HCM Chuyên ngành : Quản Trị Kinh Doanh MSHV : 1441820026 I- Tên đề tài: HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH II- Nhiệm vụ và nội dung: - Hệ t
Trang 1NGUYỄN DƯƠNG THU HẰNG
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Quản Trị Kinh Doanh
Mã số ngành: 60340102
Tp Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2016
Trang 2NGUYỄN DƯƠNG THU HẰNG
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Quản Trị Kinh Doanh
Mã số ngành: 60340102
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LẠI TIẾN DĨNH
Tp Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2016
Trang 3Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS LẠI TIẾN DĨNH (Ghi
rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày
30 tháng 01 năm 2016
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
Trang 4NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên : NGUYỄN DƯƠNG THU HẰNG
Ngày, tháng, năm sinh : 08/11/1975 Nơi sinh : TP HCM
Chuyên ngành : Quản Trị Kinh Doanh MSHV : 1441820026
I- Tên đề tài:
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN THỐNG
NHẤT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH II- Nhiệm vụ và nội dung:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập nói
chung và các bệnh viện công hiện nay;
-Phân tích thực trạng của cơ chế tự chủ tài chính đối với Bệnh viện Thống Nhất
Thành phố Hồ Chí Minh;
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị trong quá trình thực hiện tự chủ tài chính tạiBệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh
III- Ngày giao nhiệm vụ: 20-08-2015
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 31/12/2015
V- Cán bộ hướng dẫn: TS Lại Tiến Dĩnh
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả nêu trong Luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đãđƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Dương Thu Hằng
Trang 6chân thành đến Tiến Sĩ Lại Tiến Dĩnh đã hết lòng giảng dạy, hướng dẫn tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài này
Cho phép tôi được gởi lời cám ơn đến các bạn học viên cao học của Trường
đã nhiệt tình hỗ trợ, động viên và chia sẻ những kinh nghiệm, kiến thức trong suốtthời gian học tập và nghiên cứu
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đãủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu đề tài này.Trân trọng!
Nguyễn Dương Thu Hằng
Trang 7TÓM TẮT
Tự chủ tài chính là một xu hướng tất yếu trong công tác quản lý tài chính tạicác đơn vị sự nghiệp công lập Với nhiều ưu điểm như khuyến khích nâng cao chấtlượng dịch vụ tại các đơn vị sự nghiệp công, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhànước, đơn giản hóa những thủ tục hành chính , việc thực hiện tự chủ tài chính theotừng bước, phù hợp với các giai đoạn cụ thể đã được Chính phủ quy định thông quacác Nghị định số 10/2002, số 43/2006 và gần nhất là số 16/2015 và đạt được nhiềuthành tựu
Đề tài ”Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện dựa trên số liệu báo cáo tài chính và báo
cáo nội bộ của Bệnh viện Thống Nhất từ năm 2010 đến năm 2014 Luận văn hệthống hóa cơ sở lý luận về tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập nóichung và các bệnh viện công hiện nay Luận văn đã khẳng định vai trò và sự cầnthiết của cơ chế tự chủ tài chính trong hoạt động y tế
Thông qua phương pháp thu thập thông tin, thống kê, phân tích, kết hợp vớiphương pháp so sánh, đối chiếu, tổng hợp thông tin nhằm đưa ra những nhận định
về tình hình thực hiện tự chủ tài chính, phân tích thực trạng cơ cấu các nguồn thu vàkhoản chi tại Bệnh viện Thống Nhất, luận văn cho thấy xu hướng cơ cấu nguồn thungày càng dịch chuyển từ ngân sách nhà nước cấp sang các nguồn thu từ viện phí,mặc dù nguồn cấp từ ngân sách nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng Mặt khácluận văn cũng chỉ ra các tồn tại trong quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính tạiBệnh viện Thống Nhất Những tồn tại đó xuất phát từ cả cấp vĩ mô và vi mô Từ đó,luận văn trình bày một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụngnguồn lực tài chính tại Bệnh viện Thống Nhất
Trang 8Financial autonomy is an inevitable trend in financial management in thepublic service units With many advantages as encourage quality improvementservices at the business units, reducing the burden on the state budget, simplification
of administrative procedures ., implementing financial autonomy stepwise, inaccordance with the specific period defined by the Government through Decree No.10/2002, No 43/2006 and 16/2015 and most recently achieved some success
Project " Improving the financial autonomy at Thong Nhat Hospital in Ho Chi Minh City" is performed based on data from the financial statements and
internal reporting of Thong Nhat Hospital from 2010 to 2014 Thesis codifiedtheoretical basis of financial autonomy at the business units and the general public
of the current hospital Thesis has confirmed the role and necessity of self-financingmechanisms for health activities
Through situational analysis structure revenues and expenses at the ThongNhat hospital thesis shows structural trends increasingly shift income from the statebudget to the revenues from user fees, although supply from the state budget stillplays an important role On the other hand the thesis also points out theshortcomings in the management and use of financial resources at Thong NhatHospital The existence which comes from both macro and micro levels Since then,the thesis presents a number of measures to improve the efficiency of themanagement and use of financial resources at Thong Nhat Hospital
Trang 9MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
GIỚI THIỆU 1
1 Vấn đề nghiên cứu 1
2 Câu hỏi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
6 Đóng góp của nghiên cứu 3
7 Kết cấu luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
1.1 Khái quát về đơn vị sự nghiệp công lập 5
1.1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập 5
1.1.2 Phân loại và đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập 6
1.1.3 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công 6
1.2 Khái niệm đơn vị sự nghiệp y tế công lập 8
1.2.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp y tế công lập 8
1.2.2 Đặc điểm đơn vị sự nghiệp y tế công lập 8
1.2.3 Phân loại đơn vị sự nghiệp y tế công lập 9
1.3 Vai trò đơn vị sự nghiệp y tế công lập trong nền kinh tế thị trường 10
1.4 Khái quát về Bệnh viện Thống Nhất 11
1.4.1 Bệnh viện Thống Nhất và vai trò phục vụ cán bộ cao cấp 11
1.4.2 Khái quát cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập 13
1.5 Khái quát cơ chế tự chủ tài chính của Bệnh viện Thống Nhất 15
1.5.1 Khái quát quản lý tài chính tại Bệnh viện Thống Nhất 15
1.5.2 Nội dung quản lý tài chính trong Bệnh viện Thống Nhất 16
1.5.3 Mục tiêu của quản lý tài chính trong bệnh viện 17
1.6 Các quy định về cơ chế tự chủ tài chính 17
Trang 101.6.1 Các nguồn thu và quản lý nguồn thu tại bệnh viện 17
1.6.2 Các khoản chi và quản lý khoản chi tại bệnh viện 19
1.7 Vai trò và sự cần thiết của tự chủ tài chính đối với đơn vị Bệnh viện Thống Nhất 22
1.8 Kinh nghiệm quản lý tài chính ở bệnh viện của một số nước trên thế giới 23
1.8.1 Hệ thống bệnh viện công lập thuộc các nước Đông Âu 23
1.8.2 Mô hình bệnh viện công của Trung Quốc 25
1.8.3 Hệ thống bệnh viện của Mỹ 26
1.8.4 Kinh nghiệm thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ở một số Bệnh viện trong nước 27
1.8.4.1.Đánh giá thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của Bệnh viện Hữu Nghị -Hà Nội 27
1.8.4.2 Đánh giá thực hiện tự chủ tài chính của Bệnh viện C Đà Nẵng 30
Chương 2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT PHỤC VỤ CÁN BỘ CAO CẤP PHÍA NAM 32
2.1 Giới thiệu Bệnh viện Thống Nhất 32
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Bệnh viện Thống Nhất 32
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Bệnh viện Thống Nhất 33
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Bệnh viện Thống Nhất 34
