Trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước ta từ trước đều nhằm mụcđích phát triển KT – XH trong phạm vi vùng, ngành, lĩnh vực, địa phương cụ thểtỉnh, huyện, xã, chưa có một chính sá
Trang 1án, đặc biệt là chương trình xóa đói giảm nghèo và sự cố gắng vươn lên của chínhmình nên đời sống của đại đa số đồng bào các dân tộc từng bước được cải thiện.Tuy nhiên, với điểm xuất phát thấp và tôc độ tăng trưởng kinh tế của vùng dântộc và miền núi còn chậm, quy mô nên kinh tế nhỏ, thị trường tiêu thụ khó khăn, cơcấu kinh tế chuyển dịch chậm, giá trì sản xuất nông, lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ trọnglớn; cơ cấu cây trồng vật nuôi vẫn chưa hợp lý, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu thì khó
có thể thu hẹp khoảng cách với các tỉnh có kinh tế phát triển Cơ sở hạ tầng kỹ thuậtphục vụ cho phát triển sản xuất và dân sinh nhìn chung vẫn còn thấp kèm và lạc hâu.Tình đến cuối năm 2003, vùng dân tộc, miền núi cả nước còn 72 xã chưa có đường
ô tô đến trung tâm xã 2 mùa; trong số các xã DDBKK còn 356 xã chưa có điện lướiquốc gia…Tỷ lệ đói nghèo vùng dân tộc, miền núi còn cao; đa số các hộ đồng bàodân tộc ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn là hộ nghèo do thiếu đất sảnxuất, đời sống khó khăn, nhà ở tạm bợ, dột nát, không đủ nước sinh hoạt như ở Đắc
Trang 2Lắc tỷ lệ đói nghèo trong vùng đồng bào dân tộc là 50,27%, Quảng Nam trên 58%;Sơn La 35%, một số khu vực đông bằng Sông Cửu Long: Sóc Trăng 34,69% Nhìn chung, hệ thống chính sách phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc và miềnnúi đã được ban hành tương đối đầy đủ và toàn diện trong mọi lĩnh vực đời sốngchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhànước đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, không ngừng chăm lo cải thiện đờisống vật chất tinh thần của đồng bào các dân tộc.
Tuy nhiên, hệ thống chính sách vẫn bộc lộ những bất cập, vừa thừa vừa thiếu, cónhững chính sách khó thực hiện hoặc kém hiệu quả Thực hiện Quyết định 154, một
số tỉnh đã sản xuất thí điểm khung nhà bê tông nhưng đồng bào chưa chấp nhận vìhình thức không đáp ứng yêu cầu sử dụng, không phù hợp phong tục, tập quán, giáthành cao, không tận dụng được nguyên vật liệu địa phương, thủ tục sinh hoạt doảnh hưởng của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, tình trạng di cư tự do ồ
ạt gần đây… đã dẫn đến hiện tượng mua bán, lấn chiếm tranh chấp đất đai trái phép,hậu quả là một bộ phận người dân tộc thiểu số tại chỗ bán đất, bán nhà,lao vào cuộcsống du canh du cư, tạm bợ nghèo đói Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, chỉtính trong phạm vi các xã thuộc Chương trình 135 còn trên 321.000 (17%) hộ đồngbào DTTS thiếu đất sản xuất
Hầu hết đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng núi cao xa nguồn nước, sống nhờnước trời, hết mưa là hết nước, vốn đã nghèo không có điều kiện về kinh phí để đàogiếng, xây bể chứa, muốn có nước phải đi xa hàng chục cây số, cuộc sống sinh hoạthàng ngày vô cùng khó khăn, dẫn đến mất vệ sinh, phát sinh dịch bệnh, ốm đau vàcàng nghèo đói hơn Nhà nước đã quan tâm đầu tư kinh phí cho cấp nước sinh hoạtnông thôn qua các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quốc tê, chương trình
135, các quyết định phát triển vùng, kết quả đạt được rất khả quan, cải thiện đáng kểtình trạng thiếu nước sinh hoạt nông thôn miền núi Tuy nhiên, do đồng bào các dântộc sống phát tán trên địa bàn rất rộng, địa hình phức tạp, chia cắt, có nơi không cóhoặc rất hiếm nguồn nước Nhu cầu về kinh phí đầu tư rất lớn, trong khi ngân sáchhạn hẹp vì vậy đến nay một bộ phận rất lớn trên 40% hộ đồng bào dân tộc thiểu sốthiếu nước sinh hoạt hợp vệ sinh
Trang 3Trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước ta từ trước đều nhằm mụcđích phát triển KT – XH trong phạm vi vùng, ngành, lĩnh vực, địa phương cụ thể(tỉnh, huyện, xã), chưa có một chính sách mang tính bền vững về giải quyết khókhăn, phát triển kinh tế, ổn định và nâng cao đời sống cho hộ gia đình dân tộc thiểu
số, một số chính sách đối với hộ gia đình (hỗ trợ hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khókhăn, khám chữa bệnh cho người nghèo, miễn giảm thuế, cấp không thu tiền: vải,sách vở, tấm lợp…) mới chỉ trong phạm vi cứu trợ tình thế, nhất thời chưa giúpđồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo vươn lên thậm chi còn làm cho đồng bào có
tư tưởng ỷ lại trông chờ nhà nước không phấn đấu, mãi mãi nghèo đói Trong quyếtđịnh của Thủ tướng Chính phủ vể phát triển các vùng đã đề cập đên khai hoang đấtsản xuất, đất ở, nước sinh hoạt cho hộ gia đình, sử dụng vốn vào các mục đầu tưkhác 5 năm qua, chương trình 135 mới dành 0,5% cho hạng mục khai hoang, 5,8%cho nước sinh hoạt trong tổng số trên 7000 tỷ đồng Hỗ trợ nhà ở mới chỉ dừng ởmức hỗ trợ tấm lợp, trừ khu vực Tây Nguyên thực hiện Quyết định 168 thì chưa cóchính sách cụ thể nào về giải quyết đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số Một sốvùng lân cận có điều kiện tương tự như các tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh miền núiphía Bắc chưa được hưởng các chính sách về đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạtnhư các địa phương ở địa bàn các Quyết định 168, Quyết định 186
Từ thực tế đó, phải có một chính sách phát triển bền vững phát triển kinh tế và
ổn định đời sống đến hộ đồng bào các dân tộc thiểu số trên phạm vi cả nước mà nộidung cụ thể trong giai đoạn trước mắt là giải quyết đất sản xuất, đất ở, nhà ở vànước sinh hoạt cho hộ đồng bào các dân tộc thiểu số Theo đề nghị của Ủy ban Dântộc , các Bộ, ngành liên quan, ngày 20/7/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hànhQuyết định số 134/2004/QĐ – TTg về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở,nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn
2 KHÁI QUÁT VỀ CHƯƠNG TRÌNH 134
2.1 Mục đích
Trang 4Chương trình 134 thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở
và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn nhằmmục đích cùng với việc thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội, Nhà nước trực tiếp
