật – công nghệ tạo ra sự khác biệt thông qua tính năng tác dụng của sản phẩm Đảm bảo chất lượng sản

Trang 17

phẩm luôn là phương châm kinh doanh đồng thời là vũ khí cạnh tranh rất hiệu quả của nhiều doanh nghiệp trên thế giới Nhà sản xuất ô tô Mercedes – Benz của Cộng hoà liên bang Đức khi được hỏi bí quyết thành công ở đâu thì họ trả lời rằng ở chất lượng hàng hoá và dịch vụ Công ty này luôn coi chất lượng là hàng đầu Chính vì vậy khi nền kinh tế các nước trên thế giới gặp khó khăn, các loại ô tô bị ứ đọng thì ô tô Mercedes - Benz vẫn tiêu thụ được trên thế giới.

b) Cạnh tranh bằng giá cả sản phẩm

Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm mà người bán hay doanh nghiệp dự tính có thể nhận được từ người mua thông qua việc trao đổi sản phẩm trên thị trường Giá cả là một trong những yếu tố quyết định sức cạnh tranh của hàng hoá Cạnh tranh giá cả sản phẩm phải tuỳ thuộc tình hình thị trường và phải lấy giá thị trường làm chuẩn

Cạnh tranh bằng giá cả sản phẩm thường được thể hiện qua các chính sách định giá Có các chính sách định giá như sau: chính sách định giá thấp hơn thị trường, chính sách định giá bằng với giá thị trường và chính sách định giá cao hơn giá thị trường Để chiếm ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sự lựa chọn các chính sách thích hợp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn trong chu kỳ sản phẩm hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường

c) Cạnh tranh thông qua thiết lập mạng lưới kênh phân phối

Thiết lập mạng lưới kênh phân phối hợp lý, hiệu quả sẽ là yếu tố rất có lợi để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Nếu một doanh nghiệp mà có khả năng cung cấp hàng hoá dịch vụ đúng nơi, đúng lúc, kịp thời đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách nhanh nhất, có hiệu quả nhất thì sẽ tạo được lòng tin và uy tín đối với khách hàng và được khách hàng lựa chọn

d) Cạnh tranh thông qua các hoạt động quảng cáo, xúc tiến bán hàng

Trang 18

Quảng cáo và xúc tiến bán hàng là những hoạt động nhằm giới thiệu thông tin cho khách hàng về các sản phẩm của doanh nghiệp, đồng thời lôi kéo khách hàng tiêu dùng những sản phẩm đó.

Một điều tất nhiên, sự thành bại trong kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu tuỳ thuộc vào chất lượng sản phẩm Nhưng một sản phẩm có chất lượng tốt nếu được quảng cáo thì hiệu quả tiêu thụ sẽ lớn hơn rất nhiều Trong điều kiện hiện nay, phần lớn các hàng hoá, dịch vụ đều phải được quảng cáo, đặc biệt là những sản phẩm mới vì chúng chưa được mọi người biết đến Có thể nói, quảng cáo cũng là biện pháp đảm bảo để doanh nghiệp cạnh tranh thành công trong kinh doanh Các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ các cách quảng cáo, chẳng hạn như dùng phương thức quảng cáo nào là hợp lý, áp dụng những kỹ xảo quảng cáo nào, áp dụng những dịp nào để quảng cáo sao cho mang lại hiệu quả cao nhất

e) Cạnh tranh thông qua dịch vụ trước, trong và sau bán hàng

Trong nền kinh tế ngày càng phát triển hiện nay thì dịch vụ là một trong những khâu được các nhà kinh doanh chú ý đến nhiều nhất Bởi vì điều tất yếu người tiêu dùng sẽ lựa chọn những doanh nghiệp có hoạt động dịch vụ thoả mãn tốt nhất nhu cầu của họ Do vậy, nếu doanh nghiệp muốn thu hút khách hàng, muốn sản phẩm của mình có ưu thế hơn hẳn sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư và hoàn thiện các hoạt động dịch vụ của mình Các hoạt động của doanh nghiệp có thể thực hiện trước, trong hoặc sau bán hàng Điều này tuỳ thuộc vào loại hình kinh doanh

Có thể thấy, công cụ cạnh tranh thông qua dịch vụ trước, trong và sau bán hàng là vũ khí cạnh tranh rất hiệu quả của doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp phải không ngừng nghiên cứu để tìm cho mình những cách thức phục

vụ tối ưu để thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 19

2.1.2 Khái quát chung về sức cạnh tranh của hàng hoá

2.1.2.1 Khái niệm sức cạnh tranh

Trong quá trình chủ thể cạnh tranh với nhau thì để giành được lợi thế

về phía mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường Một sản phẩm muốn có vị trí vững chắc trên thị trường và muốn thị trường của nó ngày càng mở rộng thì

nó điểm mạnh và có khả năng để nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường đó Sức cạnh tranh của hàng hoá được hiểu là tất cả các đặc điểm, yếu

tố, tiềm năng mà sản phẩm đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thương trường cạnh tranh một các lâu dài và có ý nghĩa

Để đánh giá được một sản phẩm có sức cạnh tranh mạnh hay không thì cần dựa vào các nhân tố sau:

- Giá thành sản phẩm và lợi thế về chi phí (khả năng giảm chi phí đến mức tối đa)

- Chất lượng sản phẩm và khả năng đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp

- Các dịch vụ đi kèm sản phẩm

2.1.2.2 Các loại sức cạnh tranh

* Sức cạnh tranh của một nền kinh tế

Sức cạnh tranh của một nền kinh tế là thực lực và lợi thế mà nền kinh tế

có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó so với các nền kinh tế khác trên thị trường thế giới một cách lâu dài và có ý chí nhằm mục đích thu được lợi ích ngày càng cao cho nền kinh tế của mình và cho quốc gia mình

* Sức cạnh tranh của một doanh nghiệp

Sức cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó đối với các doanh nghiệp khác trên thị trường một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp của mình

Trang 20

* Sức cạnh tranh của một hàng hoá

Sức cạnh tranh của một hàng hoá là khả năng duy trì và cải thiện vị trí của một hàng hoá của một doanh nghiệp này so với hàng hoá khác cùng loại của một doanh nghiệp khác trên thị trường một cách lâu dài nhằm tạo ra sự hấp dẫn và thu hút khách hàng

