LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởngđến chất lượng dịch vụ nộp thuế điện tử của doanh nghiệp tại địa bàn quận TânBình, Thành phố Hồ Chí
Trang 1-NGUYỄN LIÊN SƠN
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NỘP THUẾ ĐIỆN TỬ CỦA DOANH NGHIỆP TẠI ĐỊA BÀN QUẬN TÂN
Trang 2-NGUYỄN LIÊN SƠN
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NỘP THUẾ ĐIỆN TỬ CỦA DOANH NGHIỆP TẠI ĐỊA BÀN QUẬN TÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởngđến chất lượng dịch vụ nộp thuế điện tử của doanh nghiệp tại địa bàn quận TânBình, Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của của riêng tôi, các nộidung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ công trình nào Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việcphân tích, nhận xét, đánh giá được thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trongphần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toànchịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 4 năm 2016
Trân trọng
Nguyễn Liên Sơn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Côgiảng viên trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt nhữngkiến thức quý báu làm nền tảng cho tôi trong việc thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến PGS TS Bùi
Lê Hà – Người đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn cao học này
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn tới quý doanh nghiệp đã nhiệt tình hỗ trợ và cónhững chia sẻ quý báu giúp tôi hoàn thiện luận văn
Cuối cùng, tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, đồngnghiệp tại Chi cục thuế Tân Bình đã hỗ trợ và giúp tôi trong khi thực hiện luận văn.Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
Trân trọng
Nguyễn Liên Sơn
Trang 5TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm xây dựng một mô hình nghiên cứu về sự hài lòng củadoanh nghiệp khi sử dụng dịch nộp thuế điện tử trên websitehttps://nopthue.gdt.gov.vn Một mô hình gồm 5 thành phần được tác giả đề nghị đó
là: Tính hiệu quả, Sự sẵn sàng của hệ thống, Độ bảo mật,Sự hỗ trợ doanh nghiệp,
Sự hỗ trợ của ngân hàng dựa trên kết quả nghiên cứu định tính và kế thừa từ mô
hình E-S Qual của Parasuraman et al (2005) Trong đó bao gồm: 22 biến quan sátcủa 5 thang đo của các thành phần độc lập và 4 biến quan sát của thành phần phụthuộc là Sự hài lòng Các phương pháp định lượng được sử dụng gồm: phân tíchnhân tố khám phá (EFA) để tóm tắt thang đo và kiểm định độ tin cậy của thang đobằng hệ số Cronbach’s Alpha Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính cũng chỉ rarằng: Sự hài lòng của doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử do 5 nhân
tố quyết định đó là: Tính hiệu quả, Sự sẵn sàng của hệ thống, Độ bảo mật,Sự hỗ trợ
doanh nghiệp, Sự hỗ trợ của ngân hàng Trong đó, nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất
đến Sự hài lòng của doanh nghiệp là Sự hỗ trợ của ngân hàng, trong khi nhân tố Sựsẵn sàng của hệ thống có mức ảnh hưởng yếu nhất Kết quả này là cơ sở quan trọng
để tác giả đề xuất và kiến nghị một số giải pháp cho Cục thuế Tp Hồ Chí Minhtrong việc nâng cao hơn nữa Sự hài lòng của doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ nộpthuế điện tử trong thời gian tới
Trang 6This study aims to develop a research model for business satisfaction whenusing tax e-filing https://nopthue.gdt.gov.vn website A model consists of 5
components are authors suggest that: Efficiency, Systems availability, Privacy,
Business support, Bank support based on the results of qualitative research and
inherited from the ES Qual model of Parasuraman et al (2005) Which include 22variations of 5 scale observations of the independent components and 4 observedvariables of dependent components are satisfaction The quantitative methods usedinclude: exploring factor analysis (EFA) to summarize the scale and expertise ofscale reliability by Cronbach's alpha coefficient Results of linear regressionanalysis also showed that: Satisfaction of business services using electronic tax
payment by 5 that is the deciding factor: Efficiency, Systems availability, Privacy,
Business support, Bank support Among them, the most influential factor to the
satisfaction of the enterprise is the support of the bank, while factors Availability ofthe system has the weakest influence This result is an important basis for theauthors propose and propose some solutions for HCMC Tax Department Ho ChiMinh City to further enhance business satisfaction when using the tax e-filingservices in the near future
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC HÌNH VẼ ix
DANH MỤC CÁC BẢNG x
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1
1 Lý do chọn lựa đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.1 Giới thiệu 5
2.2 Tổng quan về dịch vụ điện tử 5
2.2.1 Khái niệm về dịch vụ điện tử 5
2.2.2 Đặc điểm của dịch vụ điện tử 6
2.2.3 Phân loại dịch vụ điện tử 10
2.3 Dịch vụ điện tử công 11
2.3.1 Chính phủ điện tử 11
2.3.2 Thuế điện tử 13
2.3.3 Nộp thuế điện tử 15
2.4 Lý thuyết về sự hài lòng của công dân 18
2.5 Các mô hình nghiên cứu trước đây 19
2.5.1 Các nghiên cứu nước ngoài 19
2.5.2 Các nghiên cứu trong nước 22
Trang 82.6 Đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 24
2.6.1 Tính hiệu quả (Efficiency) 25
2.6.2 Sự sẵn sàng của hệ thống (System availibility) 26
2.6.3 Thành phần Độ bảo mật (privacy) 26
2.6.4 Sự hỗ trợ doanh nghiệp 27
2.7 Mô hình nghiên cứu đề nghị và các giả thuyết nghiên cứu 27
Kết luận chương 2 29
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Giới thiệu 30
3.2 Thiết kế nghiên cứu 30
3.3 Quy trình nghiên cứu 31
3.4 Thang đo 31
3.5 Nghiên cứu định tính 32
3.5.1 Thảo luận và phỏng vấn sâu 32
3.5.2 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 33
3.5.3 Thang đo hiệu chỉnh 33
3.6 Nghiên cứu chính thức (nghiên cứu định lượng) 33
3.6.1 Phương pháp thu thập thông tin và cỡ mẫu 34
3.6.2 Kế hoạch phân tích dữ liệu 35
Kết luận chương 3 39
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
4.1 Giới thiệu 40
4.2 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 40
4.3 Kết quả kiểm định thang đo 43
4.3.1 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp khi kê khai thuế điện tử lần 1 43
4.3.2 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha thang đo Tính hiệu quả lần 2 44
4.3.3 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha thang đo Sự sẵn sàng của hệ thống lần 2 45
Trang 94.3.4 Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha thang đo sự hài lòng doanh nghiệp 45
4.4 Phân tích nhân tố khám phá EFA 46
4.4.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA đối với các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp 46
4.4.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA đối với nhân tố sự hài lòng của doanh nghiệp 48
4.5 Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh 49
4.5.1 Mô hình nghiên cứu 49
4.5.2 Các giả thuyết 49
4.6 Phân tích tương quan 50
4.7 Hồi quy tuyến tính 51
4.7.1 Đánh giá sự phù hợp của mô hình hồi qui 52
4.7.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 52
4.7.3 Dò tìm sự vi phạm các giả thuyết trong hồi qui tuyến tính 54
4.7.4 Mô hình hồi qui 56
4.7.5 Ý nghĩa mô hình hồi qui 56
Kết luận chương 4 60
CHƯƠNG 5: HÀM Ý CHO CÁC NHÀ QUẢN TRỊ 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Một số kiến nghị 61
5.2.1 Sự hỗ trợ của ngân hàng 61
5.2.2 Sự hỗ trợ doanh nghiệp 62
5.2.3 Tính hiệu quả 63
5.2.4 Độ bảo mật 63
5.2.5 Sự sẵn sàng của hệ thống 64
5.3 Hạn chế của đề tài 64
Kết luận chương 5 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Mô hình kê khai thuế trực tiếp 13
Hình 2.2: Mô hình kê khai thuế qua mạng 14
Hình 2.3: Mô hình tổng quan Nộp thuế điện tử 17
Hình 2.4: Mô hình hệ thống Nộp thuế điện tử 17
Hình 2.5: Mô hình chỉ số hài lòng Mỹ (ACSI) 20
Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu sự hài lòng của người nộp thuế về dịch vụ kê khai thuế qua mạng 23
