Một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ở Xí nghiệp điện tử truyền hình A - Triển vọng phát triển và các chính sách của nhà nước Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện
Trang 1Một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ở Xí
nghiệp điện tử truyền hình
A - Triển vọng phát triển và các chính sách của nhà nước
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay đặc biệt với doanh nghiệp nhà nước để đứng vững và phát triển Xí nghiệp phải tìm cho mình một hướng
đi đúng đắn phù hợp trong từng giai đoạn, trên cơ sở thực tế về nhân lực, vốn, dây chuyền công nghệ của Xí nghiệp cũng như của các đối thủ cạnh tranh Với những chiến lược đúng đắn bản thân các doanh nghiệp phải xây dựng cho mình những mục tiêu, kế hoạch và biện pháp cụ thể mang tính khả thi đảm bảo mang lại hiệu quả kinh doanh cao và đạt được những thắng lợi trong cạnh tranh.
1 Biện pháp phát triển điện tử truyền hình Việt Nam
Những năm gần đây chúng ta đã đạt được mức tăng trưởng GDP khá cao, ổn định được nền kinh tế, chính trị xã hội.
Chính sách mở cửa nhằm thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài ngày càng được mở rộng, quan hệ kinh tế với các nước ngày càng phát triển góp phần nâng cao vị trí của nước ta trên trường quốc tế Hiện nay nước ta có quan hệ kinh tế với trên 100 nước trên thế giới Chính điều này tạo điều kiện cho ngành phát thanh truyền hình nói chung có cơ hội chưa từng có để phát triển Hơn nữa khi đời sống của nhân dân ngày một nâng cao thì nhu cầu về thông tin, giải trí không ngừng tăng lên do đó nhu cầu về các sản phẩm phát thanh, truyền hình cũng không ngừng được tăng lên.
Trước mắt có những điều kiện hết sức thuận lợi cho ngành phát thanh truyền hình Chính phủ có những sự quan tâm tới các xã vùng sâu vùng xa nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển đồng đều do đó chính phủ luôn có những chính sách khuyến khích các doanh nghiệp khai thác thị trường tiềm năng này bằng cách trợ giá cho các Xí nghiệp, doanh nghiệp khi cung ứng sản phẩm tới các vùng
Trang 2Càng thuận lợi hơn khi ngành Phát thanh Truyền hình được sự chỉ đạo trực tiếp của Đài truyền hình Việt nam Được sự giúp đỡ nhiệt tình của các địa phương để Xí nghiệp hoàn thành nhiệm vụ và củng cố, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời đội ngũ cán bộ lãnh đạo Xí nghiệp ĐTTH và của toàn ngành được đào tạo sâu, có sự gắn bó với ngành, không ngừng học hỏi những kinh nghiệm lẫn nhau và kinh nghiệm của các nước phát triển, công nhân viên chức ngành Phát thanh Truyền hình luôn có tinh thần tự chủ, sáng tạo.
Như vậy phát thanh - truyền hình ở Việt Nam trong tương lai sẽ rất phát triển vì những lợi thế riêng phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam Khi ngành PT - TH phát triển thì Xí nghiệp ĐTTH cũng có điều kiện để tự khẳng định mình trên thị trường.
2 Những chính sách của nhà nước đối với ngành Phát thanh - Truyền hình
a Chính sách giải quyết tổ chức lao động
Nhà nước cho phép Xí nghiệp đầu tư phát triển công nghệ truyền hình Việt Nam thành lập các đơn vị thành viên, có con dấu riêng, có tài khoản mở tại Ngân hàng cũng như các xưởng bảo dưỡng, sửa chữa, đồng thời các đơn vị
đó được Xí nghiệp uỷ quyền quản lý một số lĩnh vực nhất định để tăng thêm tính năng động trong sản xuất, tự chịu trách nhiệm về tài chính, có trách nhiệm đảm bảo quyền lợi cho người lao động và nghĩa vụ với Xí nghiệp.