Có thể nói, sức cạnh tranh của một hàng hoá, một doanh nghiệp và một nền kinh tế là khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau Nền kinh tế chỉ

có sức cạnh tranh cao khi nhiều doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao và doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao khi có nhiều hàng hoá có sức cạnh tranh cao so với đối thủ cạnh tranh Vì vậy, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá là cơ sở

và điều kiện để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế

2.1.3 Phương pháp luận đánh giá sức cạnh tranh của hàng hoá

2.1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá

a) Những nhân tố thuộc môi trường kinh doanh bên ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá

* Những nhân tố thuộc môi trường kinh doanh quốc tế có ảnh hưởng đến sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp

Trong một vài thập kỷ trở lại đây, xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra rất mạnh mẽ với việc hình thành và ra đời của nhiều liên minh liên kết mang tính khu vực và toàn cầu Xu thế này có ảnh hưởng quan trọng đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường Việc hình thành các khối liên kết về kinh tế đã góp phần làm tăng hoạt động kinh doanh buôn bán và đầu tư giữa các quốc gia thành viên, làm giảm tỷ lệ mậu dịch giữa các nước không phải là thành viên Để khắc phục hạn chế này, các quốc gia thành viên trong khối thường tiến hành ký kết với nhau hoặc với các quốc gia ngoài khối những hiệp định, những thoả ước để từng bước nới lỏng hàng rào vô hình, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh quốc tế phát triển Điều này mở ra rất

Trang 21

nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp.

Các dạng liên kết kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như khu vực mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh tiền tệ và liên minh kinh tế Các liên kết mang tính chất khu vực như khối EU của các quốc gia Châu Âu, khối NAFTA của

ba quốc gia vùng Bắc Mỹ, khối ASEAN của các nước Đông Nam Á hay diễn đàn APEC của các quốc gia thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Khi kinh doanh ở một quốc gia nào đó, ngoài việc tìm hiểu các chính sách kinh tế của chính phủ, các hệ thống kinh tế… thì các doanh nghiệp còn phải tìm hiểu nguyên tắc hoạt động của các định chế quốc tế mà các nước đó tham gia để nắm bắt tốt những cơ hội cũng như thách thức Từ đó đề ra cho mình những biện pháp phù hợp nhằm nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá của mình trên thị trường

* Những nhân tố thuộc môi trường kinh doanh quốc gia có ảnh hưởng đến sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp

Có nhiều nhân tố khác nhau thuộc môi trường kinh doanh quốc gia tác động đến sức cạnh tranh của hàng hoá của doanh nghiệp như các yếu tố kinh

tế, chính trị, luật pháp, văn hoá - xã hội

 Các yếu tố kinh tế

- GDP tác động đến nhu cầu của gia đình, của doanh nghiệp và nhà nước Vì vậy đối với một quốc gia khi có thu nhập bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ kéo theo sự gia tăng về nhu cầu, số lượng hàng hoá và dịch vụ, sự tăng lên về chủng loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm, thị hiếu… dẫn đến tăng quy mô thị trường Đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp nào nắm bắt được điều này và có khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng (về mặt số lượng, giá cả, chất lượng, mẫu mã) thì chắc chắn doanh nghiệp đó sẽ thành công và có sức cạnh tranh cao

Trang 22

- Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nước: Nhân tố này có tác động nhanh chóng và sâu sắc đối với từng quốc gia nói chung và đối với nền kinh tế nói riêng nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở Nếu đồng nội tệ lên giá, khi đó giá bán của hàng hoá tính bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn đối thủ cạnh tranh Như vậy, sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp sẽ kém hơn

so với các đối thủ Hơn nữa, khi đồng nội tệ lên giá khuyến khích nhập khẩu

vì giá cả hàng nhập khẩu sẽ giảm do đó sức cạnh tranh hàng hoá cùng loại của các doanh nghiệp trong nước sẽ bị giảm ngay cả trên thị trường trong nước Ngược lại khi đồng nội tệ giảm giá, sức cạnh tranh, sức cạnh tranh hàng hoá của các doanh nghiệp tăng cả trên thị trường trong nước và thị trường nước ngoài vì giá bán hàng hoá sẽ thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh kinh doanh hàng hoá do nước khác sản xuất

- Yếu tố lạm phát cũng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp Nếu ở một quốc gia nào đó có mức lạm phát tăng nhanh hơn

dự đoán sẽ làm tăng giá cả các yếu tố đầu vào, dẫn đến tăng giá thành và tăng giá bán Điều đó làm cho hàng hoá của doanh nghiệp khó cạnh tranh hơn về giá so với các đối thủ cạnh tranh khác Ở nhiều quốc gia, việc dự đoán sự biến động của các yếu tố này thường rất khó khăn

- Lãi suất cho vay của những ngân hàng có ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đến sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp Vốn vay trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp là không thể thiếu

Do đó khi lãi suất cho vay của các ngân hàng cao dẫn đến chi phí của các doanh nghiệp tăng lên do phải trả tiền vay lớn hơn, sức cạnh tranh của doanh nghiệp kém đi nhất là khi các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực về vốn

- Một điều tất yếu, doanh nghiệp nào có khả năng nắm bắt tốt tác động của các yếu tố kinh tế để có những chiến lược kinh doanh đúng đắn và tận dụng được lợi thế của mình thì sẽ giành được thắng lợi trong cạnh tranh so với các đối thủ khác

Trang 23

- Sự ổn định hay bất ổn về chế độ chính trị ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế Một quốc gia có nền chính trị ổn định sẽ là môi trường thuận lợi đảm bảo cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh bình đẳng và thu được kết quả tốt.

- Bên cạnh đó, mối quan hệ chính trị giữa các quốc gia cũng là nhân tố tác động đến sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp Chẳng hạn như nếu quan hệ giữa hai quốc gia tốt và hữu nghị thì các rào cản đối với hàng nhập khẩu sẽ giảm đi và chắc chắn sản phẩm đó sẽ có sức cạnh tranh cao hơn so với sản phảm cùng loại của đối thủ cạnh tranh đến từ các quốc gia có quan hệ chính trị không thân thiện mấy

 Các yếu tố luật pháp

Các yếu tố luật pháp đã và đang đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp Nó là cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp, quy định rõ những lĩnh vực nào, những hình thức nào mà doanh nghiệp được phép và không được phép hoạt động Quốc gia nào có hệ thống luật pháp đồng bộ, nghiêm minh, chặt chẽ và không phức tạp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng để nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hoá của mình Thực tế cho thấy, cùng với sự xuất hiện các liên minh thuế quan, liên minh kinh tế có sự xuất hiện của những hiệp định song phương hay đa phương tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh trong khu

Trang 24

vực và quốc tế Chính vì vậy, chỉ có trên cơ sở nắm vững hệ thống luật pháp của từng quốc gia và hiệp định song phương hay đa phương giữa các nước mới cho phép doanh nghiệp đưa ra những quyết định đúng dắn trong việc lựa chọn quốc gia hay khu vực kinh doanh sao cho đạt được hiệu quả cao nhất.