Hình 2.7: Mô hình đo lường sự hài lòng của doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ kê khai thuế qua mạng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 24
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 31
Hình 4.1: Cơ cấu mẫu theo giới tính 40
Hình 4.2: Cơ cấu mẫu theo độ tuổi 41
Hình 4.3: Cơ cấu mẫu theo chức vụ công tác 42
Hình 4.4: Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh 49
Hình 4.5: Biểu đồ phân tán 54
Hình 4.6: Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa 55
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Phân loại các loại dịch vụ điện tử 10
Bảng 3.1: Kế hoạch nghiên cứu 30
Bảng 3.2: Bảng mã hóa biến 35
Bảng 4.1: Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp khi nộp thuế điện tử lần 1 43
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha thang đo Tính hiệu quả lần 2 44
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha thang đo Sự sẵn sàng của hệ thống lần 2 45
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha thang đo Sự hài lòng doanh nghiệp 46 Bảng 4.5: Kết quả phân tích nhân tố các biến độc lập 47
Bảng 4.6: Kết quả phân tích nhân tố biến phụ thuộc 48
Bảng 4.7: Ma trận tương quan giữa các biến 50
Bảng 4.8: Kết quả đánh giá sự phù hợp của mô hình 52
Bảng 4.9: Kết quả phân tích phương sai của mô hình 53
Bảng 4.10: Kết quả phân tích hồi qui bội 53
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1 Lý do chọn lựa đề tài
Cải cách thủ tục hành chính thuế là yêu cầu bức thiết đặt ra trong quá trình hộinhập và phát triển kinh tế Nhận thức rõ vai trò quan trọng của công tác cải cách thủtục hành chính đối với sự phát triển, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng,thông thoáng, trong nhiều năm qua ngành Thuế đã đẩy mạnh thực hiện việc cải cáchthủ tục hành chính trong lĩnh vực này và kết quả ban đầu cho thấy đã có nhiềuchuyển biến mạnh mẽ, giảm được rất nhiều khâu thủ tục hành chính không cầnthiết, qua đó tiết kiệm được thời gian và công sức của nhà nước và người nộp thuế
so với trước đây
Sau gần 25 năm, kể từ khi hệ thống thuế đi vào hoạt động thống nhất đến nay,bên cạnh việc đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị về thu ngân sách nhà nước,Tổng cục Thuế đã thực hiện thành công Chương trình cải cách, hiện đại hóa côngtác quản lý thuế theo Chiến lược cải cách hệ thống thuế đã được Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt (giai đoạn trước năm 2010 và giai đoạn 2011 – 2020) Theo đó,ngành Thuế cả nước đã chuyển từ cơ chế thông báo thuế sang cơ chế người nộpthuế tự khai, tự nộp, trong đó Cơ quan thuế tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ ngườinộp thuế và đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra Trong đó không thể không nóiđến thành công trong việc xây dựng hoàn chỉnh mô hình kê khai thuế qua mạng vàbước đầu tích hợp chung hình thức kê khai và nộp thuế qua mạng
Được chính thức đi vào triển khai từ năm 2007 đến nay, tình hình kê khai thuếqua mạng đã được triển khai trên tất cả 63 tỉnh thành, tính đến đầu tháng 12 năm
2015 cả nước đã có 98% doanh nghiệp đã đăng ký và kê khai thuế qua mạng, trong
đó có 476.076 doanh nghiệp đã đăng ký nộp thuế điện tử, chiếm 92%, nhưng chỉ có213.444 doanh nghiệp đã thực hiện nộp thuế điện tử (chiếm 41,3 %) Theo lộ trìnhcủa Tổng cục Thuế thì kể từ đầu tháng 12/2015 thì tất cả các ngân hàng sẽ ngừngthu thuế bằng hình thức tiền mặt tức là tất cả các doanh nghiệp sẽ nộp thuế theohình thức mới đó là nộp thuế qua mạng, để vừa tiết kiệm thời gian, chi phí củadoanh nghiệp, vừa hạn chế sự can thiệp, tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ thuế với
Trang 14doanh nghiệp trong quá trình khai thuế, tính thuế Điều này giúp các doanh nghiệp
và Tổng cục Thuế sẽ tiết kiệm được thời gian và công sức trong việc nộp thuế quamạng Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả thì công tác triển khai nộp thuế quamạng hiện còn gặp nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp cho biết họ đã gặp nhiều sự
cố, bất tiện khi thực hiện nộp thuế điện tử, một số doanh nghiệp còn ngại nộp thuếqua mạng do sợ tốn kém và sợ rủi ro
Nhằm tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong việc nộpthuế điện tử, và đánh giá một cách toàn diện công tác triển khai nộp thuế qua mạngthì một đánh giá khách quan của người nộp thuế về dịch vụ này là rất cấp bách vàcần thiết để có những điều chỉnh nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ nộpthuế qua mạng Thật vậy, chỉ khi doanh nghiệp hài lòng với chất lượng nộp thuế quamạng và tin tưởng tuyệt đối vào hình thức nộp thuế qua mạng thì hình thức này mớithực sự được doanh nghiệp đón nhận và tin dùng
Là công chức ngành thuế hiện đang công tác tại Chi cục thuế quận Tân Bình
tác giả thực hiện đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch
vụ nộp thuế điện tử của doanh nghiệp tại địa bàn quận Tân Bình, Thành phố
Hồ Chí Minh” với mục đích tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch
vụ nộp thuế điện tử của doanh nghiệp tại địa bàn mình đang công tác, qua đó đềxuất một số kiến nghị cho các nhà quản trị tại Chi cục thuế Tân Bình nhằm nâng caohơn nữa sự hài lòng của doanh nghiệp khi sử dụng hình thức này, có như vậy mớikhiến các doanh nghiệp mặn mà với hình thức nộp thuế điện tử trong thời gian tới
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát
Đo lường Sự hài lòng của doanh nghiệp trên địa bàn quận Tân Bình về dịch vụnộp thuế điện tử do Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp
- Mục tiêu cụ thể
Xây dựng mô hình đo lường về những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch
vụ nộp thuế điện tử Qua đó đánh giá được mức độ tác động của các thành phần
Trang 15chất lượng dịch vụ nộp thuế điện tử đến sự hài lòng của doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử mà Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh đang cung cấp.
Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ nộp thuế điện tử, đáp ứng sự hài lòng của Doanh nghiệp trên địa bàn quận Tân Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ thuếđiện tử mà Ngành thuế đang cung cấp, cụ thể ở đây là dịch vụ nộp thuế qua mạng
do Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp cho các doanh nghiệp ở địa bànquận Tân Bình
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nghiên cứu các doanh nghiệp đang sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử trên địa bàn quận Tân Bình và do Chi cục thuế quận Tân Bình quản lý.+ Về thời gian: Dữ liệu dùng để thực hiện luận văn được thu thập trongkhoảng từ tháng 3/2015 – 12/2015, trong đó dữ liệu thứ cấp được tác giả sử dụng từcác báo cáo của Tổng cục thuế, Tổng cục thống kê, các trang mạng điện tử Dữ liệu
sơ cấp thu được thông qua các bảng câu hỏi khảo sát 220 doanh nghiệp đang sửdụng dịch vụ nộp thuế qua mạng trên địa bàn quận Tân Bình và do Chi cục thuếquận Tân Bình quản lý
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành theo hai bước: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứuchính thức
- Nghiên cứu sơ bộ thông qua phương pháp định tính được thực hiện thôngqua kỹ thuật phỏng vấn sâu theo câu hỏi mở đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đối vớiviệc nộp thuế điện tử do ngành Thuế cung ứng với một số chuyên gia về thuế tạiChi cục thuế quận Tân Bình cảm nhận và cho ý kiến với một kế hoạch phỏng vấn đãđược lập sẵn Các thông tin phỏng vấn sẽ được thu thập, tổng hợp làm cơ sở choviệc khám phá, bổ sung, điều chỉnh các yếu tố, các biến dùng để đo lường các kháiniệm nghiên cứu
Trang 16- Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu địnhlượng Mẫu khảo sát sau thu thập được được đưa vào xử lý và phân tích để kiểmđịnh và nhận diện các nhân tố thông qua các giá trị, độ tin cậy và mức độ phù hợpcủa các thang đo, kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu, xácđịnh mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của doanh nghiệp khi nộpthuế qua mạng.