Giảm bộmáy lao động giám tiếp giải quyết nghỉ việc cho những cán bộ không đủ trình độ năng lực hoặc không có nhu cầu sử dụng Tạo dựng bộ máy quản lý thống nhất theo chế độ " Một thủ trưởng".
b Chuyển hướng sản xuất kinh doanh theo phương châm đa dạng hoá sản phẩm
Để nâng cao chủ động sáng tạo, các doanh nghiệp nhà nước phải được phép chuyển hướng kinh doanh đa dạng hoá sản phẩm chứ không đơn thuần
Trang 3như trước, Xí nghiệp chuyển hướng kinh doanh đa dạng hoá sản phẩm căn cứ vào thế mạnh nội lực của mình.
c Hãng cấp dây chuyền công nghệ .
Xí nghiệp đã và đang tiến hành nâng cấp từng bộ phận dây chuyền công nghệ của mình dựa trên cơ sở phân loại từng bộ phận Tập trung vốn để thay thế những bộ phận không hiệu quả.
Đầu tư mua mới những máy móc dụng cụ để kiểm tra, thử nghiệm Những việc này được sự hỗ trợ nhất định của nhà nước mà trực tiếp là đài truyền hình Việt Nam.
d Chính sách huy động vốn và cấp vốn
Hiện nay Xí nghiệp ĐTTH cũng như những Xí nghiệp điện tử khác của nhà nước đang cố gắng huy động nguồn vốn nhàn rỗi của cán bộ công nhân viên trong Xí nghiệp.
Bên cạnh đó còn có các nguồn vốn vay với lãi xuất thấp từ ngân hàng để đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ.
B Mục tiêu và định hướng phát triển của Xí nghiệp trong thời gian tới.
Xí nghiệp ĐTTH là một đơn vị sản xuất kinh doanh do đó Xí nghiệp hoạt động phải luôn hướng tới tính hiệu quả kinh tế Muốn vậy, Xí nghiệp phải xác định được các nhân tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng tới doanh thu, lợi nhuận Để mục tiêu của Xí nghiệp đạt hiệu quả cao nhất trên cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn lao động của mình cần phải xác định phương hướng và biện pháp đầu tư, biện pháp để sử dụng điều kiện sẵn có làm sao có hiệu quả nhất.
1 Mục tiêu
a Mục tiêu chung
Trong quá trình hoạt động Xí nghiệp đã xây dựng cho mình những mục
tiêu chiến lược cụ thể:
Trang 4- Tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất, tăng mức sản lượng hàng hoá vận chuyển, tăng doanh thu, lợi nhuận, tăng nộp ngân sách cho nhà nước và nâng cao mức sống cho người lao động.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng năng suất lao động, đảm bảo nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Chú trọng hơn trong khâu Marketing để tạo nguồn vốn vận chuyển ổn định và tăng trong những năm tới.
Nâng cao sức cạnh tranh của Xí nghiệp, tận dụng quy mô, uy tín của Xí nghiệp để thu hút và giữ khách hàng.
Trang 5b Mục tiêu cụ thể
Năm 2002 là những năm tiếp theo Xí nghiệp tiếp tục đẩy mạnh sản xuất kinh doanh Quyết tâm phấn đấu thực hiện tốt các mục tiêu đề ra.
- Doanh thu tăng 13,8% so với năm 2001
- Lợi nhuận tăng 80% so với năm 2001
- Nộp ngân sáh tăng 12% so với năm 2001
- Quỹ lương tăng 10% so với năm 2001
- Thu nhập bình quân tăng 5÷ 10%
- Tiền lương bình quân 1,6 triệu/tháng
2 Định hướng khách hàng
Trong những năm tới ngoài khách hàng truyền thống Xí nghiệp có kế hoạch mở rộng danh mục khách hàng nhằm nâng cao sản lượng hàng hoá, tăng doanh thu, lợi nhuận, giảm thiểu chi phí thiệt hại Khách hàng của Xí nghiệp tập trung vào các tỉnh phía Nam và một số thị trường lớn như Hà Nội, Huế, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh
Dự kiến đến năm 2002 xe chở hàng của Xí nghiệp sẽ chở hàng hai chiều đáp ứng nhu cầu của thị trường.