2.1.4 Quy mô và hoạt động khám chữa bệnh từ năm 2010 đến năm 2014 35
2.2 Thực trạng thực hiện tự chủ tài chính tại Bệnh viện Thống Nhất 36
2.2.1 Sự hình thành cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Thống Nhất 36
2.2.2 Thực trạng các nguồn thu và quản lý nguồn thu của Bệnh viện Thống Nhất 37 2.2.3 Thực trạng các khoản chi và quản lý các khoản chi 40
2.2.3.1 Nhóm chi cho con người 40
2.2.3.2 Nhóm chi cho chuyên môn nghiệp vụ 42
2.2.3.3 Nhóm chi cho tài sản cố định và các khoản chi thường xuyên khác .44
2.2.4 Đánh giá thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Thống Nhất 45
2.2.4.1 Tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm 45
2.2.4.2 Cơ sở vật chất và nâng cao thu nhập của cán bộ viên chức từng bước được cải thiện 46
2.2.4.3 Tổ chức bộ máy, biên chế theo hướng gọn nhẹ và hiệu quả 47
2.2.4.4 Những hạn chế 47
2.4.2.5 Những nguyên nhân 49
2.3 Kết quả khảo sát 50
2.3.1 Đối tượng khảo sát là bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Thống Nhất 50
2.3.2 Đối tượng khảo sát là cán bộ, viên chức tại Bệnh viện Thống Nhất 52
Trang 11Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ TRONG QUÁ TRÌNH
THỰC HIỆN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT 55
3.1 Định hướng phát triển của Bệnh viện Thống Nhất 55
3.2 Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Thống Nhất phục vụ cán bộ cao cấp 56
3.2.1 Hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ 56
3.2.2 Tận dụng và khai thác tốt nhất các nguồn thu 57
3.2.3 Quản lý có hiệu quả các khoản chi 60
3.2.4 Làm tốt công tác quản lý và sử dụng tài sản 62
3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát tài chính trong đơn vị 62
3.2.6 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tài chính kế toán 64
3.2.7 Phát huy tính chủ động, sáng tạo 64
3.2.8 Khuyến khích việc khai thác mở rộng nguồn thu, giảm chi tiêu NSNN 65
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC
Trang 12DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô khám chữa bệnh tại Bệnh viện Thống Nhất từ năm 2010 đếnnăm 2014 35Bảng 2.2 Tình hình quản lý thu tại Bệnh viện Thống Nhất từ năm 2010 – 2014 38Bảng 2.3 Tình hình nhóm chi cho con người tại Bệnh viện Thống Nhất từ năm
2010 – 2014 40Bảng 2.4 Tình hình nhóm chi cho chuyên môn nghiệp vụ tại Bệnh viện ThốngNhất từ năm 2010 – 2014 42Bảng 2.5 Tình hình cho TSCĐ và chi thường xuyên khác tại Bệnh viện ThốngNhất từ năm 2010 – 2014 44
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Bệnh viện Thống Nhất 33Hình 2.2 Quy mô khám chữa bệnh tại Bệnh viện Thống Nhất qua các năm 35Hình 2.3 Tốc độ gia tăng các nguồn thu của Bệnh viện Thống Nhất qua các năm39
Trang 15Bệnh viện Thống Nhất là bệnh viện trung ương loại 1 trực thuộc Bộ Y Tếđóng tại thành phố Hồ Chí Minh, bệnh viện có nhiệm vụ chính là khám chữa bệnhcho cán bộ trung cao cấp của Đảng và Nhà Nước, ngoài ra bệnh viện được Bộ Y Tếcho phép kê một số giường để phục vụ cho nhân dân Từ trước đến nay hầu nhưbệnh viện chỉ quan tâm đến việc khám chữa bệnh, còn tài chính chủ yếu có hainguồn thu lớn: nguồn kinh phí do Bộ Y tế cấp và nguồn thu một phần viện phí (qua
cơ quan Bảo Hiểm Y Tế (BHYT) và từ bệnh nhân)
Năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP quy định về chế độtài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu Đây được coi là bước đột phá đầu tiêntrong việc giao quyền tự chủ về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập
Ngày 25/4/2006 Chính phủ đã ra Nghị định 43/2006/NĐ-CP về việc tự chủ, tựchịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đốivới các đơn vị sự nghiệp có thu Theo đó, việc trao quyền tự chủ, tự chịu tráchnhiệm cho các đơn vị sự nghiệp không chỉ trong quản lý tài chính, mà trong cả thựchiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp cônglập
Sau 10 năm thực hiện, Ngành y tế nói chung, Bệnh viện Thống Nhất nói riêng
đã thực hiện cơ chế tự chủ tài chính và góp phần thay đổi sâu sắc trong cơ cấu tàichính y tế đối với nền kinh tế quốc dân Tại các bệnh viện công lập tuyến trung
Trang 16ương hiện nay đang thực hiện song song hai nhiệm vụ trong cùng một điều kiện vềcon người và cơ sở vật chất trang thiết bị y tế được Nhà nước đầu tư như: thựchiện chức năng, nhiệm vụ Nhà nước giao là khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏecho cán bộ và nhân dân bắt buộc, đồng thời mở thêm các dịch vụ khám chữa bệnhtheo yêu cầu (tự nguyện) Đây là một nhiệm vụ khó khăn và phụ thuộc vào nhiềuyếu tố để rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn trong việc thực hiện cơ chế tự chủ.
Vì vậy tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn Thạc sĩ.
2 Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ chế tự chủ tài chính là gì? Bệnh viện Thống Nhất phục vụ cán bộ cao cấp tại khu vực phía Nam có những hoạt động gì?
- Thực trạng của cơ chế tự chủ tài chính đối với Bệnh viện Thống Nhất phục
vụ cán bộ cao cấp tại khu vực phía Nam như thế nào?
- Tại sao phải phân tích cơ chế tự chủ tài chính đối với Bệnh viện Thống Nhất phục vụ cán bộ cao cấp tại khu vực phía Nam?
- Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn rút ra của cơ chế tự chủ tài chính đối với Bệnh viện Thống Nhất phục vụ cán bộ cao cấp tại khu vực phía Nam là gì?
3 Mục tiêu nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề nghiên cứu của đề tài, Luận văn tập trung đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau đây:
- Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về cơ chế tự tài chính tại Bệnh viện Thống Nhất và yêu cầu quản lý hiện nay
- Phân tích thực trạng cơ chế tự chủ tài chính đối với Bệnh viện Thống Nhấtphục vụ cán bộ cao cấp tại khu vực phía Nam gồm các hoạt động thu, chi và xácđịnh kết quả tài chính
- Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn với những thuận lợi và hạn chế trongviệc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP đối vớiBệnh viện Thống Nhất phục vụ cán bộ cao cấp tại khu vực phía Nam
Trang 174 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả áp dụng phương pháp thu thập thông tin, thống kê, phân tích, kết hợpvới phương pháp so sánh, đối chiếu, tổng hợp thông tin nhằm đưa ra những nhậnđịnh về tình hình tự chủ tài chính của Bệnh viện Thống Nhất thành phố Hồ ChíMinh
Về dữ liệu, luận văn tiến hành thu thập thông tin từ các báo cáo nội bộ củabệnh viện Thống Nhất, cùng với phỏng vấn, trao đổi với các bác sĩ làm việc lâu nămtại bệnh viện
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cơ chế tự chủ tài chính đối với Bệnh viện ThốngNhất phục vụ cán bộ cao cấp tại khu vực phía Nam bao gồm: Nguồn thu, khai thácnguồn thu và các khoản chi, sử dụng các khoản chi tại Bệnh viện Thống Nhất,Thành Phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian: từ năm 2010 đến 2014
Phạm vi nghiên cứu bao gồm phạm vi về không gian, thời gian:
- Không gian: Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành chủ yếu tại Bệnh viện Thống Nhất phục vụ cán bộ cao cấp khu vực phía Nam: Bệnh viện Thống Nhất
- Thời gian: Đề tài được nghiên cứu các chỉ tiêu và số liệu kinh tế tập trungtrong 5 năm từ 2010 - 2014
6 Đóng góp của nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận, phân tích nội dung cơ chế tự chủ tài chính của Bệnh việnThống Nhất nhằm mục tiêu xã hội hóa dịch vụ công nói chung và dịch vụ khámchữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho cán bộ cao cấp phía Nam nói riêng Phát huytính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc huy động mọi nguồn lực tài chính vàoviệc khám chữa bệnh theo yêu cầu nhưng trên nguyên tắc đảm bảo công khai, minhbạch về hoạt động thu, chi và xác định kết quả tài chính, qua đó giảm bớt chi ngânsách nhà nước cho lĩnh vực y tế
Thông qua nghiên cứu đề xuất một số bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện
cơ cấu tổ chức, bộ máy hoạt động để đáp ứng yêu cầu về quản lý kinh tế tại cácbệnh viện công lập tuyến Trung ương trong điều kiện tự chủ tài chính