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn được trình bày gồm 5 phần chính như sau:
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Hàm ý cho các nhà quản trị
Trang 17CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU2.1 Giới thiệu
Trong nội dung của chương 2 này, tác giả sẽ giới thiệu tổng quan cơ sở lýthuyết nghiên cứu của luận văn và giới thiệu các mô hình đã được nghiên cứu trướcđây về dịch vụ thuế điện tử Trên cơ sở này, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứucùng với các giả thuyết về mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình nghiêncứu
2.2 Tổng quan về dịch vụ điện tử
2.2.1 Khái niệm về dịch vụ điện tử
Sự lan truyền và phát triển mạnh mẽ của các mạng điện tử đã và đang thay đổicách thức kinh doanh, tiếp thị của các nhà kinh doanh, và hành vi của người tiêudùng Một đặc điểm của chuyển đổi này là sự xuất hiện của hiện tượng dịch vụ điện
tử (e-services) phát sinh ở ranh giới của hai lĩnh vực kinh doanh của nghiên cứu, đólà: Dịch vụ tiếp thị và thương mại điện tử
Tất nhiên, trong con mắt của nhiều nhà quan sát, bán hàng hóa hữu hình trựctuyến (tangible goods online) thì bản chất chính nó là một dịch vụ điện tử, và dịch
vụ này thay thế cho bán lẻ vật lý Do đó, lẽ tự nhiên các học giả dịch vụ sẽ chuyển
sự chú ý của họ với những gì được cho là sự đổi mới quan trọng nhất trong việccung cấp dịch vụ bán lẻ trong nhiều năm, cụ thể là khả năng cung cấp dịch vụ chomột thị trường đại chúng với ít hoặc không có người trực tiếp can thiệp Để làm rõthêm về dịch vụ điện tử, chúng ta bắt đầu với một số khái niệm cơ bản của dịch vụđiện tử
Dịch vụ điện tử trước đây đã được định nghĩa là: “những dịch vụ có thể đượccung cấp thông qua điện tử” (Javalgi et al., 2004) Tương tự như vậy Rust vàKannan (2003) cũng cho rằng “dịch vụ điện tử cung cấp dịch vụ trên mạng điện tử”.Boyer et al (2002) sử dụng định nghĩa, “dịch vụ điện tử là một dịch vụ được phânphối trên Internet sử dụng viễn thông, thông tin và công nghệ đa phương tiện”
Trang 182.2.2 Đặc điểm của dịch vụ điện tử
Trong luận văn này, tác giả tiến hành bằng cách thảo luận bốn thuộc tínhthường được trích dẫn của dịch vụ đó là: Tính vô hình (Intangibility), tính khôngđồng nhất (Heterogeneity ), tính bất khả phân ly (không thể tách rời) của sản xuất vàtiêu dùng (Inseparability), và cuối cùng là tính không lưu trữ được (Perishability)của dịch vụ (Zeithaml, Parasuraman và Berry, 1985) Khi làm như vậy, tác giả lưu ýrằng những sự khác biệt truyền thống giữa dịch vụ và hàng hóa gần đây đã bị chỉtrích (Lovelockand & Gummesson, 2004) bởi vì các tác giả này không cung cấpmột sự phân biệt rõ ràng giữa các dịch vụ và hàng hóa, và bởi vì họ đại diện chomột định nghĩa tiêu cực của các dịch vụ về "những hàng hóa hữu hình không phải làdịch vụ" (Vargo và Lusch, 2004b) Tuy nhiên, những phân loại đặc điểm của dịch
vụ này là hữu ích trong việc phân biệt dịch vụ điện tử từ các dịch vụ truyền thốnghơn Lovelock và Gummesson (2004) đề nghị dịch vụ xác định là những người muahàng mà không dẫn đến quyền sở hữu cho người mua; đúng hơn, lợi ích thu đượcthông qua truy cập hoặc sở hữu tạm thời "Không sở hữu" không gian này là hữu íchtrong xác định dịch vụ điện tử như một loại sản phẩm độc đáo và cũng sử dụng quanđiểm này trong bài viết của mình
Tính vô hình
Chúng ta có thể giả định một dịch vụ điện tử là ít hữu hình hơn các dịch vụtương tự giao tận tay Trong trường hợp nguyên mẫu hoặc thuần túy của dịch vụđiện tử trước đây về tính vô hình của dịch vụ (McDougall, Bergeron, và Yang 2004)
sẽ đặc biệt có liên quan Trong trường hợp khác, chẳng hạn như dịch vụ liên tụcđược cung cấp (bảo hiểm), dịch vụ liên quan đến tài sản chế biến chứ không phải làngười (gói giao hàng), hoặc nơi có một phần biểu tượng quan trọng (máy bay đặtphòng, vé đến một vở kịch) một dịch vụ điện tử truyền tải sẽ làm tăng tính hữu hìnhcủa dịch vụ
Cơ chế giao hàng cụ thể (Ví dụ: DVD, kiosk, cầm tay thiết bị, máy tính cánhân) và định dạng (trang web, email, video, tin nhắn văn bản, menu thoại) cũngcung cấp một đóng góp quan trọng đến tính hữu hình Mặc dù là một nhà thiết kế
Trang 19dịch vụ điện tử có sự lựa chọn đáng kể và sự linh hoạt trong điều kiện của tùy chọngiao hàng, một người tiêu dùng dịch vụ điện tử chỉ có một tập cố định các giác quan
và thông tin hạn chế khả năng xử lý Vì vậy, phải lựa chọn kênh cần xem xét cácloại hình cụ thể của tính vô hình (Laroche, Bergeron, và Goutaland 2001) và làm thếnào để phân tích điểm yếu và điểm mạnh của bộ xử lý thông tin của khách hàng.Xây dựng thêm vào điểm yếu có thể, nếu người tiêu dùng phải đối phó vớinhiều hơn một vài mục thông tin cùng một lúc, một màn hình máy tính lớn có thểkêu gọi (hay được khuyến nghị) thay vì một màn hình điện thoại di động, máy tínhbảng Nếu không những hạn chế của trí nhớ ngắn hạn (Bettman, 1979) có thể làmgiảm những lợi ích của dịch vụ Tương tự như vậy, sự phong phú của sự tương táctạo nên bởi sự kết hợp của các băng thông sẵn có và các thiết bị đầu vào và đầu raxác định các loại giải quyết vấn đề có thể có trong môi trường trung gian (Yadav vàVaradarajan, 2005), số lượng và loại hình phức tạp sản phẩm có thể được chuyển tảibởi người bán và định bởi người mua, vì nó cũng ra lệnh như thế nào hấp dẫn nhữngkinh nghiệm thương hiệu là cho dịch vụ điện tử
Thiết kế tương tác tương tự như vậy có thể cần phải đưa vào tài khoản cho dùlợi ích là giảm sự không chắc chắn (thêm các điểm dữ liệu) hoặc giảm sự mơ hồ(Daft và Lengel 1986) Nhiều những thế mạnh xử lý thông tin của người tiêu dùng
sẽ tăng lên qua thời gian khi người tiêu dùng có kinh nghiệm Hình ảnh ẩn dụ(Carroll và Thomas, 1982) rằng các lược đồ danh dự có thể tận dụng kiến thức tiêudùng trước khi hiển thị quá trình dịch vụ hữu hình hơn
Một số nghiên cứu trước đây đã xem tính vô hình như một khía cạnh liên quanđến việc thiếu bằng chứng vật lý hoặc như là một cấu trúc hai chiều đó là thiếu tínhtổng quát và bằng chứng vật lý Dịch vụ điện tử được nghiên cứu bởi Järvinen &Lehtinen (2004) và được chứng minh là vô hình trong tự nhiên Ngoài ra, Hofacker,
et al (2007), nói rằng dịch vụ điện tử là ít hữu hình hơn so với các dịch vụ giaonhận khác Trong một số trường hợp, tính hữu hình của dịch vụ điện tử gia tăng nhưdịch vụ giao nhận thực phẩm, thực phẩm được đặt hàng trên mạng sau đó khi được
Trang 20giao cho khách hàng thì dịch vụ trở thành hữu hình hơn trong bước thứ hai, nơi sự hiện diện vật lý là cần thiết.
