1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận dạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của quá trình tố chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin tại các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh bình định

120 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 3,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về cách thức tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT nhưng chưa có nghiên cứu nào xem xét xem các yếu tố nào sẽ ảnh hưởng, quyết định sự th

Trang 1

-

ĐÀO NHẬT MINH

NHẬN DẠNG CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

SỰ THÀNH CÔNG CỦA QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC

CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG ĐIỀU KIỆN

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI

CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2013

Trang 2

-

ĐÀO NHẬT MINH

NHẬN DẠNG CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

SỰ THÀNH CÔNG CỦA QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC

CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG ĐIỀU KIỆN

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI

CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

Trang 3

“Nhận dạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng Công nghệ thông tin tại các DN chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Định” là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Đây là đề tài luận văn Thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành Kế toán – Kiểm toán Luận văn này chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào

Tác giả

Đào Nhật Minh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG BIỂU

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1

3

3

3

3 4

5

5

5

7

1.1 Các nghiên cứu về các yếu tố đánh giá sự thành công của việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán 7

1.2 Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng sự thành công của việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán 9

16

2.1 16

2.1.1 Tổng quan về tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT 16

2.1.2 Quy trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT 17

2.1.3 Nội dung công tác tổ chức kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT 18

2.2 Mô hình các yếu tố đánh giá sự thành công của quá trình tổ chức AIS trong điều kiện ứng dụng CNTT 29

34

43

3.1 43

Trang 5

44

3.2 Thiết kế thang đo và bảng câu hỏi khảo sát 44

3.2.1 Thiết kế thang đo 44

45

3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 46

46

47

47

49

4.1 Phân tích độ tin cậy thang đo và dữ liệu khảo sát 49

4.2 Phân tích sự khác biệt quan niệm giữa các đối tượng khảo sát về yếu tố ảnh hưởng sự thành công của quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT tại các DN chế biến gỗ Bình Định 50

4.3 Đánh giá tổng quát trung bình các thành phần nhóm yếu tố 53

4.4 Phân tích khám phá các nhóm yếu tố mới 57

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

5.1 Kết luận kết quả nghiên cứu 62

5.1.1 Kết luận sau khi kiểm định Cronbach’ Alpha 62

5.1.2 Kết luận sau khi kiểm định Kruskal – Wallis & ANOVA 62

5.1.3 Kết luận sau khi sử dụng thống kê mô tả để đánh giá tổng quát trung bình các thành phần nhóm yếu tố 64

5.1.4 Kết luận sau khi sử dụng phân tích khám phá yếu tố (EFA) 65

5.1.5 Kết luận trả lời các câu hỏi nghiên cứu 656

5.2 Kiến nghị 68

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 69

KẾT LUẬN 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

AIS Hệ thống thông tin kế toán (Accounting Information System)

IS Hệ thống thông tin (Information system)

IT Công nghệ thông tin (Information technology)

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Các yếu tố tiềm năng ảnh hưởng sự thành công của IS 14

Hình 2.1 Mô hình đánh giá sự thành công (dựa theo mô hình Mô hình cập nhập sự thành công của IS theo McLean & DeLone, 2003) 34

Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu 41

44

DANH MỤC BẢNG BIỂU Thang đo nghiên cứu 45

Bảng 4.1 Kết quả kiểm định khác biệt quan điểm giữa các đối tượng khảo sát 52

Bảng 4.2 Mô tả thống kê các biến quan sát 54

Bảng 4.3 Mô tả thống kê các nhóm yếu tố 55

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 đề tài

Công nghệ thông tin đã và đang đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình quản trị DN, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Sự phát triển

và ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý DN đang là xu thế tất yếu của thời đại

Và điều đó đang làm thay đổi về cơ cấu quản lý, cách thức hoạt động kinh doanh của

DN, chuyển dần các hoạt động, giao dịch truyền thống sang những hoạt động có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin như giao dịch điện tử, sử dụng ERP trong quản lý… tạo nên những lợi thế cạnh tranh của DN trong thời đại hiện nay thông qua việc ứng dụng các hệ thống quản lý tiên tiến Điều này đòi hỏi các nhà quản lý phải có những thay đổi phù hợp trong cơ cấu tổ chức, phương pháp quản lý DN để đáp ứng trong thời đại mới

Những thay đổi và tác động từ quá trình ứng dụng công nghệ thông tin đối với

DN không thể không ảnh hưởng đến công tác kế toán Hệ thống kế toán cũng đã có những sự thay đổi mạnh mẽ dưới tác động của công nghệ thông tin Tổ chức công tác

kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin có những đặc thù riêng biệt, khác xa so với tổ chức kế toán trong điều kiện thủ công trước đây Tính bảo mật dữ liệu, ứng dụng điện toán đám mây, chữ kí số…là những vấn đề được bàn tới hiện nay khi một DN dự định tổ chức một hệ thống kế toán Vai trò người kế toán trong hệ thống kế toán ứng dụng công nghệ thông tin cũng khác hơn trước đây rất nhiều, họ phải làm việc trong một môi trường thường xuyên thay đổi Đó là những thay đổi về ứng dụng công nghệ thông tin trong kế toán, thay đổi trong quy trình xử lý và cung cấp thông tin kế toán để DN có thể đạt được các mục tiêu quản lý đã thiết lập Và quan trọng hơn nữa, vai trò người kế toán không chỉ là thực hiện công việc ghi chép, lập báo cáo như trước kia mà còn tham gia vào các đội dự án để phân tích, thiết kế và đánh giá một hệ thống thông tin kế toán

Bình Định là địa phương nằm ở duyên hải miền Trung, có vị trí địa lý thuận lợi, giao thông tương đối hoàn thiện, tài nguyên phong phú, lại nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Đây là những lợi thế để Bình Định thúc đẩy phát triển công nghiệp nói chung trong đó có ngành chế biến gỗ nói riêng Bình Định là một trong bốn trung tâm chế biến gỗ xuất khẩu lớn của Việt Nam

Trang 8

So với các doanh nghiệp sản xuất khác thì đặc điểm của các DN chế biến gỗ là hoạt động không liên tục, thường tập trung sản xuất khi có đơn hàng, mang tính thời

vụ Vì vậy, công việc kế toán nhiều khi phát sinh rất nhiều trong một giai đoạn nhất định, cần một hệ thống xử lý nhanh chóng, kịp thời để phục vụ tốt việc sản xuất, kinh doanh

Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay, khi mà sự cạnh tranh diễn ra gay gắt thì thông tin kế toán mà các nhà quản trị doanh nghiệp cần không chỉ gói gọn trong phạm

vi báo cáo tài chính, mà quan trọng hơn họ cần các thông tin kế toán quản trị để có thể

dự báo tình hình sản xuất kinh doanh, xem xét tiềm lực của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh cùng ngành… Nhằm giúp đưa ra các quyết định kinh doanh chính xác Vì vậy, việc ứng dụng CNTT vào công tác kế toán để có được các thông tin đa chiều, kịp thời gần như là yêu cầu bắt buộc

Theo kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Nguyên (2011), tại Bình Định số lượng các DN chế biến gỗ năm 2007 là 79 doanh nghiệp và cơ sở, với số vốn dưới 10 tỷ đồng (chiếm 35%) Sau 5 năm, số lượng tăng lên 171 DN và cơ sở, trung bình hàng năm tăng 21,3%/năm Trong đó, quy mô về nguồn vốn dưới 10 tỷ đồng có 86 đơn vị (chiếm 50%), các DN có qui mô nguồn vốn trên 200 tỷ đồng chỉ chiếm 5,2%, tương ứng với 9 đơn vị Như vậy, đa phần các DN chế biến gỗ Bình Định có quy mô nhỏ và vừa, các DN có nguồn lực tài chính mạnh rất ít

Về nguồn nhân lực, số lao động của ngành chế biến gỗ Bình Định bình quân giai đoạn 2007-2012 khoảng 40.167 người (chiếm 70% trong ngành công nghiệp chế biến) So với mặt bằng khảo sát chung của 120 DN chế biến gỗ cả nước thì ngành chế biến gỗ Bình Định có trình độ cán bộ quản lý từ cao đẳng, đại học và trên đại học đạt 78,4%, công nhân có trình độ sơ cấp và kỹ thuật trở lên gần 80% là mức cao của cả nước Trong đó, nhân lực ngành kế toán đa phần có trình độ cao đẳng, đại học trở lên, tuy nhiên mức độ am hiểu về CNTT theo khảo sát còn yếu so với mặt bằng chung của

cả nước

Tuy đa phần là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trình độ nhân lực còn nhiều hạn chế nhưng để có thể tồn tại và phát triển trong thời đại công nghệ ngày nay, đáp ứng yêu cầu quản lý, sản xuất kinh doanh trong giai đoạn mới, các DN chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Định cũng đã có những sự đầu tư lớn nhằm ứng dụng công nghệ thông