Trang 187 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Giới Thiệu và Kết Luận, luận văn có 3 chương:
Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT PHỤC VỤ CÁN BỘ CAO CẤP PHÍA NAM
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT
Trang 19Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Phần đầu chương này sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết của đề tài bao gồmnhững vấn đề cơ bản về đơn vị sự nghiệp y tế công lập, về tự chủ tài chính tại cácđơn vị này Tiếp theo, tác giả tóm lược một số kết quả và kinh nghiệm từ việc thựchiện tự chủ tài chính tại các bệnh viện trên thế giới và một vài bệnh viện lớn trongnước
1.1 Khái quát về đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập
Điều 9 luật Viên chức được Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2011quy định: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhànước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của phápluật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước.”Theo quy định trên và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm
2006 của Chính phủ về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổchức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập thì đơn vị sựnghiệp công lập được xác định bởi các tiêu thức cơ bản sau:
- Là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật
- Hoạt động cung cấp dịch vụ công trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học côngnghệ, môi trường, y tế, văn hóa thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việclàm… được Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, chi phí hoạt độngthường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao; đơn vị
sự nghiệp được Nhà nước cho phép thu một số loại phí, lệ phí nhất định trong quátrình tiến hành hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động,tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức
- Có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng
Trang 201.1.2 Phân loại và đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập được phân làm nhiều loại khác nhau tùy theo mụcđích và tiêu thức phân loại Dựa vào những căn cứ nhất định, đơn vị sự nghiệp cônglập được phân loại như sau:
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động: đơn vị sự nghiệp được phân theo ngành kinh
tế, kỹ thuật như đơn vị sự nghiệp y tế, đơn vị sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đơn vị
sự nghiệp văn hóa thông tin, đơn vị sự nghiệp thể dục thể thao…
- Căn cứ vào chủ thể quản lý: đơn vị sự nghiệp được phân thành đơn vị sựnghiệp do Trung ương quản lý; đơn vị sự nghiệp do địa phương quản lý; đơn vị sựnghiệp do Nhà nước quản lý; đơn vị sự nghiệp do tổ chức chính trị - xã hội quảnlý…
- Căn cứ vào mức tự đảm bảo kinh phí thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công lập được sắp xếp vào một trong 3 loại sau:
Đơn vị sự nghiệp có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạtđộng thường xuyên
Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên:
Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thườngxuyên, phần còn lại được NSNN cấp
Đơn vị sự nghiệp do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động, gồm: đơn
vị sự nghiệp có nguồn thu sự nghiệp thấp và đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu,kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN đảm bảotoàn bộ kinh phí hoạt động
1.1.3 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công
- Đơn vị sự nghiệp có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật: đượcNhà nước thành lập, có trụ sở riêng, có con dấu riêng, có tài khoản riêng và đảm bảo trước pháp luật về hoạt động của mình
- Hoạt động theo nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao, không vì mục đích sinh lợi
Trang 21- Được thu một số loại phí, lệ phí từ hoạt động của mình như: Viện phí, họcphí, phí kiểm dịch… từ cá nhân, tập thể sử dụng các dịch vụ do đơn vị cung cấp Dovậy, nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu không chỉ có kinh phí từ
- Chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan chủ quản (Bộ, ngành, Ủy ban nhân dântỉnh, thành phố) đồng thời chịu sự quản lý về mặt chuyên môn của các Bộ, ngànhchức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực hoạt động sự nghiệp và chính quyền địaphương nơi đơn vị đóng trụ sở và hoạt động
- Các sản phẩm do đơn vị sự nghiệp công lập tạo ra đều mang tính bền vững
và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội
- Hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập luôn gắn liền và bị chi phối bởi cácchương trình phát triển của Nhà nước trong từng thời kỳ Mục tiêu các chươngtrình phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước chi phối tới mục tiêu, nhiệm vụ, phạm
vi hoạt động và nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp
- Đơn vị sự nghiệp công lập có vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống xãhội Thông qua việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước giao, các đơn vị
đã thực hiện tốt các mục tiêu do Nhà nước đặt ra trong từng thời kỳ như: mục tiêunâng cao dân trí, phổ cập giáo dục, sức khỏe cộng đồng, nâng cao đời sống văn hóatinh thần…
- Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong rất nhiều lĩnh vực, cung cấp cácdịch công về y tế, giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao, kinh tế… có chất lượng cho
xã hội góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, thúc đẩy sựphát triển kinh tế xã hội
- Thông qua hoạt động sự nghiệp các đơn vị sự nghiệp công lập được phép thuphí, lệ phí theo quy định của Nhà nước góp phần tăng cường nguồn lực cùng vớiNSNN đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn cung cấp các dịch vụ công
Trang 221.2 Khái niệm đơn vị sự nghiệp y tế công lập
1.2.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp y tế công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị sự nghiệp được cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập, có tư cách pháp nhân, có tàikhoản và con dấu riêng để thực hiện các hoạt động sự nghiệp nhằm cung cấp cácdịch vụ trong lĩnh vực y tế, giáo dục, môi trường, sự nghiệp kinh tế, nông lâm ngưnghiệp, nghiên cứu khoa học, thủy lợi…Trong quá trình hoạt động các đơn vị sựnghiệp công lập được Nhà nước cho phép tạo lập nguồn thu thông qua các khoảnthu như: thu phí, lệ phí hay khoản thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ để
bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên
Đối với mỗi ngành nghề khác nhau, Nhà nước thành lập các đơn vị sự nghiệpnhằm thực hiện định hướng phát triển chung
Căn cứ vào khái niệm trên, các đơn vị sự nghiệp y tế công lập có thể hiểu làcác đơn vị sự nghiệp được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập và hoạtđộng trong lĩnh vực y tế
1.2.2 Đặc điểm đơn vị sự nghiệp y tế công lập
- Đơn vị sự nghiệp y tế công lập do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyếtđịnh thành lập Đơn vị sự nghiệp y tế công lập có thể do Thủ tướng Chính phủ, Bộtrưởng Bộ Y tế hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực tiếp ra quyếtđịnh thành lập thực hiện chức năng và nhiệm vụ được giao Do vậy, các đơn vị sựnghiệp y tế công lập phải tuân theo cơ chế và quy định của các cơ quan Nhà nước
và cơ quan chủ quản
- Đơn vị sự nghiệp y tế công lập cung cấp dịch vụ công cho xã hội khôngnhằm mục đích sinh lời trực tiếp Dịch vụ công được cung ứng với mục đích đápứng lợi ích chung và lâu dài cho xã hội Việc cung ứng dịch vụ này không nhằmmục đích sinh lời Thông qua các đơn vị sự nghiệp y tế công lập, Nhà nước cungcấp những sản phẩm khám chữa bệnh, phòng dịch bệnh…nhằm thực hiện địnhhướng chăm sóc sức khỏe nhân dân Các đơn vị sự nghiệp y tế được phép thu các loại phí, lệ phí, viện phí trong lĩnh vực y tế để đáp ứng một phần hay toàn bộ chi phí
Trang 23hoạt động thường xuyên của đơn vị, đồng thời Nhà nước cũng khuyến khích các đơn vị hoạt động có hiệu quả hơn giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.