Tính đồng nhất
Tính không đồng nhất thể hiện sự biến đổi về chất lượng và bản chất của mộtdịch vụ cụ thể Với sự kiểm tra lỗi khả năng của phần mềm trên mạng, một dịch vụđiện tử có thể có sự đồng nhất hơn so với các dịch vụ khác bởi vì nó không cầnnhiều lao động (từ cách nhìn của công ty), và vì thế không phải chịu nhiều rủi ro dolỗi của con người Trong thực tế, khi sản xuất, một dịch vụ điện tử là nhiều đồngnhất hơn một hàng hóa vật lý điển hình Thay vì nghiên cứu tính không đồng nhấttrong ý nghĩa này, các nhà nghiên cứu dịch vụ điện tử đã tập trung vào các tác độngcủa biến đổi do sự tham gia của người tiêu dùng (Parasuraman 2000), trên tùy biến
và cá nhân hóa (Goldsmith 1999), và về tính không đồng nhất của người tiêu dùngtrong tùy chọn đối với hàng hóa đã trải nghiệm (Villas-Boas, 2006) Sự thay đổicũng được thêm vào bởi các cấu hình phần mềm của người tiêu dùng và sở thích vàmôi trường phần cứng
Hay nói cách khác, tính không đồng nhất gần như biến mất khỏi các dịch vụđiện tử (một cách tương đối) Đây cũng là điểm khác biệt lớn nhất giữa dịch vụ vàdịch vụ điện tử
Tính bất khả phân ly
Bởi vì “địa điểm” không phải là một tài sản do phần mềm nối mạng (Kobrin2001), dịch vụ điện tử là rất linh hoạt trong việc tách vật lý giữa người tiêu dùng và sảnxuất Một ban nhạc có thể ghi lại một bài hát, mà là một sản phẩm dựa trên kinhnghiệm, và bán nó trên một trang web Chúng ta có thể xác định rằng việc sản xuấtdịch vụ (biểu diễn bài hát) và tiêu thụ dịch vụ (Nghe nó) đã được tách ra trong cảkhông gian và thời gian Tất nhiên, cùng một bài hát có thể được sao chép bởi ngườitiêu dùng đến phương tiện truyền thông khác nhau, hoặc chơi trên một máy nghe nhạcMPEG hoặc xe hoặc âm thanh stereo hệ thống, hoặc lấy mẫu và được sử dụng trongviệc tạo ra một tác phẩm mới của nghệ thuật Ví dụ này cho thấy sự linh hoạt của mộtdịch vụ điện tử có thể làm cho nó nhiều hơn một sự phân chia dễ dàng về
Trang 21vật lý Tuy nhiên, nếu chúng ta xem xét một nhà bán lẻ âm nhạc trực tuyến cung cấpmột loạt các phương pháp tiếp cận, kể cả tải xuống, chúng ta có thể phân loại đónhư là một trường hợp mà người tiêu dùng phải “có mặt” trên các trang web để tiêuthụ các dịch vụ.
Tính không lưu trữ được
Vargo và Lusch (2004 b) lập luận rằng, trong một số trường hợp, dịch vụ điện
tử không dễ hư hỏng và có thể được kiểm kê Một dịch vụ điện tử, là một thuật toán,cung cấp một ví dụ tuyệt vời chỉ là một trường hợp ngoại lệ như vậy, vì nó có thểđược lưu trữ vô thời hạn của công ty (đĩa máy chủ) hoặc người tiêu dùng (CD hoặcphương tiện truyền thông khác) Có thể kết luận rằng dịch vụ điện tử không nhấtthiết phải dễ hư hỏng, là một người tiêu dùng đã rất thích một bản tải về của
“Romeo and Juliet” có thể xác nhận Không giống như các hàng hóa hoặc các dịch
vụ ẩn, số nhị phân cung cấp bởi phần mềm có thể được tiêu thụ hơn và hơn một lầnnữa mà không được sử dụng hết Hơn nữa, không giống như các dịch vụ trực tuyến,dịch vụ điện tử như các ca khúc được tải về (download) đề cập ở trên có thể đượcsao chép và chuyển cho người khác nhưng vẫn được giữ lại Trong khi dịch vụ ẩnkhông thể được kiểm kê, dịch vụ điện tử, được minh họa bằng trao đổi bài hát,thường xuyên có vấn đề ngược lại ở chỗ chúng quá dễ dàng kiểm kê, tức là, họkhông thể loại trừ nguồn cung cấp (Krishnan, Smith, và Telang 2003), có nghĩa làquản lý không thể ngăn chặn người dùng sao chép, lưu trữ và trao đổi Một lần nữa,một quan điểm dịch vụ trung tâm giúp quản lý các vấn đề này Ví dụ, cung cấp tròchơi World of WarCraft cho đi những phần mềm máy tính sử dụng để chơi các tròchơi, và chi phí người chơi thay vì để truy cập vào máy chủ tương tác
Tính tự phục vụ
Dịch vụ điện tử chủ yếu là tự phục vụ, cho dù chúng được gửi qua một thiết bị
di động, trang web trên một máy tính cá nhân hay máy tính bảng Rowley (2006)định nghĩa tự phục vụ là “dịch vụ mà không có sự hỗ trợ trực tiếp từ hoặc sự tươngtác với các nhân viên tại đại lý” Định nghĩa này có thể áp dụng cho dịch vụ bán lẻthông qua các công viên xe bán vé thông qua các trạm thanh toán, máy bán hàng tự
Trang 22động và các cửa hàng ăn uống, trong đó khách hàng lựa chọn và mang thức ăn riêngcủa họ và ăn uống Trong dịch vụ điện tử khách hàng phải tìm hiểu dịch vụ từ giaodiện website, hoặc từ gia đình và bạn bè có kinh nghiệm hơn.
Không tranh giành
Asvanund, Clay, Krishnan, và Smith (2004) cho rằng dịch vụ điện tử có thểđược tiêu thụ và xảy ra đồng thời mà không làm giảm lợi ích người tiêu dùng khác
2.2.3 Phân loại dịch vụ điện tử
Dịch vụ điện tử có nhiều ứng dụng khác nhau nhưng cơ bản được chia làm hailoại là dịch vụ điện tử phục vụ cho cá nhân hoặc các tổ chức trong đó có Chính phủ.Trong phần này tác giả đề cập tới 14 ứng dụng tiêu biểu thường được sử dụng trongdịch vụ điện tử và được trình bày cụ thể trong bảng:
Bảng 2.1: Phân loại các loại dịch vụ điện tử
(Nguồn: Journal of applied quantitative methods)
Dịch vụ kê khai thuế qua mạng internet của ngành thuế đang thực hiện và đề cập tại đề tài nghiên cứu này là một dịch vụ trong dịch vụ thuế điện tử
Trang 232.3 Dịch vụ điện tử công
2.3.1 Chính phủ điện tử
2.3.1.1 Định nghĩa Chính phủ điện tử
Có những cách tiếp cận khác nhau trong việc xác định chính phủ điện tử Từ góc
độ lợi ích của chính phủ điện tử, chính phủ điện tử là để cung cấp truy cập tới cácthông tin được tạo ra bởi chính phủ, để cung cấp một cơ hội để nâng cao hiệu quả vàhiệu quả của các chức năng của chính phủ và để làm cho các chính phủ minh bạch hơncho công dân và doanh nghiệp (Turban et al, 2004) Có hai bản tính của chính phủ điệntử: (1) nó là việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT),
(2) nó là để nâng cao hiệu quả và hiệu quả hoạt động của các chính phủ trong nội bộtrong khi hưởng lợi công dân và doanh nghiệp trong giao dịch của họ với chính phủ.Theo wikipedia thì Chính phủ điện tử là tên gọi của một Chính phủ mà mọihoạt động của nhà nước được “điện tử hóa”, “ mạng hóa” Tuy nhiên, Chính phủđiện tử không đơn thuần là máy tính, mạng internet; mà là sự đổi mới toàn diện cácquan hệ (đặc biệt là quan hệ giữa chính quyền và công dân), các nguồn lực, các quytrình, phương thức hoạt động và bản thân nội dung các hoạt động của chính quyềntrung ương và địa phương, và ngay cả các quan niệm về các hoạt động đó
2.3.1.2 Sự khác nhau giữa Chính phủ điện tử và Chính phủ truyền thống
Mặc dù có rất nhiều khái niệm khác nhau về Chính phủ điện tử nhưng chúng
ta có thể rút ra một số đặc điểm chung về Chính phủ điện tử như sau:
- Chính phủ điện tử là Chính phủ sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông
để tự động hoá và triển khai các thủ tục hành chính
- Chính phủ điện tử cho phép các công dân có thể truy cập các thủ tục hànhchính thông qua các phương tiện điện tử như Internet, điện thoại di động, truyềnhình tương tác
- Chính phủ điện tử là Chính phủ làm việc với người dân 24/24 giờ, 7 ngàymỗi tuần và 365 ngày mỗi năm, người dân có thể thụ hưởng các dịch vụ công dù họ
ở bất cứ đâu
Trang 24Từ những đặc điểm trên ta thấy rằng Chính phủ điện tử có nhiều điểm khác sovới Chính phủ truyền thống Với Chính phủ truyền thống, quá trình quản lý hànhchính trong nội bộ các cơ quan nhà nước diễn ra thủ công, tốn nhiều công sức, thờigian và tiền bạc Dân chúng không thể liên lạc với Chính phủ ngoài giờ hành chính,không thể ở bất cứ nơi nào ngoài trụ sở của các cơ quan nhà nước Người dân khôngthể đăng ký lấy giấy phép kinh doanh, làm khai sinh cho con mình hay đóng thuếtrước bạ 24/24 giờ, 7/7 ngày và ở bất cứ đâu.