Trang 9

tin vào trong các hoạt động của DN, trong đó tổ chức công tác kế toán là lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu vì trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, khi mà các vấn đề cạnh tranh để tồn tại và phát triển giữa các DN diễn ra có tính chất thường xuyên, phức tạp và mang tính khốc liệt thì chất lượng thông tin của kế toán được khẳng định như là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đảm bảo sự an toàn và khả năng mang lại thắng lợi cho các quyết định kinh tế Để thông tin kế toán thực sự hữu ích, phục vụ kịp thời cho các đối tượng sử dụng thì việc tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin một cách khoa học và hợp lý là vô cùng quan trọng, nó quyết định sự sống còn và phát triển của DN trong tương lai

Đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về cách thức tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT nhưng chưa có nghiên cứu nào xem xét xem các yếu tố nào

sẽ ảnh hưởng, quyết định sự thành công đó, vì vậy tác giả đã quyết định nghiên cứu đề

tài “Nhận dạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của quá trình tổ chức

công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng Công nghệ thông tin tại các DN chế biến

tổ chức công tác kế toán có thể gắn kết bài giảng lý thuyết và thực tế tại các doanh nghiệp

b

Liên quan tới đề tài, 3 mục tiêu đặt ra cần giải quyết đó là:

Tìm hiểu lý thuyết, các công trình nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước trước đây về quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin, các yếu tố đánh giá sự thành công và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của quá trình này

Trang 10

Nhận dạng ra các yếu tố ảnh hưởng sự thành công của quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT tại các DN chế biến gỗ Bình Định

Đề ra các kiến nghị để giúp các DN chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Định

có thể tổ chức thành công công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng Công nghệ thông tin với chi phí thấp nhất

3

(1) Liệu các nhóm người khảo sát khác nhau có quan điểm khác nhau về các yếu

tố ảnh hưởng sự thành công của quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện tin học hóa hay không?

(2) Những nhóm yếu tố nào ảnh hưởng sự thành công của quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện tin học hóa tại các DN chế biến gỗ Bình Định? Mức

độ xếp hạng ảnh hưởng của các yếu tố này tới sự thành công của việc tổ chức?

(3) Có những nhóm yếu tố mới nào được khám phá ảnh hưởng tới sự thành công của quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện tin học hóa tại các DN chế biến

gỗ Bình Định

Để xử lý đưa ra kết luận cho từng câu hỏi, đề tài xây dựng giả thiết nghiên cứu

tương ứng như sau:

Câu hỏi (1): Liệu các nhóm người khác nhau có quan điểm khác nhau về các yếu

tố ảnh hưởng sự thành công của quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện tin học hóa hay không?

Ho: các nhóm đối tượng khác nhau có quan điểm về các yếu tố ảnh hưởng sự thành công của quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện tin học hóa giống nhau (tức là trung bình nhóm giống nhau)

H1: Ít nhất có một nhóm đối tượng khác nhau có quan điểm về các yếu tố ảnh hưởng sự thành công của quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện tin học hóa khác nhau

Câu hỏi (2) Những nhóm yếu tố nào ảnh hưởng sự thành công của quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện tin học hóa ?

Ho: Trung bình nhóm yếu tố < 3 (Nhóm yếu tố không ảnh hưởng tới sự thành công của quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện tin học hóa)

Trang 11

H1: Trung bình nhóm yếu tố >= 3 (Nhóm yếu tố ảnh hưởng tới sự thành công của quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện tin học hóa)

là các nhóm người có kinh nghiệm thực tế và nền tảng lý thuyết tốt trong việc tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng Công nghệ thông tin

Phạm vi nghiên cứu: tại các doanh nghiệp chế biễn gỗ trên địa bàn tỉnh Bình

- Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng để kiểm định các yếu tố ảnh hưởng tới việc tổ chức công tác kế toán kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin tại các DN chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Định, và xếp hạng tầm quan trọng của các yếu tố

Trang 12

Chương 4

Chương 5

Trang 13

N

Tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT chính là việc tổ chức một hệ thống thông tin kế toán trên nền máy tính Mà hệ thống thông tin kế toán về bản chất là một hệ thống thông tin, là một trường hợp đặc biệt của hệ thống thông tin nên các yếu tố đánh giá và ảnh hưởng sự thành công của việc tổ chức một hệ thống thông tin có thể được áp dụng để xem xét cho việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán

Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) là một hệ thống phần mềm quản lý doanh nghiệp bao gồm nhiều ứng dụng tích hợp Sự khác biệt giữa việc ứng dụng ERP so với cách áp dụng nhiều Phần Mềm quản lý rời rạc khác (như Phần Mềm

kế toán, quản lý nhân sự, quản lý bảo hành ) là tính tích hợp ERP chỉ là một Phần Mềm duy nhất và các module của nó thực hiện các chức năng tương tự như các Phần Mềm quản lý rời rạc, nhưng các module này còn làm được nhiều hơn thế trong môi trường tích hợp.Việc ứng dụng ERP hiện nay không còn chỉ là việc của các doanh nghiệp, tập đoàn lớn nữa mà đã có rất nhiều nhà cung cấp phần mềm giới thiệu các sản phẩm ERP dùng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việc tổ chức ứng dụng ERP cho hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp là phức tạp và khó khăn hơn nhiều so với việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán (AIS) trong điều kiện ứng dụng phần mềm kế toán Tuy nhiên, xét về bản chất thì ứng dụng ERP là việc tin học hóa công tác quản lý

DN, là tổ chức hệ thông thông tin quản lý DN trong điều kiện ứng dụng CNTT nên những yếu tố đánh giá và phản ánh sự thành công của quá trình tổ chức này có nhiều nét tương đồng và có thể áp dụng để xem xét cho quá trình tổ chức AIS trong điều kiện ứng dụng CNTT

Chính vì những lý do trên mà ngoài việc tìm hiểu các nghiên cứu về sự thành công và các yếu tố ảnh hưởng sự thành công của quá trình tổ chức AIS trong điều kiện ứng dụng CNTT, đề tài còn tìm hiểu những nghiên cứu sự thành công và các yếu tố ảnh hưởng sự thành công của việc tổ chức hệ thống thông tin và ERP

1.1 Các nghiên cứu về các yếu tố đánh giá sự thành công của việc tổ chức

hệ thống thông tin kế toán

Một số lượng lớn các cuộc nghiên cứu đã được tiến hành trong suốt nhiều năm qua để cố gắng xác định các nhân tố ảnh hưởng sự thành công của việc tổ chức hệ thống thông tin Tuy nhiên, nhân tố phụ thuộc trong những cuộc nghiên cứu này – sự

Trang 14

thành công của hệ thống thông tin – rất khó để xác định được Các nhà nghiên cứu khác nhau đã chú ý vào các khía cạnh thành công khác nhau, dẫn đến các yếu tố thể hiện sự thành công trong các nghiên cứu cũng khác nhau

Chẳng hạn, trong nghiên cứu của Gable et al (2003) đã đo lường sự thành công

của hệ thống thông tin DN bởi 5 nhân tố, đó là: chất lượng hệ thống , chất lượng thông tin, sự hài lòng, tác động cá nhân và tác động tổ chức

Còn theo nghiên cứu “

” của Zainal Arifin Hasibuan và Gede Rasben Dantes (2012) cũng chỉ ra 5 nhân tố để xem xét sự

thành công khi tổ chức hệ thống thông tin kế toán trong điều kiện tin học hóa ở mức

thông tin, Chất lượng dịch vụ, Tác động chiến thuật , Tác độ

Trong khi đó, McLean và DeLone (2003) đo lường sự thành công của hệ thống

thông tin bằng các nhân tố: chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin, chất lượng dịch

vụ, ý định sử dụng, sự hài lòng của người sử dụng và lợi ích ròng Đây là phiên bản mới của một mô hình nghiên cứu đã được đề xuất trước đây Mô hình nghiên cứu

trước đây, McLean và DeLone (1992), đã sử dụng 6 nhân tố để xem xét Sự thành công

của hệ thống thông tin: Chất lượng của hệ thống, Chất lượng thông tin, ý định sử dụng, Sự hài lòng của người dùng, Tác động cá nhân, Tác động tổ chức

Trong tất cả các nghiên cứu thì nghiên cứu của MCLean và DeLone (1992) có thể được xem là nghiên cứu nền tảng để các nghiên cứu khác dựa vào Cách phân loại nhân tố trong nghiên cứu này và mô hình hình thành từ nghiên cứu đã được nhiều đánh giá đề xuất là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu trong tương lai về sự thành công của hệ thống thông tin

Trong phạm vi đề tài sẽ lựa chọn đo lường sự thành công của hệ thống thông tin

kế toán bằng các nhân tố theo nghiên cứu của McLean và DeLone (2003) vì đây là mô hình nghiên cứu được đánh giá cao nhất, kết quả của nghiên cứu này luôn được các nghiên cứu khác xem là tài liệu tham khảo và nghiên cứu này đã cập nhập sự thay đổi của công nghệ thông tin so với phiên bản 1992 trước đây