hỗ trợ hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo để có điều kiện phát triển sản xuất cải thiệnđời sống, sớm thoát nghèo Không như các chương trình kinh tế - xã hội khác, Chươngtrình 134 có đối tượng trực tiếp và đi sâu cụ thể đến tận từng hộ gia đình
2.2 Đối tượng:
Đối tượng hỗ trợ của Chương trình 134 là hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ,định cư thường trú tại địa phương; là hộ nghèo sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệpchưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất, đất ở và có khó khăn về nhà ở, nước sinh hoạt.Chính sách được áp dụng trong phạm vi cả nước (riêng việc hỗ trợ đất sản xuất và đất ởđối với hộ đồng bào dân tộc Khmer nghèo ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, sẽ cóchính sách riêng)
2.2.1 Đối với hộ gia đình:
Chính sách hỗ trợ sẽ được thực hiện đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu sốđáp ứng các điều kiện sau:
- Là hộ nghèo quy định tại Quyết định sô 1143/2000/QĐ - LĐTBXH ngày1/11/2000 của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội về việc điều chỉnh chuẩn
hộ nghèo giai đoạn 2001 – 2005; sinh sống bằng nghề nông lâm nghiệp, nhưngchưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất, đất ở, có khó khăn về nhà ở, nước sinh hoạt
(có chú thích về tiêu chuẩn hộ nghèo)
- Là những hộ dân tộc thiểu số (kể cả hộ chỉ có vợ hoặc chồng là người dân tộcthiểu số) đã định cư ở địa phương; hộ di dân tự do nay trở về quê cũ trước thờiđiểm Quyết định 134 có hiệu lực thi hành, được Ủy ban nhân dan xẫ, phường,thị trấn xác nhận
- Trường hợp những hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã được hỗ trợ về đất sản xuất,đất ở, nhầ ở và nước sinh hoạt theo các quy định trước đây, nhưng đến nay vẫn
là hộ nghèo chưa đủ đất sản xuất, đất ở và có khó khăn về nhà ở, nước sinh hoạtthì vẫn được hưởng chính sách hỗ trợ theo Quyết định 134/TTg
2.2.2 Đối với cộng đồng thôn bản
Trang 5- Thôn, bản là tổ chức được quy định theo Quyết định số Quyết định132/2002/QD – BNV ngày 6/1/2/2002 của Bộ Nội vụ ban hành quy chế hoạtđộng của thôn, tổ dân phố và có từ 20% hộ dân tộc thiểu số trở lên đang sinhsống và có khó khăn về nước sinh hoạt.
d) Các hộ được hỗ trợ đất sản xuất, đất ở và nhà ở, nước sinh hoạt phải trực tiếp quản lý
và sử dụng để phát triển sản xuất cải thiện đời sống, góp phần xóa đói giảm nghèo.Trường hợp đặc biệt, khi hộ được hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở có nhu cầu di chuyểnđến nơi khác thì phải ưu tiên chuyển nhượng quyền sử dụng đất sản xuất và đất ở chochính quyền địa phương để giao lại cho hộ đồng bào dân tộc nghèo khác
Người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không theo quy định này, Nhà nước sẽthu hồi không bồi hoàn để giao cho hộ đồng bào dân tộc chưa có đất hoặc thiếu đất
2.4 Chính sách:
a) Đối với đất sản xuất:
Các hộ gia đình được hỗ trợ là hộ gia đình chưa có đất sản xuất hoặc đã có đấtsản xuất nhưng chưa đủ mức quy định (dưới 0,15 ha đất ruộng lúa nước 2 vụ hoặc dưới0,25 ha đất ruộng lúa 1 vụ hoặc dưới 0,5 ha ruộng nương, rẫy) hoặc mức quy định caohơn ở các địa phương mà thủ tướng Chính phủ đã có văn bản quy định trước đây
Mức giao đất sản xuất tối thiểu một hộ là 0,5 ha đất nương, rẫy hoặc 0,25 ha đấtruộng lúa nước một vụ hoặc 0,15 ha đất ruộng lúa nước hai vụ Căn cứ quỹ đất cụ thểcủa từng địa phương, khả năng lao động và số nhân khẩu của từng hộ và khả năng của
Trang 6ngân sách địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể xem xét quyết định giao đất sảnxuất cho hộ đồng bào với mức cao hơn.
b) Đối với đất ở:
Với các hộ gia đình chưa có đất ở, mức giao diện tích đất ở tối thiểu 200 m2 chomỗi hộ đồng bào sống ở nông thôn Căn cứ quỹ đất ở và khả năng ngân sách của địaphương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể xem xét quyết định giao đất ở cho hộ đồngbào với mức cao hơn
Việc hỗ trợ đất sản xuất và đất ở đối với hộ đồng bào dân tộc Khơme nghèo dođặc thù của vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nhà nước sẽ có chính sách hỗ trợ riêng
c) Đối với nhà ở:
Với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo tại chỗ (kể cả đồng bào dân tộc Khơme)hiện chưa có nhà ở hoặc nhà ở quá tạm bợ và đã hư hỏng, dột nát thì thực hiện phươngchâm: nhân dân tự làm, Nhà nước hỗ trợ và cộng đồng giúp đỡ
- Ngân sách trung ương hỗ trợ với mức 5 triệu đồng/hộ để làm nhà ở Ngân sách địaphương hỗ trợ không dưới 1 triệu đồng/hộ và kinh phí hỗ trợ từ đóng góp của cácdoanh nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội, cộng đồng và cá nhân Nếu nhu cầu làmnhà của hộ lớn hơn mức hỗ trợ thì gia đình phải tự đảm bảo phần chênh lệch
- Đối với các địa phương có rừng, có quy hoạch, kế hoạch khai thác gỗ hàng nămđược duyệt thì cho phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được khai thác gỗ theo quy định
để hỗ trợ đồng bào làm nhà ở Mức gỗ hỗ trợ cụ thể cho mỗi hộ làm nhà ở do Ủyban nhân dân cấp tỉnh quyết định Nghiêm cấm việc lợi dụng khai thác gỗ hỗ trợlàm nhà ở để chặt phá rừng Các chi phí khai thác và vận chuyển gỗ đến thôn, bản(nếu có) do ngân sách địa phương đảm bảo
- Việc xây dựng nhà ở được hỗ trợ từ chính sách phải phù hợp với quy hoạch dân cưcủa địa phương Trường hợp hộ gia đình được hỗ trợ nhưng nằm trong khu vực cấmxây dựng, khu vực có nguy cơ lở đất, lũ quét, hành lang bảo vệ công trình giaothông, thủy lợi, đê điều, năng lượng, khu di tích lịch sử - văn hóa và khu vực bảo vềcác công trình khác theo quy định của pháp luật thì việc hỗ trợ nhà ở được thực hiệnđồng thời với việc di chuyển sang khu vực khác
- Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các cơ quan có chức năng giới thiệu, hướng dẫn chodân về mẫu, kiểu dáng nhà ở phù hợp với phong tục tập quán của từng dân tộc, phù
Trang 7hợp với khả năng kinh phí và đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường… để người dânlựa chọn quyết định Việc xây dựng nhà ở phải đảm bảo nguyên tắc: hộ tự làm, nhànước hỗ trợ, cộng đồng giúp đỡ.