- Các hoạt động do đơn vị sự nghiệp y tế thực hiện thường mang lại lợi íchchung, có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giátrị tinh thần Hoạt động sự nghiệp công chủ yếu tạo ra các “hàng hóa công cộng” ởdạng vật chất và phi vật chất, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình tái sản xuất
xã hội Hàng hóa công cộng là những hàng hóa mang hai tính chất không cạnh tranh
và không loại trừ, mọi người đều có khả năng sử dụng và không ai có thể gây ảnhhưởng đối với việc sử dụng hàng hóa và dịch vụ công cộng của người khác
Hàng hóa công cộng có tính xã hội, vì vậy việc sử dụng những sản phẩm, dịch
vụ do hoạt động sự nghiệp công tạo ra nền tảng và động lực cho kinh tế, văn hóa, xãhội…phát triển Do vậy hoạt động sự nghiệp công luôn gắn bó hữu cơ và tác độngtích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội
- Hoạt động sự nghiệp công luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trìnhphát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước Các đơn vị sự nghiệp y tế công lập hoạtđộng dưới sự quản lý của Nhà nước, Bộ chủ quản Chính phủ tổ chức, duy trì vàđảm bảo hoạt động sự nghiệp là để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức cácchương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình,chương trình sức khỏe sinh sản, chương trình phòng chống HIV/AIDS… để cácchương trình này đi vào cuộc sống Nhà nước thông qua các đơn vị sự nghiệp công
để triển khai thực hiện
1.2.3 Phân loại đơn vị sự nghiệp y tế công lập
Căn cứ vào loại hình mô hình tổ chức, các đơn vị sự nghiệp y tế công lậpđược phân thành các loại hình sau:
Các bệnh viện, các viện và trung tâm có giường bệnh, cơ sở điều dưỡng vàphục hồi chức năng thuộc các Bộ, ngành và địa phương;
Các cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc viện nghiên cứu, trường đào tạo y,dược trong toàn quốc
Trang 24Các trung tâm y tế (bao gồm các trung tâm y tế quận, huyện, thị xã, thànhphố trực thuộc tỉnh, trung tâm y tế dự phòng, trung tâm phòng chống các bệnh xãhội, trung tâm truyền thông và giáo dục sức khỏe, trung tâm bảo vệ bà mẹ trẻ em –
kế hoạch hóa gia đình), trung tâm tin học y tế thuộc các Bộ, ngành, địa phương
Các viện, trạm, trại hoặc các đơn vị khác có chức năng và nhiệm vụ phòng,chống bệnh dịch thuộc các Bộ, ngành, địa phương
Các đơn vị có chức năng kiểm dịch vắc xin, sinh phẩm y tế, máu và cácchế phẩm về máu, dịch truyền hoặc các sản phẩm y tế khác
Căn cứ vào khả năng tự đảm bảo nhu cầu kinh phí hoạt động thường xuyên,các đơn vị sự nghiệp y tế được phân loại thành 3 loại hình đơn vị:
Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động gồm các đơn vị sự nghiệp
có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên bằng hoặc lớn hơn 100%
Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động gồm các đơn vị
sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ trên 10% đếndưới 100%
Đơn vị sự nghiệp do ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động,gồm các đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên
từ 10% trở xuống và các đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu
Mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên được xác định theo công thức:Mức tự bảo đảm chi Tổng số nguồn thu sự nghiệp phí hoạt động
thường = - x 100%xuyên của đơn vị (%) Tổng số chi hoạt động thường xuyên
1.3 Vai trò đơn vị sự nghiệp y tế công lập trong nền kinh tế thị trường
Các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập nhằm mục tiêu cung cấp cácdịch vụ công cho xã hội như: giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học công nghệ, y
tế, văn hóa, xã hội, thể dục thể thao, giao thông công cộng.v.v…; Những hoạt độngnày góp phần vào sự phát triển bền vững cho xã hội Trong nền kinh tế thị trườngvai trò các đơn vị sự nghiệp y tế công lập càng thể hiện rõ nét trên một số điểm sau:
Trang 25- Đơn vị sự nghiệp y tế công lập đảm nhận nhiệm vụ chính trong việc cungcấp dịch vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, góp phần tíchcực vào việc bảo tồn và chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho các hoạt động kinh
tế xã hội
- Góp phần thực hiện tốt chính sách an ninh xã hội và đảm bảo công bằng xãhội Nền kinh tế thị trường hoạt động theo mục tiêu lợi nhuận tạo ra sự phân cấpgiàu nghèo, ô nhiễm môi trường, bất ổn xã hội.v.v…Thông qua việc thực hiện cácchương trình mục tiêu trong lĩnh vực y tế ưu tiên khám chữa bệnh miễn phí chongười nghèo, các đối tượng chính sách xã hội…thực hiện hỗ trợ tích cực cho việcthực hiện các chính sách nêu trên
- Giúp Nhà nước định hướng sự phát triển của hệ thống các đơn vị sự nghiệp
y tế đi theo đúng định hướng
- Thông qua hoạt động của mình, các đơn vị sự nghiệp y tế công lập thực hiện
sự hỗ trợ và định hướng cho các hoạt động của các đơn vị sự nghiệp y tế tư nhân,tạo điều kiện cho các cơ sở y tế tư nhân đóng góp tích cực vào sự nghiệp khámchữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân
- Huy động một phần nguồn lực cho NSNN Qua việc cung cấp các dịch vụcông, dịch vụ sản xuất kinh doanh, các đơn vị sự nghiệp y tế công lập sẽ tự đảm bảochi phí hoạt động, giảm gánh nặng chi tiêu ngân sách và hướng đến đóng góp tăngthu cho NSNN
1.4 Khái quát về Bệnh viện Thống Nhất
1.4.1 Bệnh viện Thống Nhất và vai trò phục vụ cán bộ cao cấp
Là các bệnh viện được vinh dự chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho cán bộ trung,cao cấp của Đảng và Nhà nước, phục vụ chăm sóc sức khỏe cho các đại biểu về dựhọp qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, họp Quốc hội, Đại hội các tổ chức đoàn thểquần chúng phục vụ bảo vệ sức khỏe cho các đoàn khách cấp cao nước ngoài sangthăm và các hội nghị quốc tế lớn diễn ra tại Việt Nam Đảm bảo cho các đồng chílãnh đạo Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ có sức khoẻ tốt để gánh vác trọng tráchtrước Dân tộc
Trang 26Là bệnh viện có trách nhiệm cử bác sỹ tháp tùng các đồng chí lãnh đạo đi côngtác, chuẩn bị chu đáo với một tinh thần trách nhiệm cao không để xảy ra bất cứ sơsuất nào ảnh hưởng đến sức khỏe của cán bộ Thực hiện bảo mật tuyệt đối về sứckhoẻ cán bộ, luôn coi tài liệu về sức khoẻ cán bộ là bí mật quốc gia Đảm bảo chínhxác trong công tác chẩn đoán, xác định bệnh, phân loại sức khoẻ cán bộ, phục vụcho công tác chuẩn bị nhân sự trong các kỳ Đại hội Đảng và Quốc hội.
Hiện nay, theo sự phân công của Ban tổ chức Trung ương về chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe cán bộ Trung ương được thực hiện theo vị trí địa lý như sau:
- Bệnh viện Hữu Nghị: quản lý sức khỏe cho cán bộ Trung ương phía Bắc;
-Bệnh viện C Đà Nẵng: quản lý sức khỏe cho cán bộ Trung ương miền Trung;
- Bệnh viện Thống Nhất: quản lý sức khỏe cho cán bộ Trung ương phía
Nam Đối tượng phục vụ cụ thể được quy định như sau:
- Đối tượng A1 gồm nguyên chức và đương chức: Cán bộ đã được công nhận
“Cán bộ hoạt động cách mạng trước năm 1945”, giữ các chức vụ: thứ trưởng, phótrưởng ban Đảng và tương đương; Bộ trưởng, trưởng ban Đảng Trung ương,trưởng đoàn thể Trung ương và tương đương; Ủy viên Trung ương Đảng; Chuyêngia cao cấp; Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương; Chủ tịch HĐND, chủtịch UBND thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
- Đối tượng A2 gồm nguyên chức và đương chức: Cán bộ đã được công nhận
“Cán bộ hoạt động cách mạng trước năm 1945” giữ các chức vụ lãnh đạo cấp cục, vụ,viện và tương đương trở lên; Cán bộ đã được công nhận “Cán bộ hoạt động cáchmạng trước năm 1945”, đã bị tù đày tại các nhà tù của đế quốc; Cán bộ đã được côngnhận “Cán bộ hoạt động cách mạng trước năm 1945”; Cán bộ giữ các chức vụ: thứtrưởng, phó trưởng ban Đảng, phó các đoàn thể Trung ương và các chức vụ tươngđương; Chuyên gia cao cấp; Phó bí thư, chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương; phó chủ tịch HĐND, phó chủ tịch UBND thành phố HàNội, thành phố Hồ Chí Minh; Chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc tổng công tyNhà nước hạng đặc biệt và tương đương được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm; Cán
bộ giữ chức vụ lãnh đạo cấp trưởng của cục, vụ, viện và tương
Trang 27đương có mức lương chuyên môn, nghiệp vụ nhóm ngạch công chức loại A3; Thường
vụ tỉnh ủy, thành ủy; phó chủ tịch HĐND, phó chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương có mức lương chuyên môn, nghiệp vụ nhóm ngạch công chức loạiA3; Đại biểu Quốc hội chuyên trách có mức lương chuyên môn, nghiệp vụ ở nhómngạch loại A3; Cán bộ, công chức có mức lương chuyên môn, nghiệp vụ
ở nhóm ngạch công chức loại A3
- Đối tượng B gồm nguyên chức và đương chức: Cán bộ đã được công nhận là
“Cán bộ hoạt động cách mạng trước năm 1945”; Anh hùng lực lượng vũ trang nhândân, Anh hùng lao động, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; Thầy thuốc nhân dân, Nhàgiáo nhân dân, Nghệ sĩ nhân dân; Cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo cấp cục, vụ, viện vàtương đương có mức lương chuyên môn, nghiệp vụ nhóm ngạch công chức loại A2trở lên; Cán bộ, công chức, viên chức có mức lương chuyên môn, nghiệp vụ nhómngạch công chức loại A2; Cán bộ nữ, cán bộ dân tộc ít người có mức lương chuyênmôn, nghiệp vụ nhóm ngạch công chức loại A2
1.4.2 Khái quát cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập
Cơ chế tự chủ tài chính có thể khái quát đó là các hệ thống các nguyên tắc, luậtđịnh, chính sách, chế độ về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn
vị dự toán các cấp với cơ quan chủ quản và giữa cơ quan chủ quản với cơ quan quản
lý Nhà nước
Cơ chế tự chủ tài chính còn là mối quan hệ tài chính theo phân cấp: Giữachính phủ (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch & đầu tư) với các bộ ngành địa phương;Giữa Bộ chủ quản, Bộ quản lý ngành với các đơn vị trực thuộc ở trung ương, giữaUBND tỉnh với các địa phương; Giữa các đơn vị sự nghiệp, cơ quan quản lý Nhànước với các bộ phận, đơn vị dự toán trực thuộc
Với xu hướng chung của thế giới, Việt Nam cũng đang hướng hoạt động củacác ĐVSNCL theo cơ chế chung “cơ chế tự chủ tài chính” Về cơ bản cơ chế tự chủtài chính là một trong những phương thức của cơ chế quản lý tài chính ĐVSN côngnói chung với mục tiêu tự chủ tài chính Theo Ngân hàng thế giới, mục tiêu "tựchủ", trong đó có tự chủ về tài chính là những cải cách đem lại cho các cơ quan
Trang 28cung ứng dịch vụ công có quyền tự chủ nhiều hơn và dựa vào những khuyến khíchcủa thị trường hoặc "tương tự thị trường" để thúc đẩy việc cải thiện kết quả hoạtđộng của mình Những cải cách này cũng tạo nên các quy tắc trách nhiệm gián tiếp,cho phép nhà quản lý ngày càng có nhiều tự do trong hoạt động điều hành hàngngày Trách nhiệm liên quan tới các dịch vụ bị thua lỗ và các chức năng xã hội kháccũng được làm rõ hơn, và thường có nguồn vốn để đảm bảo cung ứng dịch vụ liêntục.
Để nâng cao năng lực hoạt động và khả năng tự chủ của các ĐVSNCL, ngày25/04/2006 Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP thay thế cho Nghịđịnh Số 10/2002/NĐ- CP về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu.Nghị định này quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổchức bộ máy, biên chế và tài chính đối với ĐVSNCL Qua đó tạo ra cơ chế mới chohoạt động của các ĐVSNCL
Nghị định 43/2006/NĐ-CP đã quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của đơn
vị sự nghiệp có thu và cơ quan quản lý các cấp với các nội dung sau:
- Các đơn vị sự nghiệp có thu được tự chủ tài chính, được chủ động bố trí kinhphí thực hiện nhiệm vụ được giao, được ổn định kinh phí hoạt động thường xuyên doNSNN cấp (với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí) trong thời gian 3 năm Sau
thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp
- Đơn vị sự nghiệp có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tíndụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng vànâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp vớichức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật
- Đơn vị thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theoquy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp Đối với tàisản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồivốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước Số tiền trích khấu haotài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn NSNN đơn vị được
để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp Số tiền trích khấu hao, tiền thu
Trang 29thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay được dùng để trả nợ vay Trường hợp đã trả
đủ nợ vay, đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với sốcòn lại
- Đơn vị sự nghiệp mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoảnkinh phí thuộc NSNN theo quy định của Luật NSNN; được mở tài khoản tiền gửitại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi của hoạtđộng dịch vụ
- Đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động, được tự quyết địnhbiên chế Đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động và đơn vị
sự nghiệp do ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động, căn cứ chứcnăng, nhiệm vụ được giao, nhu cầu công việc thực tế, định mức chỉ tiêu biên chế vàkhả năng tài chính của đơn vị, Thủ trưởng đơn vị xây dựng kế hoạch biên chế hàngnăm gửi cơ quan chủ quản trực tiếp để tổng hợp, giải quyết theo thẩm quyền
- Thủ trưởng đơn vị được quyết định ký hợp đồng thuê, khoán công việc đốivới những công việc không cần thiết bố trí biên chế thường xuyên; ký hợp đồng vàcác hình thức hợp tác khác với chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước đểđáp ứng yêu cầu chuyên môn của đơn vị
- Đơn vị sự nghiệp có các hoạt động dịch vụ phải đăng ký, kê khai, nộp đủ cácloại thuế và các khoản khác (nếu có), được miễn, giảm thuế theo quy định của phápluật
Cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ, tựchịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp có thu về các mặt hoạt động tài chính, tổchức bộ máy và sắp xếp lao động qua đó làm tăng chất lượng hoạt động cung cấpdịch vụ công của đơn vị
1.5 Khái quát cơ chế tự chủ tài chính của Bệnh viện Thống Nhất
1.5.1 Khái quát quản lý tài chính tại Bệnh viện Thống Nhất
Bệnh viện Thống Nhất là một đơn vị sự nghiệp công lập có thu được áp dụng
cơ chế tự chủ tài chính như các đơn vị sự nghiệp công lập có thu khác Cơ chế tựchủ tài chính được hiểu là cơ chế mà các đơn vị sự nghiệp công được trao quyền tự
Trang 30quyết định, tự chịu trách nhiệm về các khoản thu, khoản chi của đơn vị mình nhưngkhông vượt quá mức khung do Nhà nước quy định.
- Về cơ chế tài chính: bệnh viện vận dụng những qui định để thực hiện cácchính sách tài chính trong điều kiện cụ thể, đối với từng loại hình hoạt động
- Chính sách tài chính: là tập hợp có hệ thống các văn bản pháp quy, chỉ rõnghĩa vụ và quyền lợi tài chính của từng hoạt động cụ thể
- Quản lý tài chính trong Bệnh viện: là giám sát thu, chi đảm bảo thực hiệnđúng nguyên tắc quản lý tài chính hiện hành
Hiện nay, việc quản lý tài chính của Bệnh viện Thống Nhất là một nội dung củachính sách kinh tế- tài chính công Chính sách quản lý tài chính ở Bệnh viện ThốngNhất do Bộ Y tế xây dựng với trọng tâm là sử dụng các nguồn lực đầu tư cho ngành y
tế một cách hiệu quả nhất để cung cấp các dịch vụ y tế một cách chất lượng và côngbằng Nó được thể hiện qua hai mặt: Tính hiệu quả, và tính công bằng
- Tính hiệu quả chú trọng đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực như: trình độ,trang thiết bị kỹ thuật, nhân lực, hiệu lực quản lý hành chính và chất lượng dịch vụ
y tế tốt nhất để cung cấp cho cán bộ và nhân dân
- Tính công bằng đòi hỏi cung cấp dịch vụ y tế bằng nhau cho những người cómức độ bệnh tật như nhau không phân biệt đối tượng, thỏa mãn nhu cầu khám chữabệnh của mọi người khi ốm đau theo một mặt bằng chi phí nhất định
không đòi hỏi khả năng chi trả của người bệnh là điều kiện tiên quyết
Do đó, quản lý tài chính ở Bệnh viện Thống Nhất còn được hiểu là việc quản
lý toàn bộ các nguồn lực của bệnh viện để phục vụ nhiệm vụ khám chữa bệnh, đàotạo và nghiên cứu khoa học
1.5.2 Nội dung quản lý tài chính trong Bệnh viện Thống Nhất
- Sử dụng và quản lý các nguồn kinh phí Ngân sách Nhà nước cấp và cácnguồn sự nghiệp khác được coi như là Ngân sách Nhà nước cấp như: thu viện phítrực tiếp, thu viện phí bảo hiểm y tế, nguồn viện trợ tài trợ, nguồn thu khác từ hoạtđộng kinh doanh dịch vụ, … một cách hiệu quả nhất và tuân theo đúng quy định củaNhà nước;
Trang 31- Thực hiện các khoản thu hợp pháp, cân đối thu chi, sử dụng hợp lý các khoảnchi có hiệu quả, chống lãng phí, thực hành tiết kiệm;
-Thực hiện chính sách ưu đãi cho các đối tượng ưu đãi xã hội và người nghèo,người có công với đất nước và đảm bảo công bằng về khám, chữa bệnh Từng bước tiến tới hạch toán chi phí và giảm giá thành khám chữa bệnh
1.5.3 Mục tiêu của quản lý tài chính trong bệnh viện
- Duy trì quản lý thu chi: đây là điều kiện tiên quyết và bắt buộc của quản lýtài chính bệnh viện và cũng là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả của cơ chế quản lýtài chính mới
- Nhân viên phải hài lòng với chính sách đãi ngộ của bệnh viện: đời sống cán
bộ công nhân viên được cải thiện và ngày càng được nâng cao, cải thiện phươngtiện làm việc, xây dựng và giữ gìn văn hóa Bệnh viện
- Bệnh viện phải cải thiện phát triển cơ sở vật chất, phát triển các phòng khámchuyên khoa, mở rộng các kỹ thuật chuyên sâu mũi nhọn Công bằng y tế phải luônluôn đặt lên hàng đầu, chất lượng phục vụ như nhau cho toàn bộ các đối tượngNhư vậy, quản lý tài chính bệnh viện phải đáp ứng cùng lúc bốn đối tác: BanGiám đốc bệnh viện, Bệnh nhân, nhân viên trong bệnh viện và Nhà nước Đó là:Yêu cầu của Ban giám đốc: hoàn thành trách nhiệm thực hiện quản lý thu chi
1.6 Các quy định về cơ chế tự chủ tài chính
- Phân loại đơn vị: tự bảo đảm một phần chi phí họat động;
- Được chủ động sử dụng ngân sách và các nguồn thu giao tự chủ cho hoạtđộng của đơn vị, có chênh lệch thu chi được chi thu nhập tăng thêm không quá 2 lần quỹ lương, trích lập các quỹ;
- Được liên doanh, liên kết để hoạt động dịch vụ, đáp ứng nhu cầu phục vụ bệnh nhân Giá do nhà nước ban hành theo mức quy định;
- Được quyết định một số mức chi cao hoặc thấp hơn để đáp ứng yêu cầu
1.6.1 Các nguồn thu và quản lý nguồn thu tại bệnh viện
Các nguồn thu của bệnh viện được quy định như sau:
Trang 32- Nguồn tài chính từ NSNN cấp: vì bệnh viện là đơn vị tự đảm bảo một phầnchi phí họat động, do đó hàng năm NSNN cấp kinh phí cho bệnh viện để đầu tưtrang thiết bị phục vụ chuyên môn và chi trả lương, phụ cấp cho người lao độngtrong biên chế của Bộ Y tế Hàng năm theo Luật ngân sách thì Quốc hội, Chính phủ,
Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài Chính quyết định cấp một khoản cho ngân sách y tế,trong đó phần quan trọng là cho các Bệnh viện (khối khám chữa bệnh), các viện cógiường bệnh Tỷ lệ NSNN này căn cứ vào sự tăng trưởng NSNN hàng năm củaquốc gia, căn cứ vào nhiệm vụ, kế hoạch của ngành y tế, của các Bệnh viện, và kếhoạch hàng năm của ngành, khối khám chữa bệnh
- Nguồn thu viện phí trực tiếp và qua bảo hiểm y tế: Đây là một nguồn thuquan trọng và chủ yếu của Bệnh viện Theo quy định của Bộ Tài chính nước ta,nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế chiếm một phần quan trọng trong ngân sách sựnghiệp y tế của Nhà nước, giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng để đảm bảo chấtlượng khám, chữa bệnh cho cán bộ và nhân dân Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y
tế chiếm tỷ trọng 70% ở Bệnh viện Thống Nhất
Đối với việc khám bệnh theo yêu cầu thì mức thu được bệnh viện xây dựng,tính tóan trên cơ sở hạch toán đầy đủ chi phí, đảm bảo có chênh lệch thu chi và thựchiện đầy đủ nghĩa vụ với NSNN
Đối với người có thẻ BHYT thì cơ quan bảo hiểm phải thanh toán viện phícho bệnh nhân, mức thu được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
- Nguồn viện trợ tài trợ và các nguồn thu khác: được Chính phủ Việt Nam quyđịnh là một phần ngân sách của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng.Đây là một nguồn kinh phí khá quan trọng Có rất nhiều nguồn viện trợ: Chính phủ,Phi Chính phủ, các hội từ thiện, các cá nhân, các chương trình dự án nước ngoài Tuy nhiên bệnh viện thường phải chi tiêu theo những nội dung đã định từ phía nhàtài trợ
- Ngoài ra các Bệnh viện còn có các nguồn thu khác như sau:
+ Thu do bán tài sản cố định thanh lý: các Bệnh viện được phép thanh lýnhượng bán tài sản vật tư thuộc đơn vị mình quản lý nay không còn sử dụng nữa
Trang 33+ Dịch vụ suất ăn bệnh lý: Trong điều kiện hiện nay, ở một số bệnh viện có tổchức một số hoạt động sản xuất kinh doanh có thu xuất phát từ nhu cầu của ngườibệnh Bệnh viện đã tổ chức suất ăn bệnh lý phù hợp với chế độ dinh dưỡng chotừng loại bệnh khác nhau:
+ Nguồn thu từ trông giữ xe;
+ Thu dịch vụ quầy bách hóa căng tin, nhà thuốc Bệnh viện;
1.6.2 Các khoản chi và quản lý khoản chi tại bệnh viện
Chi là quá trình phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm duy trì sự tồntại và hoạt động của Bệnh viện nhằm thực hiện các chính sách và chăm sóc sứckhỏe cho cán bộ và nhân dân
Các khoản chi tại Bệnh viện Thống Nhất: Chi thường xuyên; Chi nghiệp vụchuyên môn; Chi đầu tư, xây dựng cơ bản; Các khoản chi khác Cụ thể như sau:
- Nhóm I: Chi cho con người
Đây là khoản chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân sách cấpcho Bệnh viện Bao gồm các khoản chi về lương, thưởng, phụ cấp lương, phúc lợitập thể, các khoản đóng góp Trong đó:
+ Tiền lương: Lương bậc ngạch, lương tập sự, lương hợp đồng
+ Phụ cấp: Phụ cấp trách nhiệm, chức vụ, phụ cấp làm thêm, phụ cấp lưu động,phụ cấp độc hại và nguy hiểm (được tính theo chế độ hiện hành, kể cả nâng bậc lươnghàng năm trong từng đơn vị hành chính sự nghiệp) và các khoản phải nộp
theo lương: bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí côngđoàn Đây là khoản bù đắp hao phí sức lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sảnxuất sức lao động cho bác sỹ, y tá, cán bộ công nhân viên của bệnh viện
+ Tiền thưởng: Thưởng thường xuyên, đọt xuất và các loại thưởng khác
Trang 34+ Phúc lợi tập thể: Trợ cấp khó khăn thường xuyên, đột xuất và các phúc lợikhác.
- Nhóm II: : Chi nghiệp vụ chuyên môn
Nhóm này bao gồm thứ nhất: các khoản chi thanh toán dịch vụ công cộng (tiềnđiện, tiền nước, nhên liệu, vệ sinh môi trường và các dịch vụ công khác ); chi vật
tư văn phòng (văn phòng phẩm, công cụ dụng cụ vật tư văn phòng khác ); chithông tin liên lạc (điện thoại, fax, tuyên truyền, truyền thông và thông tin liên lạckhác), chi hội nghị, chi công tác phí… các khoản chi này mang tính gián tiếp nhằmduy trì hoạt động của bộ máy quản lý của bệnh viện Do đó, các khoản chi này đòihỏi phải chi đúng, chi đủ , chi kịp thời và cần sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả
Trước đây trong cơ chế cũ các khoản chi này bị khống chế bởi quy định củaNhà nước Tuy nhiên, khi đổi mới cơ chế làm việc Bệnh viện chủ động xây dựngtiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội bộ căn cứ trên cơ sở định mức kinh tế
kỹ thuật và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước để đảm bảo hoạt độngthường xuyên cho phù hợp với hoạt động đặc thù của bệnh viện, đồng thời tăngcường công tác quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả trong phạm vi nguồn tàichính của mình Cùng với việc chủ động đưa ra định mức chi, các Bệnh viện cũngcần phải xây dựng một chính sách tiết kiệm và quản lý chặt chẽ hơn nữa các khoảnchi tiêu của mình Điều này sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí, và tăng thêm kinh phí
sử dụng cho các nhóm khác
Thứ hai là các khoản chi mua hàng hoá, vật tư, trang thiết bị chuyên dụngdùng cho công tác chuyên môn và KCB; trang thiết bị kỹ thuật; sách, vở tài liệuchuyên môn y tế… Đây là khoản chi quan trọng nhất vì nó có tác động trực tiếpđến công tác KCB Có thể nói đây là các khoản chi quan trọng nhất đòi hỏi phải mấtnhiều công sức về quản lý, phụ thuộc chủ yếu vào cơ sở vật chất và quy mô hoạtđộng của bệnh viện
Đây là nhóm tiêu dùng thiết yếu nhất, thực hiện dựa theo nhu cầu thực tế nênNhà nước ít khống chế việc sử dụng kinh phí cho nhóm chi này Nhóm chi cho
Trang 35nghiệp vụ chuyên môn có liên hệ chặt chẽ và rất mật thiết với chất lượng chăm sócbệnh nhân và mục tiêu phát triển bệnh viện.