3 Kế hoạch sản xuất năm 2001
- Căn cứ vào định hướng phát triển của Xí nghiệp từ 2001 đến 2006
- Căn cứ vào dây chuyền công nghệ, lao động hiện có và dự kiến đầu tư nâng cấp máy móc trang thiết bị trong năm.
- Căn cứ vào nhu cầu sản phẩm trên thị trường và dự kiến khả năng khai thác của Xí nghiệp.
- Trên tinh thần củng cố phát huy nội lực và phát triển của doanh nghiệp
Xí nghiệp ĐTTH dự kiến xây dựng một số chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2002 như sau:
Trang 6a Lao động
Trong đó Đại học
15%
b Máy móc thiết bị
- Dự kiến nâng cấp dây chuyền công nghệ
+ Dây chuyền sản xuất, lắp ráp máy thu hình từ 100 - 150 chiếc Ti Vi màu 20''/ ngày lên 120 ÷ 18000 chiếc radiô/ ngày lên 160 ÷ 20000 chiếc/ngày.
c Hàng hoá: Tiếp tục sản xuất radiô, Ti vi theo kế hoạch của các tỉnh đồng thời sản xuất thêm 1/3 trong tổng số để cung cấp ra thị trường cụ thể là
d Kế hoạch đầu tư:
Xí nghiệp dự định đầu tư mua mới một số trang thiết bị trong dây chuyền công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm kế hoạch đầu tư 1,5 tỷ đồng.
Từ những căn cứ và dự kiến trên, Xí nghiệp xác định kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2002 như sau
Trang 74 Phương hướng thực hiện kế hoạch năm 2002
- Về sản phẩm: Xí nghiệp tập trung hoàn thiện cơ chế khoán, mở rộng và chuyển hướng thị trường
- Về tổ chức hành chính: Cải tổ mạnh mẽ cơ chế hành chính và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.
C Một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Xí nghiệp ĐTTH trong thời gian tới.
Những nhận xét đề xuất được căn cứ vào kết qủa phân tích đánh giá thực trạng hoạt động của Xí nghiệp trong thời gian qua, những ưu điểm, tồn tại vướng mắc, các thuận lợi và những bài học kinh nghiệm Bên cạnh đó còn được dựa vào triển vọng phát triển của ngành PT - TH và mục tiêu định hướng của Xí nghiệp đến năm 2006.
Biện pháp 1: Về quản trị nhân sự trong Xí nghiệp
- Tuyển mộ: trong Xí nghiệp hiện nay số lao động gián tiếp chiếm 20% tổng số lao động như vậy là quá nhiều vì thường thì các doanh nghiệp không định tuyển thêm lao động như vậy là quá nhiều vì thường thì doanh nghiệp số lao động gián tiếp chiếm tỷ lệ 8 ÷ 12% tổng số lao động vì vậy Xí nghiệp không định tuyển thêm lao động nữa Quan điểm này có nguy cơ dẫn Xí nghiệp đến phín chịn nguy hiểm, cản trở sự đổi mới vươn lên Bởi vì quan niệm như vậy còn quá chung chung: cần cụ thể hơn là thừa ở đâu và thiếu vị trí nào, so với thiêu chuẩn gì.
Trang 8Trước hết nếu so với phương pháp làm việc quen thuộc hiện tại thì dư thừa lao động khi có tình trạng là một công việc đang được chia sẻ cho quá nhiều người mà làm thì lợi ích tăng thêm không đủ để bù đắp chi phí số người tăng thêm đó Ngược lại tình trạng thiếu lao động xảy ra khi khối lượng công việc quá số nhân lực hiện có làm cho công việc không hoàn thành đúng về thời gian và chất lượng Về mặt này Xí nghiệp khẳng định thừa lao động gián tiếp
là hoàn toàn đúng.
Nhưng nếu so với yêu cầu cần phải có bộ phận Marketing trong cơ cấu
tổ chức, so với phương pháp lập kế hoạch mới phương pháp quản trị nhân lực mới thì thực tế Xí nghiệp đang thiếu những nhân lực được trang bị hệ thống kiến thức hiện đại, năng nổ, sáng tạo ở phòng kế hoạch, phòng tổ chức lao động, thậm chí cần có một người khởi xướng sự đổi mới sâu rộng trong đội ngũ cán bộ khung của Xí nghiệp.