- Những hỗ thuộc diện được hưởng chính sách theo quy định tại Quyết định 134 ởđồng bằng Sông Cửu Long và Tây Nguyên đã vay để mua nhà trả chậm theo quyếtđịnh số105/2002/QD-TTg này 02/08/2002 về chính sách cho các hộ dân vùng ngập
lũ mua nhà trả chậm nền nhà và nhà ở trong các cụm, tuyến dân cư ở các tỉnh đồngbằng sông Cửu Long và Quyết định số 154/2002/QD-TTg ngày 12/11/2002 của Thủtướng Chính phủ về chính sách cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ và hộdân thuộc diện chính sách ở Tây Nguyên mua nhà trả chậm thì vẫn được hỗ trợ theoquy định tại Quyết định 134
d) Đối với hỗ trợ giải quyết nước sinh hoạt:
Các hộ nằm trong khu vực đã có hệ thống cấp nước sinh hoạt nhưngnguồn nước không ổn định, không có khả năng xây dựng các bể chứa nước dự phònghoặc nằm trong khu vực không có nguồn nước tự chảy phải khai thác nguồn nướcngầm, nước mưa nhưng không có khả năng làm bể chứa, đào giếng Các hộ này sẽ đượcngân sách trung ương hỗ trợ 0,5 tấn xi măng/ hộ (xi măng đảm bảo mác tối thiểu300kg/cm2)tại thôn, bản để xây dựng bể chứa nước mưa hoặc hỗ trợ 300.000 đồng/hộ
để đào giếng hoặc tạo nguồn nước sinh hoạt.Đối với các hộ không tự làm được bể chứahoặc lu chứa nước, căn cứ khả năng nguồn vốn, địa phương tổ chức cấp lu, téc chứanước bằng nhựa, thép hoặc bằng xi măng cấp cho đồng bào tại thôn, bản
Đối với công trình cấp nước sinh hoạt tập trung: ngân sách trung ương hỗ trợ 100%cho các thôn, bản có từ 50% số hộ là đồng bào dân tộc thiểu số trở lên hỗ trợ 50% đốivới các thôn, bản có từ 20% đến dưới 50% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số Các địaphương khi xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung cho đồng bào phảibảo đảm tính bền vững và hiệu quả Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức chỉ đạo thực hiện đốivới xây dựng công trình hạ tầng của Chương trình 135, vốn hỗ trợ theo quy định tạiQuyết định 134 và lồng ghép với các chương trình mục tiêu khác
2.5 Quỹ đất để giao cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất, đất ở, bao gồm:
Trang 8- Đất công Nhà nước thu hồi theo quy hoạch Đất điều chỉnh giao khoán trong cácnông trường, lâm trường;
- Đất thu hồi từ các nông trường, lâm trường hiện đang quản lý nhưng sử dụng kémhiệu quả; đất cho thuê, mướn hoặc cho mượn;
- Khai hoang đất trống đồi núi trọc, đất chưa sử dụng;
- Đất thu hồi từ các doanh nghiệp sản xuất không hiệu quả, sử dụng sai mục đíchhoặc giải thể; đất thu hồi từ các cá nhân chiếm dụng hoặc cấp đất trái phép
- Đất do nông trường, lâm trường đang quản lý và sử dụng mà trước đây đất này dođồng bào dân tộc tại chỗ sử dụng thì nay phải điều chỉnh giao khoán lại (kể cả diệntích đất có vườn cây công nghiệp, rừng trồng) cho hộ đồng bào chưa được giao đấtsản xuất hoặc chưa đủ đất sản xuất để tiếp tục quản lý, sử dụng theo quy địnhchung Mức giao khoán cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định
- Đất điều chỉnh từ các hộ gia đình tặng, cho hoặc tự nguyện chuyển nhượng quyền
2.6 Hỗ trợ để tạo quỹ đất sản xuất và đất ở
- Ngân sách trung ương hỗ trợ để tạo quỹ đất sản xuất và đất ở, bao gồm: khaihoang, đền bù khi thu hồi đất, nhận chuyển nhượng lại của hộ có nhiều đất với mứcbình quân 5 triệu đồng/ha Các tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế của địa phươngmình mà có thể hỗ trợ mức cao hơn
- Các nông trường, lâm trường được giao nhiệm vụ tổ chức cho các hộ đồng bào dântộc thiểu số sản xuất thì cũng được ngân sách trung ương hỗ trợ khai hoang bìnhquân 5 triệu đồng/ha; đồng thời hỗ trợ vốn làm đường giao thông, đầu tư lưới điện
và xây dựng công trình thủy lợi nhỏ
3 QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
Trang 93.1 Nguồn vốn – Quản lý, cấp phát và thanh toán nguồn vốn
Các địa phương sẽ chủ động bố trí kinh phí để thực hiện việc đo đạc, cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ đồng bào được hưởng hỗ trợ
3.1.2 Lập đề án và kế hoạch vốn
Để có thể xác định được các hộ đồng bào là đối tượng thuộc diện hỗ trợ củaChương trình 134, đồng thời xác định nhu cầu vốn và các nguồn lực hỗ trợ các địaphương sẽ công bố công khai các tiêu chuẩn và tiến hành bình xét công khai, dân chủ,thông qua các tổ chức đoàn thể và dưới sự giám sát của toàn thể nhân dân Việc bìnhxét được tiến hành tuần tự từ cấp thôn, bản, được ủy ban nhân dân xã xem xét, trình ủyban nhân dân huyện kiểm tra, tổng hợp trình ủy ban nhân dân tỉnh quyết định
Dựa trên số hộ dân tộc thiểu số nghèo thuộc đối tượng hỗ trợ đã được bình xét,
số thôn bản thuộc đối tượng được hỗ trợ và dự án đầu tư các công trình cấp nước sinhhoạt tập trung đã được cấp có thẩm quyền quyết định, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch vàĐầu tư phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự toán kinh phí thực hiện ở địaphương và dự toán ngân sách đề nghị ngân sách trung ương hỗ trợ theo từng chính sách.Trong đó sẽ xác định rõ các nguồn vốn thực hiện: nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trungương, nguồn vốn ngân sách địa phương (đảm bảo tối thiểu bằng 20% mức hỗ trợ củangân sách địa phươn) và các nguồn huy động khác Dự toán kinh phí này được phân kỳthực hiện theo kế hoạch tổ chức của địa phương, đảm bảo tính khả thi và trình Ủy bannhân dân tỉnh
Căn cứ kết quả bình xét các hộ của các huyện và dự toán kinh phí do Sở Tài chính,
Sở Kế hoạch và Đầu tư báo cáo,Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ tổng hợp, phê duyệt đề án và