Chính phủ điện tử có thể khắc phục được những hạn chế này của Chính phủtruyền thống
Ngoài ra, sự khác biệt chủ yếu giữa Chính phủ điện tử và Chính phủ truyềnthống là sự khác biệt về tốc độ xử lý giữa các thủ tục hành chính được tự động hóa
so với các thủ tục hành chính được xử lý thủ công Việc tự động hoá thủ tục hànhchính của Chính phủ điện tử cho phép xử lý các thủ tục nhanh hơn, gọn hơn, đơngiản hơn rất nhiều Không những thế, thông tin được cung cấp cho người dân cònđầy đủ, chính xác và dễ dàng hơn, người dân cũng đỡ mất nhiều chi phí để thu thậpcác thông tin này
Nói tóm lại, Chính phủ điện tử là một Chính phủ hiện đại hơn nhiều so vớiChính phủ truyền thống Chính phủ điện tử là mục tiêu mà các cơ quan Chính phủcác cấp hướng tới và hoàn thiện
2.3.1.3 Các giao dịch của Chính phủ điện tử
Theo Hiller & Belanger (2001), có năm loại của mối quan hệ giữa chính phủ
và các thành phần khác nhau Năm loại quan hệ đó là: mối quan hệ tương hỗ giữaChính phủ - công dân (G2C), Chính phủ - doanh nghiệp (G2B), Chính phủ vớingười lao động (G2E) và quan hệ giữa chính các cơ quan công quyền với nhau(G2G)
Các mối quan hệ này có thể được duy trì thường xuyên và liên tục nhờ có cácphương tiện thông tin liên lạc hiện đại, đỡ tốn thời gian Trong dài hạn, các dịch vụđiện tử có thể giúp giảm chi phí cung cấp dịch vụ của Chính phủ Người dân cũngngày càng có xu hướng sử dụng nhiều dịch vụ điện tử của Chính phủ vì họ không
Trang 25cần phải đến, viết thư hoặc gọi điện thoại tới một cơ quan Chính phủ để yêu cầuthực hiện một dịch vụ cụ thể Với ngày càng nhiều dịch vụ được cung cấp trựctuyến, Chính phủ điện tử sẽ là một cuộc cách mạng trong mối quan hệ giữa Chínhphủ và công dân.
Trong phạm vi luận văn này tác giả chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ giữachính phủ và doanh nghiệp (G2B) trong việc nộp thuế qua mạng Việc nộp thuế quamạng giúp các doanh nghiệp giảm bớt được thời gian công sức khi phải nộp trựctiếp như trước đây và cũng giúp cơ quan thuế giảm được rất nhiều thủ tục cũng nhưgiảm bớt được việc phải lưu giữ hồ sơ và chứng từ thuế bằng giấy
2.3.2 Thuế điện tử
2.3.2.1 Mô hình chung
Thuế điện tử là một hệ thống thông tin về thuế cung cấp dịch vụ cho các tổchức, cá nhân bên ngoài ngành thuế Hiện nay, các dịch vụ thuế điện tử sẽ bao gồm:cung cấp qua mạng các thông tin tham khảo liên quan đến lĩnh vực thuế, đối thoạihỏi đáp trực tiếp, đăng ký thuế, nộp tờ khai, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế, giải quyếtkhiếu nại tố cáo của NNT và cung cấp hóa đơn điện tử, … nhằm tạo thuận lợi choNNT, giảm thiểu chi phí thực hiện nghĩa vụ thuế, cắt giảm thời gian và thủ tục giấytờ
Mô hình kê khai thuế cũ:
(Nguồn: http://kekhaithue.gdt.gov.vn)
Hình 2.1: Mô hình kê khai thuế trực tiếp
Trang 26 Mô hình kê khai thuế điện tử:
Dịch vụ Chính phủ điện tử có thể khác nhau từ đơn giản như tìm kiếm thôngtin đến phức tạp như dịch vụ từ chính phủ liên quan đến phối hợp với nhiều dịch vụ
và giao dịch tại nhiều cơ sở dữ liệu trực tuyến của các phòng ban (De ', 2006) Việcgiao hàng của dịch vụ điện tử với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, do đó, có thể làtrong các hình thức khác nhau
2.3.2.3 Chất lượng dịch vụ thuế điện tử
Chất lượng dịch vụ thuế (Tax service quality) có thể được định nghĩa là nhậnthức, đánh giá của toàn bộ người nộp thuế liên quan đến việc kết nối dịch vụ điện tử
Trang 27của Chính phủ điện tử trên môi trường Internet (Zeithaml, Parasuraman & Malhotra,2002) Burgess & Stern, (1993) giải thích rằng Chất lượng dịch vụ thuế hơn là mốiliên hệ giữa việc áp dụng các dịch vụ điện tử với thị trường internet, thay vào đó cáctác giả này phát biểu rằng Chất lượng dịch vụ thuế chính là việc đánh giá của đốitượng nộp thuế đối với các cấp hành chính thuế Việc đo chất lượng dịch vụ thuế từkhung lý thuyết của Parasuraman thì phục vụ là yếu tố ban đầu về chất lượng dịch
vụ, được sử dụng trong nghiên cứu này Do đó, kết hợp nghiên cứu này nhận thấy
dễ dàng sử dụng từ lý thuyết của mô hình chấp nhận được một biến quan trọng mà
có thể hòa giải mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ thuế và hệ thống thuế trựctuyến Một số hạng mục khác nhau xảy ra phải được phát triển để đo lường chấtlượng dịch vụ thuế như là một yếu tố tự thứ hai (Obid & Bojuwon, 2014) UlrikeBauernfeind, Mayr & Zins (2006) xem xét mức độ đo lường chất lượng dịch vụ thuế
sử dụng mô hình phương trình cấu trúc để tìm các mối quan hệ hiện có giữa tínhhiệu quả, chất lượng thông tin, bảo mật và khả năng sử dụng
Ngoài ra, Warrington et al (2012) phát biểu rằng nghiên cứu về chất lượngdịch vụ phải luôn luôn bao gồm các quan điểm của cả hai phía đó là: nhà cung cấp
và người nhận Azmi (2012) cho rằng một hệ thống được nhận thức hữu ích và dễdàng là quan trọng đối với người nộp thuế tự nguyện kê tờ khai thuế của họ Katono(2011) nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh chất lượng dịch vụ điện tử mà có thểảnh hưởng đến hiệu quả của các máy rút tiền tự động bằng cách sử dụng phươngpháp tam giác của cả phương pháp định tính và định lượng để giải quyết độ tin cậycủa các vị trí máy, đáp ứng của hệ thống và các thông tin được cung cấp TheoAzmi, (2012) hầu hết các công trình học thuật thực hiện về hệ thống thuế trực tuyếnchủ yếu có liên quan đến chất lượng dịch vụ điện tử để đánh giá mức độ thực hiệncủa họ.