 Các yếu tố văn hoá - xã hội

Có thể nói những hiểu biết của doanh nghiệp về các yếu tố văn hoá - xã hội của quốc gia họ tham gia kinh doanh sẽ cho doanh nghiệp đó lợi thế rất lớn trong cạnh tranh.Ở những khu vực thị trường khác nhau, những vùng khác nhau thì phong tục, tập quán, lối sống cũng như thị hiếu của người tiêu dùng sẽ khác nhau dẫn đến nhu cầu của họ về sản phẩm cũng khác nhau Chẳng hạn như sản phẩm có chất lượng rất tốt nhưng không hợp “ gu” người tiêu dùng thì

họ cũng sẽ không mua hàng Doanh nghiệp nào càng hiểu rõ nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng và cố gắng sản xuất ra những sản phẩm thoả mãn tối đa nhu cầu đó thì sản phẩm của doanh nghiệp hẳn có sức cạnh tranh hơn các sản phẩm cùng loại của đối thủ khác Tôn giáo cũng có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động hàng ngày của các cá nhân và các tổ chức trong xã hội Cho nên, doanh nghiệp cần am hiểu các loại tôn giáo và vai trò của chúng trong xã hội để giúp cho việc kinh doanh được tiến hành thuận lợi

 Các yếu tố khoa hoc – công nghệ

Nhóm yếu tố này ngày càng quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến môi trường cạnh tranh, tác động một cách quyết định đến hai yếu tố cơ bản nhất tạo nên sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đó là chất lượng và giá bán Khoa học – công nghệ tác động đến chi phí cá biệt của các doanh nghiệp, qua đó tạo nên sức cạnh tranh của sản phẩm Hiện nay trên thế giới đã chuyển từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh về chất lượng sản phẩm và dịch

vụ có hàm lượng khoa học – công nghệ cao

Kỹ thuật và công nghệ mới sẽ giúp các cơ sở sản xuất trong nước tạo ra được những thế hệ kỹ thuật và công nghệ tiếp theo nhằm trang bị toàn bộ cơ

Trang 25

sở sản xuất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân Đây là tiền đề để các doanh nghiệp ổn định và nâng cao sức cạnh tranh của mình Các yếu tố khoa học – công nghệ này bao gồm:

- Trình độ trang thiết bị công nghệ của ngành, của nền kinh tế: ảnh hưởng đến khả năng sản xuất sản phẩm với các cấp chất lượng, năng suất lao động, khả năng cạnh tranh

- Khả năng nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong nền kinh tế: phản ánh tiềm năng sản xuất và đổi mới công nghệ sản xuất, công nghệ quản lý… liên quan đến đổi mới sản phẩm, chu kỳ sống của sản phẩm, khả năng cạnh tranh có tính tiên phong

- Các chiến lược và chính sách phát triển khoa học – công nghệ quốc gia

- Nguồn nhân lực và trình độ nguồn nhân lực phục vụ cho việc phát triển khoa học công nghệ

Nói tóm lại, có rất nhiều nhân tố khác nhau thuộc môi trường kinh

doanh quốc gia tác động đến sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp Điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải hiểu biết rõ các nhân tố này, từ đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá của mình

* Những nhân tố thuộc môt trường ngành có ảnh hưởng đến sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp

Theo quan điểm của M Porter thì có 5 nhân tố cơ bản được coi là 5 sức mạnh ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường Và thông qua 5 nhóm nhân tố này có thể đánh giá được thực trạng sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu của doanh nghiệp Chúng ta hãy xem mô hình năm nhân tố cạnh tranh của M Porter (hình 2.1)

 Đối thủ cạnh tranh hiện tại trong nội bộ ngành

Các đối thủ cạnh tranh hiện tại là những doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh trong một ngành nhất định Những doanh nghiệp này đã vượt qua

Trang 26

những rào cản để xâm nhập vào ngành hoặc những hãng muốn rút lui khỏi ngành nhưng chưa có cơ hội.

Hình 2.1 Mô hình năm nhân tố cạnh tranh của M Porter

Error: Reference source not foundHình 2.1: Mô hình năm nhân tố cạnh tranh của M Porter

Cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh hiện tại cũng có hình thức giống như đua ngựa để giật giải sử dụng các chiến thuật như cạnh tranh về giá, các cuộc chiến về giá, các cuộc chiến về quảng cáo, giới thiệu về sản phẩm và tăng cường phục vụ khách hàng hoặc bảo hành Cuộc tranh đua diễn ra bởi một hoặc nhiều đối thủ cảm thấy bị chèn ép hoặc thấy cơ hội để cải thiện vị trí Có thể đánh giá sức cạnh tranh của hàng hoá của doanh nghiệp qua đối thủ cạnh tranh hiện tại bằng cách so sánh tương quan giữa doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh hiện tại về thị phần hàng hoá chiếm lĩnh, về số lượng và doanh thu xuất khẩu, về giá cả, chất lượng hàng hoá cũng như mẫu mã nhãn hiệu sản phẩm Nếu mỗi yếu tố trên mà doanh nghiệp tốt hơn của đối thủ cạnh tranh hiện tại thì sức cạnh tranh của doanh nghiệp cao hơn và ngược lại

Nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, đánh giá chính xác khả năng, chiến lược hiện tại của đối thủ cạnh tranh đặc biệt là những đối thủ chính để xây dựng cho mình chiến lược cạnh tranh thích hợp với môi trường chung

 Khách hàng

Khách hàng là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Doanh nghiệp có thu hút được nhiều khách hàng mới có kết quả kinh doanh cao Tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng Nếu doanh nghiệp nào thoả mãn tốt hơn nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh thì họ nhận được sự ủng hộ và trung thành từ phía khách hàng

Về mặt lý thuyết, lợi ích của khách hàng và nhà sản xuất thường mâu thuẫn với nhau Khách hàng thường mong muốn có được những chủng loại hàng hoá và

Trang 27

dịch vụ có chất lượng tốt và giá cả thấp nhất song nhà sản xuất lại mong muốn khách hàng trả cho hàng hoá của họ với mức giá cao nhất Trong điều kiện một ngành có sự cạnh tranh gay gắt thì vai trò của khách hàng ngày càng trở nên quan trọng và cần được ưu tiên hơn Một doanh nghiệp không thể thoả mãn được tất cả nhu cầu của mọi khách hàng nên doanh nghiệp cần phải phân loại khách hàng thành các nhóm khác nhau Trên cơ sở đó mới tiến hành phân tích và đưa ra những chính sách thích hợp để thu hút ngày càng nhiều khách hàng về phía mình nhằm tăng sức cạnh tranh của hàng hoá của mình so với đối thủ cạnh tranh.

 Người cung ứng

Các nhà cung ứng là những nhà cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt động của một doanh nghiệp như các nhà cung cấp vốn, nguyên vật liệu cho sản xuất, gia công…Đây là nhân tố phản ánh mối tương quan giữa nhà cung cấp với doanh nghiệp

ở các khía cạnh sinh lời, tăng giá hoặc giảm giá, giảm chất lượng hàng hoá khi tiến hành giao dịch với doanh nghiệp Nhà cung ứng thường gây sức ép đối với doanh nghiệp trong những tình huống như:

- Họ độc quyền cung cấp vật tư

- Khi các vật tư được cung cấp không có khả năng thay thế

- Không có điều khoản ràng buộc hoặc đảm bảo trong các hợp đồng kinh tế đã

ký kết giữa doanh nghiệp và nhà cung ứng vật tư

- Khi vật tư đó rất quan trọng, quyết định lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Khi doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung ứng

- Khi nhà cung ứng có khả năng khép kín sản xuất

Nếu mối quan hệ giữa nhà cung ứng và doanh nghiệp là tốt, thân thiện thì tất nhiên doanh nghiệp sẽ ổn định hơn đối thủ cạnh tranh về nguồn nguyên vật liệu đầu vào Nếu số lượng người cung ứng cho doanh nghiệp nhiều hơn thì nguy cơ rủi ro đối với doanh nghiệp giảm đi Tiềm lực của người cung ứng tốt sẽ đảm bảo sự ổn định và đồng bộ cho đầu vào mà họ cung cấp cho doanh nghiệp Có được nguồn

Trang 28

cung cấp đầu vào ổn định làm cho quá trình sản xuất diễn ra nhịp nhàng, đồng bộ, đúng kế hoạch Do đó, doanh nghiệp nên thiết lập quan hệ tốt và lâu dài với các nhà cung ứng.

 Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh trong cùng một ngành sản xuất nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia nhập ngành Những đối thủ mới của ngành mang đến năng lực sản xuất mới, sự mong muốn chiếm lĩnh một thị phần nào đó và thường là những nguồn lực to lớn Giá bán có thể bị kéo xuống hoặc chi phí của các hãng đi trước có thể tăng lên và kết quả là làm giảm mức lợi nhuận của doanh nghiệp Có thể nói khi đối thủ mới xuất hiện thì vị thế của doanh nghiệp sẽ thay đổi Vì vậy, doanh nghiệp cần tự tạo ra một hàng rào ngăn cản sự xâm nhập của các đối thủ mới Các rào cản chủ yếu:

- Tính kinh tế theo quy mô

- Sự khác biệt hoá sản phẩm

- Sự đòi hỏi nguồn tài chính lớn

- Khả năng tiếp cận với kênh phân phối

- Các bất lợi về chi phí không liên quan đến quy mô

 Sản phẩm thay thế

Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác có thể thoả mãn cùng nhu cầu của người tiêu dùng Sự ra đời của sản phẩm thay thế là một tất yếu nhằm đáp ứng sự thay đổi của nhu cầu thị trường theo hướng ngày càng đa dạng hơn, phong phú hơn, cao cấp hơn Thường thì các sản phẩm thay thế là kết quả của việc đổi mới công nghệ nên thường có ưu thế về chất lượng, công dụng, tính năng hơn các sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp Do vậy sức cạnh tranh về các đặc điểm này của hàng hoá của doanh nghiệp có thể bị giảm khi xuất hiện các sản phẩm thay thế này Nhưng thường sản phẩm cũ có sức cạnh tranh lớn hơn về giá Do vậy muốn nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm cũ thì doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới công nghệ, nâng cao trình

độ quản lý, cải tiến sản phẩm Để đánh giá sức cạnh tranh hàng hoá của công ty

Trang 29

thông qua các sản phẩm thay thế chúng ta có thể so sánh tiềm năng của nhà sản xuất sản phẩm thay thế với doanh nghiệp Nếu các nhà sản xuất các sản phẩm thay thế có tiềm lực tài chính mạnh, có một chiến lược rõ ràng thì họ sẽ từng bước tận dụng các

ưu điểm của sản phẩm thay thế để nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm thay thế trên thị trường Lúc đó nếu doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm cũ không có những hành động chống lại thì sản phẩm cũ đó sẽ giảm dần sức cạnh tranh

b) Những nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh bên trong doanh nghiệp có ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá

* Khả năng tài chính của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh

Bất cứ một hoạt động đầu tư, sản xuất, phân phối nào cũng đều phải xem xét, tính toán trên tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp có khả năng lớn về tài chính sẽ có nhiều thuận lợi trong việc đổi mới công nghệ, đầu tư mua sắm trang thiết bị, đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, duy trì và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, khuyến khích việc tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, lợi nhuận và củng cố vị trí của mình trên thương trường Đặc biệt, một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính lớn sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp theo đuổi chiến lược dài hạn, tham gia vào những lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn và cường độ cạnh tranh cao

Để nâng cao sức cạnh tranh, các doanh nghiệp phải đầu tư rất lớn vào trang thiết bị sản xuất, vào đội ngũ lao động có trình độ cao để nâng cao sức cạnh tranh của mình so với đối thủ cạnh tranh thông qua chất lượng sản phẩm tốt hơn, năng suất lao động cao hơn, giá cả thấp hơn cũng như mẫu mã của sản phẩm đa dạng hơn…Do đó, các doanh nghiệp phải có tiềm lực tài chính mạnh để đầu tư các công nghệ mới, dây chuyền hiện đại, lao động có trình độ cao để vận hành, xử lý trong quá trình sản xuất sản phẩm

Người tiêu dùng cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi quy mô năng lực tài chính của doanh nghiệp Bởi khách hàng luôn đánh giá các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính tốt đồng nghĩa với việc sản phẩm của họ được ưa chuộng, tiêu thụ nhiều, và được

Trang 30

khách hàng đánh giá là sản phẩm của họ có chất lượng cao Có thể nói khả năng tài chính có tác động rất lớn đến sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp.

Ngược lại, nếu khả năng tài chính của doanh nghiệp bất lợi hơn so với đối thủ cạnh tranh thì đây là một yếu thế rất lớn của doanh nghiệp Chẳng hạn như, nếu doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh cùng thực hiện một chiến dịch quảng bá cho sản phẩm của mình song do khả năng tài chính của doanh nghiệp yếu hơn nên không thể triển khai chiến dịch quảng cáo rầm rộ, hoành tráng hơn đối thủ cạnh tranh Tất nhiên hiệu quả của chiến dịch đó sẽ không thể tốt bằng đối thủ cạnh tranh, không thu hút được nhiều khách hàng Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính không vững sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tăng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường hay chậm trễ trong việc thanh toán cho người cung ứng hay các tổ chức tài chính Điều này có thể làm giảm uy tín của công ty, công ty sẽ gặp khó khăn hơn trong việc huy động vốn

* Nguồn nhân lực của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh

Doanh nghiệp nào có nguồn nhân lực tốt sẽ góp phần rất lớn vào việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp cả trong ngắn hạn và dài hạn Điều này sẽ tạo lợi thế hơn cho doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được chia làm 3 cấp như sau:

- Quản trị viên cấp cao: Gồm ban giám đốc và các trưởng phó phòng ban

không thể phủ nhận đây là đội ngũ có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh Nếu đội ngũ quản trị viên cấp cao này có trình độ quản lý tốt, có nhiều kinh nghiệm trên thương trường, có khả năng đánh giá và quan hệ đối ngoại tốt thì doanh nghiệp đó sẽ có sức cạnh tranh cao và ngược lại

- Quản trị viên cấp trung gian: Đây là đội ngũ trực tiếp quản lý các phân

xưởng sản xuất nếu đội ngũ này có kinh nghiệm công tác lâu năm, có khả năng ra quyết định và điều hành công tác tốt cũng tạo ra lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh

Trang 31

- Đội ngũ người lao động cấp cơ sở: Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

phần nào cũng chịu sự chi phối của đội ngũ này thông qua các yếu tố như năng suất lao động, trình độ tay nghề, ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động và sự sáng tạo của họ… Bởi vì các yếu tố này cho phối việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm cũng như tạo thêm tính ưu việt, độc đáo của sản phẩm

Có thể nói, nếu doanh nghiệp nào có trình độ quản lý tốt, biết tập hợp sức mạnh đơn lẻ của các thành viên và biến thành sức mạnh tổng hợp thông qua tổ chức thì doanh nghiệp đó sẽ tận dụng được lợi thế tiềm ẩn của tổ chức mình Song nếu trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp kém hơn đối thủ cạnh tranh thì công ty khó lòng tận dụng được những lợi thế sẵn có của mình, giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp mặc dù có các điều kiện khác thuận lợi hơn

* Nguồn lực vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranhNguồn vật chất kỹ thuật là nhân tố bên trong ảnh hưởng một cách sâu sắc đến sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp trên thị trường Nếu doanh nghiệp có cơ

sở vật chất hiện đại hơn đối thủ cạnh tranh thì năng suất lao động sẽ cao hơn, do đó giá thành sản phẩm sẽ thấp hơn đồng thời chất lượng sản phẩm cũng được nâng lên hơn so với đối thủ cạnh tranh Và như vậy, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ có sức cạnh tranh cao hơn so với hàng hoá cùng loại của đối thủ cạnh tranh Ngược lại, doanh nghiệp sẽ gặp bất lợi trong cạnh tranh nếu nguồn lực vật chất kỹ thuật yếu hơn

so với đối thủ cạnh tranh

Thông thường thì nguồn lực vật chất, kỹ thuật thể hiện ở:

- Thứ nhất, trình độ kỹ thuật hiện tại của doanh nghiệp và khả năng có được

các công nghệ tiên tiến Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, chu kì sống của một công nghệ rất ngắn trước sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Cùng sản xuất một sản phẩm, công nghệ tiên tiến và ra đời sau sẽ quyết định tới năng suất, chất lượng và qua đó sẽ tác động trực tiếp vào giá thành của sản phẩm tạo ra một lợi thế cạnh tranh vượt trội

so với đối thủ hiện tại Tuy nhiên việc thay đổi hay nâng cấp công nghệ sẽ yêu cầu doanh nghiệp phải giải quyết bài toán hiệu quả đầu tư

Trang 32

- Thứ hai, quy mô và năng lực sản xuất của doanh nghiệp Quy mô và năng

lực sản xuất lớn giúp doanh nghiệp tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn nên hạ được giá thành sản phẩm và hơn nữa tạo ra nhiều cơ hội hấp dẫn khách hàng hơn, giúp doanh nghiệp hiểu rõ khách hàng Qua đó có thể chiếm lĩnh và giữ vững thị trường, đồng thời tránh được sự xâm nhập của đối thủ cạnh tranh

- Thứ ba, mức sử dụng công suất Để đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh

doanh thì doanh nghiệp phải có mức sử dụng công suất ít nhất phải gần bằng công suất thiết kế Nếu sử dụng công suất thấp sẽ gây lãng phí dẫn đến chi phí cố định trong giá thành sản phẩm tăng làm cho sức cạnh tranh sản phẩm cua doanh nghiệp giảm

2.1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh của hàng hoá

Trang 33

* Mức doanh thu tiêu thụ mặt hàng đó trong từng năm so với đối thủ cạnh tranh

Mức doanh thu tiêu thụ của mặt hàng trong từng năm cũng là một chỉ tiêu đo lường sức cạnh tranh của mặt hàng đó Mặt hàng được coi là tiêu thụ khi nó đã được thanh toán hay được chấp nhận thanh toán Khối lượng sản phẩm tiêu thụ thể hiện mức độ đáp ứng nhu cầu hoặc thoả mãn lợi ích của khách hàng về mặt hàng đó Có thể nói, một mặt hàng tiêu thụ nhanh với khối lượng lớn đồng nghĩa với việc mặt hàng đó có chất lượng tốt với giá cả hợp

lý, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, đủ sức cạnh tranh trên thị trường Nếu khối lượng mặt hàng tiêu thụ tăng cao qua các năm chứng tỏ mặt hàng đó duy trì và giữ vững được thị phần trên thị trường và ngược lại Khối lượng tiêu thụ của mặt hàng phụ thuộc vào các nguyên nhân sau:

Từ phía doanh nghiệp: Phụ thuộc vào chất lượng mặt hàng, giá bán

của mặt hàng đó và quá trình tổ chức tiêu thụ

Từ phía khách hàng: Phụ thuộc vào nhu cầu, mức thu nhập, phong

tục tập quán và thói quen của người tiêu dùng

Trang 34

Từ phía Nhà nước: Phụ thuộc vào các chính sách vĩ mô của nhà nước

như chính sách về tiền lương, chính sách về thuế…

* Mức chênh lệch về giá cả mặt hàng đó so với đối thủ cạnh tranh

Giá cả của một sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua quan hệ cung cầu nghĩa là thông qua sự thoả thuận giữa người mua và người bán để đi tới mức giá mà hai bên đều thấy có lợi và chấp nhận được Mức giá

có vai trò rất quan trọng trong cạnh tranh Nếu như chênh lệch về giá giữa doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh lớn hơn chênh lệch về giá trị sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp đã đem lại lợi ích cho người tiêu dùng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh Như vậy, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ có sức cạnh tranh cao hơn so với đối thủ cạnh tranh Ngày nay, khi cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra ngày càng quyết liệt thì khách hàng có quyền lựa cho mình sản phẩm tốt nhất và cùng một loại sản phẩm thì chắc chắn họ sẽ lựa chọn sản phẩm có giá thấp hơn Vì vậy, giá cả là công cụ cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường

Thứ nhất, cung cấp sản phẩm có chất lượng cao làm tăng uy tín cho

nhãn mác sản phẩm của doanh nghiệp và có khả năng định giá cao hơn

Trang 35

Thứ hai, chất lượng ảnh hưởng lại đến năng suất Chất lượng cao hơn đưa

lại năng suất lao động cao hơn và hạ thấp chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm

Việc các doanh nghiệp chú trọng đến chất lượng để đạt được chất lượng cao hơn không chỉ là cách nâng cao sức cạnh tranh mà còn là yếu tố sống còn đối với một số doanh nghiệp Doanh nghiệp nào sản xuất mặt hàng

có chất lượng cao hơn so với mặt hàng cùng loại của đối thủ cạnh tranh thì sẽ bán được nhiều hàng hoá hơn Điều đó chứng tỏ sức cạnh tranh của hàng hoá

đó là cao hơn so với đối thủ cạnh tranh Ngày nay chất lượng hàng hoá được kiểm định bởi một số tổ chức kiểm tra chất lượng có uy tín

* Mức độ hấp dẫn của sản phẩm đó về mẫu mã, kiểu cách so với đối thủ cạnh tranh

Trong nhiều sản phẩm có cùng công dụng, chức năng, giá cả, chất lượng thì sản phẩm nào có kiểu dáng bắt mắt nhất sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn Nếu các mẫu mã, kiểu cách của sản phẩm hấp dẫn và phù hợp với nhu cầu thị trường hơn so với đối thủ cạnh tranh thì sẽ làm tăng sức cạnh tranh của mặt hàng

* Mức ấn tượng về hình ảnh nhãn hiệu hàng hoá của nhà sản xuất ra mặt hàng đó so với hàng hoá cùng loại của đối thủ cạnh tranh

Để có thể hội nhập và đứng vững trên thị trường quốc tế cũng như thị trường trong nước, các doanh nghiệp cần xây dựng cho mình nhãn hiệu quốc gia Nhãn hiệu hàng hoá là những hình ảnh, chữ viết để phân biệt hàng hoá của nhà sản xuất này với hàng hoá của nhà sản xuất khác Nhãn hiệu là một công cụ marketing quan trọng, nhà sản xuất nào xây dựng cho mình được nhãn hiệu hàng hoá với những đặc trưng riêng biệt hấp dẫn người tiêu dùng thì sức cạnh tranh của hàng hoá sẽ cao hơn hàng hoá cùng loại của đối thủ cạnh tranh Vì với người tiêu dùng, điều đó đảm bảo sự rõ ràng, chắc chắn yên tâm về sản phẩm và nhà sản xuất sản phẩm đó

Trang 36

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Khái quát tình hình sản xuất thức ăn công nghiệp năm 2009

Các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi được phân loại theo tiêu chí như sau: doanh nghiệp nhỏ có sản lượng dưới 10.000 tấn một năm, doanh nghiệp trung bình có sản lượng từ 10.000 đến dưới 60.000 tấn một năm và doanh nghiệp lớn có sản lượng từ 60.000 tấn một năm trở lên

Ở Việt Nam, ngành chăn nuôi giữ vai trò ngày càng tăng trong tổng GDP của ngành nông nghiệp với tỷ lệ đóng góp dao động từ 22,6% đến 25,5% trong giai đoạn 2001 - 2007 và dự kiến tăng lên 25% - 26% trong năm

2008 (Cục chăn nuôi, 2008) Ngành chăn nuôi đã tăng trưởng một cách nhanh chóng và tự phát và rất nhiều vấn đề đã nảy sinh do thiếu quy định: ví dụ có nhiều nhà sản xuất nhỏ lẻ, phân tán gặp phải các vấn đề về năng suất thấp, dịch bệnh bùng phát; và sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành chăn nuôi theo quy mô thương mại nhưng thiếu tầm nhìn về môi trường Hơn nữa, chi phí cho thức ăn chăn nuôi chiếm tới khoảng 75% tổng chi phí sản xuất của các hộ chăn nuôi

Theo dự ước: sản xuất thức ăn công nghiệp năm 2009 đạt:

- TAHH gia súc, gia cầm: 7 triệu tấn

- Thức ăn đậm đặc gia súc, gia cầm 0,7 triệu tấn, quy ra TAHH: 2,0 triệu tấn

- Thức ăn cá, tôm trên dưới: 1,5 triệu tấn

Như vậy tổng lượng thức ăn công nghiệp được chế biến trong năm

Trang 37

nguyên liệu từ nước ngoài trên dưới 2 tỷ USD Trong đó mặt hàng có hàm lượng đạm cao như khô dầu đậu phộng, bột cá chiếm tỷ trọng cao nhất: 800-

900 triệu USD/năm Sau đó là mặt hàng giầu năng lượng: ngô, cám các loại Riêng ngô chỉ tính 8 tháng đầu năm 2009 đã nhập 800.000 tấn Ngoài ra còn trên dưới 40 mặt hàng nguyên liệu khác nhập khẩu từ 40-50 quốc gia và khu vực