Như vậy sự thừa và thiếu cùng song song tồn tại, do vậy nếu chỉ căn cứ vào sự dư thừa dễ nhận thấy mà vội vã đi đến quyết định không tuyển thêm người thì rõ ràng đã rơi vào sự phiến diện một chiều là giảm biên chế Trong khi không biết hoặc không muốn biết việc thiếu nhân lực có kiến thức, đạo đức nghề nghiệp đáp ứng được những yêu cầu của đổi mới cập nhật phương pháp quản trị và sau đó là không có bảng phân tích công việc.
Để giải quyết vấn đề vừa thừa vừa thiếu lao động Xí nghiệp cần thực hiện.
+ Xây dựng bảng phân tích công việc của từng phòng ban
+ Giảm biên chế theo định biên có xem xét đến việc giữ lại và đào tạo một
số lao động có năng lực.
+ Trước hết lực chọn người có kiến thức có sức khoẻ, trẻ ở các phòng ban đi bồi dưỡng, đào tạo lại Sau đó căn cứ vào bảng phân tích công việc, cơ cấu tổ chức mới để xem xét từng vị trí làm việc cụ thể để quyết định vị trí nào
Trang 9đòi hỏi nhân tố mới hoàn toàn, thêm về kiến thức và sự năng động sáng tạo (ví
dụ Marketing).
Chủ đề quan trọng cần đề cấp đến trong tuyển mộ là xây dựng tiêu chuẩn tuyển mộ của từng ứng viên dựa vào bảng phân tích công việc Do Xí nghiệp chưa xây dựng bảng phân tích công việc nên đặt ra các tiêu chuẩn nhiều khi không có căn cứ Trong phiếu điểm tuyển của Xí nghiệp có những điểm sau:
Trang 10Phiếu điểm
- Vô tuyến điện
là hàng đầu sau đó mới đến kỹ năng tổ chức và quan hệ bên ngoài thì càng nâng cao kiến thức kỹ đòi hỏi ít đi và chủ yếu là kiến thức kỹ năng tổ chức và quan hệ bên ngoài Ở cấp cao cấp nhất theo tính toán yếu tố kỹ thuật chỉ chiếm 20% kiến thức và tập trung lớn nhất vào quan hệ đối ngoại sau đó đến tổ chức Vì vậy thứ nhất, tiêu chuẩn rất cần thiết nhưng mức độ đòi hỏi cho từng
vị trí làm việc khác nhau là khác nhau do đó cần linh hoạt, thứ hai một cá nhân
có hiểu biết tốt ở vị trí này nhưng không hẳn cũng làm tốt ở vị trí cao hơn với đòi hỏi mới về kiến thức kỹ năng cần có cho vị trí mới, vì vậy cá nhân đó cũng cần được đào tạo chuẩn bị trước khi đề bạt.
Tiêu chuẩn về quản lý chất lượng là rất cần thiết cho mọi người trong Xí nghiệp bởi vì khi Xí nghiệp đã áp dụng thành công một hệ thống quản lý chất lượng thích hợp thì sẽ giúp cho sản phẩm tăng sức cạnh tranh, doanh thu, lợi nhuận không ngừng tăng, giảm thiểu những chi phí thiệt hại do vậy vừa đạt hiệu quả về phía doanh nghiệp vừa đạt hiệu quả cho xã hội.
Trang 11Tiêu chuẩn vi tính và ngoại ngữ nhìn qua quả rất cần thiết cho nhân viên nhưng trên thực tế vi tính chỉ sử dụng như máy đánh chữ, còn ngoại ngữ tỏ ra
xa vời hơn bởi vì khách hàng của Xí nghiệp đều ở trong nước Các vị trí hiện tại không đòi hỏi trình độ vi tính và ngoại ngữ vì không có điều kiện sử dụng Hoàn toàn không sai nến Xí nghiệp muốn phát triển sản xuất kinh doanh và cần những nhân viên như vậy nhưng thực tế việc đưa ra tiêu chuẩn này không căn cứ vào chiến lược của Xí nghiệp vì vậy nó không phù hợp và không có tính thực tế.
