Mặc dù trong “Chuẩn đầu ra trình độ Đại học ĐH khối ngành Sư phạm đào tạo GV THPT”, NL DHTH là NL thành phần của NLDH cần có của người giáo viên GV tương lai, yêu cầu SV cần biết phân tí
Trang 1ĐINH THỊ XUÂN THẢO
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS Cao Thị Thặng
PGS.TS Lê Thị Hồng Hải
Phản biện 1: PGS.TS Phạm Văn Hoan
Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thị Hiền Lan
Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Thái Nguyên
Phản biện 3: TS Đỗ Thị Quỳnh Mai
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào hồi … giờ … ngày … tháng… năm 2020
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Thư viện Quốc Gia, Hà Nội
hoặc Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ
1 Cao Thị Thặng, Đinh Thị Xuân Thảo (2016), “Một số ý kiến đề xuất về phát triển năng lực đào tạo GV DHTH môn KHTN ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo
dục phổ thông”, Tạp chí Khoa học, Trường ĐH Tây Nguyên, số 21 tháng 12/2016, tr
28-34
2 Đinh Thị Xuân Thảo (2017), Vận dụng mô hình 5E để thiết kế kế hoạch bài học các
chủ đề môn hoá học ở THCS, Hội thảo khoa học quốc tế chuyên ngành "Phát triển
năng lực sư phạm đội ngũ GV KHTN đáp ứng yêu cầu đổi mới GDPT”, Trường ĐH
Sư phạm Hà Nội, tr 462-472
3 Cao Thị Thặng, Đinh Thị Xuân Thảo (2017), “Một số đề xuất về phát triển năng lực
cơ bản cho SV KHTN ngành sư phạm đáp ứng yêu cầu đào tạo GV trong giai đoạn
mới”, Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, số 142 tháng 7/2017, tr 42-45
4 Đinh Thị Xuân Thảo, Đặng Thị Thuỳ My, Ninh Thị Minh Giang (2017), “Áp dụng
các kĩ thuật DH nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của SV sư phạm hoá học”,
Tạp chí Khoa học, Trường ĐH Tây Nguyên, số 24 tháng 06/2017, tr 11-15
5 Đinh Thị Xuân Thảo, Cao Thị Thặng, Lê Thị Hồng Hải, Trần Thị Yến Vy (2018),
“Thiết kế tiến trình DH chủ đề tích hợp “Pin điện hóa sáng tạo” theo định hướng giáo
dục STEM”, Tạp chí Khoa học, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, số 63 (10), tr
167-181
6 Dinh Thi Xuan Thảo (2019), Inspiring practical task-based STEM activities: from
Theory to Practice, International Conference on STEAM, organized by GEIST
International Foundation, Ha Noi 08/2019, p.51
7 Dinh Thi Xuan Thao, Cao Thi Thang (2019), Developing the competence of
organizing integrated STEM teaching activities for pre-service chemistry teachers,
International Conference on Teacher Education Renovation – ICTER – I AM STEM
2019, Thai Nguyen University of Education, p.188-201
8 Cao Thị Thặng, Đinh Thị Xuân Thảo (2019), “Phát triển năng lực DHTH cho SV sư
phạm hoá học”, Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, số 23 tháng 11/2019, tr.33-38
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đinh Thị Xuân Thảo (chủ nhiệm đề tài) (2016), Bồi dưỡng một số kĩ thuật dạy
học tích cực cho sinh viên sư phạm hóa trường Đại học Tây Nguyên, Đề tài KHCN cấp
cơ sở năm 2016, trường ĐH Tây Nguyên (đã nghiệm thu 12/2016)
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong xã hội ngày nay, sự phát triển của khoa học, kĩ thuật và công nghệ đòi hỏi con người cần hiểu biết tổng hợp kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn Điều này đòi hỏi phải đổi mới cả nội dung, phương pháp tiếp cận, cách tổ chức dạy học (DH) cho học sinh (HS) nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập của đất nước
Trên thế giới, ngay từ những năm 1950 dạy học tích hợp (DHTH) đã được nhiều nhà nghiên cứu lí luận DH quan tâm và những kết quả nghiên cứu đã được triển khai trong việc xây dựng chuẩn giáo dục (GD), chương trình, sách giáo khoa (SGK) của nhiều nước trên thế giới như Mĩ, Đức, Úc, Pháp, Malaysia Bên cạnh đó trong những năm gần đây, ở nhiều quốc gia như ở Mĩ, Anh, Úc cải cách GD tập trung vào việc tăng khả năng, hứng thú và đam mê khoa học của HS đối với GD STEM – một cách tiếp cận theo định hướng tích hợp bốn lĩnh vực Khoa học, Kĩ thuật, Công nghệ và Toán học
Ở Việt Nam, những vấn đề đổi mới GD theo định hướng tích hợp đã được đưa vào nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam, cụ thể trong Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 và trong Đề án đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông (GDPT) của Thủ tướng Chính phủ Gần đây, trong Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/05/2017 và Quyết định số 522/QĐ-TTg ngày 14/05/2018 của Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu tăng cường năng lực (NL) tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, thúc đẩy triển khai GD STEM trong chương trình GDPT, tổ chức hoạt động GD tích hợp Khoa học – Công nghệ – Kĩ thuật – Toán phù hợp với xu hướng phát triển ngành nghề của quốc gia, đáp ứng thị trường lao động, chuẩn bị điều kiện đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4
Ở trường trung học phổ thông (THPT), Hoá học là môn học thuộc nhóm môn khoa học tự nhiên (KHTN), nội dung môn Hóa học có mối quan hệ hữu cơ với nội dung các môn KHTN khác như Vật lí, Sinh học và cùng với Toán học, Tin học và Công nghệ môn Hoá học góp phần thúc đẩy GD STEM Trong chương trình GDPT môn Hóa học hiện hành và trong chương trình ban hành năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT), định hướng dạy học tích hợp được thể hiện thông qua việc tổ chức DH các chủ đề tích hợp (CĐTH) Tuy nhiên hiện nay, năng lực dạy học (NLDH) CĐTH của nhiều GV phổ thông và nhiều sinh viên sư phạm hoá học (SVSPHH) - những GV hóa học tương lai còn rất hạn chế
Việc phát triển NL DHTH cho SV sư phạm nói chung, SVSPHH nói riêng đã
Trang 5được chú ý từ một số năm gần đây Mặc dù trong “Chuẩn đầu ra trình độ Đại học (ĐH) khối ngành Sư phạm đào tạo GV THPT”, NL DHTH là NL thành phần của NLDH cần
có của người giáo viên (GV) tương lai, yêu cầu SV cần biết phân tích khả năng DHTH của một chủ đề, một phần, một chương trong chương trình môn học và biết soạn và triển khai kế hoạch DHTH một chủ đề, một bài nhưng hầu hết chương trình đào tạo ngành sư phạm hoá học của các trường ĐH còn chưa có học phần riêng dành cho nội dung DHTH, DH CĐTH và chưa có tài liệu thống nhất, đi sâu phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH
NLDH CĐTH là một bộ phận quan trọng của NL DHTH, là NL cần phát triển cho SVSPHH và GV hóa học ở các trường THPT nhằm đáp ứng chương trình GDPT môn Hóa học ban hành năm 2018 với định hướng phát triển NL nhận thức, NL tìm hiểu KHTN, NL vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn đời sống dưới góc độ hóa học Tuy nhiên hiện nay, việc nghiên cứu phát triển NLDH CĐTH còn chưa được tiến hành có hệ thống, chưa có quy trình phát triển xuyên suốt với các biện pháp cụ thể vì vậy giảng viên (GiV) và SVSPHH còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình dạy học
Để phát triển NLDH CĐTH cho các GV hóa học tương lai, đáp ứng yêu cầu đổi mới DH và kiểm tra đánh giá theo định hướng NL trong chương trình GDPT ban hành năm 2018, việc nghiên cứu các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của SVSPHH về định hướng DHTH và tăng cường khả năng xây dựng, thiết kế kế hoạch dạy học (KHDH), tổ chức DH, đánh giá, điều chỉnh CĐTH trong DH hóa học là cần thiết, cập nhật, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Với những lí do nêu trên, chúng tôi chọn và thực hiện đề tài: “Phát triển năng
lực dạy học chủ đề tích hợp cho sinh viên sư phạm hóa học thông qua dạy học các học phần Lí luận và Phương pháp dạy học hoá học”.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH thông qua DH các học phần Lí luận và Phương pháp dạy học (PPDH) hoá học góp phần phát triển NL sư phạm và nâng cao chất lượng đào tạo GV hóa học
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình DH các học phần Lí luận và PPDH hóa học 3.2 Đối tượng nghiên cứu: NLDH CĐTH và các biện pháp phát triển NLDH
CĐTH cho SVSPHH ở các trường ĐH
4 Phạm vi nghiên cứu
Phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH thông qua DH các học phần Lí luận và
Trang 6PPDH hóa học ở một số trường ĐH ở miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ
5 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và hướng dẫn SV sử dụng tài liệu hỗ trợ; thiết kế và tổ chức cho
SV trải nghiệm theo mô hình học tập qua trải nghiệm của Kolb và thực hành DH CĐTH theo phương pháp đóng vai và PPDH vi mô một cách hợp lí, hiệu quả thì sẽ phát triển được NLDH CĐTH cho SVSPHH, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo GV đáp ứng yêu cầu đổi mới GDPT
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về: DHTH và GD STEM trên thế giới và ở Việt Nam;
NL và đào tạo GV theo định hướng phát triển NL; phát triển NL DHTH, NLDH CĐTH cho SVSP; một số mô hình, phương pháp DH tích cực ở ĐH
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn về: thực trạng NLDH CĐTH và phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH ở một số trường ĐH (thông qua phân tích chương trình đào tạo
và khảo sát ý kiến của GiV và SV)
6.2 Đề xuất khái niệm, cấu trúc NLDH CĐTH của SVSPHH và bộ công cụ đánh giá NLDH CĐTH
6.3 Đề xuất quy trình, các biện pháp để phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH thông qua các học phần Lí luận và PPDH hoá học
6.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) để khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các đề xuất
7 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phân tích, tổng hợp, phân loại,
hệ thống hóa,… trong nghiên cứu tài liệu lí luận có liên quan
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phân tích mục tiêu, nội dung, cấu trúc các học phần Lí luận và PPDH hoá học
ở các trường ĐH có đào tạo SVSPHH
+ Phương pháp điều tra: Khảo sát thực tiễn về NLDH CĐTH và vấn đề về phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH ở các trường ĐH miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ
+ Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn, trao đổi, xin ý kiến chuyên gia
+ Phương pháp TNSP: Tiến hành TNSP các biện pháp đã đề xuất tại một số trường ĐH có đào tạo SVSPHH ở khu vực NamTrung Bộ và Nam Bộ
7.3 Phương pháp toán thống kê để xử lí, phân tích kết quả TNSP nhằm xác định các tham số thống kê có liên quan từ đó phân tích, khẳng định tính hiệu quả và khả thi
Trang 7của các biện pháp đề xuất
8 Đóng góp mới của luận án
8.1 Hệ thống hóa và làm rõ các cơ sở lí luận và thực tiễn có liên quan đến DHTH, NL DHTH, DH CĐTH cũng như thực trạng, sự cần thiết phải phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH ở các trường ĐH
8.2 Đề xuất cấu trúc NLDH CĐTH của SVSPHH gồm 4 NL thành phần, 10 tiêu chí và các chỉ báo theo 4 mức độ, từ đó thiết kế bộ công cụ đánh giá NLDH CĐTH cho SVSPHH
8.3 Đề xuất các phương pháp và công cụ đánh giá NLDH CĐTH của SVSPHH 8.4 Đề xuất quy trình phát triển và ba biện pháp phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH thông qua DH các học phần Lí luận và PPDH hóa học bao gồm:
Biện pháp 1: Xây dựng và hướng dẫn SV sử dụng tài liệu hỗ trợ nhằm phát
triển NL nhận thức về các vấn đề chung trong DH CĐTH
Biện pháp 2: Thiết kế và tổ chức cho SV trải nghiệm theo mô hình học tập qua
trải nghiệm của Kolb nhằm phát triển NL xây dựng và thiết kế KHDH CĐTH trong
DH hóa học
Biện pháp 3: Thiết kế và tổ chức cho SV thực hành DH CĐTH theo phương
pháp đóng vai và quy trình PPDH vi mô nhằm phát triển NL tổ chức và NL đánh giá, điều chỉnh CĐTH trong DH hóa học
9 Cấu trúc luận án
Luận án gồm 3 phần: Mở đầu (4 trang), Nội dung (144 trang), Kết luận và khuyến nghị (2 trang) Trong đó phần nội dung gồm 3 chương: Chương 1 (41 trang); Chương 2 (76 trang); Chương 3 (27 trang) Ngoài ra còn có: Danh mục các từ viết tắt,
danh mục bảng biểu (30 bảng), hình vẽ (25 hình), các công trình khoa học liên quan
đến luận án đã công bố (9 công trình), tài liệu hỗ trợ SVSPHH “Xây dựng và thiết kế
KHDH CĐTH trong DH hoá học ở trường THPT” (100 trang), Tài liệu tham khảo
(128 tài liệu) và phụ lục (121 trang)
Trang 8CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP
CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM HÓA HỌC 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về dạy học chủ đề tích hợp và việc phát triển năng
lực dạy học tích hợp cho SV sư phạm hóa học
1.1.1 Các nghiên cứu về dạy học tích hợp và dạy học chủ đề tích hợp
Những công trình nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định DHTH, GD STEM và
DH CĐTH đang là một xu hướng DH được nhiều nước trên thế giới quan tâm và thực
hiện và trong chương trình cải cách giáo dục của một số nước, quan điểm tích hợp
được ghi rõ như là một yêu cầu bắt buộc vì đó là một bước chuyển từ cách tiếp cận nội
dung sang tiếp cận NL để đào tạo được con người vừa có đủ tri thức, vừa biết hành
động một cách năng động, sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống
Ở Việt Nam, việc xây dựng chương trình giáo dục theo tư tưởng tích hợp, nghiên cứu
và triển khai DHTH, GD STEM và DH CĐTH ở các cấp học, bậc học với các mức độ
khác nhau đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
1.1.2 Các nghiên cứu về phát triển năng lực DHTH cho SV sư phạm
Vấn đề phát triển NL DHTH cho SV đã được đề cập ở một số công trình nghiên
cứu trên thế giới và ở Việt Nam Hầu hết các tác giả đều khẳng định vai trò, ý nghĩa
quan trọng của việc phát triển NL DHTH cho SV sư phạm nói chung và SVSPHH nói
riêng Đã có những nghiên cứu về thực trạng của việc phát triển NL DHTH và đưa ra
các biện pháp phát triển NL DHTH cho SVSPHH dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy
nhiên rất ít công trình nghiên cứu về phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH Các công
trình nghiên cứu về phát triển NL DHTH là nguồn tài liệu quý giá để chúng tôi tiếp tục
đi sâu nghiên cứu, xây dựng quy trình và các biện pháp phát triển NLDH CĐTH cho
SVSPHH trong bối cảnh mới nhằm đáp ứng chương trình GDPT ban hành năm 2018,
cụ thể là cần chú trọng phát triển NLDH 2 loại CĐTH chính trong DH hóa học là
CĐTH KHTN và CĐTH STEM
1.2 Dạy học tích hợp
1.2.1 Khái niệm
DHTH là một định hướng DH trong đó GV tổ chức, hướng dẫn để HS biết huy
động tổng hợp kiến thức, kĩ năng (KN),… thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải
quyết các nhiệm vụ học tập; thông qua đó hình thành những kiến thức, KN mới và phát
triển được những NL cần thiết, nhất là NL giải quyết vấn đề (GQVĐ) trong học tập và
thực tiễn cuộc sống DHTH đòi hỏi việc học tập ở trường phổ thông phải được gắn với
các tình huống của cuộc sống sau này mà HS có thể phải đối mặt và vì vậy nó trở nên có
Trang 9ý nghĩa đối với HS
1.2.2 Sự cần thiết phải tổ chức dạy học tích hợp
Vì quy luật tự nhiên có bản chất tích hợp nên việc thực hiện DHTH chính là trả lại
sự toàn vẹn, sự thống nhất của quy luật tự nhiên Đồng thời DHTH làm cho quá trình học tập của HS trở nên có ý nghĩa do gắn hoạt động của nhà trường với thực tế đời sống Qua các hoạt động DHTH góp phần thiết lập mối quan hệ giữa các kiến thức, kĩ năng và phương pháp của các môn học khác nhau từ đó tinh giản kiến thức và tránh sự lặp lại Như vậy DHTH góp phần phát triển các NL của người học đặc biệt là NL GQVĐ
1.2.3 Một số quan điểm về mức độ tích hợp chương trình dạy học
Có nhiều quan điểm về mức độ tích hợp trong chương trình dạy học như quan điểm của Fogarty (1991), Xavier Roegiers (1996), Susan M Drake (2007) Nhìn chung các quan điểm cũng có điểm tương đồng về các mức độ tích hợp như tích hợp nội môn, tích hợp đa môn, tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn
1.2.4 Các mức độ tích hợp trong dạy học
Trên cơ sở các mức độ tích hợp trong chương trình dạy học, sự phân chia các mức độ tích hợp trong dạy học cũng theo thang tăng dần từ nội môn đến xuyên môn
1.2.5 Dạy học chủ đề tích hợp
CĐTH là chủ đề dạy học có nội dung tích hợp kiến thức, KN của các môn học
cụ thể trong chương trình DH Dạy học CĐTH giúp HS vận dụng tổng hợp các kiến thức, KN của các môn học để giải quyết một số một vấn đề phức hợp từ nội dung môn học hoặc xuất phát từ thực tiễn trong bối cảnh cụ thể nhằm phát triển các NL chung và
NL chuyên biệt cho HS đặc biệt là NL GQVĐ
CĐTH có các đặc điểm như có tính thực tiễn, tính hợp tác, tính tích hợp DH CĐTH phát huy được tính tích cực, sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn của HS Trong CĐTH, HS được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, nhờ đó năng lực và phẩm chất của HS được hình thành và phát triển
Để xây dựng CĐTH trong dạy học, đã có một số tác giả trong và ngoài nước đề xuất quy trình như tác giả Susan M Drake, tác giả Diane Lapp và James Flood, tác giả Nguyễn Văn Biên…và tài liệu tập huấn của Bộ GD&ĐT
1.3 Giáo dục STEM
1.3.1 Khái niệm
STEM là thuật ngữ viết tắt của các từ Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kĩ thuật) và Mathematics (Toán học)
Khoa học (S): là kiến thức, kĩ năng các môn Khoa học như Vật lí, Hóa học,
Sinh học, tư duy khoa học, quy trình NCKH
Trang 10 Công nghệ (T): là kiến thức, kĩ năng môn Công nghệ hoặc các công cụ, thiết
bị, quy trình được sử dụng trong quá trình triển khai tạo thành sản phẩm
Kĩ thuật (E): là nội dung/ kiến thức về kĩ thuật thực hiện có thể nằm trong môn
Công nghệ, là vẽ kĩ thuật, thiết kế kĩ thuật (TKKT), quy trình TKKT
Toán học (M): là kiến thức, kĩ năng toán học, tư duy toán học, GQVĐ Toán học
1.3.2 Một số quan điểm về GD STEM
Hiện nay, trên thế giới có nhiều cách hiểu về GD STEM Trong chương trình GDPT ban hành năm 2018: STEM là mô hình GD dựa trên cách tiếp cận tích hợp, tạo
cơ hội cho HS vận dụng tích hợp nội dung khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học vào giải quyết một số vấn đề thực tiễn cụ thể Tổ chức hoạt động DHTH STEM hướng tới phát triển tư duy thiết kế kĩ thuật nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn cho HS
1.3.3 Mục tiêu của giáo dục STEM
GD STEM một mặt thực hiện đầy đủ các mục tiêu giáo dục đã nêu trong chương trình giáo dục phổ thông, mặt khác giáo dục STEM còn nhằm phát triển các năng lực đặc thù của các môn học STEM cho HS như các môn Khoa học (Vật lí, Hóa học, Sinh học, KHTN), Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học; Phát triển các năng lực cốt lõi cho HS
và chuẩn bị cho HS những cơ hội cũng như thách thức trong nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu của thế kỉ 21; Định hướng nghề nghiệp cho HS
1.3.4 Vai trò, ý nghĩa của giáo dục STEM
Việc đưa GD STEM vào trường phổ thông mang lại nhiều ý nghĩa, phù hợp với định hướng đổi mới GDPT như nâng cao chất lượng dạy học, nâng cao hứng thú học tập các môn học STEM, hình thành và phát triển NL, phẩm chất cho HS, kết nối trường học với cộng đồng và hướng nghiệp, phân luồng
1.3.5 Đặc điểm của dạy học theo định hướng giáo dục STEM
Đặc điểm của dạy học theo định hướng GD STEM mang những nét bản chất của DHTH và dạy học định hướng năng lực, bao gồm 3 đặc điểm chính là tính tích hợp, tính thiết kế và tính toàn diện
1.3.6 Các mức độ áp dụng giáo dục STEM trong giáo dục phổ thông
Theo tài liệu tập huấn “Xây dựng và thực hiện các chủ đề GD STEM trong trường
trung học” của Bộ GD &ĐT có 3 mức độ áp dụng GD STEM trong GDPT: Dạy học các
môn khoa học theo phương thức giáo dục STEM, tổ chức các hoạt động trải nghiệm
STEM và tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học, kĩ thuật
1.4 Năng lực, cấu trúc năng lực và đánh giá năng lực người học
1.4.1 Khái niệm năng lực
Trang 11NL là sự huy động, vận dụng tổng hợp các kiến thức, KN và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, vào việc thực hiện thành công hoạt động, giải quyết hiệu quả nhiệm vụ trong một bối cảnh nhất định
1.4.2 Cấu trúc năng lực
Để có cơ sở để xây dựng cấu trúc NL, đề xuất các biện pháp phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH ở chương tiếp theo Chúng tôi nhận thấy có 2 cách tiếp cận NL là dựa trên nguồn lực hợp thành và dựa theo NL bộ phận Để xác định cấu trúc NLDH CĐTH cho SVSPHH, luận án sử dụng cách tiếp cận cấu trúc NL gồm ba thành phần chính theo cấu trúc thứ bậc
1.4.3 Đánh giá năng lực người học
Trong DH theo định hướng phát triển NL, việc đánh giá kết quả học tập không tập trung vào kiểm tra khả năng tái hiện lại kiến thức đã học Đánh giá NL có thể gồm: đánh giá nhu cầu người học; báo cáo thành tích, sự tiến bộ về khả năng của người học; xây dựng hồ sơ học; xác định vùng phát triển hiện tại của người học để xây dựng kế hoạch can thiệp sư phạm nhằm hỗ trợ người học chuyển sang vùng phát triển gần trên cơ sở đường phát triển NL; cung cấp thông tin cho việc đánh giá và xem xét lại sự phù hợp của chuẩn đầu ra của chương trình và chất lượng của chương trình DH được sử dụng
1.5 Năng lực dạy học, năng lực dạy học tích hợp, năng lực dạy học chủ đề tích hợp
và định hướng phát triển năng lực dạy học chủ đề tích hợp cho sinh viên sư phạm
1.5.3 Năng lực dạy học chủ đề tích hợp
NLDH CĐTH là khả năng xây dựng chủ đề dạy học có nội dung kiến thức liên quan trực tiếp đến hai hay nhiều môn học/hoạt động giáo dục; thiết kế tiến trình dạy học chủ đề đã xây dựng theo phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực; chuẩn bị thiết
bị dạy học và học liệu để hỗ trợ hoạt động học của người học; thử nghiệm tiến trình dạy học đã thiết kế
1.5.4 Định hướng phát triển năng lực dạy học chủ đề tích hợp cho sinh viên sư phạm
Trang 12Do NLDH CĐTH là một bộ phận quan trọng của NL DHTH vì vậy để phát triển NLDH CĐTH cho SVSP cần thay đổi mục tiêu, nội dung, PPDH và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV sư phạm
1.6 Đổi mới phương pháp dạy học ở Đại học theo định hướng phát triển năng lực cho sinh viên sư phạm
1.6.1 Phương pháp dạy học ở đại học
PPDH thích hợp nhất ở ĐH là các phương pháp tích cực hóa hoạt động học tập,
dạy cách học, dạy phương pháp, dạy tư duy- nghiên cứu cho SV
1.6.2 Các lí thuyết học tập – cơ sở đổi mới phương pháp dạy học ở trường đại học
Hiện nay, có 3 lí thuyết học tập phổ biến và được áp dụng rộng rãi trong GD, đó
là (1) thuyết hành vi (behavorism), (2) thuyết nhận thức (cognitivism), (3) thuyết kiến tạo (constructivism) Đây là cơ sở lí thuyết cho việc tổ chức DH hiệu quả và cải tiến PPDH và là cơ sở định hướng để đề xuất các biện pháp phát triển NLDH CĐTH cho
1.7.1 Điều tra đối với giảng viên
Với mục đích tìm hiểu thực trạng phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH ở các trường ĐH, từ đó đề xuất các biện pháp phát triển NL này Chúng tôi đã tiến hành điều tra 67 GiV thuộc Khoa/ Bộ môn Hóa học các trường ĐH có đào tạo SVSPHH trong đó
có 12 GiV dạy các học phần Lí luận và PPDH hóa học tại khu vực miền nam trung bộ
và nam bộ bao gồm: trường ĐH Quy Nhơn, trường ĐH Tây Nguyên, trường ĐH Đà Lạt, trường ĐH Đồng Tháp, trường ĐH Phạm Văn Đồng, trường ĐH Sư phạm Tp HCM Trong thời gian từ tháng 05/2016 đến tháng 11/2018
Kết quả cho thấy hơn 90% GiV tham gia khảo sát đánh giá việc phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH là rất cần thiết và cần thiết Đồng thời các GiV đánh giá mức độ NLDH CĐTH của SVSPHH ở mức trung bình Như vậy, SV có biểu hiện NLDH CĐTH chưa rõ ràng, cho thấy vấn đề phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH là cần thiết
Trang 131.7.2 Điều tra đối với SV sư phạm hoá học
Để tìm hiểu về thực trạng NLDH CĐTH của SVSPHH, những khó khăn trong quá trình được rèn luyện NL này ở trường ĐH chúng tôi đã khảo sát 488 SV tại 5 trường Đại học có đào tạo SVSPHH ở miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ từ năm 2016 đến năm 2018 Đối tượng khảo sát là những SV năm 3,4 ngành sư phạm hoá học
Kết quả cho thấy đa số SV chưa có hiểu biết đầy đủ về DHTH, GD STEM, DH CĐTH và SV tự đánh giá khả năng xây dựng và thiết kế KHDH CĐTH còn ở mức độ thấp Khoảng 90% SV thể hiện mong muốn được trang bị kiến thức, kĩ năng về việc xây dựng và tổ chức DH CĐTH trong DH hoá học trong quá trình đào tạo tại trường ĐH
CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM HOÁ HỌC THÔNG QUA DẠY HỌC CÁC HỌC PHẦN LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HOÁ HỌC
2.1 Phân tích chương trình các học phần Lí luận và Phương pháp dạy học hoá học
có thể phát triển năng lực dạy học chủ đề tích hợp cho sinh viên sư phạm hoá học
Phân tích chương trình các học phần Lí luận và PPDH hóa học ở các trường
DH có đào tạo ngành sư phạm hoá học và trao đổi trực tiếp với GiV, chúng tôi nhận thấy việc phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH đang được tiến hành theo 2 hình thức đó là lồng ghép, tích hợp các nội dung, biện pháp phát triển NLDH CĐTH cho SVSPHH thông qua các học phần Lí luận DH Hóa học, PPDH Hóa học, PPDH tích cực, Rèn luyện NVSP hoặc thực hiện thông qua một học phần/môn tự chọn về DHTH
2.2 Dạy học chủ đề tích hợp trong môn hóa học ở trường THPT
2.2.1 Chủ đề tích hợp trong môn hóa học ở trường THPT
Trong chương trình GDPT ban hành năm 2018, nội dung môn Hoá học được thiết
kế thành các chủ đề vừa bảo đảm củng cố các mạch nội dung, phát triển kiến thức và KN thực hành vừa giúp HS có hiểu biết sâu sắc hơn về các kiến thức cơ sở chung của hoá học, làm cơ sở để học tập, làm việc, nghiên cứu Vì vậy, để có thể thực hiện trong điều kiện chương trình hiện hành và chuẩn bị cho chương trình GDPT 2018 theo chúng tôi cần chú trọng 2 loại CĐTH trong DH hoá học là CĐTH KHTN và CĐTH STEM
CĐTH KHTN là CĐTH trong đó có sự hòa trộn, kết nối giữa nội dung môn Hóa học với các môn KHTN khác như Vật lí, Sinh học… giúp HS vận dụng tổng hợp các kiến thức, KN của các môn KHTN để giải quyết một số một vấn đề phức hợp từ nội dung môn hóa học hoặc xuất phát từ thực tiễn từ đó phát triển các NL chung và NL