dự toán nhu cầu kinh phí thực hiện chương trình gửi
Trang 10UBDT,Bộ KHDT,Bộ TC tổng hợp trình Chính phủ, Quốc hội quyết định
Bình xét công khai, dân chủ thông qua các tổ chức đoàn thể
Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Bộ Tài chính và Ủy ban Dân tộc để tổng hợp trình Chính phủ,trình Quốc hội quyết định bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương để thực hiệncác chính sách quy định tại Quyết định 134
Hình 1: Trình tự lập, phê duyệt đề án và kế hoạch vốn Chương trình 134
Trang 11Trung ương
Quốc hội và chính phủ phê duyệt vốn
hỗ trợ từ ngân sách trung ương
Căn cứ nghị quyết của HDND tỉnh, UBND tỉnh giao dự toán chó các huyện chi tiết theo từng chính sách
Tỉnh
UBND tỉnh căn cứ tổng số vốn từ các nguồn (trung ương,địa phương, nguồn khác) lập phân bổ chi tiết cho các huyện trình Hội đồng nhân dân tỉnh
UBND huyện quyết định phân bổ và và thông báo cho từng xã
chi tiết cho từng chính sách và từng hộ dân được hưởng
Huyện
Xã
UBND xã thông báo đến từng hộ dân về chính
sách được hưởng, mức hỗ trợ cho từng hộ
Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh giao dự toán cho các huyện chi tiết theotừng chính sách, Ủy ban nhân dân huyện sẽ quyết định phân bổ và thông báo cho từng
xã chi tiết cho từng chính sách và từng hộ dân được hưởng theo danh sách đã được cấp
có thẩm quyền quyết định Ủy ban nhân dân xã thông báo đến từng hộ dân về chínhsách được hưởng, mức hỗ trợ… theo danh sách đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Hình 2: Quy trình phân bổ nguồn vốn hỗ trợ tới các hộ gia đình
3.1.4 Cấp phát, thanh toán kinh phí hỗ trợ
Căn cứ vào dự toán được Thủ tướng Chính phủ giao cho từng tỉnh, hàng quý BộTài chính sẽ thực hiện bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương theo tiến độ thực
Trang 12hiện chương trình Đối với tỉnh, trên cơ sở dự toán đã được Ủy ban nhân dân tỉnh giaocho các huyện, Sở tài chính làm thủ tục bổ sung có mục tiêu cho ngân sách huyện.Phòng Tài chính huyện phối hợp với Kho bạc nhà nước thực hiện quản lý và cấp pháttheo các mục tiêu cho các đối tượng thụ hưởng theo tiến độ thực hiện.
Việc cấp phát, thanh toán kinh phí để thực hiện các chính sách theo quy định chocác đơn vị và cho từng hộ dân yêu cầu chặt chẽ, đảm bảo đúng mục tiêu, đúng đốitượng nhất là đối với những khoản thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt (hoặc hiện vật)cho các hộ dân, Ủy ban nhân dân xã lập danh sách cho từng hộ dân ký nhận và thựchiện đầy đủ thủ tục, chứng từ Cụ thể về các chế độ hỗ trợ như sau:
a) Chế độ hỗ trợ nhà ở:
Các hộ dân tự làm nhà nhưng có nhu cầu tạm ứng kinh phí để mua vật liệu sẽđược tạm ứng với mức tối đa bằng 60% ngân sách nhà nước hỗ trợ cho hộ dân Ủy bannhân dân xã sẽ tổng hợp danh sách các hộ đề nghị tạm ứng gửi phòng Tài chính huyện,phòng Tài chính huyện làm thủ tục tam ứng cho Ủy ban nhân dân xã qua kho bạc nhànước để tạm ứng cho các hộ dân Sau khi công trình hoàn thành, dựa trên kết quảnghiệm thu đối với từng hộ của Ủy ban nhân dân xã, phòng Tài chính huyện sẽ cấp phátqua kho bạc nhà nước để Ủy ban nhân dân xã thanh toán cho các hộ dân Mức thanhtoán tối đa cho các hộ dân không quá mức quy định hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đãđược phê duyệt trong đó ngân sách trung ương hỗ trợ 5 triệu đồng/hộ và ngân sách địaphương hỗ trợ không dưới 1 triệu đồng/hộ
Bên cạnh việc nhận tiền hỗ trợ, các hộ dân có thể yêu cầu hỗ trợ bằng nguyênvật liệu phục vụ cho việc xây dựng nhà Chính quyền địa phương sẽ tổng hợp nhu cầunguyên vật liệu của các hộ dân và ký hợp đồng với các đơn vị cung ứng để các đơn vịnày cung ứng nguyên vật liệu cho nhân dân Kinh phí thanh toán nguyên vật liệu sẽđược chính quyền địa phương chuyển trực tiếp cho đơn vị cung ứng và kinh phí này sẽkhông quá mức quy định hỗ trợ
Với các địa phương có rừng và được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền vềviệc thực hiện hỗ trợ bằng gỗ cho các hộ dân làm nhà, chính quyền địa phương sẽ cungcấp cho các hộ dân và giá trị khối lượng gỗ này được xác định là phần ngân sách địaphương hỗ trợ cho các hộ dân Các chi phí khai thác, vận chuyển gỗ (nếu có) sẽ do ngânsách địa phương đảm bảo
Trang 13b) Chế độ hỗ trợ nước sinh hoạt
Căn cứ danh sách hộ dân được hỗ trợ nước sinh hoạt và đăng ký của các hộ dân
về phương thức thực hiện; Ủy ban nhân dân xã tổng hợp nhu cầu và phân loại theo từngphương thức thực hiện (các hộ có thể nhận lu, téc chứa nước, tự làm bể chứa nước, tựđào giếng hoặc tự tạo các nguồn khác) gửi phòng Tài chính huyện làm căn cứ kiểm tra,kiểm soát, cấp phát kinh phí để thực hiện Mức cấp phát thanh toán không vượt quámức quy định hỗ trợ của nhà nước cho từng hộ dân Việc cấp phát, thanh toán cho cácđối tượng theo các phương thức thực hiện như sau
Đối với các hội được cấp lu, téc chứa nước:
Với chế độ hỗ trợ nước sinh hoạt, các hộ dân có thể đăng ký để được hỗ trợ bằng hìnhthức cấp lu, téc chứa nước.Căn cứ danh sách đăng ký của các hộ dân, chính quyền địaphương ký hợp đồng với các đơn vị cung ứng để cung cấp lu, téc cho nhân dân Kinhphí mua lu, téc sẽ được phòng Tài chính huyện thanh toán trực tiếp cho các đơn vị cungứng
Đối với các hộ dân tự làm bể chứa nước
Bên cạnh việc cấp lu, téc, các hộ dân thuộc đối tượng hỗ trợ của Chương trình còn cóthể tự làm bể chứa nước cho riêng mình Trong trường hợp này, nhà nước sẽ hỗ trợbằng hình thức cung ứng xi măng cho từng hộ dân Giá trị của lượng xi măng cung ứngkhông vượt quá mức quy định hỗ trợ