Vấn đề được đặt ra trong việc quản lý nhóm chi này là do những quy địnhkhông quá khắt khe của nhà nước đòi hỏi các nhà quản lý phải biết sử dụng nguồntài chính 1 cách linh hoạt đúng mức và thích hợp, tránh làm mất cân đối thu chinhưng vẫn giữ được chất lượng điều trị hiệu quả và nhất là tiết kiệm được kinhphí, tránh lãng phí như: chi thuốc không quá 70% nhóm chi chuyên môn
- Nhóm III: Chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định
Đây là nhóm chi rất quan trọng và không thể thiếu được Có thể nói đây lànhóm chi mà các nhà quản lý bệnh viện đều rất quan tâm vì nhóm này chủ yếu đầu
tư trang thiết bị y tế phục vụ chuyên môn kỹ thuật Hàng năm, do sự xuống cấp tấtyếu của tài sản cố định dùng cho hoạt động khám chữa bệnh cũng như quản lý nênthường phát sinh nhu cầu sử dụng kinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc phụchồi giá trị sử dụng cho những tài sản cố định đã xuống cấp Với bốn mục tiêu chính:phát triển cơ sơ vật chất, tiện nghi làm việc, trang thiết bị, kiến thức, kỹ năng nhânviên
+ Về sửa chữa: Bệnh viện Thống Nhất đều đang trong giai đoạn xuống cấp vàcần phải sửa chữa, nâng cấp, mở rộng rất nhiều Nhưng đây là nhóm chi được nhànước quy định rất chặt chẽ trong từng công việc: sửa chữa nhỏ và sửa chữa lớn Khinhóm chi này có phát sinh bệnh viện phải xin phê duyệt kế họach và kinh phí củađơn vị chủ quản Điều này đòi hỏi phải phát huy năng lực quản lý tốt trong nhómchi này nhằm bảo toàn trị giá vốn trong sửa chữa để có kết quả tốt trong việc sửdụng hiệu quả nguồn vốn bỏ ra
+ Về việc mua sắm tài sản cố định: gồm hoạt động mua sắm trang thiết bịphục vụ chuyên môn Do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trang thiết bị chokhám chữa bệnh, việc đổi mới không ngừng và ngày càng hiện đại, sử dụng kỹ thuậtngày càng cao để đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh Nhưng hầu hết các trangthiết bị này lại được sản xuất ở nước ngoài, giá cả cao Việc mua sắm này phải tuânthủ theo các quy định và thủ tục của Nhà nước đồng thời bệnh viện cũng phải
Trang 36có một chiến lược quản lý lâu dài để có thể sử dụng công nghệ một cách đạt hiệu quả nhất.
- Nhóm IV: là các khoản chi khác có phát sinh không thường xuyên, đột xuất
và không thuộc các khoản chi trên
1.7 Vai trò và sự cần thiết của tự chủ tài chính đối với đơn vị Bệnh viện Thống Nhất
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, Nhànước đã ban hành các văn bản chính sách nhằm từng bước đổi mới cơ chế hoạtđộng của các đơn vị sự nghiệp công lập như:
- Đổi mới cơ bản việc quản lý các đơn vị sự nghiệp công nói chung và cácbệnh viện nói riêng, theo nguyên tắc: Cơ quan quản lý nhà nước không làm thay,không can thiệp sâu vào hoạt động nội bộ của bệnh viện
- Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các BV trong tổ chức thực hiệnnhiệm vụ, tổ chức sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động gắn với chất lượng và hiệuquả công việc
- Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính Khuyến khích các bệnh viện huy động vốn để đầu tư, phát triển, mở rộng các dịch vụ
Cơ chế tự chủ tài chính là nhu cầu tất yếu khi Nhà nước thực hiện chủ trươngtrao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp Nhà nước với vai trò quản lý, xây dựng
cơ chế nhằm đảm bảo cho hệ thống các đơn vị trực thuộc hoạt động ổn định theođịnh hướng chung Cơ chế ban hành mang tính chất hướng dẫn, khuyến khích vàkiểm soát
Cơ chế tự chủ tài chính tạo hành lang pháp lý cho quá trình hoạt động đơn vị sựnghiệp y tế công Nó bao gồm hệ thống các văn bản pháp luật như: Thông tư, Nghịđịnh, Quyết định v.v… tạo cơ sở hoạt động cho các đơn vị sự nghiệp công lập Hiệnnay Nghị định 43 cùng các văn bản pháp luật đi kèm nhấn mạnh 5 nội dung như: Hoànthiện thể chế về cơ cấu và phương thức đầu tư của NSNN; Hoàn thiện cơ chế tự chủđối với các đơn vị sự nghiệp công lập; xác định khung giá, phí dịch vụ sự nghiệp côngtừng bước được tính đúng tính đủ chi phí tiền lương, chi phí thường
Trang 37xuyên theo lộ trình phù hợp; thực hiện cơ chế đặt hàng, mua hàng, giao nhiệm vụcung ứng dịch vụ công; đẩy mạnh việc thực hiện chính sách khuyến khích xã hộihóa dịch vụ sự nghiệp công; tăng cường hoàn thiện các công cụ quản lý và vai tròkiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước.
Thông qua cơ chế tự chủ tài chính, Nhà nước có thể phân phối, sử dụng cácnguồn tài chính đáp ứng duy trì hoạt động và phát triển của đơn vị, thúc đẩy sửdụng kinh phí tiết kiệm, có hiệu quả
Cùng với vai trò khuyến khích xã hội hóa dịch vụ công, cơ chế tự chủ tài chínhcòn làm tăng tính năng động sáng tạo và ý thức tự chịu trách nhiệm trong hoạt độngcủa các đơn vị sự nghiệp y tế công lập Khi được trao quyền tự chủ, các đơn vị sựnghiệp y tế công lập sẽ chú trọng vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động Qua đókích thích sự sáng tạo trong suy nghĩ và cách làm, phát huy khả năng sáng tạo củamỗi cá nhân
Tuy nhiên cần hiểu rõ trao quyền tự chủ không đồng nghĩa với trao quyền tự
do, quyền đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ Với mục đích quản lý, cơ chế tự chủcòn bao hàm vai trò kiểm tra, giám sát đối với các đơn vị được trao quyền tự chủ.Các quy định về kiểm tra, giám sát là cơ sở để các cơ quan chức năng xử lý viphạm Vì vậy nó giúp hình thành ý thức tự chịu trách nhiệm trong mỗi đơn vị
Cơ chế tự chủ tài chính đang dần tạo ra những chuyển biến xuất phát từ nội tạicho các đơn vị sự nghiệp công lập Thông qua cơ chế giao quyền tự chủ, bệnh viện
sẽ định hướng lại tổ chức và mục tiêu phát triển Trong đó, quá trình tạo lập và sửdụng nguồn tài chính trong các bệnh viện được chú trọng hơn
1.8 Kinh nghiệm quản lý tài chính ở bệnh viện của một số nước trên thế giới 1.8.1 Hệ thống bệnh viện công lập thuộc các nước Đông Âu
Tại các nước Đông Âu (OECD), hệ thống bệnh viện công là nhà cung cấp dịch
vụ y tế chiếm ưu thế Hệ thống bệnh viện công do Nhà nước đảm bảo phần lớn nguồntài chính từ thuế và bảo hiểm y tế thông qua cấp kinh phí ngân sách và lương
Các nguồn tài chính của bệnh viện công của OECD gồm:
Trang 38- NSNN cấp: là nguồn tài chính chủ yếu cho hoạt động của bệnh viện Các tổchức Nhà nước quyết định việc đầu tư trong bệnh viện Về cơ bản, tất cả các quyếtđịnh đầu tư nằm trong tay Chính phủ, hầu như không có tự đầu tư của các bệnh viện.
- Nguồn từ BHXH bắt buộc: tất cả những người sử dụng lao động và ngườilao động buộc phải đóng góp BHXH Nhìn chung từ cuối những năm 1990, đây trởthành nguồn chính cho hoạt động của các bệnh viện công ở Đông Âu Tuy nhiên,ràng buộc ngân sách đối với các quỹ này rất mềm: Nhà nước bù đắp cho thâm hụtngân sách BHYT, do vậy càng khuyến khích việc chấp nhận lãng phí
- Thanh toán trực tiếp: tất cả các nước Đông Âu đều đưa ra hệ thống đồngthanh toán BHXH cấp tài chính phần lớn các chi phí nhưng được bổ sung bằng cáckhoản thanh toán trực tiếp từ bệnh nhân Có một điểm cần nhấn mạnh là việc thựchiện đồng thanh toán ở Đông Âu rất rời rạc và chỉ áp dụng ở một bộ phận nhỏ
các dịch vụ Bệnh nhân trả trực tiếp cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhưng đồngthời cũng đưa tiền bồi dưỡng (tiền tip) nửa hợp pháp hay bất hợp pháp cho các bác
sỹ Và điều này xảy ra khá thường xuyên
Về chi của các bệnh viện công tại các nước Đông Âu:
- Các định mức chi tiêu của bệnh viện do Nhà nước hoặc BHXH định ra Cácbệnh viện công ở các nước Đông Âu hoạt động trên nguyên tắc bù đắp chi phí bằngthu nhập; họ không có quyền chi tiêu vượt quá ngân sách được phân bổ Song trênthực tế các bệnh viện thường chi vượt thu và phần thâm hụt này thường đượcNSNN bù đắp Điều đáng nói ở đây là các ràng buộc ngân sách khá mềm - Nhànước không đòi hỏi kỷ luật tài chính đối với khu vực bệnh viện công Điều này đểngỏ cho con đường lãng phí nguồn lực
Đối với các bác sỹ làm việc trong bệnh viện công ở Đông Âu có tư cách viênchức Nhà nước, xếp hạng trong bộ máy thứ bậc quan liêu theo vị trí và thâm niêncông tác Lương của họ phụ thuộc vào ngân sách phân bổ cho trả lương nhân viên,phụ thuộc vào tình trạng tài khoá của Nhà nước và đặc biệt vào cấp bậc gắn vớitừng cá nhân trong cơ cấu lương quan liêu Hình thức trả lương này gây sự phânbiệt không ngừng so với thu nhập ở các lĩnh vực khác đồng thời không xứng đáng
Trang 39với công sức mà các bác sỹ bỏ ra Do đó, hiện tượng các bác sỹ có “thu nhập thứhai” rất phổ biến: đó là các khoản tiền bồi dưỡng, tiền biếu của bệnh nhân Trongmột khảo sát ở Hungary năm 1998: hơn 3/4 dân chúng được hỏi nói rằng có thông
lệ biếu tiền bác sỹ khi đến khám chữa bệnh tại bệnh viện và khi hỏi các bác sỹ kếtquả cũng tương tự: khoảng 75-85% bác sỹ nhận tiền biếu từ bệnh nhân
1.8.2 Mô hình bệnh viện công của Trung Quốc
Hệ thống bệnh viện công ở Trung Quốc gồm ba tuyến dịch vụ chủ yếu:
- Trạm y tế thôn bản: làm nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ ngoại trú để điều trịcác bệnh thông thường, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em và các dịch vụ tiêm chủng
- Bệnh viện xã/ phường/ thị trấn: cung cấp các dịch vụ ngoại trú điều trị các bệnh thông thường và tiểu phẫu đơn giản
- Bệnh viện huyện: cung cấp các dịch vụ nội trú và ngoại trú, kể cả các phẫu thuật phức tạp
Với chính sách tài chính cho y tế của Nhà nước: giảm chi NSNN cho các cơ sở
y tế; đẩy mạnh phương thức thanh toán theo dịch vụ (đặc biệt là phí sử dụng dịchvụ) và đưa vào áp dụng cơ chế đồng thanh toán cho những người có bảo hiểm Nhànước hoặc bảo hiểm lao động Hệ thống bệnh viện công của Trung Quốc hiện nayphụ thuộc quá nhiều vào nguồn thu nhập từ phí sử dụng dịch vụ Các khoản thưởngcho cán bộ bệnh viện cũng là cách khuyến khích tăng nguồn thu từ cung cấp dịch vụcàng nhiều càng tốt Và Trung Quốc là quốc gia có mức viện phí khá cao
Trong khi mức viện phí cao, BHYT giảm: tỷ lệ người dân tham gia BHYT từ71% năm 1981 xuống còn 21% tổng dân số vào năm 1993 Số BHYT này lại tập trungvào vùng thành thị mà chủ yếu cho nhóm dân cư khá giả Thực tế này đã gây ra tìnhtrạng mất công bằng trong chăm sóc sức khoẻ: gánh nặng viện phí chuyển từ nhóm cóthu nhập cao sang nhóm có thu nhập thấp, từ người khoẻ mạnh sang người ốm yếu, từ
độ tuổi lao động sang người già và trẻ em Mức viện phí cao đồng thời cũng là rào cảnđối với người dân tiếp cận các dịch vụ y tế Một cuộc điều tra tiến hành năm 1992-
1993 tại Trung Quốc cho thấy: 60% bệnh nhân được bác sỹ ký giấy
Trang 40chuyển viện không nhập viện do giá viện phí cao; 40% số người ốm nặng đều nóirằng họ đã không tìm kiếm các dịch vụ y tế vì chi phí quá cao.
1.8.3 Hệ thống bệnh viện của Mỹ
Mỹ là quốc gia điển hình đại diện cho các nước có hệ thống bệnh viện tư, tựhạch toán Tuy nhiên nếu nói ở Mỹ hầu như chỉ có các tổ chức tư nhân hoạt động vìmục đích lợi nhuận cung ứng các dịch vụ y tế là sai lầm mặc dù đây là hình thứcchiếm tỷ trọng đáng kể song không phải là áp đảo Tại Mỹ còn có nhiều bệnh việnthuộc nhà thờ, thuộc các Quỹ, thuộc trường học… Song điều đáng chú ý ở Mỹ làcác hình thức sở hữu không cứng nhắc: có thể dễ dàng chuyển từ bệnh viện côngthành bệnh viện tư hoặc ngược lại
Hệ thống bệnh viện tại Mỹ hoàn toàn dựa vào khoản thanh toán từ các quỹBHYT, BHXH và thu viện phí trực tiếp hoặc thu phí đồng chi trả BHYT Nhà nướcchỉ cung cấp tài chính cho bệnh viện qua: chương trình bảo hiểm sức khoẻ chongười cao tuổi (Medicare), và cho người nghèo (Medicaid) Ngoài ra Nhà nướctrực tiếp tài trợ cho nghiên cứu y khoa và đào tạo bác sỹ
Với cách tổ chức trên đã khuyến khích tính hiệu quả trong y tế Không thể phủnhận một điều rằng Mỹ là quốc gia đi dầu trên thế giới trong lĩnh vực áp dụng cáctiến bộ y khoa vào thực tiễn Theo lời ông Donna Shalala, người giữ chức Bộtrưởng Bộ Sức khoẻ và Con người lâu nhất trong lịch sử Mỹ: “Hệ thống của chúng
ta là hệ thống chăm sóc sức khoẻ tốt nhất thế giới Tuy vậy, hệ thống của chúng ta
có thể là tệ hại, đặc biệt là với những người không được điều trị đủ sớm”
Đó là một phần đáng kể dân chúng Mỹ, khoảng 15% hay trên 40 triệu ngườikhông có BHYT Hơn thế nữa là vấn đề ít được nhiều người biết đến nhưng rấtnghiêm trọng, đó là vấn đề “Bảo hiểm thấp” Các khoản chi tiêu trong khám chữabệnh tại Mỹ là khá cao và tăng nhanh liên tục Một số nhân tố tạo ra sự tăng nhanhlà:
- Thứ nhất, chính công dân tự quyết định chi cho bảo vệ sức khoẻ là bao nhiêu
từ tổng chi tiêu trong gia đình nên khoản chi này được hưởng ưu tiên cao hơn sovới khi nhà chính trị quyết định phân chia các khoản chi tiêu ngân sách