2.3.3 Nộp thuế điện tử
Theo trang web chính thức của Tổng cục Thuế Việt Nam(https://nopthue.gdt.gov.vn) thì nộp thuế điện tử được định nghĩa như sau: “Nộpthuế điện tử là dịch vụ cho phép người nộp thuế lập Giấy nộp tiền (GNT) vào Ngân
Trang 28sách Nhà nước trực tiếp trên Cổng thông tin điện tử của Cơ quan thuế và được Ngânhàng thương mại (NHTM) xác nhận kết quả giao dịch nộp thuế tức thời”.
Hiện nay, Tổng cục Thuế đã phối hợp với 36 ngân hàng để cung cấp dịch vụNộp thuế điện tử cho các doanh nghiệp và bước đầu thu được những thành quả nhấtđịnh (danh sách các NHTM có kết hợp cung cấp dịch vụ nộp thuế qua mạng xemchi tiết trong phần phụ lục)
Lợi ích đối với người nộp thuế (NNT)
- Tiết kiệm chi phí đi lại, thời gian giao dịch; đơn giản thủ tục giấy tờ khi thực hiện nghĩa vụ thuế
- Nộp thuế tại bất cứ địa điểm nào có kết nối Internet
- Nộp thuế 24/7, kể cả ngày nghỉ/lễ, được NHTM xác nhận kết quả giao dịch ngay khi gửi giấy nộp tiền (GNT)
- Có thể truy cập Cổng thông tin điện tử của Cơ quan thuế để xem, in, tải về các thông báo, GNT điện tử đã nộp
- Được sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng khác của NHTM
Điều kiện đăng ký Nộp thuế điện tử
NNT tự nguyện đăng ký nộp thuế điện tử khi có đủ các điều kiện sau:
- Là tổ chức, doanh nghiệp được cấp mã số thuế/mã số doanh nghiệp và đanghoạt động
- Có chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cấp và đang còn hiệu lực
- Có kết nối Internet và địa chỉ thư điện tử liên lạc ổn định với Cơ quan thuế
- Đang thực hiện khai thuế điện tử trên Cổng thông tin điện tử của Cơ quanthuế
- Có tài khoản tại NHTM
Trong thời điểm hiện tại, NNT muốn sử dụng dịch vụ cần có tài khoản tại 01ngân hàng đã phối hợp với Tổng cục Thuế cung cấp dịch vụ và thuộc địa bàn quản
lý của các Cục Thuế, Chi cục Thuế trên toàn quốc
Trang 29quản lý tin nộp thuế
thuế của điện tử của cơ
cơ quan
Cổng
Kho bạc thanh
Nhà nước toán của
NHTM
(Nguồn: http://kekhaithue.gdt.gov.vn)
Hình 2.3: Mô hình tổng quan Nộp thuế điện
tử Mô hình hệ thống nộp thuế điện tử
(Nguồn: Tổng cục thuế, 2014)
Hình 2.4: Mô hình hệ thống Nộp thuế điện tử
Trang 302.4 Lý thuyết về sự hài lòng của công dân
Trên thế giới cũng như Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sựhài lòng của khách hàng và cũng có nhiều quan điểm khác nhau về mức độ hài lòngcủa khách hàng (Oliver, 1997) Một khó khăn trong việc xem xét nguyên nhân vàkết quả của sự hài lòng của khách hàng là chưa có sự nhất trí thành phần cấu tạo sựhài lòng (Caruana, 2000) Sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của mộtngười bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọngcủa người đó (Kotler, 2001) Theo Oliver (1997): Sự hài lòng là sự phản ứng củangười tiêu dùng đối với việc được đáp ứng những mong muốn Mức độ hài lòng củakhách hàng được xem như sự so sánh giữa mong đợi trước và sau khi mua một sảnphẩm hoặc dịch vụ Theo Oliver (1981) “Sự hài lòng của khách hàng bị suy giảmthể hiện qua thái độ của họ khi mua hàng hóa” Bachelet (1995) cho rằng sự hàilòng của khách hàng như một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng qua sựtrải nghiệm của họ về một sản phẩm hay một dịch vụ Vì nó đáp ứng những mongmuốn của họ, bao gồm cả mức độ đáp ứng trên mức mong muốn và dưới mức mongmuốn
Thuế điện tử nói riêng và Chính phủ nói chung thực chất là một dịch vụ màChính phủ thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin để cung cấp cho người dâncủa mình nhằm hỗ trợ các giao dịch của người dân cũng như doanh nghiệp thôngqua mạng internet Do vậy, để việc cung cấp dịch vụ điện tử công, thì việc làm tăng
sự hài lòng của công dân thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyềnthông, đặc biệt là internet là thực sự rất cần thiết Thông qua các kênh này Chínhphủ có thể đảm bảo được khả năng cung cấp đầy đủ thông tin, dịch vụ công mộtcách thuận tiện, thân thiện, mọi lúc, mọi nơi giữa chính phủ với các tổ chức và côngdân; làm giảm khoảng cách thông tin giữa công dân và chính phủ và cải thiện niềmtin công dân trong hoạt động của chính phủ Sự hài lòng của công dân với các dịch
vụ chính phủ điện tử có liên quan đến nhận thức của công dân về thuận tiện dịch vụtrực tuyến (giao dịch), độ tin cậy của thông tin (trong suốt), và tham gia truyềnthông điện tử (tương tác) (Welch, Hinnant & Moon, 2004)
Trang 31Theo Welch và cộng sự (2004), một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của
công dân với các dịch vụ Chính phủ điện tử Yếu tố đầu tiên là nhận thức của tiện
dịch vụ trực tuyến (giao dịch) Điều thứ hai là độ tin cậy của thông tin (trong suốt) ,
và cuối cùng là thông tin liên lạc điện tử tham gia (tương tác) Ngoài ra, Kelly và
Swindell” (2002) định nghĩa của sự hài lòng của công dân được xem đó là sản
lượng dịch vụ bằng cách đo hiệu suất và kết quả dịch vụ Để đo lường sự thành
công của kết quả dịch vụ , một trong những phương pháp thích hợp là phân tích sự
hài lòng công dân
2.5.1.1 Mô hình chỉ số hài lòng của Mỹ (American Customer Satisfaction Index, viết tắt là ACSI)
Mô hình đo lường chỉ số hài lòng công dân trong giao dịch với Chính phủ điện
tử là mô hình được chính quyền liên bang ở Mỹ xây dựng và đưa vào áp dụng từ
năm 1999 Theo thống kê thì hiện nay hơn 100 cơ quan chính phủ liên bang đã và
đang sử dụng thang đo ACSI để đo lường sự hài lòng của công dân với hơn 200
dịch vụ và các chương trình thông qua tương tác với hơn 100 trang web
Mô hình ACSI có 04 thành phần đo lường: Các quy trình, thủ tục (Process),
thông tin (Information), dịch vụ khách hàng (Customer service) và trang Web
(Website) tác động đến chất lượng cảm nhận của công dân (khách hàng) so sánh với
sự kỳ vọng của khách hàng tạo nên sự hài lòng hoặc không hài lòng khi giao dịch
với chính phủ qua mạng điện tử
Trang 32Lòng tinGiới thiệu người khác
(Nguồn: www.theacsi.org)
Hình 2.5: Mô hình chỉ số hài lòng Mỹ (ACSI)
2.5.1.2 Mô hình E-SQ (E-S Qual và E-RecS – Qual)
Mô hình nghiên cứu E-SQ do Parasuaraman, Zeithaml và Malhotra (2005)thực hiện trên cơ sở phát triển từ mô hình SERVQUAL để đo lường chất lượng dịch
vụ trực tuyến Mô hình E-SQ sử dụng 11 thành phần thang đo như sau:
1 Tin cậy (reliability): Bao gồm chức năng kỹ thuật chính xác của wetsite, thông tin về sản phẩm, cam kết cung cấp dịch vụ chuẩn
2 Đáp ứng (responsiveness): khả năng phản hồi và giúp đỡ nhanh chóng khi khách hàng cần có sự giúp đỡ
3 Truy cập (access): Khả năng truy cập vào website và liên hệ công ty nhanh chóng khi có nhu cầu
4 Sự linh động (flexibility): Cách thức chi trả, giao hàng, mua hàng, trả lại hàng …v.v có tính chất linh hoạt
5 Định hướng sử dụng dễ dàng (Ease of Navigation): wetsite có các chứcnăng có thể giúp khách hàng tìm kiếm những gì họ cần không phải mất nhiều khó
Trang 33khăn, có thể nói là cách di chuyển và sử dụng các chức năng của website một cách
8 An toàn (Security/Privacy): Mức độ an toàn về các thông tin cá nhân
9 Kiến thức về giá cả (Price Knowledge): Mức giá cả mà khách hàng có thể chấp nhận được
10 Giao dịch của trang web (Site Aesthetics): Sự thân thiện của giao dịchtrang web