Thực chất mặt hàng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi phụ thuộc thị trường nước ngoài Ví dụ như: Ngô từ Mỹ, Achentina, Braxin; bột cá từ Chi Lê, Pêru ; khô dầu đậu tương từ Ấn Độ, Achentina, Mỹ, Braxin Các loại thức ăn

bổ sung khoáng vitamin, acid amine trong nước chưa sản xuất được Nhều người trong đó có cả số ít quan chức còn chưa rõ nước ta là nước nông nghiệp tại sao phải nhập Thực ra câu hỏi này các nhà chức năng quản lý vĩ mô trả lời nhưng trước mắt chúng ra thiển nghĩ nước ta chưa có quy hoạch sản xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, đang hướng vào xuất khẩu nông sản: gạo xuất khẩu, sắn (củ mì) xuất khẩu, cà phê xuất khẩu, cao su xuất khẩu thì việc nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi là không tránh khỏi

2.2.2 Những lợi thế và khó khăn trong cạnh tranh sản phẩm thức ăn chăn nuôi của công ty Hồng Hà

2.2.2.1 Lợi thế

Công ty CP dinh dưỡng Hồng Hà là một công ty con của tập đoàn Long Hải, với nguồn vốn lớn từ công ty mẹ nên đứng trước sự khó khăn của thị trường kinh doanh hiện nay và khó khăn trong cạnh tranh với các công ty TACN có 100% vốn đầu tư từ nước ngoài như CP, New Hope, De Heus,… thì công ty Hồng Hà vẫn đứng vững Mỗi năm sản lượng của công ty liên tục tăng từ 5 - 10% so với tổng sản lượng

Thị trường TACN của Việt Nam vẫn còn rất nhiều tiềm năng chưa được khai thác Hiện nay tình trạng thiếu nguồn cung TACN vẫn đang diễn

ra Năm 2010, Việt Nam đã nhập khẩu 2,17 tỷ USD thức ăn chăn nuôi và

Trang 38

nguyên liệu các loại, tăng 316,97 triệu USD (tương đương 17,13%) so với năm 2009, nhập khẩu 419,08 triệu USD ngô, 547,97 triệu USD lúa mỳ, tăng 211,73 triệu USD tương đương 62,97% so với năm 2009 Theo tổng cục thống kê năm 2009 số lượng trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản ước tính là 56289 trang trại Ngoài ra còn số lượng các gia trại chăn nuôi nhỏ lẻ cũng chiếm một số lượng đáng kể Giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nước

ta năm 2009 đạt 33547 tỉ đồng

Chất lượng các loại sản phẩm của công ty luôn luôn được đánh giá tốt Nguồn nguyên liệu của công ty 100% nhập từ nước ngoài, chất lượng tốt, dây chuyền sản xuất hiện đại đảm bảo chất lượng của các sản phẩm cung cấp ra thị trường

Trong 7 năm hình thành và phát triển thương hiệu của công ty với 2 nhãn hàng Cánh buồm đỏ và Maxgro đã được phát triển và khẳng định vị trí của công ty trên thị trường Hiện nay sản lượng của công ty ước tính chiếm khoảng 5% tổng sản lượng của ngành TACN, điều đó đã khẳng định tiềm lực phát triển và cạnh tranh của Hồng Hà

Với đội ngũ lãnh đạo và nhân viên giàu năng lực, nhiệt tình trong công việc, hệ thống quản lí chặt chẽ, chế độ tiền lương và phụ cấp hợp lý các thành viên trong công ty luôn phát huy được tối đa năng lực của bản thân đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của công ty Hiện nay công ty đang có chiến lược

mở rộng thị trường sang các tỉnh miền Nam và xây dựng 1 nhà máy chế biến TACN tại Bình Định để phục vụ nhu cầu sử dụng TACN cho các trang trại và

Trang 39

với lãi suất 2 - 3%/năm Nhiều công ty TACN trong nước đóng cửa, chuyển sang buôn nguyên liệu.

Theo Hiệp hội TACN, từ hơn 400 doanh nghiệp sản xuất TACN của

3-4 năm trước hiện chỉ còn khoảng 200 doanh nghiệp và số doanh nghiệp nhỏ nhập khẩu nguyên liệu từ hơn 100 đã gia tăng lên trên 300 doanh nghiệp Các doanh nghiệp này lại không nắm vững luật thương mại quốc tế, nên cũng đang gặp nhiều khó khăn, bị “xù” hợp đồng rất nhiều mà không kiện được

Do giá cả nguyên liệu đầu vào tăng, cộng thêm sự bất ổn trong tỷ giá đồng USD, giá thức ăn chăn nuôi trong nước tăng cao chưa từng có Trong vòng 2 tháng đầu năm 2011 công ty Hồng Hà đã có 3, 4 lần tăng giá Hàng năm nước ta phải nhập khẩu từ 55 - 60% tổng sản phẩm nguyên liệu đầu vào

do nguyên liệu trong nước sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún không đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp chế biến Theo Hiệp hội TACN, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam đã liên tục tăng trong những năm qua: năm 2009 nhập 6 triệu tấn, thì con số này của năm 2010 đã tăng lên 7,7 triệu tấn và dự kiến năm 2011 sẽ tăng lên đến 8,5 - 9 triệu tấn, tương đương kim ngạch 3,2 - 3,4 tỷ USD

Năm 2011 ngành thức ăn chăn nuôi Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn, khi các nhà cung cấp chính đều khan hàng, cộng thêm những diễn biến bất ổn của thị trường đẩy giá cả nguyên liệu, giá các loại đầu vào sản xuất lên cao

Từ đó đẩy giá thành các sản phẩm TACN của công ty lên cao gây khó khăn trong cạnh tranh về sản lượng với các đối thủ cạnh tranh khác

Do hiện nay tình hình cung cấp điện của ngành điện lực đang gặp khó khăn, thiếu điện trầm trọng gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thậm chí các xe chở hàng của các đại lí đến công ty lấy hàng phải chờ cả ngày vì lí do không có điện để sản xuất để lấy được hàng phục vụ người chăn nuôi

Trang 40

2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

1 Đỗ Hương Giang (2005), “Giải pháp về tổ chức và hoàn thiện bán hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty giầy vải Thượng Đình”

Luận văn nghiên cứu về Công ty giầy vải Thượng Đình, trải qua hơn 40 năm xây dựng và trưởng thành, Công ty đã có bề dày về truyền thống trong sản xuất và kinh doanh giầy dép

Trong suốt quá trình hình thành và phát triểnCông ty đã gặp phải không

ít khó khăn Một trong những khó khăn đó là hoạt động bán hàng của Công

ty, vấn đề tồn tại trong đó là lực lượng bán hàng của Công ty tỏ ra rất yếu kém ảnh hưởng tới kết quả sản xuất kinh doanh