Đối với các hộ dân tự đào giếng hoặc tự tạo nguồn nước khác
Với các hộ dân tự tạo nguồn nước cho mình bằng cách tự đào giếng hoặc từ các nguồnkhác, Ủy ban nhân dân xã chỉ đạo các hội, đoàn thể tại địa phương phối hợp với cộngđồng dân cư hướng dẫn thực hiện
Phòng tài chính huyện căn cứ kết quả nghiệm thu của xã, thẩm định và thực hiện cấpphát kinh phí hỗ trợ cho nhân dân bằng lệnh chi tiền qua Kho bạc nhà nước cho Ủy bannhân dân xã để thanh toán cho nhân dân
c) Chế độ hỗ trợ đất sản xuất và đất ở
Căn cứ phương án giải quyết về đất ở và đất sản xuất cho các hộ dân tộc thiểu số nghèothiếu đất ở, đất sản xuất; tủy theo phương thức thực hiện để có cơ chế cấp phát thanhtoán cho phù hợp Mức thanh toán tương ứng với diện tích thực tế đã khai hoang (hoặcgiao, hoặc chuyển nhượng) và tối đa không vượt quá mức quy định hỗ trợ của nhà nước
Trang 14cho từng hộ dân được cấp có thẩm quyền phê duyệt Việc thanh toán sẽ theo nguyêntắc:
Đối với đất dân tự khai hoang
Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã phối hợp với cơ quan chuyên môncủa huyện được giao nhiệm vụ hướng dẫn các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tổ chứckhai hoang theo đúng quy hoạch sử dụng đất của từng xã và phù hợp với tập quán canhtác của đồng bào
Dựa trên kết quả khai hoang của các hộ dân, Ủy ban nhân dân xã và cơ quan chuyênmôn được Ủy ban nhân dân giao nhiệm vụ thực hiện nghiệm thu khối lượng, lập biênbản nghiệm thu Trên cơ sở đó, phòng Tài chính huyện kiểm tra và cấp phát bằng lệnhchi tiền qua kho bạc nhà nước cho Ủy ban nhân dân để thanh toán cho các hộ dân
Đối với các nông, lâm trường được giao nhiệm vụ tổ chức cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số sản xuất:
Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã phối hợp với các nông, lâm trường
tổ chức khai hoang hoặc tổ chức cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số sản xuất phù hợpvới tập quán canh tác của đồng bào
Căn cứ kết quả tổ chức cho các hộ dân sản xuất của nông, lâm trường, Ủy ban nhân dân
xã thực hiện nghiệm thu khối lượng, lập biên bản nghiệm thu và danh sách các hộ dânđược các nông, lâm trường tổ chức sản xuất gửi phòng Tài chính huyện làm căn cứthanh toán Trên cơ sở đó, phòng Tài chính huyện kiểm tra, lập lệnh chi tiền gửi khobạc nhà nước thanh toán trực tiếp cho các nông, lâm trường
Đôi với đất nhận chuyển nhượng
Ủy ban nhân dân huyện giao một đơn vị chuyên môn phối hợp với Ủy ban nhân dân xã,cùng với các hộ dân xác định đất chuyển nhượng của các hộ, lập biên bản bàn giao Căn
cứ chế độ, định mức chi, danh sách và diện tích đất chuyển nhượng của hộ dân, biênbản bàn giao; phòng tài chính huyện kiểm tra và cấp phát bằng lệnh chi tiền qua khobạc nhà nước cho Ủy ban nhân dân xã để thanh toán, chi trả cho các hộ dân có đấtchuyển nhượng
2.7.4 Hạch toán kế toán và quyết toán
Trang 15Số kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ để thực hiện các chính sách hỗ trợ hộ đồngbào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn theo quy định tại Quyết định 134 đượchạch toán, quyết toán thu, chi ngân sách địa phương theo quy định hiện hành.
Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân xã, Phòng Tài chính huyện có tráchnhiệm phối hợp với Kho bạc Nhà nước và các cơ quan liên quan tổ chức theo dõi tìnhhình thực hiện việc cấp phát thực hiện chính sách quy định tại Quyết định 134 ; hàngtháng Ủy ban nhân dân xã, phòng Tài chính huyện báo cáo Ủy ban nhân dân huyện và
Sở Tài Chính về kết quả thực hiện chương trình, tiến độ thanh toán vốn, Sở Tài Chínhtổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh
Hàng quý, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố báo cáo tình hình tiến độ thựchiện và kết thúc năm báo cáo quyết toán riêng ngân sách và các nguồn tài chính huyđộng khác theo chế độ quy định thực hiện Quyết định 134 của Thủ tướng Chính phủgửi Ủy ban Dân tộc , Bộ Tài Chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp báo cáo Chínhphủ và Quốc hội
2.8 Tổ chức thực hiện:
a) Đối với các địa phương
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm trực tiếp và toàn diện trong việc chỉ đạo
và tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạtcho các hộ đồng bào dân tộc nghèo Trong đó cụ thể như sau:
- Công bố công khai các tiêu chuẩn, đối tượng và điều tra lập danh sách các hộ đồngbào dân tộc thiểu số nghèo tại chỗ chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất, đất ở và cókhó khăn về nhà ở, nước sinh hoạt trên địa bàn
- Lập và phê duyệt đề án giải quyết đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt chođồng bào dân tộc thiểu số nghèo trên địa bàn tỉnh mình (kể cả việc ra quyết địnhđiều chỉnh khoán và thu hồi đất của các nông, lâm trường do các Bộ và các cơquan, đơn vị quản lý trên địa bàn), gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đểtổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ quyết định kế hoạch hàng năm Trong đề ánphải thể hiện rõ được các nguồn vốn hỗ trợ từ Ngân sách Trung ương, ngân sáchđịa phương, vốn huy động và thời gian hoàn thành
Trường hợp có khó khăn, vướng mắc cần báo cáo Thủ tướng Chính phủ và các Bộ,ngành liên quan để xem xét, giải quyết
Trang 16- Căn cứ các điều kiện cụ thể, Ủy ban nhân dân tỉnh củng cố, tăng cường ban chỉ đạocác cấp để thực hiện Quyết định 134 hoặc thành lập mới ban chỉ đạo thực hiệnQuyết định 134 nếu thấy cấn thiết Cơ quan thường trực ban chỉ đạo là cơ quan làmcông tác dân tộc của tỉnh, thành phố.