11 Cách bố cục theo nhu cầu khách hàng (Customization/Personalization) Trongquá trình nghiên cứu, Parasuraman và các cộng sự đã hoàn thiện và tách
các thang đo thành 02 mô hình độc lập Đó là:
Mô hình E-S-Qual (E-core service quality scale) phản ánh chất lượng dịch vụđiện tử, gồm 04 thang đo và được đo lường bởi 22 biến Các thang đo được mô tả
cụ thể như sau:
- Tính hiệu quả (Efficiency): Cách sử dụng và tốc độ truy cập vào trang web;
- Cam kết (Fulfillment): Mức độ cam kết thực hiện của trang web;
- Sự sẵn sàn của hệ thống (System availibility): Chức năng kỹ thuật của trangweb;
- Độ bảo mật (privacy): Mô tả mức độ an toàn và bảo mật thông tin kháchhàng
Mô hình E-ResS-Qual (E-service recovery quality scale) khảo sát các nhân tốảnh hưởng đến sự khôi phục chất lượng dịch vụ điện tử, gồm 03 thang đo và được
đo lường bởi 11 biến Các thang đo được mô tả cụ thể như sau:
- Đáp ứng (Responsivness): Cách giải quyết sự cố và phản hồi thông tin;
Trang 34- Bồi thường (compensation): Mức độ bồi thường cho khách hàng khi khách hàng gặp sự cố;
- Sự liên hệ (contact): Sự sẵn sàng thông qua đại diện trực tuyến hoặc điệnthoại
2.5.2 Các nghiên cứu trong nước
2.5.2.1 Mô hình “Đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với dịch
vụ công - nghiên cứu tình huống kê khai thuế qua mạng tại Chi cục thuế quận Phú Nhuận” của Văn Thúy Hằng
Trên cơ sở phát triển thang đo SERVQUAL của Parasuraman et al (1988), tácgiả Văn Thúy Hằng (2011) đã xây dựng mô hình nghiên cứu về sự hài lòng củangười nộp thuế đối với dịch vụ kê khai thuế qua mạng tại Chi cục thuế quận PhúNhuận, mô hình này gồm 5 nhân tố là: (1) Phương tiện hữu hình, (2) Độ tin cậy, (3)
Sự đồng cảm, (4) Sự đảm bảo, (5) Sự đáp ứng, trong đó tác giả cũng có sự hiệuchỉnh các biến để cho phù hợp với lĩnh vực dịch vụ công trực tuyến mà cụ thể làdịch vụ kê khai thuế qua mạng Mẫu khảo sát được thực hiện trên 280 người nộpthuế thông qua bảng câu hỏi khảo sát, sau khi thực hiện các bước kiểm định thang
đo, phân tích nhân tố (EFA), phân tích tương quan và hồi quy thông qua phần mềmSPSS 16.0 thì tác giả đưa ra kết quả chỉ có 4 nhân tố thực sự có ảnh hưởng đến sựhài lòng của người nộp thuế đó là: (1) Phương tiện hữu hình, (2) Độ tin cậy, (4) Sựđảm bảo, (5) Sự đáp ứng Trong đó biến Sự đảm bảo có ảnh hưởng lớn nhất đến sựhài lòng của người nộp thuế
Trang 35Phương tiện hữu hình
(Nguồn : Văn Thúy Hằng, 2011)
Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu sự hài lòng của người nộp thuế về dịch vụ kê khai
thuế qua mạng
2.5.2.2 Mô hình “Đo lường sự hài lòng của doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ kê khai thuế qua mạng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Mạnh Hùng
Với việc kế thừa thang và phát triển từ thang đo e-GovQual của XeniaPapadomichelaki và Gregoris Mentzas (2012), tác giả Nguyễn Mạnh Hùng đã xâydựng cho mình thang đo để đo lường sự hài lòng của doanh nghiệp khi sử dụng dịch
vụ kê khai thuế qua mạng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh gồm 5 thành phần
đó là: Sự tin tưởng, Hỗ trợ doanh nghiệp, Tính đáng tin cậy, Thiết kế Website vàTính hiệu quả Năm thành phần này sau khi đo đường và kiểm định sự tin cậy bằngcác công cụ phân tích trên phần mềm SPSS 16.0 cho kết quả tỷ lệ thuận với sự hài
lòng của doanh nghiệp trong đó biến ảnh hưởng mạnh nhất đến Sự hài lòng doanh
nghiệp là biến Hỗ trợ doanh nghiệp và biến ảnh hưởng yếu nhất là biến Thiết kế website Nghiên cứu này được thực hiện trên 221 doanh nghiệp đang thực hiện hình
thức kê khai thuế qua mạng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 36Tính hiệu quả
(Nguồn : Nguyễn Mạnh Hùng, 2015)
Hình 2.7: Mô hình đo lường sự hài lòng của doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ kê
khai thuế qua mạng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
2.6 Đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết
Trên thế giới việc nghiên cứu sự hài lòng của người dân với Chính phủ điện tử
là một đề tài không mới Nó được rất nhiều các học giả quan tâm và cũng có nhiềuthang đo về sự hài lòng của người dân với Chính phủ điện tử như: E-SQ, ACSI, e-GovQual,… Một số mô hình được Chính phủ các nước lựa chọn để đánh giá chấtlượng dịch vụ điện tử hằng năm nhằm hoàn thiện và phục vụ cho công dân được tốthơn (như mô hình ACSI của Chính phủ Mỹ) Tại Việt Nam, trong các năm gần đâycác nghiên cứu về chính phủ điện tử được nhiều học giả quan tâm, có thể kể đến cácnghiên cứu của Văn Thúy Hằng (2011), Nguyễn Mạnh Hùng (2015), các nghiêncứu này chủ yếu tập trung trong lĩnh vực thuế, đây là điều không ngạc nhiên vìtrong các dịch vụ mà Chính phủ điện tử đang cung cấp thì thuế điện tử là dịch vụ có
sự tương tác cao nhất đối với người dân và cũng là dịch vụ được người dân và
Trang 37doanh nghiệp quan tâm do có sự ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ củangười nộp thuế Trong các nghiên cứu này, thì mỗi tác giả sử dụng một mô hìnhkhác nhau nhưng kết quả chung cho thấy việc xem xét và đo lường mối quan hệgiữa sự hài lòng của NNT và cơ quan thuế là rất quan trọng Vì như đã phân tích ởtrên, do Thuế là một trong những dịch vụ công điện tử quan trọng nhất của Chínhphủ điện tử đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước hằng năm vì vậy có sự tươngtác rất lớn giữa cơ quan thuế và NNT Việc đo lường và khảo sát sự hài lòng củaNNT một cách thường xuyên và đúng thời điểm sẽ giúp cho Ngành thuế, có nhữngđiều chỉnh phù hợp để điều chỉnh và hoàn thiện mô hình thuế điện tử tiến tới năm
2020 sẽ chuyển hẳn sang hình thức kê khai và nộp thuế qua mạng theo định hướngcủa Chính phủ Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
đã chuyển qua hình thức nộp thuế điện tử theo tinh thần của Tổng Cục thuế, riêngtại Chi cục thuế quận Tân Bình tỉ lệ các doanh nghiệp nộp thuế điện tử tính đến đầunăm 2016 là 100%, vì hình thức nộp thuế điện tử mới chính thức được đưa vào sửdụng từ năm 2015 chính vì vậy việc đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến sự hàilòng của người nộp thuế là vô cùng cần thiết giúp cho Chi cục thuế quận Tân Bìnhnói riêng và Cục thuế Tp Hồ Chí Minh có những điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiệnphương thức nộp thuế điện tử ngày càng hoàn thiện hơn và được các doanh nghiệptin dùng Trên cơ sở tham khảo các mô hình trong nước và nước ngoài về thuế điện
tử đặc biệt là mô hình E- S Qual của Parasuraman et al (2005) Đồng thời với kếtquả phỏng vấn định tính tác giả đề xuất 5 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòngcủa doanh nghiệp khi sử dụng hình thức nộp thuế qua mạng Cụ thể như sau:
2.6.1 Tính hiệu quả (Efficiency)
Là một thành phần của thang đo E-S Qual, thành phần tính hiệu quả được đánhgiá thông qua cách sử dụng và tốc độ truy cập vào trang web; cách sử dụng trangweb nộp thuế của cục thuế càng đơn giản và dễ sử dụng thì càng được doanh nghiệpđánh giá cao và sẽ đem lại sự hài lòng cho họ Một yếu tố cũng rất quan trọng đó làthông tin cần thiết trên website mà người dùng có thể truy xuất một cách
Trang 38nhanh chóng và thuận tiện cũng là yếu tố được doanh nghiệp quan tâm để đánh giátính hiệu quả của trang web.