Trước yêu cầu của việc mở rộng sản xuất đa dạng hoá sản phẩm cần phải tuyển thêm một vị trí nào đó, căn cứ vào bảng phân tích công việc để xác định tiêu chuẩn ứng viên và các trang bị cần thiết cho nhân lực mới đảm bảo hoàn thành công việc: phòng làm việc, bàn làm việc và trang thiết bị khác ví
dụ căn cứ vào chiến lược thấy rằng cần thành lập bộ phận Marketing với các chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc đã xác định, phòng tổ chức lao động chính thức đưa ra các tiêu chuẩn lựa chọn ứng viên và thực hiện các quy trình tuyển chọn cụ thể Tuy nhiên nếu cứ đào tạo, tuyển mộ nhân lực mà không có
sự phát triển tương ứng về phương diện làm việc, về điều kiện khách quan của thị trường, khách hàng để áp dụng những kỹ năng đã được đào tạo thì sẽ làm thui chột trình độ nhân viên và việc đào tạo không có hiệu quả và ý nghĩa Vậy biện pháp cho vấn đề này vẫn là:
+ Xây dựng bảng phân tích công việc
+ Cần thiết phải có một quản trị nhân lực được trang bị về kiến thức và kinh nghiệm để đảm bảo trách nhiệm việc xây dựng chương trình phát triển nhân lực Người này nên là người mới tuyển mộ.
+ Phải giải quyết dứt điểm số cán bộ sắp đến tuổi nghỉ hưu, thiếu năng lực trong công tác, không có việc làm, tạo điều kiện để thuyên chuyển, đào tạo lại, hỗ trợ thêm về tài chính lao động tình nguyện nghỉ hưu trước tuổi.
Trang 12Khi thực hiện được vấn đề tuyển dụng lao động mới có năng lực thích hợp với yêu cầu mới cũng như việc giảm số lao động dư thừa do không có những kiến thức kỹ năng cần thiết Xí nghiệp sẽ tạo ra cho mình một đội ngũ nhân viên có sức trẻ, năng động, nhanh chóng tiếp thu và dễ dàng thích nghi những kiến thức, kỹ năng mới trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, chấp nhận cạnh tranh, có năng lực đủ sức đáp ứng được công việc một cách tốt nhất, với số nhân viên ít nhưng làm việc có hiệu quả, hoàn thành nhhiệm vụ mà Xí nghiệp đặt ra đúng thời gian, số lượng cũng như vấn đề chấ lượng Xí nghiệp Đồng thời Xí nghiệp sẽ giảm được gánh nặng về việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho người lao động, tăng năng suất lao động Tuy nhiên chương trình phát triển nhân lực cần phải xác định được vị trí nào cần tuyển thêm người có các vị trí nào cần được đào tạo lại Đặc biệt là nhân lực cho phòng Marketing phòng tổ chức hành chính.
Nói tóm lại con người là yếu tố quan trọng nhất Chính nó quyết định trình độ sử dụng các nguồn nhân lực Trình độ sử dụng vốn cố định, vốn lưu động tạo ra donh thu, lợi nhuận bao nhiêu cho Xí nghiệp, nộp ngân sách nhà nước đúng và đủ, hạ giá thành, tiết kiệm chi phí, boả dưỡng, sửa chữa máy móc thiết bị tốt hay xấu đều do nhân tố con người quyết định.
- Về khuyến khích vật chất và tinh thần đối với người lao động
Về khuyến khích vật chất trong Xí nghiệp tập trung vào lương và thưởng Vấn đề không nằm ở lương mà nằm ở thưởng Như đã phân tích rút ra những tồn tại yếu kém trong việc xét thưởng Để khắc phục cần xây dựng ngay một cơ chế đánh giá thành quả nhân viên một cách kịp thời đúng để thưởng, tuy ít nhưng phát huy tác dụng khuyến khích tinh thần làm việc của nhân viên, nâng cao năng suất lao động Cơ chế đánh giá thành tích phải căn cứ vào bảng phân tích công việc, nhiệm vụ được giao và kết quả thực hiện của từng người, từng phòng ban trong từng thời kỳ, không gộp thưởng một lần vào cuối năm như hiện nay.