- Chỉ đạo các cơ quan có liên quan, các cấp chính quyền địa phương và phối hợp vớicác tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn, tổ chức thực hiện có hiệu quảcác chính sách hỗ trợ đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, đẩy nhanh việc xóađói, giảm nghèo, nâng cao đời sống đồng bào dân tộc
- Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện, đảm bảo các chính sách đến được từng hộđồng bào dân tộc; không được để xảy ra thất thoát, tiêu cực
b) Đối với các bộ ngành liên quan
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo, hướng dẫn và giúp đỡ các địaphương trong việc xây dựng, cải tạo các công trình thủy lợi nhỏ, hỗ trợ giống cây trồng,vật nuôi, giải quyết nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn theo hướng pháttriển sản xuất xóa đói giảm nghèo
Bộ Xây dựng hướng dẫn, đôn đốc các địa phương thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ởcho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số
Căn cứ đề án giải quyết đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt đã được Chủ tịch Ủyban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thống nhất với Bộ Tàichính tổng hợp kế hoạch và bố trí vốn bổ sung có mục tiêu cho các địa phương trong kếhoạch và dự toán ngân sách nhà nước năm 2005 và năm 2006, trình Thủ tướng Chínhphủ
Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chính sách cụ thể việc thu hồi đấtsản xuất của các nông trường, lâm trường (kể cả vườn cây lâu năm, rừng trồng) để giaokhoán cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo
Ủy ban Dân tộc chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn, kiểm tra, đônđốc việc thực hiện Quyết định này; định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ
Các Bộ, ngành có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm kiểmtra, hỗ trợ các địa phương thực hiện có hiệu quả các chính sách theo quy định
Trang 174 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH 134 TRONG 2 NĂM VỪA QUA 2004 - 2006
4.1 Tình hình tổ chức thực hiện
4.1.1 Tình hình chỉ đạo thực hiện của trung ương
4.1.1.1 Việc ban hành văn bản hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện Quyết định 134
Sau hội nghị quán triệt triển khai Quyết định 134/2004/QĐ TTg ngày 20 –21/9/2004 tại thành phố Hồ Chí Minh, các Bộ, ngành Trung ương đã gấp rút triển khaitheo công việc, theo chức năng, nhiệm vụ được phân công của Quyết định 134 và tạivăn bản số 1401/CP – NN ngày 28/9/2004 của Thủ tướng Chính phủ Liên bộ: Ủy banDân tộc, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn đã xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch số 819/2004/TTLT/UBDT-KHĐT-XD-NNPTNT ngày 10/11/2004 hướng dẫn thực hiện Quyết định 134
Bộ Tài chính đã ban hành thông tư số 121/2004/TT – BTC ngày 16/12/2004 vềviệc hướng dẫn công tác lập dự toán, quản lý, cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồnvốn ngân sách nhà nước thực hiện Quyết định 134 ;Quyêt định sô 146/2005/QĐ – TTgngày 15/06/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thu hồi đất sản xuất của cácnông trường, lâm trường để giao khoán cho hộ đồng bào dân tộc thiểu sô nghèo; Thông
tư số 111/2004/TT – BTC ngày 19/11/2005 hướng dẫn một số điểm về tổ chức thựchiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2005; Thông tư số 100/2005/TT – BTC ngày17/11/2005 hướng dẫn một số điểm về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nướcnăm 2006; Văn bản số 4348 TC/NSNN ngày 14/4/2005 về thực hiện chế độ báo cáo ởcác địa phương
Trang 18Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành Quyết định số03/2005/QĐ – BNN ngày 7/1/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn ban hành Quy định về khai thác gỗ để hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo,đời sống khó khăn theo Quyết định 134; Dự thảo quyết định của Thủ tướng về việc bổsung chính sách thay thế chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu sốnghèo đối với các địa phương không còn quỹ đất sản xuất nông, lâm nghiệp, đã trìnhThủ tướng Chính phủ.
Với vai trò là cơ quan chủ trì theo dõi tình hình thực hiện Quyết định 134 , Ủyban Dân tộc đã ban hành công văn số 118/UBDT – CSDT ngày 25/2/2005 về việc báocáo tình hình thực hiện Quyết định 134 ; Công văn số 438/UBDT – CSDT ngày9/6/2005 về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện Quyết định 134 ; Công văn số982/UBDT – CSDT ngày 5/12/2005 đề nghị báo cáo tình hình 1 năm thực hiện Quyếtđịnh 134; Công văn số 13/UBDT – CSDT ngày 9/1/2006 về việc rà soát, chỉnh sửa, bổsung, hoàn thiện lại nội dung Đề án 134
Trong quá trình xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện Quyết định 134 đều có
sự tham gia, thống nhất với các Bộ, ngành liên quan Việc triển khai thực hiện chínhsách theo Quyết định 134 có nhiều vấn đề phức tạp , đòi hỏi ban hành nhiều văn bảnhướng dẫn, chỉ đạo có liên quan và đã được các Bộ, ngành chủ động, quan tâm giảiquyết Riêng về chính sách đất cho đồng bào Khơ me khu vực Đồng bằng Sông CửuLong đến nay chưa được ban hành được vì các địa phương chua làm tốt công tác khảosát, điều tra, thiếu cơ sở thông tin để xây dựng đề án trình Thủ tướng Chính phủ
4.1.1.2 Công tác rà soát tổng hợp và kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện Quyết định
134
Do công tác xây dựng đề án của các địa phương chưa đúng theo yêu cầu hướngdân của các nội dung chính sách, tháng 12/2005, Ủy ban Dân tộc đã chủ trì phối hợpvới các Bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đẩu tư, Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn, Tài nguyên và Môi trường rà soát các bươc một Đề án thực hiện Quyết định 134của các địa phương
Trang 19Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn, tháng 3/2006, Liên bộ đã làm việc với 21tỉnh trọng điểm về nội dung các đề án rà soát, tổng hợp, nhu cầu đề án 53 tỉnh để báocáo trình Thủ tướng Chính phủ
Về công tác kiểm tra tình hình thực hiện ở các địa phương, trong năm 2004 và
2005, Ủy ban Dân tộc đã tổ chức các đoàn kiểm tra, khảo sát tại các tỉnh Yên Bái,Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đắc Lắc, Gia Lai, Hà Giang, Quảng Nam và Ninh Thuận.Năm 2006, đã chủ trì đoàn công tác liên Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Xây dựng, Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Văn Phòng chính phủ làmviệc tại các tỉnh: khu vực Đông Bắc – Cao Bằng, Lạng Sơn và khu vực Đồng bằngSông Cửu Long – Đồng Nai, Vĩnh Long, Kiên Giang, Thanh Hóa, Nghệ An và LaiChâu
Hội đồng Dân tộc của Quốc hội với vai trò là cơ quan giám sát tron quí I và IInăm 2006 đã trực tiếp khảo sát nắm tình hình và kết quả thực hiện tại 20 tỉnh, riêng khuvực Tây Nguyên khảo sát ở 5 tỉnh, 11 huyện, 18 xã, 6 đơn vị doanh nghiệp Ngay sau
kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI, tổ chức 5 đoàn khảo sát ở 9 tỉnh, 21 huyện Đối với cácđịa phương không trực tiếp giám sát, đề nghị Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực hộiđồng nhân dân, các ban Hội đồng nhân dân tiến hành tự giám sát và báo cáo kết quả
3.1.2 Tình hình tổ chức thực hiện ở các địa phương
Theo chỉ đạo của Quyết định 134 , ở các địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh cóđối tượng đồng bào thuộc diện được hưởng hỗ trợ theo Quyết định 134 chịu tráchnhiệm trực tiếp và toàn diện trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chính sách hỗtrợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho các hộ đồng bào nghèo Cụ thể: Ủyban nhân dân tỉnh công bố công khai tiêu chuẩn, đối tượng và điều tra lập danh sách các
hộ đồng bào được hỗ trợ; lập và phê duyệt đề án thực hiện Quyết định 134 ở địa bàntỉnh mình; chỉ đạo các cơ quan có liên quan, các cấp chính quyền địa phương và phốihợp với các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn tổ chức hiệu quả các chínhsách hỗ trợ; kiểm tra việc thực hiện, đảm bảo các chính sách đến được hộ đồng bào dântộc
Trang 20Trên cơ sở chỉ đạo của trung ương, các tỉnh đã triển khai thực hiện, lập ban chỉđạo các cấp tỉnh, huyện, xã theo mô hình: ở cấp tỉnh, thành lập ban chỉ đạo 134 do phóchủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh làm trưởng ban, trưởng ban dân tộc làm phó ban thườngtrực đồng thời lãnh đạo các sở ban ngành làm thành viên ban chỉ đạo; ở cấp huyệnthành lập ban chỉ đạo huyện (một số địa phương lồng ghép cùng với Chương trình 135);
ở cấp xã thành lập tổ công tác hoặc lồng ghép vào với chương trình khác như Xoá đóigiảm nghèo, Chương trình 135 Việc tổ chức triển khai như trên đã tạo cơ chế chỉ đạo,quản lý thống nhất giữa các cấp chính quyền tỉnh - huyện – xã, đồng thời cho phép phốihợp đồng bộ, linh hoạt giữa các ban ngành liên quan
Để có thể thực hiện chương trình một cách tốt nhất, việc huy động sự tham giacủa các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể cũng hết sức quan trọng Các địa phương đãchỉ đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể các cấp tuyên truyền, giải thích rõ về mục đích củaChương trình đến tận người dân và được nhân dân nhiệt tỉnh hưởng ứng Thông quaChương trình, đồng bào đã nâng cao trách nhiệm của cộng đồng, tăng cường tình đoànkết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau và hạn chế tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách cùaĐảng và Nhà nước Nhiều hộ đã tự nguyện tham gia đóng góp ngày công hoặc chủđộng vận động anh em trong dòng tộc tương trợ giúp đỡ lẫn nhau khai hoang ruộngnước, làm công trình nước sinh hoạt, xây dựng bể chứa nước, đổi công trong việc làmnhà, lợp nhà…
Về vấn đề xây dựng đề án, do yêu cầu về thời gian và tính phức tạp của nội dungchính sách nên đề án của các địa phương lập giai đoạn đầu nhìn chung chưa thật đầy
đủ và chuẩn xác, thời gian chậm, tổng nhu cầu vốn rất cao, một số tỉnh đề án làm lạinhiều lần Một số tỉnh thực hiện rất sớm và nghiêm túc việc lập đề án như Cao Bằng,Lào Cai, Sơn La, Thanh Hóa, Quảng Nam Bên cạnh đó cũng có những địa phương mớihoàn thành đề án vào tháng 1/2006 như Tây Ninh, Bạc Liêu, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc…
Cá biệt có những tỉnh không chấp hành chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương Đến tháng5/2006, cả nước đã có 53 tỉnh xây dựng xong đề án, có cả đề án điều chỉnh
3.2 Tình hình sử dụng vốn
3.2.1 Huy động vốn
Trang 213.2.1.1 Nhu cầu vốn cho Chương trình 134
Theo tiêu chuẩn hỗ trợ quy định tại quyết định và thông tư hướng dẫn của các
Bộ, Ngành trung ương, Ủy ban nhân dân các địa phương tổng hợp nhu cầu, xây dựng
và phê duyệt đề án để có căn cứ bố trí vốn ngân sách hàng năm Các địa phương đã chỉđạo và hướng dẫn các huyện, xã tiến hành khảo sát điều tra và xây dựng đề án Việcbình xét được tiến hành từ cấp xã và tổng hợp lên cấp huyện, cấp tỉnh để đưa vào đề án.Đến nay đã có 54 tỉnh, thành phố xây dựng xong đề án và gửi về Ủy ban Dân tộc đểphối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính tổng hợp
Theo các đề án được duyệt, nhu cầu thực hiện Quyết định 134 như sau:
Tổng số hộ trong diện đối tượng 134 là 475.408 hộ với nhu cầu vốn hỗ trợ từ ngân sáchTrung ương là 3.927 tỷ đồng, trong đó:
o Số hộ cần hỗ trợ nhà ở là 475.408 hộ, nhu cầu vốn từ ngân sách trungương là 1.655,9 tỷ đồng
o Sô hộ cần hỗ trợ đất ở là 83.984 hộ với diện tích 1.884 ha, nhu cầu vốn từngân sách trung ương là 11,2 tỷ đồng
o Số hộ cần hỗ trợ đất sản xuất là 237.616 hộ với diện tích 73.535 ha, nhucầu vốn từ ngân sách trung ương là 431,8 tỷ đồng
o Số hộ cẫn hỗ trợ nước sinh hoạt là 280.944 hộ, nhu cầu vốn từ ngân sáchtrung ương là 107,5 tỷ đồng
o Số công trình nước tập trung là 7.398 công trình, nhu cầu vốn từ ngânsách trung ương là 1.741,7 tỷ đồng
3.2.1.2 Lượng vốn đã huy động
Theo Quyết định 134, nguồn vốn cho chương trình 134 được huy động từ ngânsách trung ương để bảo đảm cho các khoản chi theo định mức hỗ trợ quy định Đồngthời, các địa phương có trách nhiệm bố trí kinh phí không dưới 20% so với số vốn Ngânsách Trung ương bảo đảm và huy động thêm các nguồn vốn hợp pháp khác Trong 2năm 2005 – 2006, tổng vốn đầu tư cho Chương trình 134 như sau:
- Ngân sách Trung ương cho các địa phương để thực hiện quyết định là 1.445 tỷđồng
Trang 22- Ngân sách địa phương là 242 tỷ đồng
Nguồn vốn ngân sách trung ương cấp năm 2005 qua 2 đợt là 700 tỷ đồng cho 44tỉnh, năm 2006 là 715 tỷ đồng cho 51 tỉnh và bổ sung 30 tỷ đồng từ nguồn vượt chingân sách Tuy vậy, nguồn vốn nói trên so với nhu cầu của các địa phương vẫn cònthấp, trung bình đạt khoảng 41% nhu cầu của các tỉnh
Về nguồn vốn ngân sách địa phương, tính bình quân trên cả nước, nguồn vốn địaphương đã đạt yêu cầu gần 20% vốn ngân sách trung ương Có những địa phương đãtích cực triển khai, chủ động vận dụng nhiều giải pháp tích cực, phù hợp tình hình cụthể của địa phương để đảm bảo nguồn vốn đối ứng theo quy định như Thừa Thiên Huế,Ninh Thuận, Bình Dương…Nhiều địa phương đã huy động được nguồn lực cộng đồng,dòng họ để hỗ trợ làm nhà, san nhượng đất ở, đất sản xuất Bên cạnh đó, vẫn còn rấtnhiểu tỉnh nguồn vốn đối ứng không đáp ứng đủ 20% vốn ngân sách
3.2.2 Sử dụng vốn
3.2.2.1 Phân bổ vốn ngân sách cho các địa phương
Sau 2 năm thực hiện, lượng vốn từ Ngân sách Trung ương cấp là 1.445 tỷ đồngcho 51 tỉnh thành trong cả nước Việc phân bổ vốn không được chia đều mà có sự khácnhau giữa các địa phương Khu vực Tây Nguyên, các tỉnh trọng điểm ở Tây Bắc, Tây
Trang 23Nam Bộ được ưu tiên bố trí nguồn vốn lớn.Khu vực Tây Nguyên: Đắc Lắc 84 tỷ đồng,Gia Lai 88 tỷ đồng, Kon Tum 72 tỷ đồng, Đắc Nông 70 tỷ đồng Khu vực Đồng bằngsông Cửu Long: Trà Vinh 65 tỷ đồng, Sóc Trăng 70 tỷ đồng Các khu vưc khác: LaiChâu 52 tỷ đồng, Thanh Hóa 57 tỷ đồng, Ninh Thuận 48 tỷ đồng… các tỉnh còn lạiđược phân bổ ít hơn và chỉ đạt 20 – 35% kế hoạch.
3.2.2.2 Sử dụng vốn theo các mục tiêu của chương trình
a) Hỗ trợ nhà ở:
Nhà ở là mục tiêu được ưu tiên của nhiều địa phương để giải quyết nhu cầu thiếtyếu và cấp bách cho đồng bào, do đó lượng vốn phân bổ cho mục tiêu hỗ trợ nhà ở đạtcao nhất là 791 tỷ đồng, đạt 42 % kế hoạch Trong đó các tỉnh Tây Nguyên và Tây Bắcchiếm trên 50 % lượng vốn đầu tư vì đây là vùng có miền núi có nhiều hộ đồng bàothuộc đối tượng hỗ trợ của Chương trình Tính riêng trong các tỉnh miền núi phía Bắcđược đầu tư hỗ trợ thì Lai Châu, Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai là những tỉnh được đầu
tư nhiều nhất, chiếm 72% vốn đầu tư cho vùng này, còn các tỉnh như Vĩnh Phúc, QuảngNinh do kinh tế xã hội phát triển hơn nên mức đầu tư thấp hơn Miền Đông Nam Bộ do
có trình độ phát triển cao hơn lại là vùng đồng bằng do đó được đầu tư ít vốn hơn
Bảng 1: Vốn đầu tư thực hiện mục tiêu hỗ trợ nhà ở với các vùng trên cả nước
Trang 24đồng, ngân sách địa phương hỗ trợ tối thiểu 1 triệu đồng và nguồn huy động khác) Một
số địa phương đã thực hiện rất tốt mục tiêu này, đã đảm bảo và vượt mức tối thiểu 20%vốn đối ứng, tiêu biểu là Thừa Thiên Huế, Ninh Thuận, Quảng Nam, Đắc Nông…Trong
đó Thừa Thiên Huế bố trí ngân sách tỉnh hỗ trợ nhà ở với mức 10 triệu đồng /nhà; NinhThuận 3 triệu đồng/nhà; Quảng Nam cho phép khai thác hỗ trợ 10m3 gỗ/nhà
b) Hỗ trợ đất sản xuất
Ngược lại với mục tiêu hỗ trợ nhà ở, mục tiêu hỗ trợ đất ở được thực hiện chậmhơn, hiệu quả thấp hơn Kinh phí hỗ trợ đất sản xuất là 81,7 tỷ đồng, đạt 17% so với kếhoạch Cụ thể ở các vùng miền như sau:
Bảng 2 : Vốn đầu tư thực hiện mục tiêu hỗ trợ đất sản xuất
với các vùng trên cả nước
c) Hỗ trợ nước sinh hoạt
Cùng với mục tiêu hỗ trợ nhà ở, mục tiêu hỗ trợ nước sinh hoạt cũng được cácđịa phương ưu tiên và đạt kết quả tốt Nước sinh hoạt hỗ trợ cho các hộ đồng bào gồm 2
Trang 25loại công trình: công trình nước sinh hoạt tập trung và công trình nước sinh hoạt phântán Sau 2 năm thực hiện, Chương trình đã hỗ trợ công trình nước sinh hoạt tập trungcho 52.805 hộ với số vốn đầu tư là 41,2 tỷ đồng đạt tỷ lệ hoàn thành 38 % Với côngtrình nước sinh hoạt tập trung, Chương trình đã hoàn thành được 1.652 công trình, kinhphí thực hiện là 222 tỷ đồng, hoàn thành 13% so với kế hoạch.
Bảng 3: Vốn đầu tư thực hiện mục tiêu hỗ trợ nước sinh hoạt
với các vùng trên cả nước
Kinh phí đã thựchiện (tỷ đồng)
Tỷ lệ hoànthành(%)
Kinh phí đã thựchiện (tỷ đồng)
Tỷ lệ hoànthành(%)
Bảng 4: Vốn đầu tư thực hiện mục tiêu hỗ trợ đất ở
với các vùng trên cả nước
Trang 26e) So sánh vốn thực hiện giữa các mục tiêu
Như vậy, sau 2 năm thực hiện Chương trình 134 , tình hình phân bổ vốn theo các mụctiêu so với kế hoạch như sau:
Nguồn: Tài liệu hội nghị toàn quốc sơ kết 2 năm thực hiện Quyết định 134/2004/QD-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ (2004 – 2006) – UBDT – Bộ NNPTNT – 10/2006
Nhà ở và nước sinh hoạt là những nhu cầu thiết yếu với cuộc sống nhân dân đã đượccác tỉnh ưu tiên và tập trung thực hiện Bên cạnh đó, 2 mục tiêu này người dân có thểnhận hỗ trợ và tự tiến hành làm không phải phụ thuộc và chờ dợi do đó 2 mục tiêu nàyđược thực hiện tốt hơn cả và giải ngân được nhiều nhất so với kế hoạch
3.3 Tình hình và kết quả thực hiện các mục tiêu của chương trình
3.3.1 Hỗ trợ nhà ở
Nhà ở là một trong những nhu cầu thiết yếu trong đời sống con người Cải thiệnchỗ ở ngày một tốt hơn là yêu cầu cấp bách để nâng cao mức sống nhân dân Trongđiều kiện nước ta là một quốc gia đang phát triển, thu nhập bình quân đầu người cònthấp thì việc tự tạo cho mình một chỗ ở tương đối khang trang và ổn định là vấn đề khókhăn đối với nhiều hộ gia đình ở nước ta, đặc biệt là đối với các hộ đồng bào dân tộcthiểu số thuộc vùng sâu, vùng xa Với những hộ đồng bào này, do điều kiện địa lý phứctạp, giao thông đi lại khó khăn, trình độ dân trí còn thấp nên việc tạo lập nhà ở rất cần
có sự hỗ trợ của Nhà nước Chính vì lẽ đó Chương trình 134 ra đời và một nhiệm vụtrọng tâm là hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa xây dựng nhà ở