2.6.2 Sự sẵn sàng của hệ thống (System availibility)
Sự sẵn sàng của hệ thống là một trong 4 thành phần của thang đo E-S Qual củaParasuraman et al (2005) Thành phần này nói đến chức năng kỹ thuật của trangweb Bao gồm sự sẵn sàng của trang web (tức doanh nghiệp có thể kê khai và nộpthuế vào một thời điểm bất kỳ nào trong ngày, hoặc trong tháng), tốc độ tải củatrang web cũng như tính ổn định của trang web trong suốt thời gian giao dịch (trangweb không bị lag, tải chậm và rớt mạng trong khi đang giao dịch) Những đặc điểm
kỹ thuật này của trang web này rất quan trọng đối với người sử dụng Vì các doanhnghiệp thường muốn tối ưu hóa nguồn lực nên thường chọn một thời điểm nào đórảnh rỗi để có thể kê khai và nộp thuế qua mạng (đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏkhông có kế toán thuế trực tiếp) sự trục trặc về kỹ thuật của trang web sẽ làm ngườithực hiện khó chịu và làm lại các thao tác khi đã gần hoàn thành dễ trở thành sự ứcchế không đáng có và khiến cho doanh nghiệp mệt mỏi khi thực hiện nhất là hìnhthức nộp thuế qua mạng mới được triển khai không lâu Đây là thành phần ảnhhưởng trực tiếp đến sự hài lòng của doanh nghiệp khi thực hiện nộp thuế qua mạngthông qua website do Cục thuế cung cấp
2.6.3 Thành phần Độ bảo mật (privacy)
Tương tác trên môi trường internet hiện nay ngoài sự tiện lợi và tính hữu dụngcủa nó thì một vấn đề không thể không nhắc tới đó là Độ bảo mật của thông tin Vớiviệc mỗi ngày có hàng trăm ngàn mã độc, virus ra đời thì việc đảm bảo được tính antoàn và bảo mật được người dùng đặt nên hàng đầu nhất là những thông tin nhạycảm của doanh nghiệp Trong những năm vừa qua thị trường internet Việt Nam nóichung và website của Chính phủ nói riêng ghi nhận rất nhiều các cuộc tấn côngmạng có chủ đích nhắm vào, vì vậy việc đảm bảo được sự bảo mật thông tin củakhách hàng và sự ổn định của website là điều mà Cục thuế luôn quan tâm để giatăng hơn nữa sự hài lòng của người nộp thuế Được lấy từ mô hình E-SQ củaParasuraman et al (2005) Độ an toàn và bảo mật chỉ mức độ bảo đảm thông tin của
Trang 39cá nhân, doanh nghiệp được cung cấp qua trang web của Chính phủ điện tử luônđược bảo vệ, kiểm soát, không bị lợi dụng làm ảnh hưởng đến tổ chức và cá nhânkhi giao dịch điện tử Thành phần độ an toàn và bảo mật cũng được đề cập đến rấtnhiều trong các nghiên cứu khác trong môi trường trực tuyến.
2.6.4 Sự hỗ trợ doanh nghiệp
Hỗ trợ doanh nghiệp đề cập đến sự giúp đỡ được cung cấp bởi các tổ chức hỗtrợ người dân trong việc tìm kiếm thông tin của họ hoặc trong quá trình giao dịch(trong trường hợp này là bộ phận hỗ trợ doanh nghiệp kê khai thuế điện tử của Tổngcục thuế, hoặc cán bộ thuế cơ sở mà cụ thể ở đây là cán bộ phụ trách thông tin củaChi cục thuế quận Tân Bình) Sự giúp đỡ này có thể bao gồm các hướng dẫn sửdụng, các trang trợ giúp, và các câu hỏi thường gặp trên trang web, cũng như sẵn cócủa đa phương tiện kênh truyền thông (điện thoại, thư điện tử, bảng tin, vv )
Việc trợ giúp được thông qua các kênh liên lạc khác nhau để tư vấn cho các cánhân, doanh nghiệp như thông qua e-mail hoặc thông qua một kênh truyền thốngnhư điện thoại, fax hoặc thư bưu chính nếu được yêu cầu Trong trường hợp tươngtác giữa các công dân và các nhân viên của tổ chức này sau đó tăng chất lượng dịch
vụ của web (Parasuraman et al., 1988) như: nhanh chóng trả lời các thắc mắc củakhách hàng, kiến thức của người hỗ trợ, sự lịch sự của nhân viên, khả năng của nhânviên để truyền đạt niềm tin và sự tin tưởng của công dân và giải quyết vấn đề Cuốicùng việc theo dõi sự tiến bộ và cải thiện tình trạng của một giao dịch được coi làtích cực Tuy nhiên, thường thì sự hỗ trợ công dân chỉ áp dụng khi người dân gặpvấn đề (Zeithaml et al., 2002) Thành phần này được tác giả tham khảo từ nghiêncứu của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng (2015) và được các chuyên gia đồng tình đưavào trong mô hình sau kết quả khảo sát định tính
2.7 Mô hình nghiên cứu đề nghị và các giả thuyết nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu đề nghị
Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đây về dịch vụ điện tử đặc biệt là một
số nghiên cứu trong lĩnh vực điện tử công, tác giả đã xây dựng cho mình một thang
đo dùng để đo lường sự hài lòng của doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ nộp thuế
Trang 40điện tử mà cụ thể ở đây là các doanh nghiệp đang sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tửtại khu vực quận Tân Bình Thang đo này gồm 4 yếu tố có tác động trực tiếp đến sựhài lòng của người nộp thuế khi giao dịch nộp thuế điện tử tại Chi cục thuế quậnTân Bình, trong đó 3 yếu tố được tác giả kế thừa từ thang đo E-S Qual của
Parasuraman et al (2005) là: Tính hiệu quả , Sự sẵn sàng của hệ thống, Độ bảo mật Riêng thang đo Hỗ trợ doanh nghiệp được tác giả tham khảo từ nghiên cứu của tác
(Nguồn: Tác giả nghiên cứu và tổng hợp)
Hình 2.8: Mô hình nghiên cứu của tác giả
Các giả thuyết nghiên cứu đề nghị:
Giả thuyết H1: Có mối quan hệ dương giữa Tính hiệu quả và Sự hài lòng của
người nộp thuế khi sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử
Giả thuyết H2: Có mối quan hệ dương giữa Sự sẳn sàng của hệ thống và Sự
hài lòng của người nộp thuế khi sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử
Giả thuyết H3: Có mối quan hệ dương giữa Độ bảo mật và Sự hài lòng của
người nộp thuế khi sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử
Giả thuyết H4: Có mối quan hệ dương giữa Sự hỗ trợ doanh nghiệp và bảo
mật và Sự hài lòng của người nộp thuế khi sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử