Do đó, nghiên cứu sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân không thể bỏ qua các yếu tố thuộc về mối quan hệ gia đình chồng, vợ, gia đình chồng, gia đình vợ, mối quan hệ cha mẹ - con cái,..., cá
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Trầ Thu Hươ
2 PGS.TS Phạm Thị Thu Hoa
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN Chủ tịch hội đồng đánh giá
Luận án Tiến sĩ
Người hướng dẫn khoa học
GS.TS Trần Quốc Thành PGS.TS Trần Thu Hương
HÀ NỘI, 2020
Trang 3kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận án
Lưu Thị Lịch
Trang 4PGS.TS Phạm Thị Thu Hoa đã luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi, tạo động lực cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Hai cô đã luôn sát sao và luôn đưa ra các yêu cầu cao về chất lượng cũng như tiến độ nghiên cứu đã giúp tôi luôn
nỗ lực để hoàn thành luận án của mình
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể giảng viên Khoa Tâm lí học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN cùng các thầy cô giáo ngoài khoa đã quan tâm, giúp đỡ và có những góp ý quý báu cho nghiên cứu của tôi
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo và đồng nghiệp tại Viện Nghiên cứu Con người, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện, hỗ trợ và động viên, khuyến khích tôi trong thời gian tôi làm luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới các cặp vợ chồng tại hai địa bàn là huyện Thanh Trì và quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội đã đồng ý tham gia vào nghiên cứu này và chia sẻ những trải nghiệm quý giá về cuộc sống hôn nhân của họ
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành đến những người bạn thân đã sẵn sàng hỗ trợ, động viên khi tôi gặp khó khăn trong nghiên cứu, học tập cũng như trong cuộc sống
Lời cảm ơn cuối cùng, tôi xin gửi đến những người thân trong gia đình, những người đã luôn ở bên tôi, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể thực hiện những mục tiêu trong học tập, công việc và cuộc sống
Bản thân tôi nhận thấy kinh nghiệm nghiên cứu khoa học của mình còn hạn chế nên đề tài nghiên cứu vẫn còn nhiều thiếu sót Kính mong được các thầy, cô giáo và đồng nghiệp đóng góp ý kiến để tôi hoàn thiện luận án này tốt hơn
Tác giả luận án Lưu Thị Lịch
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 7
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Mục đích nghiên cứu 11
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 11
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 12
6 Giả thuyết nghiên cứu 13
7 Phạm vi nghiên cứu 13
8 Đóng góp mới của luận án 14
9 Cấu trúc của luận án 15
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỰ HÀI LÒNG VỀ CUỘC SỐNG HÔN NHÂN 16
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân 16
1.1.1 Hướng nghiên cứu về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
theo thời gian 16
1.1.2 Hướng nghiên cứu sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân theo
các khía cạnh của đời sống hôn nhân 19
1.1.3 Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng
về cuộc sống hôn nhân 24
1.2 Những nghiên cứu về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân ở Việt Nam 30
1.2.1 Hướng nghiên cứu về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
theo thời gian 31
1.2.2 Hướng nghiên cứu sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân theo
các khía cạnh của đời sống hôn nhân 31
Trang 61.2.3 Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng
về cuộc sống hôn nhân 32
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG VỀ CUỘC SỐNG HÔN NHÂN TRONG 5 NĂM ĐẦU CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG 39
2.1 Lý luận về cuộc sống hôn nhân giai đoạn 5 năm đầu 39
2.1.1 Hôn nhân 39
2.1.2 Cuộc sống hôn nhân 40
2.1.3 Một số đặc điểm của cuộc sống hôn nhân giai đoạn 5 năm đầu 41
2.2 Lý luận về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân 44
2.2.1 Sự hài lòng 44
2.2.2 Sự hài lòng về cuộc sống 45
2.2.3 Sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân 47
Tiểu kết chương 2 60
Chương 3 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 61
3.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 61
3.1.1 Về địa bàn nghiên cứu 61
3.1.2 Về khách thể nghiên cứu 62
3.2 Tổ chức nghiên cứu 63
3.2.1 Giai đoạn nghiên cứu lý luận 63
3.2.2 Giai đoạn nghiên cứu thực tiễn 64
3.2.3 Giai đoạn viết và hoàn thành luận án 65
3.3 Các phương pháp nghiên cứu 65
3.3.1 Phương pháp chọn mẫu 65
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 66
3.3.3 Phương pháp phân tích trường hợp điển hình 71
3.4 Phương pháp xử lý số liệu và thang đo 71
3.4.1 Xác định độ tin cậy của các thang đo 71
3.4.2 Xác định độ hiệu lực 73
3.5 Phương pháp tính điểm và mức độ của các thang đo 79
Tiểu kết chương 3 80
Trang 7Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ SỰ HÀI LÒNG
VỀ CUỘC SỐNG HÔN NHÂN TRONG 5 NĂM ĐẦU CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG 81
4.1 Thực trạng mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân trong 5 năm đầu
của các cặp vợ chồng 81
4.1.1 Đánh giá về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân chung của các cặp
vợ chồng 81
4.1.2 Sự khác biệt về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân theo một số
biến nhân khẩu - xã hội 88
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng hôn nhân 112
4.2.1 Mối quan hệ tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng và sự hài lòng 112
4.2.2 Dự báo về sự hài lòng hôn nhân 122
4.3 Sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng qua phân tích
trường hợp điển hình 128
4.3.1 Trường hợp cặp vợ chồng hài lòng về cuộc sống hôn nhân 128
4.3.2 Trường hợp cặp vợ chồng không hài lòng về cuộc sống hôn nhân 136
Tiểu kết chương 4 140
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 143
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHỤ LỤC 162
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CFA Phân tích khẳng định nhân tố
ĐTB Điểm trung bình
EFA Phân tích khám phá nhân tố
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm mẫu khách thể nghiên cứu 62
Bảng 3.2 Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach‟s Alpha
của các thang đo yếu tố ảnh hưởng 72
Bảng 3.3 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 73
Bảng 3.4 Các nhân tố của thang hài lòng hôn nhân 74
Bảng 3.5 Độ tin cậy Cronbach‟s Alpha của các thành tố mới trong thang
hài lòng hôn nhân 75
Bảng 3.6 Các thành tố của thang Cảm nhận về mối quan hệ với người bạn đời 76
Bảng 3.7 Độ tin cậy Cronbach‟s Alpha của các thành tố trong thang Cảm nhận về mối quan hệ với người bạn đời 76
Bảng 3.8 Các nhân tố của thang Hành vi giao tiếp với người bạn đời 77
Bảng 3.9 Độ tin cậy Cronbach‟s Alpha của các thành tố trong thang Hành vi giao tiếp với người bạn đời 78
Bảng 3.10 Các nhân tố của thang Đáp ứng mong đợi về hôn nhân 78
Bảng 3.11 Độ tin cậy Cronbach‟s Alpha của các nhân tố thang Đáp ứng mong đợi về hôn nhân 79
Bảng 4.1 Thành tựu - cảm xúc tích cực trong cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng 84
Bảng 4.2 Cảm nhận về mối quan hệ hôn nhân của các cặp vợ chồng 86
Bảng 4.3 Cảm nhận về Ý nghĩa hôn nhân của các cặp vợ chồng trong 5 năm đầu chung sống 87
Bảng 4.4 Khác biệt về hài lòng hôn nhân chung và các yếu tố
của sự hài lòng ở các cặp vợ chồng 89
Bảng 4.5 Thời gian chung sống và sự hài lòng hôn nhân 93
Bảng 4.6 Con cái và sự hài lòng hôn nhân 95
Bảng 4.7 Sự khác biệt về hài lòng hôn nhân theo biến học vấn của người vợ 100
Bảng 4.8 Phân bố nhóm tuổi của các cặp vợ chồng 101
Bảng 4.9 Phân bố mức thu nhập của các cặp vợ chồng 104
Bảng 4.10 Tương quan giữa sự hài lòng hôn nhân và các yếu tố ảnh hưởng 112
Trang 10Bảng 4.11 Tương quan của cảm nhận về sự hòa hợp vợ chồng
và sự hài lòng hôn nhân 113
Bảng 4.12 Tương quan của các hành vi giao tiếp với sự hài lòng hôn nhân
của các cặp vợ chồng 115
Bảng 4.13 Tương quan giữa hành vi giao tiếp với người bạn đời và sự hài lòng
về cuộc sống hôn nhân 116
Bảng 4.14 Tương quan giữa cảm nhận về mối quan hệ với người bạn đời
và sự hài lòng hôn nhân 119
Bảng 4.15 Tương quan giữa sự hài lòng hôn nhân của các cặp vợ chồng
và cách xử lí khi có mâu thuẫn 120
Bảng 4.16 Dự báo của yếu tố Cảm nhận về sự hòa hợp vợ chồng đến sự hài lòng
hôn nhân theo mô hình hồi quy đơn biến 122
Bảng 4.17 Dự báo của hành vi giao tiếp với người bạn đời tới sự hài lòng
hôn nhân của các cặp vợ chồng theo mô hình hồi quy đơn biến 123
Bảng 4.18 Dự báo của cảm nhận về mối quan hệ với người bạn đời đến sự
hài lòng hôn nhân của các cặp vợ chồng theo mô hình hồi quy đơn biến 125
Bảng 4.19 Dự báo của các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng hôn nhân
trong mô hình hồi quy đa biến 126
Bảng 4.20 Dự báo của các biến ảnh hưởng đến sự hài lòng hôn nhân
của người chồng theo mô hình hồi quy đa biến 127
Bảng 4.21 Dự báo của các biến ảnh hưởng đến sự hài lòng hôn nhân
của người vợ theo mô hình hồi quy đa biến 127
Bảng 4.22 Đặc điểm nhân khẩu học của cặp vợ chồng hài lòng cao
với cuộc sống hôn nhân 128
Bảng 4.23 Đặc điểm nhân khẩu học của cặp vợ chồng hài lòng thấp
với cuộc sống hôn nhân 136
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1 Tỉ lệ % mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân
của các cặp vợ chồng trong 5 năm đầu chung sống 81
Biểu đồ 4.2 ĐTB của sự hài lòng hôn nhân tổng thể và các khía cạnh
của sự hài lòng hôn nhân theo mô hình PERMA 83
Biểu đồ 4.3 Cảm xúc tích cực của người vợ và người chồng
trong cuộc sống hôn nhân 90
Biểu đồ 4.4 Cảm xúc tiêu cực của người vợ và người chồng
trong cuộc sống hôn nhân 90
Biểu đồ 4.5 Tuổi của con và hài lòng hôn nhân 96 Biểu đồ 4.6 Trình độ học vấn (HV) của vợ và chồng 98 Biểu đồ 4.7 Trình độ học vấn của người chồng và sự khác biệt
trong các khía cạnh hài lòng hôn nhân 99
Biểu đồ 4.8 Sự khác biệt về hài lòng hôn nhân theo nhóm tuổi người chồng 101 Biểu đồ 4.9 Sự khác biệt về hài lòng hôn nhân theo biến số nhóm tuổi
Biểu đồ 4.13 Sự khác biệt về hài lòng hôn nhân của các cặp vợ chồng
theo biến hoàn cảnh nhà ở 108
Biểu đồ 4.14 Sự khác biệt về cảm nhận ý nghĩa hôn nhân theo biến số
Trang 12Hôn nhân là một tổ chức xã hội, theo đó một người đàn ông và một người phụ nữ quyết định sống như vợ chồng bằng các cam kết hợp pháp và các nghi lễ tôn giáo (Waite và Gallargher, 2001)
Hôn nhân là khởi đầu của sự hình thành và phát triển một gia đình Cuộc sống hôn nhân là một phần quan trọng trong cuộc sống của con người nói chung và với người Việt Nam nói riêng Cuộc sống hôn nhân vui vẻ, hạnh phúc, thoả mãn hay ảm đạm, đau khổ, bế tắc đều ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến mỗi thành viên trong gia đình, ảnh hưởng đến con trẻ Tuy nhiên, không phải ai cũng dễ dàng duy trì một cuộc sống hôn nhân khoẻ mạnh và bền vững
Chất lượng của mối quan hệ thân mật có liên quan đến sức khoẻ thể chất của mỗi người trong mối quan hệ đó (Holt-Lunstad, Smith, & Layton, 2010) Tình trạng hôn nhân có liên quan đến việc giảm tỉ lệ tử vong và bệnh tật (Kiecolt-Glaser và Newton, 2001)
Sự hài lòng hôn nhân là một trong những chỉ báo quan trọng của sự hạnh phúc
và sức khoẻ (Diener, 1984; Kamp Dush, Taylor, & Kroeger, 2008) Chất lượng hôn nhân ở mức cao có tương quan tích cực đến cả tình trạng khoẻ mạnh, hạnh phúc hiện tại và sau này của các cặp đôi Ngược lại, các vấn đề trong hôn nhân có mối tương quan tiêu cực với việc sức khoẻ được tự đánh giá thấp hơn (Hawkins và Booth, 2005; Umberson và cộng sự, 2006), ít hài lòng với cuộc sống hơn (Whisman, Uebelacker, Tolejko, Chatav, và McKelvie, 2006), tăng các biểu hiện của trầm cảm (Walker,
Trang 13Isherwood, Burton, Kitwe-Magambo, và Luszcz, 2013), và cảm thấy cô đơn nhiều hơn (Dykstra và Fokkema, 2007)
Sự hài lòng hôn nhân là một bộ phận, một khía cạnh của hài lòng cuộc sống (Nguyễn Thị Vân Hạnh, 2013) và sự hài lòng hôn nhân ảnh hưởng tích cực tới sự hài lòng cuộc sống (Hoàng Bá Thịnh, 2013)
Quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá tác động đến tất cả các lĩnh vực
xã hội và làm biến chuyển các gia đình hướng tới khuôn mẫu gia đình với cặp vợ chồng là trung tâm Quan niệm về hôn nhân, cách sống và cách thế hệ trẻ xây dựng cuộc sống hôn nhân cũng có nhiều thay đổi so với hôn nhân ở trong khuôn mẫu gia đình đa thế hệ trước đây Giới trẻ đã tự do, cởi mở hơn trong chính suy nghĩ, thái độ về cuộc sống hôn nhân Vai trò của nam giới và nữ giới, cách thức nuôi dạy con cái, vấn đề tài chính, vấn đề tình dục,… trong cuộc sống hôn nhân cũng đã thay đổi theo xu thế chung của xã hội hiện đại Tuy nhiên, cùng với hôn nhân hiện đại, một hiện tượng đang được nhiều người quan tâm và lo lắng là các vấn đề nảy sinh nhiều hơn, sớm hơn và đa dạng hơn ở các gia đình trẻ như bất đồng quan điểm, ngoại tình, sự thất vọng về người bạn đời, sự không thoả mãn trong đời sống tình dục và cuối cùng là dẫn đến thất vọng, đổ vỡ và li hôn khi mới kết hôn sau một vài năm chung sống
Theo kết quả điều tra về Gia đình Việt Nam năm 2006 được Bộ Văn hoá - Thể thao - Du lịch và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc thực hiện, tỷ lệ li hôn tại Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng Tỷ lệ li hôn trong độ tuổi từ 18-60 là 2,6%, tỷ lệ này ở thành thị là 3,3%, ở nông thôn là 2,4% và tỷ lệ phụ nữ xin li hôn cao gấp 2 lần so với nam giới Trên 70% số vụ li hôn thuộc về các gia đình mà vợ chồng trong
độ tuổi từ 22-30, đây cũng là độ tuổi mà hầu hết các gia đình đang ở trong giai đoạn đầu của cuộc sống hôn nhân Trong đó, có trên 60% li hôn khi mới kết hôn từ 1-5 năm và hầu hết đã có con
Tỉ lệ li hôn ở Việt Nam những năm gần đây tiếp tục có xu hướng tăng Theo
số liệu của Tổng cục Thống kê1, trong 5 năm gần đây (từ năm 2014 đến năm 2018),
1 Số liệu được cung cấp trên trang tin điện tử của Tổng cục thống kê
,https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=714 Trích xuất dữ liệu ngày 15/09/2019
Trang 14số vụ li hôn đã xét xử liên tục tăng Năm 2014, tổng số vụ li hôn đã xét xử trên cả nước là 19.960 vụ và đến năm 2018, tổng số vụ li hôn đã xét xử đã lên tới 28.076
vụ, tăng 28,9%
Theo công trình nghiên cứu xã hội học của Nguyễn Minh Hòa (2000), tỷ lệ li hôn ở Việt Nam là 31,4%, tức là cứ 3 cặp kết hôn lại có 1 cặp li hôn 60% số vụ li hôn này thuộc về các gia đình trẻ, tuổi vợ chồng chỉ từ 21 đến 30, trong đó 70% số
vụ li hôn khi kết hôn 1-7 năm và hầu hết đã có con
Một nghiên cứu của Bộ Lao động Phúc lợi xã hội Nhật Bản về số vụ li hôn theo thời gian chung sống cho thấy tỉ lệ những người li hôn dưới 5 năm là cao nhất (trên 30%) so với 4 mốc thời gian là 5 đến 10 năm (khoảng 20 - 25%), 10 đến 15 năm (khoảng 15 - 20%), 15 - 20 năm (khoảng 10 - 15) và trên 20 năm - khoảng 10 - 20%) (dẫn theo Phan Cao Nhật Anh, 2018)
Về sự phát triển của cuộc sống hôn nhân, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng
có 3 giai đoạn khủng hoảng hôn nhân; trong đó, giai đoạn khủng hoảng đầu tiên và giai đoạn khủng hoảng thứ 2 rơi vào 5 đến 7 năm đầu chung sống Giai đoạn thứ 2
là giai đoạn có nhiều nguy cơ tan vỡ nhất Trong các giai đoạn của hôn nhân theo thời gian, giai đoạn của những năm đầu mới cưới (3-5 năm) là giai đoạn được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm Bởi vì “đây là thời gian chuyển đổi lớn của các cặp vợ chồng khi bước vào hôn nhân, thường là quá trình chuyển đổi làm cha mẹ,
và đây cũng là giai đoạn xảy ra nhiều cuộc li hôn” (Bramlett và Mosher, 2001) Ở giai đoạn đó, các cặp đôi có nhiều biến đổi về vai trò, về tâm lí cũng như điều kiện sinh sống Do đó, nếu các cặp vợ chồng không thích nghi tốt ở giai đoạn này cũng
dễ dẫn đến tình trạng li hôn
Hiện nay, tại Việt Nam có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân, gia đình, li hôn… Tuy nhiên, những nghiên cứu về hôn nhân hạnh phúc, hôn nhân hài lòng còn thiếu Chủ yếu các nghiên cứu về sự hài lòng hôn nhân được lồng ghép là một nội dung nhỏ trong các nghiên cứu lớn hơn về gia đình hay
về sự hài lòng nói chung với cuộc sống
Với những lí do trên, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Sự hài lòng về
cuộc sống hôn nhân trong 5 năm đầu của các cặp vợ chồng tại Hà Nội” Qua
nghiên cứu này, luận án mong muốn sẽ đưa ra được những đề xuất cho các cặp vợ
Trang 15chồng, các nhà nghiên cứu, nhà thực hành tâm lí một số gợi ý để giúp cho các cặp đôi tăng mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân, từ đó, tăng chất lượng hôn nhân của các cặp đôi, đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân trong 5 năm đầu của các cặp vợ chồng nhằm phân tích các thành tố của sự hài lòng
về cuộc sống hôn nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tới sự hài lòng này; trên cơ sở
đó, đề xuất một số giải pháp tăng sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân trong 5 năm đầu của các cặp vợ chồng
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các thành tố của sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân và các yếu tố ảnh hưởng tới sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân trong 5 năm đầu của các cặp vợ chồng tại Hà Nội
3.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu gồm 209 cặp vợ chồng đang chung sống trong giai đoạn 5 năm đầu của cuộc sống hôn nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội bao gồm 1 huyện ngoại thành (huyện Thanh Trì) và 1 quận nội thành (quận Hoàng Mai)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lý luận
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân; trong đó, nêu ra các hướng tiếp cận chính, những điểm nổi bật
về phương pháp, kết quả nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu và hệ thống hóa các khái niệm căn bản: Hài lòng về cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng; Xác định một số yếu tố tâm lí - xã hội ảnh hưởng tới sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân của các
cặp vợ chồng
4.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Khảo sát thực trạng mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng trong 5 năm đầu chung sống và các thành tố của sự hài lòng hôn nhân
Trang 16- Phân tích sự tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng và sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng
- Đề xuất một số giải pháp làm tăng mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng đang trong giai đoạn 5 năm đầu chung sống
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận án được thực hiện dựa trên quan điểm và phương pháp luận của tâm lí học gia đình và tâm lí học tích cực; chủ yếu dựa trên các lý luận về sự hài lòng của con người, về tâm lí hôn nhân, gia đình Do vậy, luận án có một số nguyên tắc và lí thuyết mang tính phương pháp luận sau đây:
5.1.1 Lí thuyết hệ thống gia đình
Chúng tôi xem xét cuộc sống hôn nhân trong bối cảnh chung của hệ thống gia
đình Theo nhà tâm lí học Murray Bowen, gia đình là một hệ thống trong đó mỗi
thành viên có một vai trò nhất định và có các mối quan hệ với nhau, đặc biệt là về mặt cảm xúc Ông khẳng định, gia đình như một hệ thống cảm xúc điều khiển cả mặt sinh học và hành vi của các cá nhân Mối liên hệ và khả năng thích ứng khiến cho sự vận hành của các thành viên trong gia đình phụ thuộc lẫn nhau
Gia đình được xem xét như một hệ thống mở gồm nhiều thành viên với những mối quan hệ qua lại chằng chịt Gia đình bao gồm nhiều tiểu hệ thống phụ thuộc lẫn nhau, mỗi tiểu hệ thống thực hiện những chức năng đặc biệt để duy trì bản thân tiểu
hệ thống và bảo vệ duy trì cả hệ thống như một tổng thể (Nguyễn Khắc Viện, 1999) Mỗi mối quan hệ được xem là một tiểu hệ thống bên trong gia đình Cá nhân
có liên hệ về mặt chức năng và thứ bậc với các tiểu hệ thống và các cá nhân thành viên khác trong gia đình Tiểu hệ thống có thể được thành lập dựa trên các thứ bậc (như vợ chồng, anh chị em…), hoặc theo chức năng (cha mẹ, ông bà, con cái…), hoặc theo phái tính (mẹ và các con gái…)
Do đó, nghiên cứu sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân không thể bỏ qua các yếu tố thuộc về mối quan hệ gia đình (chồng, vợ, gia đình chồng, gia đình vợ, mối quan hệ cha mẹ - con cái, ), các yếu tố nhân khẩu, yếu tố tâm lí - xã hội, có liên quan đến sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân như hoàn cảnh chung sống với gia đình nhà chồng, nhà vợ; yếu tố con (số con, thời gian sinh con)
Trang 175.1.2 Nguyên tắc tiếp cận liên ngành
Khi trở thành vợ chồng và tham gia vào cuộc sống hôn nhân, các cặp vợ chồng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lí, xã hội, sinh học, văn hóa, Do đó, khi phân tích sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng và các yếu
tố ảnh hưởng tới sự hài lòng này, ngoài nền tảng lí thuyết về tâm lí học, luận án cần sử dụng các tri thức của các ngành khoa học khác như xã hội học, văn hóa học, nhân học
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp phân tích chân dung tâm lí
- Phương pháp thống kê toán học (sử dụng phần mềm SPSS 22.0)
6 Giả thuyết nghiên cứu
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa người vợ và người chồng; giữa những cặp kết hôn ở thời điểm khác nhau và giữa các cặp có số con khác nhau về mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân trong 5 năm đầu của các cặp vợ chồng
Sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân nói chung và các thành tố của sự HLHN
có mối tương quan có ý nghĩa với các yếu tố Cảm nhận về mối quan hệ vợ chồng, Hành vi giao tiếp với người bạn đời và Cảm nhận về sự hòa hợp vợ chồng
Cảm nhận về mối quan hệ vợ chồng là yếu tố có khả năng dự báo cao nhất sự thay đổi mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng
7 Phạm vi nghiên cứu
7.1 Về nội dung
Luận án phân tích mức độ HLHN của các cặp vợ chồng nói chung, các thành
tố của sự HLHN và so sánh sự khác nhau ở các biến nhân khẩu - xã hội như giới tính, trình độ học vấn, nơi sống, mô hình chung sống sau kết hôn, số con và thời gian chung sống
Trang 18Ngoài ra, luận án tìm hiểu mối tương quan của các yếu tố ảnh hưởng và sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân bao gồm: Cảm nhận về mối quan hệ vợ chồng, Hành vi giao tiếp với người bạn đời, Mức độ đáp ứng mong đợi về hôn nhân, Cảm nhận về sự hòa hợp vợ chồng
7.2 Về khách thể và địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với các cặp vợ chồng đang trong giai đoạn 5 năm đầu hôn nhân tại 1 quận nội thành (quận Hoàng Mai) và 1 huyện ngoại thành (huyện Thanh Trì) thành phố Hà Nội
8 Đóng góp mới của luận án
8.1 Đóng góp về mặt lý luận
Luận án đã tổng quan được một số xu hướng nghiên cứu chính về sự hài lòng
về cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng trên thế giới và ở Việt Nam Luận án cũng bổ sung vào hệ thống lý luận khái niệm về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng Ngoài ra, luận án cũng chỉ ra được một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng
Những cơ sở lý luận về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân mà luận án tổng hợp, phân tích có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo trong lĩnh vực tâm lí học gia đình, tâm lí học tích cực, tham vấn tâm lí và tâm lí học xã hội
8.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Với việc áp dụng mô hình lí thuyết hạnh phúc PERMA vào phân tích và lí giải sự hài lòng với cuộc sống hôn nhân, luận án đã mô tả mức độ HLHN chung của các cặp vợ chồng tham gia vào nghiên cứu này với 3 thành tố của sự HLHN là Thành tựu và cảm xúc tích cực; Mối quan hệ hôn nhân và Ý nghĩa hôn nhân
Nghiên cứu cũng chỉ ra mối tương quan của sự HLHN và các yếu tố tâm lí -
xã hội của các cặp vợ chồng bao gồm: Cảm nhận về mối quan hệ vợ chồng; Hành vi giao tiếp với người bạn đời; Cảm nhận về sự hòa hợp vợ chồng; Mức độ đáp ứng mong đợi về cuộc sống hôn nhân
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra đa số các cặp vợ chồng trong giai đoạn 5 năm đầu chung sống tham gia vào nghiên cứu này hài lòng về cuộc sống hôn nhân hiện tại của họ ở mức trung bình trở lên Có sự khác biệt về mức độ HLHN giữa người chồng và người vợ (người chồng hài lòng hôn nhân hơn người vợ), giữa người có
Trang 19con và chưa có con (người chưa có con hài lòng về hôn nhân hơn người có con), giữa những người đang ở các giai đoạn khác nhau của cuộc sống hôn nhân (người ở giai đoạn 1 năm đầu tiên chung sống hài lòng hôn nhân cao nhất và giảm dần ở hai giai đoạn sau là trên 1 năm đến 3 năm, trên 3 năm đến 5 năm)
Sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân nói chung có tương quan thuận với cảm nhận tích cực về mối quan hệ vợ chồng, mức độ hòa hợp giữa hai vợ chồng, mức độ đáp ứng kì vọng về cuộc sống hôn nhân, các hành vi giao tiếp tích cực Kết quả này cho thấy khi các cặp vợ chồng có cảm nhận về mối quan hệ vợ chồng càng tốt, cảm nhận về sự hoà hợp vợ chồng càng cao và mức độ đáp ứng kỳ vọng về hôn nhân càng nhiều thì mức độ hài lòng về hôn nhân càng cao Sự HLHN nói chung có tương quan nghịch với các yếu tố như cảm xúc tiêu cực, sự cô đơn, các hành vi giao tiếp tiêu cực
Yếu tố cảm nhận về sự hoà hợp vợ chồng có khả năng dự báo về sự hài lòng hôn nhân cao nhất
Đề tài cũng gợi mở một số vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu thêm như nghiên cứu sự biến đổi mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng theo thời gian chung sống (nghiên cứu theo chiều dọc để so sánh sự biến đổi của 1 cặp vợ chồng tại các giai đoạn chung sống khác nhau); các yếu tố khác ảnh hưởng tới sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân như sự thích ứng tâm lý của các cặp
vợ chồng trong giai đoạn đầu hôn nhân, kĩ năng giao tiếp của các cặp vợ chồng, ; các nghiên cứu thực nghiệm về các biện pháp can thiệp giúp các cặp vợ chồng tăng mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân
9 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình khoa học
đã công bố có liên quan đến luận án, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân Chương 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
trong 5 năm đầu của các cặp vợ chồng
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về sự hài lòng về cuộc sống hôn
nhân trong 5 năm đầu của các cặp vợ chồng tại Hà Nội
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỰ HÀI LÒNG
VỀ CUỘC SỐNG HÔN NHÂN
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
Sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ những năm 70 của thế kỷ 20 Tuy nhiên, vì sự hài lòng là một yếu
tố mang tính chủ quan, nên với mỗi một quốc gia, mỗi một nhóm người và mỗi cặp
vợ chồng, sự cảm nhận về hài lòng rất khác nhau; và cho đến nay, người ta vẫn chưa tìm ra một đáp số chung cho câu trả lời như thế nào được gọi là hài lòng về cuộc sống hôn nhân Nói cách khác, với mỗi cuộc hôn nhân, mỗi người trong cuộc
sẽ có những cảm nhận chủ quan về sự hài lòng
1.1.1 Hướng nghiên cứu về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân theo thời gian
Mặc dù bức tranh về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân đã được mô tả nhiều hơn ở các nghiên cứu cắt ngang, nhưng sự hài lòng này biến chuyển theo thời gian như thế nào, yếu tố nào ảnh hưởng đến sự chuyển biến của hài lòng về cuộc sống hôn nhân lại đòi hỏi những dữ liệu tốt nhất từ các nghiên cứu theo chiều dọc Kết quả khảo cứu tài liệu cho thấy không có kết luận chung về chiều hướng thay đổi của sự hài lòng hôn nhân theo thời gian Trong đó, phần nhiều các nghiên cứu đều khẳng định rằng, sự hài lòng hôn nhân của các cặp đôi suy giảm theo thời gian
Khi tìm hiểu về sự hài lòng hôn nhân, Hudson và cộng sự (1991) quan tâm tới 3 loại hình vi tình cảm xã hội (tình cảm, sự quan tâm về tình dục, cảm xúc tiêu cực) của các cặp vợ chồng mới cưới cho đến hai năm Phân tích mô hình chiều dọc, nhóm tác giả tìm thấy sự suy giảm của hài lòng hôn nhân theo thời gian; trong đó, người vợ có sự không hài lòng sớm hơn người chồng
Tương tự, James K và cộng sự (2017) tiến hành 8 đợt nghiên cứu trong vòng 4-5 năm đầu tiên của 207 cuộc hôn nhân để xem xét sự hài lòng hôn nhân, sự thỏa mãn về tình dục và tần suất quan hệ tình dục Kết quả cho thấy cả ba biến trên đều
có tác động qua lại với nhau và đều giảm theo thời gian, mặc dù mỗi biến có tốc độ thay đổi theo thời gian là khác nhau
Trang 21Lavner và Bradbury (2010) cũng phát hiện ra rằng mặc dù một số cặp có sự khác biệt nhưng nhìn chung, sự hài lòng trong hôn nhân của những cặp mới cưới ở mức cao rồi giảm dần theo thời gian Kết luận này được minh chứng bằng 8 lần đo lường sự hài lòng được thu thập trong hơn 4 năm từ 464 phụ nữ mới cưới
Khi đánh giá về các yếu tố làm cho sự hài lòng hôn nhân suy giảm, các tác giả đã kiểm chứng nhiều biến khác nhau Chung H (1990) cho rằng đặc điểm tính cách, sự căng thẳng, thái độ gây hấn và hành vi giao tiếp là những yếu tố tạo ra sự thay đổi của hài lòng hôn nhân Gottman và cộng sự (1989) tiến hành nghiên cứu trong vòng 3 năm khám phá ra rằng sự tương tác giữa các cặp đôi (kể cả là những tương tác khi giận dữ hay bất đồng) có thể gây hại cho cuộc hôn nhân của họ trong trước mắt nhưng về lâu dài việc tương tác sẽ giúp cải thiện sự hài lòng hôn nhân Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của những đứa trẻ đến sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng ở 3 nền văn hóa Mỹ, Anh và Thổ Nhĩ kỳ của nhóm tác giả Craig A Wendorf, Todd Lucas, E Olcay Imamoglu, Carol C Weisfeld và Glenn E Weisfeld (2011) cho thấy sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân của các cặp
vợ chồng giảm dần khi cuộc hôn nhân kéo dài
Trong khi đó, một số nghiên cứu khác lại cho rằng sự hài lòng hôn nhân không suy giản theo thời gian Chẳng hạn: nghiên cứu về mối quan hệ thân mật và hài lòng hôn nhân bằng phương pháp đánh giá thông qua cảm nhận cá nhân, giao tiếp
và sự hạnh phúc của Abraham P và cộng sự (2011) đã chỉ ra rằng không có sự khác biệt về sự hài lòng hôn nhân ở các giai đoạn khác nhau trong vòng đời gia đình Thậm chí, nghiên cứu của Gorchoff và cộng sự (2008) trên nhóm khách thể là phụ nữ nhận thấy sự hài lòng hôn nhân không những không suy giảm mà còn tăng lên ở thời
kì trung niên Đặc biệt ở những phụ nữ không bận rộn chuyện con cái nữa thì sự hài lòng hôn nhân tăng lên tương quan thuận với việc họ dành thời gian hưởng thụ
Một số nghiên cứu trường diễn khác khẳng định rằng sự biến đổi của mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân có xu hướng giảm dần theo thời gian ở những năm đầu nhưng lại có thể tăng trong những năm sau đó Các quan sát cũng chỉ ra sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân tăng lên vào những năm sau của cuộc hôn nhân (Bradbury và cộng sự, 2000; Karney và Bradbury, 1995; Karney và Crown, 2007; Orbuch, 1996)
Trang 22VanLaningham, Johnson, và Amato (2001) phát hiện ra rằng sự hài lòng về hôn nhân có giảm mạnh trong những năm đầu tiên của cuộc sống hôn nhân Mặt khác, các nghiên cứu của Lavner và Bradbury (2010) đã chỉ ra rằng những cặp vợ chồng có mức độ hài lòng về hôn nhân cao trong những năm đầu có thể duy trì sự hài lòng này ở mức độ tương đối cao ở những năm sau đó Trong khi đó, những cặp vợ chồng có một mức độ hài lòng thấp hơn ở những năm đầu có nhiều khả năng suy giảm sự hài lòng trong khoảng thời gian 10 năm đầu kết hôn Các cặp vợ chồng này khác nhau về đặc điểm tính cách, sự căng thẳng, gây hấn, và hành vi giao tiếp
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng thời gian mới cưới là thời kỳ đỉnh cao của
sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân của các cặp đôi và giảm dần sau đó (Burgess và Wallin, 1953; Vailliant C.O và Vailliant G.E., 1993) Tuy nhiên, gần đây một số nghiên cứu cũng cho thấy mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng có xu hướng tăng lên khi những đứa trẻ rời khỏi gia đình (Gorchoff, John và Helson, 2008)
Nhóm tác giả Klaus A Schneewind và Anna - Katharina Gerhard (2002) đã triển khai nghiên cứu “Mối quan hệ cá nhân, giải quyết xung đột và sự hài lòng hôn nhân trong 5 năm đầu hôn nhân” trên 180 cặp đôi kết hôn lần đầu Kết quả cho thấy mối quan hệ cá nhân và việc giải quyết xung đột có sự tương quan đáng kể với sự hài lòng về hôn nhân của các cặp vợ chồng trong 5 năm đầu hôn nhân Theo thời gian, phong cách giải quyết xung đột của các cặp vợ chồng trở nên có ảnh hưởng nhiều hơn đến việc dự báo mức độ hài lòng với hôn nhân
Nhóm nghiên cứu Cobb, Rebecca J., Sullivan, Kieran T (2015) đã tiến hành nghiên cứu về vấn đề giáo dục mối quan hệ trước hôn nhân và sự hài lòng hôn nhân
ở các cặp vợ chồng mới cưới 191 cặp vợ chồng đã tham gia vào nghiên cứu này với
9 lần hoàn thành việc đánh giá sự hài lòng hôn nhân trong vòng 27 tháng Kết quả nghiên cứu cho thấy trong khi những người vợ tham gia vào chương trình giáo dục
về mối quan hệ trước hôn nhân có sự suy giảm sự hài lòng hôn nhân, thì những người vợ không tham gia vào chương trình giáo dục này lại duy trì sự hài lòng hôn nhân theo thời gian
Trang 231.1.2 Hướng nghiên cứu sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân theo các khía cạnh của đời sống hôn nhân
Ở hướng nghiên cứu này, các tác giả đánh giá sự hài lòng hôn nhân ở các khía cạnh trong đời sống hôn nhân Có nhiều mô hình khác nhau được đưa ra
Kaslo và cộng sự (1994) tin rằng các cặp vợ chồng có ý thức mạnh mẽ về cảm nhận thuộc về nhau sẽ có sự hài lòng trong hôn nhân cao hơn Từ nghiên cứu của mình, các tác giả khẳng định rằng sự hài lòng trong hôn nhân cao nhất diễn ra trong số những người bạn đời tương thích với nhau về triết lý sống, nhận thức của
họ về sự thỏa mãn tình dục, lượng thời gian họ dành cho nhau và cách họ dành thời gian giải trí với nhau
Bradbury và cộng sự (2000) đã công bố công trình nghiên cứu của mình từ góc độ lý luận và thực tiễn trong ba thập kỉ trước năm 2000 về các khía cạnh của sự hài lòng hôn nhân Nhóm tác giả đã liệt kê ra các khía cạnh của hài lòng hôn nhân: nhận thức, tình cảm, sinh lý, hành vi tương tác, sự hỗ trợ và bạo lực
MuniRajamma (2012) cho rằng hài lòng hôn nhân bao gồm các thành phần: 1/Yếu tố nhận thức - sự phiên giải về hành vi của bạn đời (Ví dụ: Cô ta/Anh ta thật lười biếng); 2/ Yếu tố sinh lí - thể hiện sự đồng bộ những quá trình sinh lý (nhịp tim, cảm giác da) giữa hai vợ chồng; 3/Thói quen tương tác, chẳng hạn như đối đầu hay lẩn tránh khi hai vợ chồng có xung đột; 4/Sự hỗ trợ tin cậy đối với bạn đời; 5/Bạo lực: sự xuất hiện các hành vi bạo lực/lạm dụng là một khía cạnh quan trọng của sự hài lòng hôn nhân
Zaheri và cộng sự (2016) trong một nghiên cứu tổng quan về hài lòng hôn nhân đã tổng kết các khía cạnh được đo lường nhiều nhất khi đánh giá về sự hài lòng hôn nhân bao gồm: 1/Khía cạnh tinh thần và tôn giáo; 2/Sự hài lòng về tình dục; 3/Các yếu tố giao tiếp và 4/Sức khỏe tâm thần
Bên cạnh các nghiên cứu sự hài lòng hôn nhân theo các khía cạnh trên thì một số tác giả tập trung nghiên cứu về một trong số các khía cạnh đó, nhiều nhất là
sự hài lòng về tình dục, sự hài lòng về hành vi giao tiếp
Tình dục và sự hài lòng hôn nhân
Sự hài lòng về tình dục trong hôn nhân là chủ đề được khám phá nhiều nhất trong các khía cạnh hài lòng hôn nhân
Trang 24Trong một nghiên cứu ở Mỹ và các nước nói tiếng anh khác, tác giả Julian Hafner cho rằng, chính sự không thỏa mãn về tình dục là nhân tố chính trong các cuộc hôn nhân không hòa hợp và đổ vỡ, và sẽ còn tiếp tục như thế cho đến khi nào chúng ta thay đổi thái độ và những mong mỏi về tình dục trong hôn nhân Nói khác
đi, một trong những mong mỏi về sự hài lòng hôn nhân chính là có đời sống tình dục hòa hợp (Nguyễn Thanh Vân dịch, 1998)
Tayebe Ziaee và cộng sự (2013) đã thực hiện nghiên cứu về mối tương quan giữa sự hài lòng về hôn nhân và tình dục trên 140 phụ nữ đang làm việc tại các trung tâm giáo dục và y khoa của Đại học Y khoa Golestan Iran Đây là những người đã kết hôn được ít nhất 1 năm, đang chung sống với người bạn đời trong lần kết hôn đầu tiên Nghiên cứu chỉ ra rằng có mối tương quan thuận đáng kể giữa sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân và sự hài lòng về tình dục Những người có sự hài lòng về tình dục cao cũng có sự hài lòng hôn nhân cao Mối tương quan của sự hài lòng về tình dục với sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân được kiểm soát bởi số con
và trình độ giáo dục Mặc dù việc có thêm con có thể làm giảm sự hài lòng về tình dục và sự hài lòng về hôn nhân, nhưng sự gia tăng về số con làm tăng mối tương quan giữa sự hài lòng hôn nhân và hài lòng về tình dục
Các tác giả Ata Shakeriana, Ali-Mohammad Nazari, Mohsen Masoomi, Painaz Ebrahimi, Saba Danai (2014) đã nghiên cứu về mối tương quan giữa sự hài lòng về tình dục và các vấn đề hôn nhân trên 400 phụ nữ li hôn của thành phố Sanandaj tỉnh Kudistan, Iran và chỉ ra có mối tương quan nghịch giữa sự hài lòng
về tình dục và các vấn đề hôn nhân Những người có sự hài lòng về tình dục thấp thì
có nhiều vấn đề về mối quan hệ hôn nhân Những người phụ nữ chủ động li hôn có mức độ hài lòng về tình dục thấp và có các vấn đề về hôn nhân nhiều hơn Các tác giả này cũng nhận định rằng sự hài lòng về tình dục có thể dự báo những vấn đề về hôn nhân
Khazaei M., Rostami R., Zaryabi A (2011) đã tiến hành nghiên cứu về mối tương quan giữa vấn đề rối loạn chức năng tình dục và sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân trên 150 cặp đôi là sinh viên trường Tehran, Iran Nghiên cứu đã cho thấy có mối tương quan nghịch giữa các kiểu rối loạn chức năng tình dục và sự hài lòng về
Trang 25cuộc sống hôn nhân Ở những cặp vợ chồng có sự hài lòng hôn nhân thấp, có xuất hiện các kiểu rối loạn chức năng tình dục nhiều hơn Cũng theo kết quả của nghiên cứu này, đối với nam giới, các rối loạn chức năng tình dục phổ biến là rối loạn cương dương và ở phụ nữ là rối loạn ham muốn tình dục Các tác giả của nghiên cứu cũng chỉ ra cần thiết phải tăng cường kiến thức về giới tính và tạo điều kiện cho việc tư vấn về hôn nhân cho sinh viên có gia đình
Hành vi giao tiếp và sự hài lòng hôn nhân
Bên cạnh yếu tố tình dục, các nghiên cứu về sự hài lòng trong giao tiếp hôn nhân cũng rất đa dạng và phong phú
Các nghiên cứu về sự tương tác giữa các cặp vợ chồng trong đời sống hôn nhân có đề cập tới 2 khía cạnh bao gồm hành vi giao tiếp tích cực và hành vi giao tiếp tiêu cực Những hành vi tích cực được chỉ ra như sự lắng nghe, chấp nhận hay khuyến khích đối tác, những hành vi tiêu cực như là sự chê bai, chỉ trích, đổ lỗi,… cho đối tác trong cuộc sống hôn nhân
Những hành vi tiêu cực như chỉ trích, chê bai đối tác có tương quan nghịch với sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân (Christensen, 1987; Klinetob và Smith, 1996) Nhiều cặp vợ chồng không hài lòng thường đổ lỗi cho nhau Đổ lỗi là một cách quy gán nguyên nhân tiêu cực cho hành vi của vợ hay chồng Những cặp vợ chồng không hài lòng thường quy gán theo cách thức luôn cho hành vi của người kia có màu sắc tiêu cực (McNulty và Karrney, 2001) Ngược lại, những hành vi như lắng nghe, chấp nhận, khuyến khích đối tác trong hôn nhân có tương quan thuận với
sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân Những cặp vợ chồng hài lòng với hôn nhân có mức độ tức giận và thiếu tôn trọng đối tác ít hơn đáng kể so với những cặp vợ chồng không hài lòng về hôn nhân (Pash và Bradbury, 1998)
Một khảo sát về Sự hài lòng hôn nhân, tương tác tiêu cực và tôn giáo: nghiên cứu so sánh ở 3 nhóm tuổi được tiến hành bởi Joe D Wilmotha, Abigail D
Blaneya và Jennifer R Smith (2015) trên một nhóm khách thể lớn bao gồm 45.387 người theo đạo Tin lành ở Mỹ {khách thể được lựa chọn là những người tham gia vào cuộc khảo sát nhu cầu gia đình quốc gia (the national Family Needs Survey)}, trong đó có 17.818 người là nữ và 25.173 là nam Tình trạng hôn nhân của nhóm
Trang 26khách thể nghiên cứu cũng rất đa dạng bao gồm 73,5% số người tham gia đã kết hôn, 18,5% chưa kết hôn, 1,5% đính hôn và 6,2% không rõ tình trạng hôn nhân; 20,3% li hôn và 5,5% góa Mẫu nghiên cứu được chia thành 3 nhóm tuổi là dưới 40 tuổi (32%), 40 - 59 tuổi (46%) và từ 60 tuổi trở lên (21%)
Nghiên cứu này đã đưa ra những hành vi giao tiếp tiêu cực như chỉ trích, phủ nhận cảm xúc, quan điểm hay mong muốn của đối tác được xem là có mối tương quan nghịch với sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân Các tác giả cũng phân tích và so sánh sự tương quan của những hành vi giao tiếp tiêu cực ở từng nhóm tuổi với sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân Kết quả phân tích đã chỉ ra nhóm các cặp vợ chồng có tuổi cao nhất và có tương tác tiêu cực thấp nhất có mức độ HLHN thấp nhất Ngược lại, nhóm các cặp vợ chồng có tuổi cao nhất và có tương tác tiêu cực nhiều nhất lại có mức độ HLHN cao nhất Nhóm tác giả cũng lí giải nguyên nhân của sự khác biệt này từ góc độ lí thuyết chọn lọc xã hội rằng các cá nhân sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào các đối tác hôn nhân mang đến sự đầy đủ về mặt tình cảm trong tuổi già
Để minh chứng cho kết quả này, nhóm tác giả cũng dẫn chứng thêm giải thích của McNulty và Russell (2010) trong nghiên cứu về những cặp vợ chồng mới cưới McNulty và Russell cho rằng có lẽ những tương tác tiêu cực này thực sự là một sự ủy thác cho sự gần gũi, thân mật hoặc khi cuộc hôn nhân đã trải qua một thời gian dài đã tạo điều kiện cho hai người có sự cởi mở hơn Như vậy, hành vi giao tiếp tiêu cực có thể là tích cực tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của mâu thuẫn và vào bối cảnh của cuộc hôn nhân
Phản ứng với mâu thuẫn
Mâu thuẫn trong các mối quan hệ là vấn đề được thảo luận nhiều trong các nghiên cứu về sự hài lòng hôn nhân Trong thực tế, theo lí thuyết xung đột (White
và Klein, 2008), một lượng xung đột nhất định là cần thiết trong gia đình để giải quyết các vấn đề và bất đồng, cũng như để cải thiện giao tiếp và tương tác giữa các thành viên trong gia đình mặc dù mâu thuẫn trong các mối quan hệ có thể dẫn đến li hôn (Booth và Amato, 2001)
Trang 27Gottman qua các quan sát thực tế về việc duy trì mối quan hệ giữa các cặp vợ chồng đã đưa ra những kết luận có giá trị rằng: Hình thức tương tác ở những cặp vợ chồng là riêng biệt, tùy theo họ hạnh phúc hay bất hạnh Những cặp vợ chồng hạnh phúc, khi bất đồng với nhau dẫn đến cãi vã, thường giàn hòa với nhau bằng việc chấp nhận để bên kia giải thích rõ vấn đề và thừa nhận lập trường của bên kia Trái lại, những cặp không hạnh phúc thường “thiếu hụt tương tác” Họ không thể chấp nhận
và thừa nhận những lời giải thích của đối phương Do đó, họ không thể đưa ra những diễn đạt có thể được cả hai bên coi trọng Những cặp vợ chồng này không thể có được sự đồng nhất quan điểm của một trong hai bên Họ luôn giam mình trong những lập trường cứng nhắc, không để cho ai làm bất cứ một điều chỉnh nào và dường như chỉ hướng tới thất bại Trái lại, những cặp hạnh phúc đưa ra và tiếp nhận những diễn
đạt cho phép duy trì liên hệ của họ (dẫn theo Trần Thị Minh Đức, 2014)
Trong các gia đình có xung đột, hành vi gây hấn (như quát mắng, chỉ trích) của hai vợ chồng cũng như hành vi né tránh của người chồng được chỉ ra là có liên quan tới sự suy giảm mức độ hài lòng trong cuộc sống hôn nhân (Birditt, Brown, Orbuch, và McIlvane, 2010) Tuy nhiên, hành vi mang tính xây dựng (ví dụ như lắng nghe tích cực) chỉ có ích khi cả hai vợ chồng cùng hiểu và thực hiện hành vi
đó Ví dụ một người có hành vi xây dựng và người kia lại có hành vi né tránh thì khả năng li hôn không giảm Các tác giả cho rằng sự né tránh của một người bạn đời có thể được người kia cảm nhận như là sự thờ ơ và sự thiếu xây dựng trong các mối quan hệ; và do đó, sự hài lòng về hôn nhân thấp hơn
Như vậy có thể thấy sự tương tác tích cực hay tiêu cực giữa các cặp vợ chồng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân của chính họ Các nghiên cứu của các tác giả cũng đã
đề cập tới cả những tương tác tích cực và tương tác tiêu cực trong cuộc sống hôn nhân Bên cạnh việc đưa ra các minh chứng về ảnh hưởng tiêu cực của xung đột tới sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân, các nhà nghiên cứu cũng cần xem xét đến những mô hình tương tác tích cực để đưa ra những chứng cứ cho việc phát triển các tương tác tích cực mang đến mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân cao cho các cặp đôi
Trang 281.1.3 Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
1.1.3.1 Sự khác biệt giới và sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt giới dẫn đến những khác biệt về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân ở các góc độ khác nhau như: các yếu tố ảnh hưởng tới sự hài lòng hôn nhân của nam và nữ là khác nhau, các yếu tố dự báo sự hài lòng
về cuộc sống hôn nhân ở nam và nữ khác nhau hay mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân của nam và nữ cũng khác nhau
Theo Rhoades (1994), các yếu tố ảnh hưởng nhiều đến sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân ở nam giới là vấn đề mối quan hệ của họ với con cái, sự chấp nhận của gia đình họ và bạn bè về cuộc hôn nhân, vấn đề giao tiếp giữa hai vợ chồng, và cuối cùng là tình cảm tốt đẹp Koehne (2000) lại tìm thấy sự thân mật là yếu tố quan trọng nhất của sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân đối với nam giới Đối với nữ giới, những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân là giao tiếp giữa hai vợ chồng, sự chấp nhận của cha mẹ và bạn bè, tình cảm tốt đẹp, và cuối cùng là mối quan hệ cha con (Rhoades, 1994) Ngoài ra, sự cam kết, sự ràng buộc của người bạn đời với hôn nhân mà họ ít cần phải theo dõi hay nghĩ đến các lựa chọn thay thế cũng là những yếu tố được tìm thấy là quan trọng nhất trong sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân đối với nữ giới (Koehne, 2000)
Sự hỗ trợ trong cuộc sống hôn nhân cũng có tương quan với sự hài lòng của hai người trong hôn nhân (Lawrence, 2008) Những sự hỗ trợ này có sự khác biệt theo giới tính Theo Graham, Fischer, Crawford, Fitzpatrick, và Bina (2000), đối với người vợ, sự hỗ trợ về tiền bạc ảnh hưởng đến sự hài lòng về hôn nhân hơn là
sự hỗ trợ về an toàn; trong khi những người chồng lại có xu hướng xem hỗ trợ về sự
an toàn là yếu tố quan trọng hơn Hơn nữa, những hỗ trợ xã hội được chỉ ra rằng là đặc biệt quan trọng đối với việc điều chỉnh hôn nhân của phụ nữ có con, nhưng không phải là yếu tố có ý nghĩa với người chồng
Hai tác giả Ayub và Iqbal (2012) trong nghiên cứu về các yếu tố dự báo sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân trên 300 cặp vợ chồng người Pakistan đã chỉ ra có sự khác biệt giữa nam và nữ về các yếu tố dự báo sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân Từ
Trang 29góc độ quan điểm của nữ giới, các yếu tố có ảnh hưởng tới sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân bao gồm vấn đề giao tiếp, sự hiểu nhau, mối quan hệ gia đình, sự đồng thuận và thu nhập của hai vợ chồng Còn dưới góc độ quan điểm của nam giới, các yếu tố ảnh hưởng tới sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân được đề cập là trình độ học vấn của người bạn đời, thu nhập, sự hiểu nhau, sự trao đổi, mối quan hệ gia đình
Jeffrey B.Jackson và các cộng sự người Mỹ (2014) đã tiến hành một nghiên cứu tổng quan sự khác biệt giới về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân trên 226 nghiên cứu độc lập với tổng số 101.110 người tham gia vào phân tích này Kết quả phân tích tổng quan tài liệu này cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa
vợ và chồng trong sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân nhưng sự khác biệt này rất nhỏ, người vợ ít hài lòng hơn người chồng Tuy nhiên, nhóm tác giả này cũng giải thích sự khác biệt này là do việc lựa chọn mẫu nghiên cứu bao gồm cả những người
vợ đang trong quá trình trị liệu tâm lí Đối với nhóm mẫu không có các trường hợp đang tham gia vào các hoạt động can thiệp hôn nhân cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa người vợ và người chồng trong sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân Phân tích trong cùng một cặp vợ chồng cũng cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa vợ và chồng trong sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
Các nghiên cứu trên thế giới đã tìm hiểu sự ảnh hưởng của giới tính đến sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân ở nhiều chiều cạnh khác nhau Sự khác biệt về giới dẫn đến sự khác biệt về các yếu tố ảnh hưởng tới sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân; hay ở cùng một yếu tố, mức độ ảnh hưởng tới sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân ở nam và nữ là khác nhau Tuy nhiên, trong các nghiên cứu này còn ít những phân tích về nguyên nhân của sự khác biệt giới trong mối liên hệ với sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
1.1.3.2 Đặc điểm cá nhân và sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
Có hai xu hướng nghiên cứu về các đặc điểm cá nhân ảnh hưởng tới sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân đấy là các đặc điểm cá nhân có tương quan thuận với
sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân, và các đặc điểm cá nhân có tương quan nghịch với sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
Trang 30Samaneh Najarpourian và cộng sự trường đại học Isfahan Iran (2012) đã
thực hiện nghiên cứu “Các kiểu tính cách và sự hài lòng hôn nhân” với sự tham gia
của 164 người đã kết hôn Nhóm nghiên cứu đã lựa chọn ngẫu nhiên các khách thể nghiên cứu ở trong cộng đồng, tuổi trung bình của nhóm khách thể nghiên cứu là 43
và số năm kết hôn trung bình là 14 năm Trong đó, 12,5% số người tham gia trả lời câu hỏi không có con, số khách thể còn lại có từ 1 đến 5 con Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả này đã chỉ ra những người có kiểu tính cách linh hoạt và cảm xúc
trong đó đặc trưng bởi sự kết hợp của kiểu hệ thần kinh yếu (low neuroticism) và
hướng ngoại cao (hight extraverson) có sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân ở mức cao Những nhóm này ít cảm thấy lo âu, ít có thái độ thù địch, trầm cảm, lo lắng và
có các đặc điểm như sự ấm áp, sự quảng giao, sự phấn khởi Ngoài ra, các tác giả này cũng phân tích, trong xã hội, người ta thường đánh giá cao những đặc điểm như năng lực, nhân cách, thành tựu và kỉ luật nên những người có kiểu tính cách ý chí phấn đấu cao (hight conscientiousness), đặc biệt là với nam giới được dự báo là sẽ
có mức độ hài lòng hôn nhân cao
Ảo tưởng tích cực về người bạn đời có tác động tích cực đến sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân Murray (1999) đề xuất rằng sự hài lòng và ổn định của một mối quan hệ hôn nhân phụ thuộc vào việc phóng đại các phẩm chất tích cực của bạn tình “Lí tưởng hóa” bạn tình là một thành tố cơ bản của sự hài lòng với quan hệ hôn nhân (Murray và Holmes, 1993, 1997; Neff và Karney, 2002)
Những người đang yêu luôn đánh giá quan hệ của mình tốt hơn so với những người khác Khi những khách thể được hỏi về chất lượng của các mối quan hệ rồi
so sánh kết quả đánh giá chủ quan đó với đánh giá, quan sát của những người gần gũi khác như cha mẹ hoặc bạn bè, người ta thấy những người được hỏi nhìn nhận quan hệ của mình tích cực và gặp ít khó khăn hơn so sánh với đánh giá của những người quan sát gần gũi (Knud S.Laren và Lê Văn Hảo, 2010)
Trí nhớ thiếu hoàn hảo của con người cũng hỗ trợ cho các ảo giác tích cực Việc không nhớ những thời điểm khó khăn hoặc tin rằng những ngày tháng đó không đến nỗi tồi tệ như nó đã xảy ra trong thực tế sẽ giúp ích cho tuổi thọ của cuộc hôn nhân Sự thiên vị hôn nhân này tồn tại ở cả các nền văn hóa Âu, Mỹ lẫn Châu Á (Endo, Heine, và Lehman, 2000; Knud S.Laren và Lê Văn Hảo, 2010)
Trang 31Các yếu tố cá nhân có tương quan nghịch với sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân như hành vi lạm dụng thuốc, uống rượu đặc biệt nặng và hút thuốc lá, cũng đã được chứng minh là có tác động tiêu cực đến sự hài lòng về hôn nhân (Homish, Leonard, Kozlowski và Cornelius, 2009)
Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra nhân cách, sức khỏe thể chất, tinh thần của người bạn đời là những yếu tố có tác động trực tiếp đến cuộc sống hôn nhân qua các nghiên cứu Các yếu tố cá nhân có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến mối quan hệ hôn nhân Tuy nhiên, chúng tôi chưa tìm thấy các nghiên cứu phân tích cặp đôi về sự phối hợp giữa các kiểu đặc điểm cá nhân khác nhau; hay còn thiếu các nghiên cứu phân tích sự phù hợp và chưa phù hợp giữa các kiểu nhân cách khi chung sống với nhau
1.1.3.3 Niềm tin tôn giáo và sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng niềm tin tôn giáo có mối quan hệ tích cực với
sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân (Craddock, 1991; Flynn, 1987; Heaton và Pratt, 1990; Snow và Compton, 1996; Sullivan, 2001) Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu chỉ ra rằng niềm tin tôn giáo có mối quan hệ tiêu cực với sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân (Astacio, 1999; Burchinal, 1957; Koehne, 2000; Vaughan, 2001) Những mâu thuẫn trong các nghiên cứu có thể là do các định nghĩa và sự khác biệt
đo lường khác nhau, nhưng cũng có thể chỉ ra rằng tôn giáo có thể cải thiện hoặc làm giảm sự hài lòng về hôn nhân phụ thuộc vào các yếu tố khác
Sullivan (2001) khám phá ba mô hình mô tả mối liên hệ giữa tôn giáo và sự hài lòng về hôn nhân Mô hình ảnh hưởng trực tiếp, mô hình ảnh hưởng gián tiếp và
mô hình kết hợp Với mô hình ảnh hưởng gián tiếp, có thể thấy các triết lí tôn giáo thường trân trọng giá trị hôn nhân, lòng chung thủy, sự cam kết của các cặp vợ chồng với hôn nhân nên khi kết hôn, các cặp đôi có niềm tin tôn giáo cao sẽ có mức
độ cam kết cao hơn, có thái độ tích cực với việc gìn giữ hôn nhân và tìm kiếm sự hỗ trợ khi có vấn đề xảy ra trong cuộc sống hôn nhân Ngoài ra, việc có chung niềm tin tôn giáo cũng phản ánh một phần việc các cặp vợ chồng có cùng triết lí sống Có cùng triết lí sống cũng là một trong các yếu tố có ảnh hưởng tới sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân (Bradbury và cộng sự, 2000; Chinitz, 2001; Greeff, 2000; Greenberg, 1996; Kaslow và Robinson, 1996; Kohn, 2001)
Trang 32Những nghiên cứu về sự tương đồng tôn giáo nói chung chỉ ra rằng các cặp
vợ chồng có cùng một niềm tin tôn giáo có tỉ lệ hài lòng về cuộc sống hôn nhân cao hơn và tỉ lệ li hôn thấp hơn những cặp vợ chồng có niềm tin tôn giáo hỗn hợp (Heaton và Pratt, 1990; Call và Heaton, 1997)
Các nghiên cứu về ảnh hưởng của niềm tin tôn giáo đến sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân ở đây đã chỉ ra mức độ ảnh hưởng và lí giải nguyên nhân cho sự ảnh hưởng đó Các kết quả nghiên cứu này cho phép các cặp đôi xem xét yếu tố tôn giáo như là một chỉ báo cho mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân khi xem xét lựa chọn bạn đời Ngoài ra, các nghiên cứu về mối tương quan giữa tôn giáo và sự hài lòng hôn nhân cũng cho phép các nhà trị liệu về hôn nhân có thể xem xét yếu tố niềm tin tôn giáo trong việc giải quyết các mâu thuẫn của các cặp đôi
1.1.3.4 Con cái và sự hài lòng hôn nhân
Một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới quan hệ hôn nhân là quá trình trở thành cha mẹ của các cặp vợ chồng Rất nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng trẻ em có ảnh hưởng đến mối quan hệ hôn nhân Sự hiện diện của con cái
có xu hướng tăng sự ổn định của hôn nhân nhưng lại làm giảm sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân (Belsky, 1990; Waite và Lillard, 1991)
Twenge và cộng sự (2003) đã tiến hành nghiên cứu tổng quan tài liệu về thời
kì làm cha mẹ và sự ảnh hưởng tới cuộc sống hôn nhân từ 97 bài báo khoa học trong đó bao gồm tổng cộng có 47.692 người tham gia vào các nghiên cứu Nghiên cứu phân tích tổng quan của nhóm tác giả này đã chỉ ra những người là cha mẹ có
sự hài lòng hôn nhân thấp hơn những người không là cha mẹ Nhóm tác giả cũng đưa ra 4 mô hình lí thuyết lí giải cho sự ảnh hưởng của con cái đến sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân bao gồm: mô hình xung đột vai trò (the role conflict model),
mô hình hạn chế sự tự do (the restriction of freedom model), mô hình giảm sự hài lòng về tình dục (the sexual dissatisfaction model), và mô hình chi phí tài chính (the financial cost model)
Sự ra đời của đứa trẻ đầu tiên là một thách thức với hôn nhân của các cặp
vợ chồng, từ mối quan hệ cặp đôi chuyển sang mối quan hệ gia đình bao gồm 3 người hoặc hơn Sự chuyển đổi này có ảnh hưởng ở cả góc độ tích cực và tiêu cực đến các cặp vợ chồng Một mặt, các cặp vợ chồng cảm thấy hài lòng và rất vui
Trang 33mừng với sự xuất hiện của đứa trẻ Tuy nhiên, ở góc độ khác, họ phải trải qua cảm giác mệt mỏi, thiếu thời gian cho bản thân, và nhiều sự bất đồng về vấn đề chăm sóc đứa trẻ cũng như sự phân chia việc nhà (Belsky và Pensky, 1988; Twenge, Campbell, và Foster, 2003)
Nhóm tác giả Hirchberger, Srivastava, Marsh, Cowan và Cowan (2009) đã
tiến hành nghiên cứu “Con cái, sự hài lòng về hôn nhân và li hôn trong 15 năm đầu làm cha mẹ” Nghiên cứu này nghiên cứu trên các cặp vợ chồng có 15 năm chung
sống sau khi sinh đứa con đầu tiên Nghiên cứu chỉ ra sự hài lòng về hôn nhân giảm dần sau 15 năm có con ở cả vợ và chồng Nghiên cứu chia mẫu nghiên cứu làm 2 nhóm Một nhóm gồm các gia đình đang trong thời kỳ mang thai đến khi đứa trẻ đầu tiên được 5,5 tuổi và nhóm mẫu thứ 2 là các gia đình có con đầu tiên từ 4,5 đến 14,5 tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm mẫu thứ 2 có mức độ hài lòng về hôn nhân cao hơn nhưng nó không đối lập với kết quả chung là sự hài lòng về hôn nhân giảm dần theo thời gian Nhóm mẫu ban đầu có sự hài lòng thấp hơn được lí giải xung quanh việc có đứa trẻ đầu tiên là một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến hôn nhân tan vỡ
Nhóm tác giả Lê Văn Hảo và Knud S.Larsen (2010) đã đưa ra một số dẫn chứng về ảnh hưởng của con cái đến sự hài lòng hôn nhân dựa trên các nghiên cứu khác Cụ thể, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc có con có thể tác động tiêu cực đối với hạnh phúc hôn nhân (Myers, 2000) Sinh và nuôi dưỡng con cái đòi hỏi một
số điều kiện vì trẻ em cần sự tập trung chăm sóc của cha mẹ và vì thế hôn nhân có thể trở nên tồi tệ Thường vợ chồng không có lại được cảm giác hạnh phúc của thời
vợ chồng son cho đến khi con cái trưởng thành Tuy nhiên, những cặp vợ chồng luôn phấn đấu cho một mối quan hệ gần gũi lại thấy việc có con là phần thưởng (Norman, McKenna, và Heyman, 2000)
Sự hài lòng trong cuộc sống hôn nhân của hai người thay đổi liên quan đến con cái được mô tả như hình chữ U Sự hài lòng trong cuộc sống hôn nhân giảm dần khi đứa trẻ đầu tiên ra đời (Hirchberger, Srivastava, Marsh, Cowan và Cowan, 2009) và gia tăng sau khi những đứa trẻ cuối cùng trưởng thành (Anderson, Russell,
và Schuman, 1983; Gelles, 1995)
Trang 34Có thể thấy, các nghiên cứu được đề cập ở trên đã chỉ ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của việc có con với cuộc sống hôn nhân Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã tìm hiểu sự ảnh hưởng của việc có con ở từng giai đoạn phát triển của con đến sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu về hôn nhân cần xem xét và phân tích sự ảnh hưởng của việc có con đến cuộc sống hôn nhân dưới góc độ văn hóa khác nhau; phân tích sâu các niềm tin, mong đợi, và quan điểm của các cặp vợ chồng về việc có con ảnh hưởng tới mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân
1.2 Những nghiên cứu về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến sự hài lòng hôn nhân Tuy nhiên, khía cạnh sự hài lòng hôn nhân chỉ được lồng ghép đâu đó trong các nghiên cứu này Điển hình có nghiên cứu về gia đình nông thôn Việt Nam năm 2004, do Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp cùng với Sida thực hiện; Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006; nghiên cứu liên ngành với tên gọi “Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi” thuộc chương trình hợp tác nghiên cứu Việt Nam - Thụy Điển giai đoạn 2004-2007; điều tra “Sự hài lòng về cuộc sống” năm 2011 của nhóm nghiên cứu trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội Trong
nghiên cứu gia đình nông thôn Việt Nam năm 2004 có tìm hiểu “Nhìn chung cho đến nay, ông/bà cảm thấy hài lòng về đời sống hôn nhân của mình ở mức độ nào?”
Các nghiên cứu này đã bàn đến các yếu tố ảnh hưởng tới sự hài lòng hôn nhân như giới, tuổi, học vấn, nghề nghiệp, tôn giáo Tuy nhiên, họ chưa phân đoạn thời kỳ hôn nhân với sự hài lòng hôn nhân mà theo tác giả thấy đó là khoảng trống trong các nghiên cứu này
Nghiên cứu sự hài lòng về đời sống tinh thần2 trong đó có chiều cạnh về sự hài lòng trong đời sống hôn nhân của tác giả Hoàng Thị Thu Hương cho thấy, sự hài lòng về đời sống hôn nhân được đánh giá cao hơn sự hài lòng liên quan đến sức khỏe, nghề nghiệp và thu nhập Đặc biệt, sự hài lòng về đời sống hôn nhân có tác động thuận chiều đến sự hài lòng về đời sống tinh thần bên cạnh các yếu tố khác
2 Nghiên cứu được thực hiện năm 2011 tại 4 tỉnh thành phố lớn Hà Nội, Hải Dương, Bình Dương, Thành phố
Hồ Chí Minh bởi nhóm nghiên cứu trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia với số mẫu là 2400 trong đó 49.2% là nam và 50.8% là nữ
Trang 35như thu nhập và tài sản (Hoàng Thị Thu Hương, 2012) Điều đó cho phép liên tưởng tới một điều rằng, muốn nâng cao chất lượng đời sống cho mỗi con người thì cần chăm lo đời sống gia đình trong đó có đời sống hôn nhân
Sự hài lòng hôn nhân là một bộ phận, một khía cạnh của hài lòng cuộc sống (Nguyễn Thị Vân Hạnh, 2013) và sự hài lòng hôn nhân ảnh hưởng tích cực tới sự hài lòng cuộc sống (Hoàng Bá Thịnh, 2013)
1.2.1 Hướng nghiên cứu về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân theo thời gian
Tại Việt Nam, vẫn còn ít những nghiên cứu về sự hài lòng hôn nhân theo thời gian Số năm kết hôn phản ánh độ dài thời gian trải nghiệm cuộc sống hôn nhân giữa vợ và chồng Thực tế, số năm kết hôn càng nhiều thì độ tuổi của vợ/chồng càng lớn Số năm kết hôn và độ tuổi có ảnh hưởng tới sự hài lòng hôn nhân Cụ thể, những người có nhóm tuổi lớn hơn có xu hướng hài lòng về hôn nhân giảm (Dương Thị Thu Hương và Hoàng Bá Thịnh, 2013)
1.2.2 Hướng nghiên cứu sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân theo các khía cạnh của đời sống hôn nhân
Nghiên cứu “Một số đặc trưng cơ bản của hôn nhân ở Việt Nam” của Viện
Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trên tổng số mẫu định lượng là 1.819 trong đó có 48% nam, 52% là nữ 55,6% ở nông thôn và 44,4% ở đô thị được thực hiện tại 7 tỉnh/thành phố đại diện cho các vùng miền địa lý gồm Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Thừa Thiên Huế, Đắk Lắk, T.P HCM và Cần Thơ" Nghiên cứu cũng tìm hiểu một số khía cạnh khác nhau của đời sống hôn nhân như tình cảm, hiểu biết lẫn nhau, ứng xử
vợ chồng, đời sống tình dục, đời sống vật chất trong sự hài lòng về hôn nhân Nghiên cứu đã chỉ ra yếu tố tình cảm, hiểu biết lẫn nhau và ứng xử vợ chồng là các yếu tố được đánh giá cao nhất trong việc mang đến sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân Chất lượng hôn nhân đích thực đòi hỏi nhiều về các yếu tố tâm lí bên trong Tình cảm vợ chồng, tính cách và sự ứng xử tốt với nhau luôn là quan trọng nhất, tác động nhiều nhất đến chất lượng của cuộc hôn nhân (Nguyễn Hữu Minh, 2012)
Quan hệ tình dục có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống vợ chồng Ngoài mục đích sinh đẻ và duy trì nòi giống, hoạt động này còn mang ý nghĩa thể hiện tình yêu, thỏa mãn nhu cầu tình cảm và là yếu tố tạo nên hạnh phúc và sự bền vững của gia đình (Nguyễn Thanh Huyền, 2016)
Trang 36Trong nghiên cứu của Nguyễn Phương Thảo (2012), phụ nữ có vai trò tương đối bình đẳng với nam giới trong quan hệ tình dục và có sự thay đổi trong hành vi tình dục của nam giới nghĩa là họ chấp nhận bị từ chối tình dục một cách có “hiểu biết” và không cố ép người phụ nữ quan hệ tình dục Điều đó có nghĩa tình dục chỉ
có thể được thỏa mãn khi cả hai vợ chồng cùng mong muốn và đáp ứng lẫn nhau hay nói cách khác là họ thấy hài lòng về đời sống tình dục Chính những sự thay đổi
về khuôn mẫu tình dục theo mô hình cùng mong muốn và đáp ứng lẫn nhau khiến cho các cặp vợ chồng có sự hài lòng hôn nhân thay vì người chồng hoàn toàn chủ động trong quan hệ tình dục và người vợ chỉ làm theo (dù muốn hay không muốn) Đôi khi nam giới có phần chủ động hơn nhưng sự chủ động này chỉ biểu hiện ở việc nam giới gợi ý và khởi xướng quan hệ tình dục và phụ nữ vẫn có vai trò bình đẳng khi tham gia vào hoạt động tình dục (Vũ Song Hà, 2005; Vũ Hồng Phong, 2006; Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh, 2008; Khuất Thu Hồng, 2009) Điều này khiến cho sự hài lòng hôn nhân dễ xuất hiện hơn
Sự hài lòng về tình dục tạo nên sự hòa hợp và hạnh phúc trong hôn nhân (Bùi Vân Anh, 2008) Điểm đáng chú ý là có tới 97,3% người được hỏi cho rằng họ
có quan hệ tình dục lần đầu với vợ/chồng của mình và họ không bị ép buộc quan hệ tình dục với vợ/chồng của họ (80,2%) Điều này cho thấy, hành vi tình dục của họ vẫn gắn liền với hôn nhân gia đình, quan niệm truyền thống và tự nguyện Đây là điểm đáng lưu tâm khi so sánh với các nghiên cứu khác về sự hài lòng hôn nhân, trong đó có sự hòa hợp về tình dục gắn với quan niệm truyền thống và tự nguyện
1.2.3 Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
1.2.3.1 Sự khác biệt giới và sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
Giới tính có ảnh hưởng tới sự hài lòng hôn nhân (Hoàng Thị Thu Hương, 2012; Bùi Vân Anh, 2008; Dương Thị Thu Hương và Hoàng Bá Thịnh, 2013) Cụ thể, nam giới có sự hài lòng về về đời sống hôn nhân cao hơn nữ giới (Hoàng Thị Thu Hương, 2012; Dương Thị Thu Hương và Hoàng Bá Thịnh, 2013; Phan Thị Mai Hương, Đặng Thị Thu Trang, Đỗ Thị Lệ Hằng, Phạm Phương Thảo, 2018), về mọi mặt hôn nhân, ở mọi lứa tuổi (Hoàng Bá Thịnh, 2013) Tuy nhiên, cũng có những
Trang 37nghiên cứu khác chỉ ra không có sự chênh lệch đáng kể giữa nam và nữ về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân (Nguyễn Hà Đông, 2015)
Nguyên nhân của sự khác biệt giữa nam và nữ về sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân được chỉ ra rằng sự khác biệt chủ yếu do bối cảnh kinh tế đất nước (trải qua thời gian dài của quá trình bao cấp) và sự khác biệt vùng miền (Hoàng Thị Thu Hương, 2012) Sau khi kết hôn, việc phân công lao động trong gia đình thường mang tính truyền thống và phụ nữ phải gánh vác thêm các trọng trách mới trong gia đình như làm việc nhà, chăm sóc con cái và có thể vì vậy họ ít thỏa mãn với hôn nhân hơn khi không có hoặc ít có sự chia sẻ của người chồng trong các công việc gia đình (Dương Thị Thu Hương và Hoàng Bá Thịnh, 2013)
Nghiên cứu của Vũ Thị Thanh (2018) cho thấy, nữ giới dường như không hài lòng với người bạn đời của mình nhiều hơn nam giới Khẳng định này cho thấy, chất lượng hôn nhân của nữ giới thấp hơn nam giới Điều đó cũng tương đồng với các nghiên cứu trên thế giới rằng, có sự khác biệt về hài lòng hôn nhân giữa nam và nữ (xem Amoto và cộng sự, 2007; Kok-mun và cộng sự, 2009; Kurdek, 2005; Mackey
cà O‟Brient, 1995) và nữ giới có sự hài lòng về hôn nhân ít hơn so với nam giới (xem Allendorf và Ghimire, 2013; Bulanda, 2011 và Halpern-Meekin, Tach, 2013)
1.2.3.2 Đặc điểm cá nhân và sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng là hai cá thể riêng biệt, có những ước
mơ, nhu cầu, tính cách sở thích và ý kiến khác nhau nhưng cùng chung sống dưới một mái nhà Hai con người ấy được sinh ra trong hai gia đình hoàn toàn khác nhau,
có lối sinh hoạt khác nhau và những thói quen khác nhau trong quá trình trưởng thành Và khi hôn nhân bắt đầu (thông qua kết hôn) những thói quen và cách sinh hoạt khác nhau ấy theo hai con người vào gia đình mới
Khi sự hài lòng hôn nhân không được đáp ứng bởi những khác biệt trong tính cách thì rất dễ dẫn đến li hôn Một nghiên cứu gần đây, thông qua việc phân tích hồ sơ các vụ án li hôn ở tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội cho thấy, tính cách/tính tình không hợp nhau là nguyên nhân đứng vị trí hàng đầu trong số các nguyên nhân li hôn, thậm chí nguyên nhân này có xu hướng tăng từ 26,8% năm 2005 lên 71,3% năm 2010 (Phan Thị Luyện, 2015) Trong nghiên cứu này, tính tình không hợp được lý giải là sự khác biệt trong tính cách, các nguyên tắc
Trang 38sống và sự khác biệt này lớn đến nỗi gây ra mâu thuẫn, xung đột giữa vợ và chồng Khi mâu thuẫn và xung đột đó không thể hòa giải thì ắt dẫn đến li hôn Điều đáng chú ý ở đây là trong số 71,3% số vụ án li hôn do tính cách không hợp nhau thì có tới 34,1% số vụ li hôn xảy ra vào thời điểm ngay sau khi kết hôn nghĩa
là ngay trong giai đoạn đầu chung sống Không chỉ ở những gia đình mới kết hôn
mà ở những gia đình tái hôn cũng có những mâu thuẫn vợ chồng do tính cách không hợp nhau và dẫn đến li hôn
Ở một nghiên cứu khác, những hành vi giao tiếp liên quan đến lối sống và thói quen khiến người trả lời thấy không hài lòng nhất với vợ/chồng của mình Và khi có sự không hài lòng, phụ nữ có xu hướng phản ánh sự bất đồng nhiều hơn nam giới trên tất cả các khía cạnh của đời sống hôn nhân (Vũ Thị Thanh, 2018) Sự khác biệt giữa vợ và chồng trong suy nghĩ, tính cách, lối sống và thói quen rất dễ dẫn đến
sự không hài lòng trong đời sống hôn nhân (Nguyễn Minh Hòa, 2000; Vũ Tuấn Huy, 2003) và dẫn đến li hôn (Mai Huy Bích, 1987; Levinger, 1976; Hart, 1976) Khi sự hài lòng hôn nhân không được gọi tên thì li hôn được xem là giải pháp thay thế của cặp vợ chồng để đi tìm sự hài lòng hôn nhân mới Tuy nhiên, cũng có những cặp vợ chồng không sống được với nhau do có những sự không hài lòng hôn nhân
đã tìm đến “lá ngón để chết” (Vũ Tuấn Huy, 2013) Như vậy, sự hài lòng hôn nhân
có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ duy trì đời sống hôn nhân mà trong nhiều trường hợp còn là duy trì mạng sống con người
1.2.3.3 Con cái và sự hài lòngvề cuộc sống hôn nhân
Trong quan niệm của người Việt, con cái có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi cặp vợ chồng, được xem là nhu cầu tối thượng và được tôn vinh Đặc biệt
là đạo Khổng mà như nhà nghiên cứu Đào Duy Anh nhận xét rằng: mỗi người Việt Nam trong suốt cuộc đời của họ, đều hít thở không khí của Khổng tử, uống nước của Khổng tử, ăn cơm của Khổng tử, và cho đến ngày tận thế vẫn sống trong vòng cương tỏa của những nghi lễ Khổng giáo (Đào Duy Anh, 1994: 23) Thậm chí, đây không chỉ là vấn đề tư tưởng mà còn được công nhận bởi pháp lý trong xã hội truyền thống Chẳng hạn, Kinh lễ cho phép người chồng được bỏ vợ nếu họ phạm vào một trong bảy điều răn, trong đó không có con là điều đầu tiên Những bất hạnh của các cặp vợ chồng dẫn đến li hôn có xuất phát từ nguyên nhân không có con
Trang 39Thậm chí có con thôi chưa đủ mà còn phải có con trai, nếu một cặp vợ chồng nào
đó không có con trai được xem là bất hiếu đối với dòng họ và tổ tiên bởi một trong những giá trị của đứa con là để nhờ cậy lúc bố mẹ tuổi già và để nối dõi tông đường, kế tục dòng họ (Trương Xuân Trường, 2015; Phạm Xuân Đại, 2015) Vì vậy, việc có con trai trở thành một thước đo giá trị mạnh tới mức người đàn ông dám vượt qua những giới hạn do nhà nước quy định chính thức về thể chế hôn nhân
và kế hoạch hóa gia đình để đi “thả cỏ” với mục đích kiếm được đứa con trai hoặc với phụ nữ là “bỏ thai” nếu đã có con gái và thai nhi đó là đứa con gái (Nguyễn Văn Chính, 2015) Sở dĩ, họ làm như vậy là do đạo Khổng đã ăn sâu bén rễ vào tư tưởng của từng gia đình người Việt bên cạnh những sức ép về dư luận xã hội lên các cặp
vợ chồng chưa có con trai, đặc biệt là đối với những người đàn ông là con trai duy nhất của gia đình Những trường hợp điển hình trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Chính đều cảm thấy dằn vặt thậm chí là cảm thấy như tội đồ dù không có làm gì nên tội khi chưa sinh được con trai Rõ ràng, trong xã hội truyền thống, giá trị của con trai chi phối mạnh mẽ đời sống gia đình, đặc biệt là đời sống hôn nhân của các cặp vợ chồng Những nghiên cứu này cho thấy việc có con, đặc biệt là có con trai liên quan đến việc duy trì cuộc hôn nhân Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa chỉ ra mối liên hệ giữa việc có con với sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
Con cái không chỉ là kết quả của tình yêu, hôn nhân giữa vợ và chồng mà còn
là cầu nối tình cảm giữa hai bên gia đình vợ và chồng Theo quan niệm truyền thống,
từ góc độ gia đình, sau khi kết hôn mọi người đều mong đợi có con và đứa con là một niềm vui, bất kể đó là con trai hay con gái (Mai Huy Bích, 2011: 91) Ở góc độ xã hội, đứa con là minh chứng đầy đủ hơn về vai trò, vị thế, uy tín xã hội của người phụ nữ và nam giới đồng thời khẳng định địa vị mới của họ trong quan hệ gia đình và
dòng họ (Lê Ngọc Văn, 2011) Vì vậy, “sau khi kết hôn, nhất thiết phải có con và có con là nhu cầu thiết yếu trong hôn nhân” (Đỗ Thị Bình và cộng sự, 2002; Bộ Văn
hóa Thể thao và du lịch và các cơ quan khác, 2008; Ngô Tuấn Dung, 2012; Viện Gia đình và giới, 2010) Giá trị tinh thần của con cái đem lại cho bố mẹ được biển hiện qua sự hài lòng, niềm vui, niềm hạnh phúc, là điều tốt đẹp nhất trong cuộc sống và do
đó con cái có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và duy trì tính bền vững của hôn nhân (Vũ Thị Cúc, 2013) Điều đó cho thấy, con cái có vai trò quan trọng đối với
Trang 40gia đình và gắn kết hôn nhân Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu trên thế giới lại chỉ ra con cái có ảnh hưởng tiêu cực đến vào sự hài lòng hôn nhân
1.2.3.4 Mô hình chung sống sau kết hôn và sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân
Kết hôn là một sự kiện quan trọng của đời người và là sự kiện đánh dấu sự trưởng thành và sự độc lập, tự chủ trong đời sống của mỗi cá nhân Việc tổ chức đời sống gia đình sau khi kết hôn là vấn đề quan trọng không chỉ của cặp vợ chồng mới cưới mà còn của cả gia đình lớn (có bố mẹ, anh chị em, ông bà) Ở Việt Nam, mô hình chung sống sau kết hôn của vợ chồng mới cưới gồm 3 loại: sống chung với gia đình nhà chồng, sống chung với gia đình nhà vợ hay gọi chung là gia đình mở rộng
và sống riêng hai vợ chồng ở nơi ở mới Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố: kinh
tế, văn hóa, hoàn cảnh gia đình, mong muốn của người trong cuộc mà dẫn đến
“khả thi có thể, tính khả thi và sự mong muốn” một kiểu tổ chức gia đình nhất định (Nguyễn Hữu Minh, 2008/2009/2011)
Trong mô hình sống chung sau kết hôn với bố mẹ (hai người sau khi kết hôn sống chung với gia đình nhà chồng hoặc nhà vợ) có nhiều mối quan hệ gắn liền với trách nhiệm và bổn phận của người con dâu, con rể phải đảm nhiệm Nếu người con dâu, con rể này có những ứng xử không đáp ứng được những mong đợi của gia đình nhà chồng, nhà vợ thì rất dễ dẫn đến mâu thuẫn, kết quả là sự hài lòng hôn nhân giữa hai vợ chồng bị ảnh hưởng Trong nghiên cứu của Phan Thị Luyện (2015), trong số 21,4% cặp vợ chồng sống trong các gia đình mở rộng thì có 4,6% cặp vợ chồng li hôn Nguyên nhân là do những mâu thuẫn trong cuộc sống chung với gia đình nhà chồng, nhà vợ dẫn đến sự hài lòng hôn nhân bị tổn thương, quá trình này diễn ra dai dẳng và các đương sự không muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân nữa Lúc này, trong đời sống vợ chồng, sự hài lòng dần mất chỗ đứng và thay vào đó là những xung đột không được giải quyết, và kết quả là dẫn đến li hôn
Sống chung với gia đình chồng có ảnh hưởng tới sự hài lòng hôn nhân (Lê Nguyễn Đoan Khôi, Nguyễn Văn Nhiều Em, Nguyễn Thị Bảo Ngọc, 2012) Gia đình ba thế hệ khó tránh khỏi mâu thuẫn, xung đột do sự khác biệt, thậm chí là trái ngược nhau về nhu cầu, nhận thức, hành vi sinh hoạt của các thành viên (Nguyễn Hữu Minh, 2013)