Trang 15

1.2 Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng sự thành công của việc tổ chức

hệ thống thông tin kế toán

Theo giáo trình Tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp, Đại học kinh tế TP

HCM 2012 thì các nhân tố chi phối đến tổ chức công tác kế toán trong điều kiện tin

học hóa bao gồm 5 nhân tố:

- Môi trường kinh doanh: bao gồm môi trường pháp lý và môi trường kinh tế xã hội

- Nhu cầu thông tin kế toán: các thông tin kế toán tài chính và các thông tin kế toán quản trị

- Yêu cầu quản lý doanh nghiệp

- Yêu cầu kiểm soát trong doanh nghiệp

- Công nghệ thông tin và nhận thức về vai trò của CNTT trong quản lý

Nghiên cứu “Các yếu tố thành công then chốt cho việc thực hiện và nâng cấp hệ thống ERP” của FIONA FUI-HOON NAH và SANTIAGO DELGADO (2006) đã liệt

kê ra 7 yếu tố ảnh hưởng thành công quan trọng:

1 Kế hoạch kinh doanh và tầm nhìn cho DN

2 Sự thay đổi phong cách quản lý

3 Truyền thông

4 Thành phần đội ERP, các kỹ năng và sự bổ trợ cho nhau

5 Sự hỗ trợ của nhà quản lý và thành công

6 Quản lý dự án

7 Phân tích hệ thống, lựa chọn và thực hiện các biện pháp kỹ thuật

Nghiên cứu này áp dụng mô hình 4 giai đoạn trong tổ chức một hệ thống của Markus và Tanis (2000), sau đó tiến hành so sánh tầm quan trọng của những yếu tố thành công then chốt thông qua các giai đoạn thực hiện và nâng cấp ERP "Kế hoạch kinh doanh và tầm nhìn cho DN" và "Sự hỗ trợ của nhà quản lý và thành công" đóng vai trò then chốt trong giai đoạn phân tích “Thành phần đội ERP, các kỹ năng và sự

bổ trợ cho nhau", "Quản lý dự án" và "Phân tích hệ thống, lựa chọn và thực hiện các biện pháp kỹ thuật” đóng vai trò hàng đầu trong giai đoạn thiết kế “Sự thay đổi phong cách quản lý” và"Truyền thông" là rất quan trọng trong cả giai đoạn thiết kế và thực hiện hệ thống

Trang 16

Nghiên cứu “Tác động của các yếu tố thành công then chốt thông qua tiến trình thực hiện ERP” của Toni M Somers và Klara Nelson (2001) đã mô tả tác động của

các yếu tố thành công quan trọng (CSFs) thông qua tiến trình thực hiện ERP bằng cách sử dụng phản hồi từ 86 tổ chức đã hoàn thành hoặc đang trong quá trình hoàn thành việc thực hiện một hệ thống ERP Nghiên cứu này dựa vào mô hình 6 giai đoạn

trong thực hiện hệ thống của Cooper and Zmud (1990) gồm: bắt đầu, phương pháp,

thích nghi, chấp nhận, chương trình, thực hiện để xem xét ảnh hưởng của các nhân

tố đến từng giai đoạn từ đó ảnh hưởng tới thành công chung của việc tổ chức hệ thống Và nghiên cứu này đã đề xuất được 22 nhân tố ảnh hưởng tới sự thành công

của quá trình thực hiện ERP

Nghiên cứu “

” của Jong-Min Choe (1998) đã cho thấy vai trò của

người dùng trong thiết kế hệ thống thông tin kế toán quản lý (MAS) Bằng cách khả

chức cơ học, phạm vi hẹp

ể dẫn đến hiệu quả MAS cao hơn

Nghiên cứu “

” của Zainal Arifin

công quan trọ

ứu

Trang 17

ụ thể là: chuẩn bị dự án, lựa chọn công nghệ, lập dự án, thực hiện/phát triển và triển khai dự án

được xem như là phương pháp nghiên cứu thích hợp nhất Nó được gửi đến 74 công ty

triển và sử dụng hệ thống ERP Cuộc khảo sát đã nhận được 248 phản hồi từ

ợc gửi đến các công ty Để

ột phân tích định lượng được

nhất trong giai đoạn chuẩn bị dự

đặc biệt là vai trò của KSF trong từng giai đoạn của c

Nghiên cứu “

” của ASHARI (2008) tìm hiểu về các yếu tố ảnh

hưởng tới sự thành công của quá trình tổ chức hệ thống thông tin kế toán tại các DN vừa và nhỏ

Trang 18

ố quyết định sự thành công của hệ thống thông tin hay là tính hiệu quả của hệ thống này

được phát triển dựa vào các lĩnh vực lý thuyết gồm: lý thuyết triển vọng, lý thuyết lý

luận hành động, lý thuyết về hành vi kế hoạch, lý thuyết mô hình chấp nhận, lý thuyết nhận thức xã hội và lý thuyết phổ biến sự đổi mới Bằng sự kết hợp của

những lý thuyết này, yếu tố quyết định sự thành công của hệ thống thông tin là một chức năng của các biến liên quan đến người sử dụng gồm các biến quản lý, hỗ trợ chuyên gia bên ngoài và các biến về bối cảnh môi trường

Từ các phân tích trước đây, sử dụng mô hình phương trình cấu trúc với phương pháp thông minh PLS, có thể kết luận rằng:

Yếu tố môi trường quản lý đã có tác động tích cực đến việc thực hiện thành công của hệ thống thông tin

Yếu tố người dùng hầu như không có tác động đáng kể đến sự thành công của

hệ thống thông tin

Nhân tố chuyên gia bên ngoài có tác động đáng kể đến hệ thống thông tin Yếu tố môi trường không có ảnh hưởng đáng kể đến sự thành công trong việc thực hiện hệ thống thông tin

Yếu tố quản lý và yếu tố môi trường có tác động tích cực đến yếu tố người dùng liên quan

Nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến sự thành công trong việc thực hiện hệ

thống: Không chỉ là yếu tố công nghệ” của Paula J Vaughan (2000) đã chỉ ra rằng

công nghệ không phải là yếu tố quyết định khi tổ chức một hệ thống mà còn nhiều yếu

tố quan trọng khác cần phải xem xét khi triển khai thực hiện hệ thống:

Trang 19

Sự tương tác của yếu tố công nghệ và qui mô tổ chức

Sự tham gia của người sử dụng và các đối tượng liên quan

Việc ủng hộ dự án của nhà quản lý, các nhân viên trong công ty

Cam kết theo đuổi dự án

Kế hoạch

Rủi ro dự án

Nghiên cứu “Các yếu tố thành công chủ yếu trong quá trình thực hiện hệ thống ERP quốc tế: hướng tiếp cận theo các tình huống nghiên cứu thực tế” của ROBERT PLANT và LESLIE WILLCOCKS (2007) đã tiến hành kiểm nghiệm trong thực tế tại 2

công ty A, B hai nghiên cứu của Somers & Nelson (2001) và Akkermans & Van Helden (2002) về quá trình thực hiện hệ thống ERP quốc tế, nhận thức của các nhà quản lý dự án đối với 22 yếu tố thành công quan trọng ảnh hưởng đến kết quả của việc triển khai ERP Bài viết cũng tiến hành kiểm tra nhận thức về các yếu tố thành công quan trọng ở các giai đoạn phát triển dự án khác nhau tại mỗi công ty và thấy rằng có một sự khác nhau đáng kể ở nhiều yếu tố

Nghiên cứu “Xác định và kiểm soát các nhân tố Ảnh hưởng chất lượng thông tin

kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực DN (ERP) tại các

DN Việt Nam” của NGUYỄN BÍCH LIÊN (2012) đã dựa vào mô hình hệ thống hoạt

động để nhận diện ra 12 nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán kế toán trong môi trường ERP tại các DN Việt Nam gồm:

Thành phần nhân tố 1 Tầm nhìn, cam kết và hỗ trợ của Ban quản lý cấp cao doanh nghiệp

Thành phần nhân tố 2 Năng lực và kinh nghiệm và sự hỗ trợ của Nhà tư vấn triển khai

Thành phần nhân tố 3 Năng lực đội dự án

Thành phần nhân tố 4 Thử nghiệm hệ thống

Thành phần nhân tố 5 Huấn luyện và tham gia của nhân viên DN

Thành phần nhân tố 6 Chất lượng dữ liệu

Thành phần nhân tố 7 Qui trình xử lý và chất lượng phần mềm ERP

Thành phần nhân tố 8 Chất lượng thiết bị, cơ sở hạ tầng

Trang 20

Thành phần nhân tố 9 Chiến lược, chính sách hệ thống ERP

Thành phần nhân tố 10 Môi trường văn hóa DN Thành phần nhân tố 11 Môi trường giám sát, kiểm tra Thành phần nhân tố 12 Người sử dụng bên ngoài DN

Theo Nghiên cứu “Thống nhất các mô hình phân đoạn của việc thực hiện hệ thống thông tin” của Kwon, TH & Zmud, RW (1987) các yếu tố ảnh hưởng đến sự

thành công của việc tổ chức một hệ thống thông tin gồm 4 nhóm sau: các yếu tố

người dùng, các yếu tố kĩ thuật, các yếu tố liên quan đến nhiệm vụ, và các yếu tố

Các yếu tố kĩ thuật

Quy mô tổ chức Chuyên gia bên ngoài

Hỗ trợ người dùng

Mục tiêu rõ ràng Chiến lược kinh doanh

Quản lý sự thay đổi

Quản lý dự án

Chuyên môn

Sự tập trung Hình thức

Nguồn: Kwon, TH & Zmud, RW (1987)

Trang 21

Qua kết quả tổng quan các nghiên cứu trước đây, tác giả nhận thấy các nghiên cứu trong nước liên quan đến các yếu tố đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng sự thành công của quá trình tổ chức tin học hóa công tác kế toán rất ít và trình bày cũng không chuyên sâu, mà chỉ được đề cập một cách sơ lược trong các bài báo, giáo trình Còn nghiên cứu của các tác giả nước ngoài thì chủ yếu đề cập đến các yếu tố đánh giá và ảnh hưởng sự thành công của tổ chức hệ thông thông tin (IS) và ứng dụng ERP cho công tác quản lý doanh nghiệp Nhưng như đã phân tích ở phần đầu, trước khi tìm hiểu các nghiên cứu trước đây, các yếu tố đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng sự thành công của quá trình tổ chức IS và quá trình ứng dụng ERP cho doanh nghiệp có thể được sử dụng để xem xét cho sự thành công của quá trình tổ chức AIS trong điều kiện ứng dụng CNTT

Tuy nhiên, điều này mới chỉ là sự phỏng đoán qua lý thuyết Còn sự thật các yếu

tố đánh giá và ảnh hưởng sự thành công của tổ chức hệ thông thông tin (IS) và ứng dụng ERP cho công tác quản lý doanh nghiệp có thể được xem xét cho sự thành công của quá trình tổ chức AIS trong điều kiện ứng dụng CNTT hay không thì vẫn là một khoảng trống mà chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu Vì vậy, tác giả đã quyết định tìm hiểu vấn đề này trong thực trạng tại các DN Việt Nam mà cụ thể là tại các DN chế biến gỗ Bình Định

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương này trình bày khái quát các nghiên cứu về các yếu tố đánh giá và ảnh hưởng

sự thành công của quá trình tổ chức hệ thống thông tin kế toán Các nghiên cứu này đa phần chỉ mới tìm hiểu về sự thành công của quá trình tổ chức IS hoặc ERP mà chưa

có nghiên cứu nào tìm hiểu sự thành công của quá trình tổ chức AIS, mặc dù 3 hệ thống này có những nét tương đồng nhất định nhưng cần phải kiểm chứng điều này trong thực tế Điều này đã tạo ra hướng nghiên cứu cho đề tài Chương tiếp theo sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan đến tổ chức hệ thống thông tin kế toán và sự thành công của nó

Trang 22

tổng quan các nghiên cứu trước đây về sự thành công của việc tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT và các yếu tố ảnh hưởng đến

sự thành công của quá trình này

Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết của nghiên cứu bao gồm khái niệm, quy trình, nội dung tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT Trên cơ sở

đó kết hợp với việc tổng quan tài liệu chương 1, tác giả sẽ nhận diện ra các yếu tố đánh giá và ảnh hưởng sự thành công của quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT theo lý thuyết

Theo bài giảng cao học kế toán chuyên đề 4 của Bùi Quang Huy thì tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng PMKT chính là quá trình tổ chức 5 thành phần

của hệ thống thông tin kế toán: thu thập dữ liệu đầu vào, xử lý, lưu trữ, kiểm soát và

cung cấp thông tin trên cơ sở gắn các đặc điểm của PMKT với mục tiêu, yêu cầu của

DN

Như vậy, tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ

thông tin chính là việc tổ chức một hệ thống thông tin kế toán trên nền máy tính

sao cho thông tin kế toán được cung cấp từ hệ thống là nhanh, chính xác, phù hợp yêu cầu quản lý của doanh nghiệp với chi phí là thấp nhất

Trang 23

2.1.1.2 Mục tiêu và yêu cầu tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin

Theo tài liệu Tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp, Đại học kinh tế TP HCM

2012 thì tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT có mục tiêu và yêu

cầu sau:

a Mục tiêu

- Xây dựng hệ thống kế toán đáp ứng được việc tổ chức ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin phù hợp cho từng đối tượng sử dụng thông tin

- Công tác kế toán đáp ứng các yêu cầu quản lý của DN

- Công tác kế toán phù hợp với đặc thù hoạt động kinh doanh của DN

- Ứng dụng tiến bộ công nghệ thông tin trong công tác kế toán của DN

Trong tài liệu Hệ thống thông tin kế toán tập 3 của Đại học kinh tế TP HCM

có viết Tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin có thể được thực hiện theo 2 phương pháp: tuân thủ các giai đoạn chuẩn mực hoặc theo mẫu thử nghiệm

2.1.2.1 Phát triển theo các giai đoạn chuẩn mực

Chia quy trình tổ chức thành các giai đoạn chuẩn mực gồm giai đoạn phân

tích, thiết kế, thực hiện, vận hành hệ thống và tiến hành theo từng giai đoạn

- Phân tích hệ thống: là quá trình khảo sát hệ thống thông tin hiện hành và môi trường của nó để xác định các khả năng cải tiến, các giải pháp cho hệ thống mới và khả năng thực hiện các giải pháp đó Giai đoạn này gồm các công việc: Khởi đầu dự

án, Khảo sát sơ bộ, Đánh giá khả thi

- Thiết kế hệ thống: trong quá trình thiết kế hệ thống, đội thiết kế sẽ chuyển những mô tả được tạo ra trong quá trình phân tích thành những phương thức có thể thực hiện được Bao gồm: thiết kế sơ bộ sau đó thiết kế chi tiết yêu cầu của hệ thống

và cuối cùng dựa vào đó để đánh giá và lựa chọn phần mềm kế toán phù hợp

Trang 24

- Thực hiện hệ thống: là giai đoạn hệ thống được tạo ra và chuẩn bị đưa vào sử dụng, gồm các công việc theo trình tự sau: kế hoạch thực hiện và chuyển đổi  cài đặt thiết bị  cài đặt phần mềm  huấn luyện và kiểm tra  chuyển đổi hệ thống

- Vận hành hệ thống: việc chuyển đổi hệ thống không làm chấm dứt tiến trình phát triển hệ thống Sau khi hệ thống hoạt động một thời gian, việc thẩm định quá trình thực hiện chuyển đổi sẽ được tiến hành Mục đích của việc này là xác định xem

hệ thống có đạt được các mục tiêu của nó hay không Đồng thời, một hoạt động khác

là bảo trì hệ thống sẽ diễn ra trong suốt quá trình hoạt động của hệ thống để đảm bảo cho hệ thống hoạt động liên tục, hiệu quả

2.1.2.2 Phát triển theo mẫu thử nghiệm

Hướng phát triển này thích hợp với các hệ thống xử lý nghiệp vụ nhỏ Đây là một hướng phát triển bỏ qua các giai đoạn chuẩn mực Phương pháp này sử dụng các

hệ thống có sẵn đáp ứng đầy đủ nhất với yêu cầu thông tin đầu ra của DN, tiến hành chỉnh, sửa, thêm, bớt cho đến khi đạt được mục tiêu Nghĩa là doanh nghiệp khi có

dự định tin học hóa công tác kế toán sẽ tiến hành xem xét các doanh nghiệp khác có đặc điểm tương tự như mình, tìm hiểu xem họ đang sử dụng phần mềm kế toán nào,

bộ máy kế toán được tổ chức ra sao…sau đó áp dụng tương tự vào doanh nghiệp mình rồi tiến hành điều chỉnh cho tới khi nào đạt được yêu cầu mong muốn thì hoàn thành

nghệ thông tin

Theo tài liệu Tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp, Đại học kinh tế TP HCM

2012 thì tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT gồm 8 công việc

sau đây:

2.1.3.1 Xác định yêu cầu thông tin kế toán, quản lý

Để xác định yêu cầu thông tin, khi tiến hành tổ chức công tác kế toán cần xác định các đối tượng sử dụng thông tin kế toán trong và ngoài DN:

- Đối tượng sử dụng thông tin kế toán ngoài DN: thông tin cần cung cấp là thông tin tài chính được thể hiện trong hệ thống báo cáo tài chính theo quy định của chế độ, chuẩn mực kế toán

Trang 25

- Đối tượng sử dụng thông tin kế toán trong DN: cần phân cấp quản lý, tương ứng các thông tin kế toán mà cấp quản lý đó cần để ra quyết định thì sẽ có các báo cáo kế toán quản trị tương ứng

Có 2 cách tiếp cận khi xác định nhu cầu thông tin kế toán quản trị:

- Tiếp cận theo quan điểm kế toán cung cấp tất cả những gì có thể có: dựa

trên đặc điểm hoạt động của DN và những hiểu biết kế toán của bản thân, người làm công tác tổ chức sẽ trình bày toàn bộ thông tin có thể được cung cấp mà không cần quan tâm đến việc những thông tin đó có thật sự cần thiết và hữu ích hay không

- Tiếp cận theo quan điểm cung cấp những thông tin người sử dụng cần

có: với cách tiếp cận này, người làm công tác tổ chức phải căn cứ vào đặc điểm hoạt

động của DN, xác định các đối tượng cần sử dụng thông tin, phân tích các hoạt động, các quyết định cần được đưa ra ứng với mỗi đối tượng để từ đó xác định các thông tin cần cung cấp cho mỗi đối tượng Cách tiếp cận này sẽ giúp cho việc phân tích yêu cầu thông tin phù hợp, đầy đủ và chính xác hơn, nhưng đòi hỏi người làm công tác tổ chức phải có kinh nghiệm và hiểu biết sâu rộng về hoạt động của DN, về những đối tượng sử dụng thông tin và về các ảnh hưởng của thông tin với việc đưa ra quyết định

2.1.3.2 Tổ chức, thu thập dữ liệu đầu vào

Quá trình tổ chức dữ liệu đầu vào cho hệ thống kế toán chính là việc xác định các nội dung dữ liệu, tổ chức thu thập và tổ chức ghi nhận các nội dung liên quan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN vào hệ thống kế toán

a Tổ chức dữ liệu cho các đối tượng kế toán

Các hoạt động nếu xét về khía cạnh xử lý cung cấp thông tin kế toán thì kế toán phải thu thập dữ liệu và phản ánh các đối tượng kế toán Đối tượng kế toán được xác định dựa trên cơ sở các yêu cầu thông tin mà kế toán phải cung cấp và yêu cầu quản

lý của DN Ví dụ: để có thông tin đánh giá về tình hình và khả năng thanh toán của khách hàng DN, cần theo dõi, ghi chép và cung cấp thông tin về nợ phải thu Như vậy, nợ phải thu là đối tượng kế toán

Tùy theo yêu cầu quản lý của DN, các đối tượng kế toán có thể được theo dõi theo các đối tượng quản lý chi tiết liên quan Ví dụ: nợ phải thu có thể được theo dõi chi tiết theo khách hàng, đơn hàng, nhân viên…

Trang 26

b Tổ chức dữ liệu cho các đối tượng quản lý chi tiết

Đối tượng quản lý chi tiết có liên quan đến nhiều loại hoạt động, thông thường

là các hoạt động trong cùng chu trình Các đối tượng chi tiết này cũng cần được mô

tả bởi nhiều nội dung chi tiết theo yêu cầu quản lý và yêu cầu thông tin Do đó, cần theo dõi riêng các đối tượng này, tách biệt với các hoạt động để phản ánh cho nhiều loại hoạt động và đáp ứng yêu cầu quản lý, yêu cầu thông tin đặt ra

c Tổ chức dữ liệu cho các hoạt động

Một hoạt động kinh tế phát sinh sẽ được mô tả bởi tên gọi, nội dung và tính chất Như vậy, khi thu thập các nội dung dữ liệu cho từng hoạt động chính là xác định hoạt động gì thực hiện, tên gọi hoạt động, hoạt động đó liên quan đến nguồn lực, đối tượng nào? Thời gian và địa điểm xảy ra hoạt động? Và để thu thập đầy đủ

và chính xác nhất các nội dung dữ liệu của từng hoạt động, thì phải tổ chức các chứng từ minh họa cho từng hoạt động kinh tế khác nhau

2.1.3.3 Xây dựng chính sách kế toán áp dụng cho doanh nghiệp

Căn cứ vào yêu cầu thông tin và danh mục các đối tượng kế toán, đối tượng quản lý chi tiết đã xây dựng, chúng ta sẽ thiết lập các chính sách kế toán áp dụng cho

DN

a Xây dựng hệ thống chứng từ

Căn cứ điều 1 của Chế độ Chứng từ, ban hành theo QĐ số 186 ngày 14/03/1995

của BTC: “Chứng từ kế toán là những chứng minh bằng giấy tờ về nghiệp vụ kinh tế

tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành”

Căn cứ khoản 7 Điều 4 của Luật kế toán 2003: “Chứng từ kế toán là những

giấy tờ và vật mang tin phản ánh những nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ kế toán”

Trong quá trình tổ chức công tác kế toán cho DN, chúng ta không chỉ xây dựng

hệ thống chứng từ kế toán mà còn tiến hành thiết lập toàn bộ hệ thống chứng từ trên toàn DN, nhằm hỗ trợ tốt nhất cho công tác quản lý DN

Cơ sở để xây dựng hệ thống chứng từ là các văn bản pháp lý về chứng từ, đặc điểm vận động của đối tượng kế toán, đặc điểm hoạt động kinh doanh và yêu cầu quản lý của DN

Trang 27

Có nhiều cách tiếp cận để xây dựng hệ thống chứng từ cho DN, nhưng cách tiếp cận phổ biến hiện nay là tiếp cận theo chu trình kinh doanh Trong mỗi chu trình kinh doanh, việc phân tích các hoạt động được thực hiện, các bộ phận liên quan và các đối tượng tham gia vào quá trình hoạt động đó, sẽ giúp xác định các chứng từ cần được lập và xây dựng danh mục chứng từ kế toán

b Xây dựng hệ thống tài khoản kế toán

Theo Luật kế toán 2003 “Tài khoản kế toán được dùng để phân loại và hệ

thống hóa các nghiệp vụ kinh tế, tài chính theo nội dung kinh tế”

Căn cứ để tiến hành xây dựng hệ thống tài khoản:

- Hệ thống tài khoản theo quy định của chế độ kế toán: gồm các hệ thống tài khoản kế toán ban hành theo chế độ kế toán Quyết định 15/2006/QĐ – BTC, chế độ

kế toán Quyết định 48/2006/QĐ – BTC và chế độ kế toán hành chính sự nghiệp Tùy theo đơn vị thuộc loại hình nào mà lựa chọn văn bản pháp quy phù hợp

- Đặc điểm hoạt động kinh doanh của DN: Mỗi DN kinh doanh trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau sẽ có các yêu cầu tổ chức tài khoản kế toán khác biệt nhau

- Yêu cầu quản lý của DN: những DN có đặc điểm hoạt động kinh doanh tương tự nhau nhưng yêu cầu quản lý khác nhau thì việc tổ chức hệ thống tài khoản

kế toán vẫn có sự khác biệt

- Đối tượng kế toán và đối tượng quản lý chi tiết: cần căn cứ vào danh mục đối tượng kế toán để xác định tài khoản kế toán cần sử dụng hay mở mới, và căn cứ vào danh mục đối tượng quản lý chi tiết để xác định cách thức theo dõi các yêu cầu này đối với tài khoản kế toán tương ứng

Về cách thức thực hiện, khi xây dựng hệ thống tài khoản kế toán, các công việc cần tiến hành như sau:

- Căn cứ vào danh mục đối tượng kế toán và hệ thống tài khoản thống nhất theo quy định của chế độ kế toán, xác định các tài khoản kế toán cần được sử dụng, loại bỏ các tài khoản không cần thiết hay không phù hợp đặc điểm hoạt động của

DN

Trang 28

- Tương ứng với từng tài khoản kế toán được sử dụng xác định các nội dung quản lý của nó Phần lớn các yêu cầu quản lý này đã được thể hiện rõ thông qua các đối tượng quản lý chi tiết của đối tượng kế toán được ghi nhận trên tài khoản đó Khi xây dựng hệ thống tài khoản cần lưu ý đến độ ổn định và sự linh hoạt trong quá trình sử dụng Hệ thống tài khoản kế toán phải được sử dụng lâu dài, ít thay đổi,

và nếu có thay đổi thì không ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ hệ thống Đồng thời cũng cần lưu ý đến sự hữu ích và tiện dụng của hệ thống tài khoản

- Hình thức kế toán trên máy vi tính

Trong điều kiện ứng dụng CNTT vào công tác kế toán của DN thì hình thức kế toán mà doanh nghiệp áp dụng là hình thức kế toán máy Hình thức kế toán máy thường là hình thức kết hợp của hai hoặc ba hình thức kế toán khác: Nhật ký chung

và chứng từ ghi sổ, Nhật ký chung và Nhật ký - chứng từ…

d Các chính sách kế toán khác

Các chính sách kế toán khác như: phương pháp kê khai hàng tồn kho, phương pháp tính giá hàng tồn kho, phương pháp tính giá TSCĐ, phương pháp hạch toán ngoại tệ, các chính sách tín dụng, chính sách về hợp nhất BCTC… giúp DN cụ thể hóa và đưa ra các yêu cầu chi tiết hơn cho quá trình xử lý dữ liệu, cung cấp thông tin

kế toán Các chính sách này có thể bị ảnh hưởng bởi yêu cầu quản lý của DN hay các chính sách kinh doanh, các yêu cầu từ các bộ phận phòng ban khác trong DN Tất cả chính sách tài chính kế toán trên cần được quy định bằng văn bản và hướng dẫn chi tiết việc thực hiện

2.1.3.4 Xây dựng quy trình lập và luân chuyển chứng từ

Hiện nay, nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong DN gồm nhiều loại, liên quan đến nhiều đối tượng, thời gian và địa điểm khác nhau, để có thể theo dõi, ghi chép và

Trang 29

hạch toán kịp thời các biến động này, DN cần xây dựng hệ thống chứng từ phù hợp với các đặc điểm và yêu cầu quản lý của mình Vì vậy, thiết lập quy trình lập và luân chuyển chứng từ qua các bộ phận có liên quan trong DN là cần thiết nhằm tổ chức ghi nhận và xử lý thông tin hữu hiệu, hiệu quả

a Các yếu tố chi phối

Quy trình lập và luân chuyển chứng từ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sau đây:

- Chế độ chứng từ kế toán trong Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC, Quyết định

số 48/2006/QĐ-BTC, Nghị định số 51/2010/NĐ-CP, Thông tư số 32/2011/TT- BTC

và các văn bản pháp lý khác có liên quan

- Đặc điểm hoạt động kinh doanh (loại hình DN, ngành nghề kinh doanh, đặc điểm đối tượng sản xuất kinh doanh…)

- Yêu cầu quản lý, kiểm soát của DN

- Ứng dụng công nghệ thông tin

b Nội dung xây dựng quy trình lập và luân chuyển chứng từ

Cách thức tổ chức quy trình luân chuyển chứng từ tiếp cận theo chu trình kinh doanh gồm 3 bước:

Bước 1: Đưa ra mô hình luận lý cho mỗi chu trình, từ đó giúp người tổ chức dễ

dàng hình dung và xây dựng danh mục chứng từ Cơ sở chủ yếu để xác định mô hình

là đặc điểm hoạt động kinh doanh của DN Công cụ hỗ trợ: sơ đồ dòng dữ liệu dạng luận lý

Bước 2: Căn cứ vào mô hình luận lý và đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán trong

DN để tiếp tục tổ chức mô hình vật lý, qua đó xác định rõ các bộ phận chức năng có liên quan cho mỗi chu trình kinh doanh Công cụ hỗ trợ: sơ đồ dòng dữ liệu dạng vật

Bước 3: Kết hợp hai mô hình luận lý và vật lý để triển khai quy trình lập luân

chuyển chứng từ trên thực tế cho mỗi chu trình kinh doanh của DN Công cụ hỗ trợ: lưu đồ (Flowchart)

Cần chú ý rằng quy trình lập luân chuyển chứng từ cần được xây dựng dựa trên các chức năng của quá trình xử lý, không nên gắn chặt với một bộ phận hay một con người cụ thể nhằm đảm bảo tính linh hoạt cho hệ thống kế toán

2.1.3.5 Tổ chức báo cáo kế toán

Trang 30

Báo cáo là phương pháp được kế toán sử dụng để trình bày các nội dung thông tin được cung cấp từ hệ thống thông tin kế toán Tổ chức một hệ thống báo cáo đáp ứng đầy đủ, chính xác, kịp thời các yêu cầu về thông tin, phù hợp với quy trình ra quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin, sẽ đóng vai trò quyết định đối với mức độ hài lòng về việc sử dụng hệ thống kế toán của người sử dụng hệ thống

a Phân loại báo cáo

Mục đích của việc lập báo cáo kế toán là cung cấp thông tin cho các đối tượng

sử dụng bên trong và bên ngoài DN Các đối tượng này có mục đích sử dụng thông tin khác nhau, dẫn đến yêu cầu về nội dung thông tin cung cấp cũng sẽ có tính chất khác nhau Vì vậy, báo cáo kế toán được chia thành 2 hệ thống: hệ thống BCTC chủ yếu cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài DN và hệ thống báo cáo quản lý (báo cáo nội bộ) nhằm mục đích cung cấp thông tin cho các nhà quản lý trong nội bộ

DN

 Các báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính cung cấp thông tin về tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, kết quả kinh doanh và các dòng tiền trong một kỳ kế toán, giúp người sử dụng phân tích và đánh giá tình hình tài chính và tình hình kinh doanh trong một kỳ

kế toán và dự đoán các dòng tiền trong tương lai Hệ thống BCTC gồm:

- Bảng cân đối kế toán

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

- Thuyết minh báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính chủ yếu phục vụ cho các đối tượng bên ngoài DN nên thông tin mà nó cung cấp phải phù hợp, đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu Chính vì vậy, việc lập và trình bày các báo cáo tài chính phải tuân thủ theo quy định của các chuẩn mực, chế độ kế toán Do đó, bất kỳ hệ thống kế toán nào với phương thức xử

lý bằng máy hay thủ công, quy mô DN lớn hay nhỏ, loại hình kinh doanh có thể khác nhau nhưng tất cả đều phải cung cấp được đầy đủ các báo cáo tài chính

 Các báo cáo quản lý

Báo cáo quản lý chủ yếu phục vụ cho các nhà quản trị bên trong DN để ra các quyết định kinh doanh Các báo cáo này không dựa trên các nguyên tắc, chuẩn mực

Trang 31

hay chế độ kế toán mà tùy thuộc vào quy mô, đặc điểm kinh doanh của DN, yêu cầu quản lý, yêu cầu thông tin và trình độ của các nhà quản trị Để nhận dạng và xác định những báo cáo quản lý, chúng ta sẽ tiếp cận từ từng hoạt động Theo đó, có 2 nhóm báo cáo quản lý:

- Báo cáo hoạt động gồm: báo cáo các hoạt động trong kỳ (bảng kê bán hàng, xuất kho…), báo cáo phân tích hoạt động theo đối tượng, nguồn lực liên quan (báo cáo hoạt đông theo khách hàng, nhân viên)

- Báo cáo theo các đối tượng, nguồn lực gồm: bảng kê danh mục các đối tượng, nguồn lực và Báo cáo tình trạng các đối tượng, nguồn lực (báo cáo tình hình tồn kho, công nợ…)

b Tổ chức hệ thống báo cáo

 Nguyên tắc tổ chức

- Phải tuân thủ yêu cầu của chuẩn mực, chế độ kế toán về việc lập, trình bày, công bố các thông tin kế toán, đặc biệt là các báo cáo tài chính

- Việc tổ chức hệ thống báo cáo, đặc biệt là hệ thống báo cáo quản lý phải căn

cứ vào yêu cầu thông tin, yêu cầu quản lý của DN để cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời và phù hợp các thông tin kế toán cho các đối tượng quản lý trong DN

- Phải căn cứ vào đặc điểm hệ thống kế toán, đặc biệt là đặc điểm về phương thức thu thập, xử lý dữ liệu và đặc điểm DN để có thể tổ chức hệ thống báo cáo phù hợp

- Xem xét, đánh giá định kỳ hệ thống báo cáo kế toán trong DN nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu cung cấp thông tin của kế toán

- Xác định thời gian và đối tượng thực hiện cung cấp báo cáo

- Xác định đối tượng sử dụng thông tin báo cáo

- Xác định phương thức cung cấp thông tin của báo cáo (in ra văn bản hay xem trực tiếp trong phần mềm)

Trang 32

- Phác thảo, minh họa các mẫu báo cáo cung cấp

- Xác định phương pháp xử lý, phương pháp lập báo cáo

2.1.3.6 Tổ chức bộ máy kế toán

Trong điều kiện tin học hóa công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán không chỉ đơn giản là lựa chọn hình thức tổ chức bộ máy kế toán và tuyển dụng, bố trí nhân sự phòng kế toán mà còn phụ thuộc rất nhiều vào định hướng ứng dụng công nghệ thông tin của DN

a Căn cứ tổ chức bộ máy kế toán trong doanh nghiệp

 Cơ cấu tổ chức quản lý của DN

- Quy mô của DN và các đơn vị trực thuộc

- Cơ cấu các bộ phận phòng ban trong DN

- Cơ cấu tổ chức bộ phận tài chính kế toán

 Khối lượng công việc kế toán

Khối lượng công việc kế toán được ước tính dựa trên đặc điểm hoạt động kinh doanh của DN và được đánh giá mức độ phức tạp dựa trên độ phức tạp của hoạt động, của yêu cầu thông tin và yêu cầu quản lý trong DN Sau khi phân tích khối lượng công việc dựa vào các chính sách kế toán đã được xây dựng, các báo cáo cần được lập, người chịu trách nhiệm tổ chức bộ máy kế toán cũng sẽ xác định được đầy

đủ các chức năng kế toán cần có đề từ đó có định hướng xây dựng bộ máy kế toán

 Đặc điểm và định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản

lý của DN

CNTT đã làm thay đổi cơ bản công việc của nhân viên kế toán, chuyển từ ghi

sổ, nhập liệu các dữ liệu kế toán sang kiểm soát, phân tích dữ liệu và cung cấp thông tin kế toán Do đó, khi tổ chức bộ máy kế toán cần lưu ý các vấn đề sau:

- Đặc điểm hệ thống trang thiết bị và cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện có của DN: máy chủ, máy trạm, Internet…

- Định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, DN sẽ sử dụng phần mềm kế toán hay hệ thống ERP Nếu sử dụng ERP thì một phần lớn dữ liệu đầu vào sẽ do các bộ phận phòng ban khác nhập liệu, nhân viên kế toán chỉ kiểm tra, kiểm soát dữ liệu, xử lý và cung cấp thông tin Nếu dùng phần mềm kế toán thì

Trang 33

việc nhập liệu ban đầu do nhân viên kế toán đảm nhiệm Đây cũng là căn cứ để đưa

ra các yêu cầu về năng lực nhân vên kế toán khi tuyển dụng hay đào tạo

b Hình thức tổ chức bộ máy kế toán và cơ cấu nhân sự trong bộ phận kế toán

 Hình thức tổ chức bộ máy kế toán

Việc vận dụng hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung, phân tán hay vừa tập trung vừa phân tán trong điều kiện tin học hóa sẽ không còn lệ thuộc quá nhiều vào quy mô, địa bàn hoạt động, khối lượng nghiệp vụ kinh tế, trình độ nhân viên kế toán… của đơn vị chính và của các đơn vị nội bộ nữa, mà sẽ phụ thuộc vào khả năng

và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong DN Vấn đề quan trọng đó là DN cần tìm một phần mềm kế toán phù hợp, có thể cho phép truy xuất, cập nhật dữ liệu trên nền các giao thức mạng, kiểm soát truy cập hệ thống tốt

 Tổ chức cơ cấu nhân sự kế toán và phân công công tác

Do đặc điểm kế toán máy tính, việc hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết không tách rời nhau, việc nhập liệu không trùng lặp giữa các phần hành kế toán, và việc nhập liệu một lần nhưng có thể sử dụng cho nhiều phần hành kế toán khác, do

đó việc xây dựng cơ cấu phòng kế toán cần phải hợp lý và hiệu quả

Có 2 cách tiếp cận khi xây dựng cơ cấu bộ phận kế toán dựa trên khối lương công việc kế toán sẽ đảm nhiệm Cách thứ nhất, tiếp cận theo quá trình xử lý các đối tượng kế toán và cách thứ hai, các phần hành kế toán được xây dựng theo các hoạt động kinh doanh trong DN hoặc theo chu trình nghiệp vụ DN có thể chọn một trong hai cách tiếp cận hoặc kết hợp tùy theo đặc điểm tổ chức quản lý, đặc điểm hoạt động kinh doanh, yêu cầu quản lý và kiểm soát khi tổ chức bộ máy kế toán

Sau khi hoàn chỉnh cơ cấu bộ máy kế toán và mô tả công việc chi tiết cho từng phần hành kế toán, người làm công tác tổ chức sẽ lựa chọn, bố trí nhân viên phù hợp vào từng phần hành để đảm bảo cho bộ máy kế toán hoạt động hiệu quả

c Phân quyền truy cập hệ thống

Do đặc điểm kế toán trong mội trường máy tính và do các ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến kiểm soát nội bộ, nên khi tổ chức bộ máy kế toán trong điều kiện tin học hóa phải định hướng phân quyền truy cập hệ thống Việc phân quyền sẽ dựa vào các căn cứ:

- Công việc, trình độ và phẩm chất của nhân viên kế toán

Trang 34

- Quan điểm về kiểm soát hệ thống

- Đặc điểm môi trường công nghệ thông tin của DN

2.1.3.7 Tổ chức trang bị phần cứng – phần mềm

Việc trang bị phần cứng cho hệ thống kế toán bao gồm hệ thống máy tính (máy chủ và máy trạm), thiết bị kết nối mạng, và các thiết bị ngoại vi khác như máy in, máy đọc mã vạch… Khi lựa chọn trang thiết bị cần quan tâm đến chất lượng, sự hữu hiệu và hiệu quả chi phí

Hệ thống phần mềm được sử dụng trong công tác kế toán rất đa dạng, bao gồm

hệ điều hành, phần mềm quản lý mạng, các phần mềm tiện ích (như phần mềm diệt virus ), phần mềm hỗ trợ (word, Excel ), hệ quản trị dữ liệu và nhất là phần mềm kế toán

Khi lựa chọn phần mềm kế toán thì ngoài việc tham khảo thông tư 103/2005/TT- BTC, cần lưu ý các tiêu chí sau:

- Đáp ứng yêu cầu người sử dụng

- Phần mềm phải có tính kiểm soát cao

- Tính linh hoạt của phần mềm

- Phần mềm phải phổ biến và có tính ổn định cao

- Giá phí của phần mềm

Việc lựa chọn phần mềm kế toán nào sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống

kế toán sau này Do đó, sau khi đã tìm được những phần mềm đáp ứng các tiêu chí

do DN đưa ra, cần thận trọng khi quyết định

2.1.3.8 Tổ chức cài đặt và sử dụng phần mềm

Quá trình cài đặt, triển khai ứng dụng phần mềm kế toán cũng rất quan trọng và ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống Một cách tổng quát, quá trình cài đặt, triển khai ứng dụng phần mềm kế toán bao gồm các bước sau:

- Cài đặt phần mềm

- Kiểm tra và huấn luyện sử dụng

- Phân quyền trên hệ thống

- Khai báo ban đầu

- Chuyển đổi – kiểm tra dữ liệu

- Sử dụng phần mềm

Trang 35

2.2 Mô hình các yếu tố đánh giá sự thành công của quá trình tổ chức AIS trong điều kiện ứng dụng CNTT

Như đã đề cập ở phần 1.1, các yếu tố đánh giá sự thành công của quá trình tổ chức AIS trong điều kiện ứng dụng CNTT dự định sử dụng trong đề tài sẽ dựa vào

nghiên cứu của MCLean và DeLone (2003) , gồm 6 yếu tố: chất lượng hệ thống, chất

lượng thông tin , chất lượng dịch vụ , ý định sử dụng , sự hài lòng của người sử dụng

và lợi ích ròng

Đề tài sẽ lựa chọn một số tiêu chuẩn của mỗi yếu tố để đo lường theo nghiên

cứu Cập nhập mô hình sự thành công hệ thống thông tin của McLean và DeLone do Nils Urbach and Benjamin Müller thực hiện (2012) trên cơ sở kết hợp với đặc điểm

của hệ thống thông tin kế toán, mục tiêu và yêu cầu của quá trình tin học hóa công tác kế toán Vì đây là nghiên cứu chi tiết và tỉ mỉ nhất về mô hình của McLean và DeLone trên cơ sở tổng hợp rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này, giúp ta có thể lựa chọn các tiêu chuẩn để đo lường 6 yếu tố này một cách chính xác nhất

- Tính bảo mật: tính bảo mật của hệ thống thể hiện thông qua khả năng kiểm soát rủi ro của hệ thống, thông tin hệ thống cung cấp có sự phân quyền rõ ràng để có thể truy cập, khả năng đảm bảo an toàn dữ liệu cho hệ thống …

- Khả năng tích hợp dữ liệu: thông tin trong DN thông thường được lưu trữ trên nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau, hệ thống phải có khả năng kết hợp dữ liệu từ những nguồn khác nhau đó để cung cấp được thông tin hữu ích cho người sử dụng

- Hiệu quả: một hệ thống được xem là hiệu quả khi nó cung cấp được những thông tin chính xác nhất, đa chiều nhất trong thời gian nhanh nhất với khả năng tự động hóa cao, giảm bớt nhân sự và thời gian thực hiện hơn so với kế toán thủ công, giúp DN tiết kiệm chi phí

Trang 36

- Dễ sử dụng: việc sử dụng hệ thống phải dễ hiểu, đem lại sự thoải mái cho người trực tiếp vận hành hệ thống chẳng hạn như các kế toán viên, nếu việc sử dụng

hệ thống quá rắc rối, phức tạp, khiến người sử dụng hệ thống khó hiểu thì thông tin

do hệ thống cung cấp sẽ khó đạt yêu cầu

- Hệ thống mở: hệ thống thông tin kế toán không phải chỉ gói gọn trong phạm

vi phòng kế toán mà nó phải có khả năng tương tác với môi trường xung quanh và những nhân tố bên trong và bên ngoài DN để có thể thu thập và cung cấp đầy đủ thông tin nhất về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN

2 Chất lượng thông tin

Chất lượng thông tin được đo lường bởi những tiêu chuẩn mong muốn ở sản phẩm đầu ra của hệ thống thông tin Do đó, nó thường tập trung vào việc xem xét chất lượng thông tin do hệ thống cung cấp và sự hữu ích của những thông tin đó đối với người sử dụng Chất lượng thông tin thường được xem như là một tiền đề quan trọng cho sự hài lòng của người sử dụng

- Tính chính xác, đầy đủ, kịp thời: được thể hiện ở việc hệ thống có thể từ các

dữ liệu đầu vào, tính toán và cung cấp chính xác, đầy đủ các báo cáo, sổ sách đầu ra theo quy định của pháp luật và yêu cầu của nhà quản lý một cách kịp thời