Luận văn đã đề xuất một số giải pháp như mở rộng thị trường nghiên cứu, phương thức bán hàng và thanh toán cần hoạt hơn, tuyển chọn và đào tạo lực lượng bán hàng có kinh nghiệm, lựa chọn đối tác làm ăn lâu dài và tin cậy

Những điểm còn hạn chế: chưa nêu được kênh phân phối hiện tại của Công ty, chưa nêu được cơ cấu, chủng loại sản phẩm mà Công ty sản xuất

2 Hoàng Thị Thúy (2009), “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh

về thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y của Công ty cổ phần Hải Nguyên”

Bài làm đã nêu được :

- Quá trình hình thành và phát triển của Công ty, các lý luận về cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của sản phẩm, các công cụ cạnh tranh chủ yếu

- Các kênh phân phối của Công ty, giá cả của Công ty và các đối thủ cạnh tranh, tình hình tiêu thụ sản phẩm theo khu vực thị trường của Công ty

- Thể hiện được chi phí trung gian để thúc đẩy việc bán hàng

Ngày đăng: 18/10/2013, 01:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Michael Porter (1985), “Lợi thế cạnh tranh”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lợi thế cạnh tranh”
Tác giả: Michael Porter
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1985
5. TS. Phạm Văn Hùng (2010), “Bài giảng phương pháp nghiên cứu kinh tế”, Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bài giảng phương pháp nghiên cứu kinh tế”
Tác giả: TS. Phạm Văn Hùng
Năm: 2010
6. Đỗ Hương Giang (2005), “Gải pháp về tổ chức và hoàn thiện bán hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty giầy vải Thượng Đình”, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Gải pháp về tổ chức và hoàn thiện bán hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty giầy vải Thượng Đình”
Tác giả: Đỗ Hương Giang
Năm: 2005
7. Hoàng Thị Thúy (2009), “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh về thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y của Công ty cổ phần Hải Nguyên”, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh về thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y của Công ty cổ phần Hải Nguyên”
Tác giả: Hoàng Thị Thúy
Năm: 2009
8. Phạm Thị Thu Hường (2009), “Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm thức ăn chăn nuôi của công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi Pháp – Việt ”, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm thức ăn chăn nuôi của công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi Pháp – Việt
Tác giả: Phạm Thị Thu Hường
Năm: 2009
9. Trần Vinh Hiển (2010), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thức ăn chăn nuôi tại công ty trách nhiệm hữu hạn Vĩnh Hà”, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.10.Các trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thức ăn chăn nuôi tại công ty trách nhiệm hữu hạn Vĩnh Hà
Tác giả: Trần Vinh Hiển
Năm: 2010
1. Báo cáo sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà năm 2009 và năm 2010 Khác
2. Báo cáo tài chính của Công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà năm 2010 3. Các Mác – Ăng Ghen toàn tập (2003), NXB Sự thật, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty - Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam
Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty (Trang 42)
Bảng 3.1: Tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh của công ty - Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam
Bảng 3.1 Tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh của công ty (Trang 47)
Bảng 3.2: Các sản phẩm chính của công ty - Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam
Bảng 3.2 Các sản phẩm chính của công ty (Trang 52)
Hình 3.5 Sơ đồ tăng trưởng doanh thu của công ty - Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam
Hình 3.5 Sơ đồ tăng trưởng doanh thu của công ty (Trang 54)
Bảng 3.3: Báo cáo doanh thu bán hàng năm 2009 và 2010 - Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam
Bảng 3.3 Báo cáo doanh thu bán hàng năm 2009 và 2010 (Trang 54)
Bảng 3.4: Báo cáo sản lượng bán hàng năm 2010 - Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam
Bảng 3.4 Báo cáo sản lượng bán hàng năm 2010 (Trang 56)
Bảng 4.1:  Sản lượng tiêu thụ TACN tại tỉnh Hà Nam năm 2010. - Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam
Bảng 4.1 Sản lượng tiêu thụ TACN tại tỉnh Hà Nam năm 2010 (Trang 62)
Bảng 4.2: So sánh thị phần TACN cho lợn của một số công ty trên thị trường Hà Nam - Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam
Bảng 4.2 So sánh thị phần TACN cho lợn của một số công ty trên thị trường Hà Nam (Trang 64)
Hình 4.1 Sơ đồ thị phần của một số đối thủ cạnh tranh của Hồng Hà về sản phẩm HH cho lợn - Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam
Hình 4.1 Sơ đồ thị phần của một số đối thủ cạnh tranh của Hồng Hà về sản phẩm HH cho lợn (Trang 65)
Bảng 4.3: So sánh thị phần TACN cho gà đẻ của một số công ty  trên thị trường Hà Nam - Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam
Bảng 4.3 So sánh thị phần TACN cho gà đẻ của một số công ty trên thị trường Hà Nam (Trang 67)
Hình 4.2 Sơ đồ thị phần của một số đối thủ cạnh tranh của Hồng Hà về sản phẩm HH gà đẻ - Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam
Hình 4.2 Sơ đồ thị phần của một số đối thủ cạnh tranh của Hồng Hà về sản phẩm HH gà đẻ (Trang 68)
Bảng 4.4: So sánh chủng loại sản phẩm HH cho lợn và gà đẻ của Hồng Hà và CP năm 2011 - Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam
Bảng 4.4 So sánh chủng loại sản phẩm HH cho lợn và gà đẻ của Hồng Hà và CP năm 2011 (Trang 75)
Bảng 4.8: Thành phần dinh dưỡng cho lợn siêu nạc - Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam
Bảng 4.8 Thành phần dinh dưỡng cho lợn siêu nạc (Trang 82)
Bảng 4.10: Chỉ tiêu chất lượng dinh dưỡng cho sản phẩm gà đẻ từ 18 tuần tuổi đến kết thúc - Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam
Bảng 4.10 Chỉ tiêu chất lượng dinh dưỡng cho sản phẩm gà đẻ từ 18 tuần tuổi đến kết thúc (Trang 82)
Bảng 4.12: Giá bán một số sản phẩm cho lợn và gà đẻ của các đối thủ cạnh tranh tháng 3/2011 - Nâng cao sức cạnh tranh một số sản phẩm của công ty cổ phần dinh dưỡng Hồng Hà tại tỉnh Hà Nam
Bảng 4.12 Giá bán một số sản phẩm cho lợn và gà đẻ của các đối thủ cạnh tranh tháng 3/2011 (Trang 85)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w