- Tính nhất quán: phương pháp sử dụng để ghi nhận chỉ tiêu trên các báo cáo đầu ra phải được sử dụng nhất quán giữa các thời kỳ nhằm giúp cho người sử dụng báo cáo so sánh được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN giữa các thời

kỳ khác nhau

- Đáng tin cậy: việc thu thập dữ liệu đầu vào, tổ chức xử lý dữ liệu, và cung cấp thông tin đầu ra phải được thực hiện theo đúng các quy định, chuẩn mực kế toán hiện hành cũng như yêu cầu quản lý của DN để thông tin cung cấp được là đáng tin cậy nhất

- Dễ hiểu: Các báo cáo đầu ra đặc biệt là các báo cáo tài chính được trình bày cho nhiều đối tượng sử dụng nên yêu cầu phải dễ hiểu, dễ nắm bắt

- Hữu ích: thông tin cung cấp đầu ra phải hữu ích, phù hợp với yêu cầu mà người sử dụng thông tin cần có Tránh cung cấp thông tin một cách lan man, không phù hợp và không đúng đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin

Trang 37

3 Chất lượng dịch vụ

Chất lượng dịch vụ thể hiện ở các hỗ trợ mà người sử dụng hệ thống nhận được

từ bộ phận tổ chức và nhân viên hỗ trợ công nghệ thông tin cho hệ thống kế toán chẳng hạn như: huấn luyện sử dụng, đường dây nóng hay những trợ giúp khác

- Sự đảm bảo: chính là đảm bảo cho hoạt động của hệ thống không bị gián đoạn vì bất kỳ lý do gì, và trong quá trình hoạt động những sai sót, trục trặc về mặt

kỹ thuật sẽ được sửa chữa ngay để hệ thống vận hành hiệu quả

- Sự am hiểu: nhân viên tổ chức và nhân viên hỗ trợ IT cho hệ thống phải được đào tạo những kiến thức kế toán cơ bản nhất định để có thể hiểu được những quy trình kế toán, những báo cáo được cung cấp… để khi kế toán gặp sai sót hay cần

sự giúp đỡ thì nhân viên IT có thể hỗ trợ tốt

- Huấn luyện sử dụng: khi một tổ chức tiến hành tin học hóa công tác kế toán thì phải có giai đoạn huấn luyện cho những người tham gia trực tiếp vào hệ thống về cách sử dụng phần cứng, phần mềm để họ có thể vận hành hệ thống một cách trơn tru, hiệu quả Điều này là vô cùng cần thiết cho dù DN dự định tin học hóa công tác

kế toán ở mức cao với việc sử dụng ERP hay chỉ đơn thuần là việc ứng dụng phần mềm kế toán

4 Ý định sử dụng

Ý định sử dụng đại diện cho mức độ và cách thức mà một hệ thống thông tin được sử dụng bởi người dùng Nhân tố này chỉ có ý nghĩa đo lường trong trường hợp việc sử dụng hệ thống thông tin là tự nguyện, lúc này việc sử dụng thực tế của một hệ thống thông tin có thể là một thước đo thành công thích hợp Trong khi đó việc sử dụng hệ thống thông tin kế toán là bắt buộc đối với người dùng hệ thống Vì vậy trong trường hợp của đề tài đo lường sự thành công của hệ thống thông tin kế toán, thước đo này là không phù hợp

5 Sự hài lòng của người sử dụng

Sự hài lòng của người sử dụng đo lường mức độ hài lòng của người dùng khi sử dụng hệ thống thông tin Đây được xem là một trong những thước đo quan trọng nhất của một hệ thống thông tin thành công Ngoài ra, khi mà việc sử dụng hệ thống thông tin là bắt buộc và yếu tố số lượng người sử dụng không thích hợp để đo lường sự

Trang 38

thành công của hệ thống thì yếu tố sự hài lòng của người sử dụng càng đóng vai trò quan trọng Và, hệ thống thông tin kế toán là một hệ thống như vậy

- Sự hài lòng về thông tin: thông tin được cung cấp đầy đủ, phù hợp với những yêu cầu mà người sử dụng thông tin mong muốn có để giúp họ ra các quyết định một cách chính xác nhất

- Sự hài lòng về hệ thống: việc vận hành hệ thống phù hợp với trình độ người

sử dụng hệ thống, tính bảo mật, khả năng tùy biến của hệ thống….đúng với mong muốn của người vận hành hệ thống

6 Lợi ích ròng

Lợi ích ròng đo lường mức độ mà hệ thống thông tin đóng góp cho sự thành công của các bên liên quan khác nhau, mặc dù điều này đã được thể hiện phần nào trong yếu tố sự hài lòng của người sử dụng tuy nhiên vẫn cần có một sự đo lường lợi ích trực tiếp Các bên liên quan được xem xét trên 2 mức độ: cá nhân và tổ chức Như vậy, lợi ích ròng sẽ được đánh giá trên 2 phương diện: tác động cá nhân và tác động tổ chức

Tác động cá nhân gồm các tiêu chuẩn:

- Năng suất công việc

- Hiệu quả công việc

- Đơn giản hóa công việc

- Sự đổi mới về nhiệm vụ

Tác động tổ chức gồm các tiêu chuẩn:

- Thay đổi quy trình kinh doanh

- Lợi thế cạnh tranh

- Giảm chi phí

- Cải thiện việc ra quyết định

- Kiểm soát quản lý

Tóm lại, qua quá trình so sánh các lý thuyết nền về sự thành công của hệ thống

thông tin, kết hợp với đặc điểm của hệ thống thông tin kế toán, mục tiêu và yêu cầu của quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin, các yếu tố được dùng để đánh giá sự thành công của việc tổ chức công tác kế toán trong điều kiện tin học hóa sử dụng trong đề tài bao gồm 5 yếu tố:

Trang 39

- Chất lượng hệ thống: được đo lường bởi những tiêu chuẩn mong muốn trong

hệ thống thông tin kế toán trên nền máy tính, bao gồm: Tính linh hoạt, khả năng tùy biến, Tính bảo mật, Khả năng tích hợp dữ liệu, hiệu quả, dễ sử dụng và hệ thống mở

- Chất lượng thông tin: được đo lường bởi những tiêu chuẩn mong muốn ở sản

phẩm đầu ra của hệ thống thông tin, bao gồm: Tính chính xác, đầy đủ, kịp thời, Tính nhất quán, đáng tin cậy, dễ hiểu, hữu ích

- Chất lượng dịch vụ: thể hiện ở các hỗ trợ mà người sử dụng hệ thống nhận

được từ bộ phận tổ chức và nhân viên hỗ trợ công nghệ thông tin cho hệ thống kế toán, được đo lường qua các tiêu chuẩn: sự đảm bảo, sự am hiểu và huấn luyện sử dụng

- Sự hài lòng của người sử dụng: đo lường mức độ hài lòng của người dùng

khi sử dụng hệ thống thông tin, gồm 2 tiêu chuẩn để đánh giá: Sự hài lòng về thông tin và Sự hài lòng về hệ thống

- Lợi ích ròng: đo lường mức độ mà hệ thống thông tin đóng góp cho sự thành

công của các bên liên quan đến AIS, được đánh giá trên 2 phương diện: tác động cá nhân và tác động tổ chức

+ Tác động cá nhân gồm các tiêu chuẩn: Năng suất công việc, Hiệu quả công việc, Đơn giản hóa công việc, Sự đổi mới về nhiệm vụ

+ Tác động tổ chức gồm các tiêu chuẩn: Thay đổi quy trình kinh doanh, Lợi thế cạnh tranh, Giảm chi phí, Cải thiện việc ra quyết định, Kiểm soát quản lý

Từ những yếu tố trên, tác giả đề xuất mô hình các yếu tố đánh giá sự thành công của quá trình tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT như sau:

Trang 40

2.3

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của việc tổ chức một hệ thống thông tin

kế toán (AIS) trong điều kiện ứng dụng CNTT, tổ chức ứng dụng ERP cho hệ thống thông tin quản lý DN nói riêng hay tổ chức một hệ thống thông tin (IS) nói chung thì mỗi nghiên cứu khác nhau lại đưa ra số lượng các yếu tố ảnh hưởng khác nhau Tuy nhiên, xét về bản chất thì các yếu tố ảnh hưởng đó đều thuộc 4 nhóm các yếu tố ảnh

hưởng theo nghiên cứu của Kwon & Zmud (1987) là: các yếu tố người dùng, các yếu

tố kĩ thuật, các yếu tố liên quan đến nhiệm vụ, và các yếu tố cấu trúc Đồng thời

có thêm một nhóm các yếu tố thêm vào (các yếu tố pháp luật, cơ sở hạ tầng

Hình 2.1 Mô hình đánh giá sự thành công (dựa theo mô hình Mô hình cập nhập sự

thành công của IS theo McLean & DeLone, 2003)

Chất lượng thông tin

Chất lượng dịch vụ

sử dụng

Lợi ích ròng

Ngày đăng: 03/09/2020, 21:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w