+ Chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số tuyệt đối, phạm trù này chỉ phản ánh mức độ đạt được về một mặt nào đó nên cùng mang bản chất là kết của quá trình kinh doanh và không bao
Trang 1Cơ sở lý luận hiệu quả sản xuất kinh doanh
I KHÁI NIỆM VỀ HIỆU QUẢ PHÂN BIỆT HIỆU QUẢ VỚI KẾT QUẢ VÀ CÁC LOẠI HIỆU QUẢ.
I.1 Khái niệm.
I.1.1 Hiệu quả.
Là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất.
I.1.2 Kết quả.
Là phạm trù phản ánh những cái thu được sau một quá trình kinh doanh hay một khoảng thời gian kinh doanh nào đó.
I.1.2 Hiệu quả kinh doanh.
Là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn) trong hoạt động kinh doanh.
I.2 Phân biệt hiệu quả với kết quả.
+ Trình độ sử dụng các nguồn lực chỉ có thể phản ánh bằng số tương đối: tỉ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực
+ Chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số tuyệt đối, phạm trù này chỉ phản ánh mức độ đạt được về một mặt nào đó nên cùng mang bản chất là kết của quá trình kinh doanh và không bao giờ phản ánh trình
độ sử dụng các nguồn lực sản xuất.
+ Nếu kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất thì hiệu quả là phương tiện để có thể đạt được các mục tiêu trên.
I.3 Phân biệt các loại hiệu quả.
a Hiệu quả xã hội.
Hiệu quả xã hội là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định Các mục tiêu xã hội thường là giải quyết công ăn việc làm, xây dựng cơ sở hạ tầng ; nâng cao phúc lợi xã hội ; nâng cao mức sống và đời sống văn hoá tinh thần cho người
Trang 2lao động ; đảm bảo và nâng cao cho người lao động cải thiện điều kiện lao động ; đảm bảo vệ sinh môi trường Hiệu quả xã hội thường gắn với các mô hình kinh tế hỗn hợp và trước hết thường được đánh giá và giải quyết ở góc
độ vĩ mô.
b Hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt các mục tiêu kinh tế của một thời kì nào đó Hiệu quả kinh tế thường được nghiên cứu
ở góc độ quản lí vĩ mô Cần chú ý rằng không phải bao giờ hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh doanh cũng vận động cùng chiều Có thể từng doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh doanh cao song chưa chắc nền kinh tế đã đạt hiệu quả kinh tế cao bởi lẽ kết quả của một nền kinh tế đạt được trong mỗi thời kỳ không phải lúc nào cũng là tổng đơn thuần của các kết quả của từng doanh nghiệp.
c Hiệu quả kinh tế- xã hội.
Hiệu quả kinh tế- xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để đạt được các mục tiêu kinh tế-xã hội nhất định Hiệu quả kinh tế- xã hội gắn liền với nền kinh tế hỗn hợp và được xem xét ở góc độ quản lý vĩ mô.
d Hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh là đối tượng nghiên cứu của toàn bộ đề tài mà em
đã chọn, đã được khái niệm ở phần trên, gắn với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
II CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ Ý NGHĨA.
II.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Để đảm bảo tính đúng đắn và tính thống nhất của việc đánh giá và đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh Về phương diện tính toán thống kê chỉ tiêu đánh giá và đo lường chỉ tiêu tương đối Nó phản ánh một đơn vị đầu vào thì sẽ cho bao nhiêu đơn vị đầu ra Kết quả kinh doanh của hoạt động kinh
Trang 3doanh được đo bằng nhiều đại lượng Như chi phí đầu vào trên giá trị của các nguồn lực được sử dụng Vì vậy hiệu quả hoạt động kinh doanh được xác định bằng hệ thống các chỉ tiêu
II.1.1 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp
• Chỉ tiêu doanh lợi :
Doanh lợi toàn bộ vốn kinh doanh ( TSCĐ)
D VKD = Lợi nhuận (trước thuế, sau thuế)
Tổng tài sản Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản doanh nghiệp bỏ ra thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận ( trước thuế, sau thuế )
• Hệ số doanh lợi, doanh thu thuần
Hệ số doanh thu, doanh thu thuần =
Lợi nhuận (trước thuế, sau thuế)
Doanh thu thuần
Hệ số này cho biết doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận (trước thuế, sau thuế) từ một đồng doanh thu.
• Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh theo chi phí
Chỉ tiêu HQKD theo
Doanh thu thuần Chi phí kinh doanh Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần cho một đồng chi phí bỏ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này càng lớn nghĩa là trình độ sử dụng các nguồn lực tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh càng tốt và ngược lại chỉ tiêu này càng nhỏ thì trình độ
sử dụng các yếu tố chi phí cũng kém hiệu quả
II.1.2 Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận.
• Hiệu quả sử dụng tài sản
+ Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản kinh doanh
Trang 4Tæng tµi s¶ n
thuÇn thu
Doanh n
s¶
tµi n trª thu doanh lÖ
+ Hiệu quả sử dụng TSCĐ
TSC§
trÞGi¸
nhuËnLîi
Q TK : sản lượng theo thiết kế.
+ Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động.
TSL§
nhuËnLîi
HTSL§ =
+ Vòng quay TSLĐ
BQ TSL§
thuÇn thu
Trang 5S
GTTSL
W =
Trong đó :
W : năng suất lao động tính một năm
S : Tổng số lao động bình quân tính một năm GTTSL : giá trị tổng sản lượng đạt được trong một năm Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả có ích của lao động trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nó được biểu hiện bằng giá trị tổng sản lượng bình quân của doanh nghiệp trên tổng số lao động bình quân của doanh nghiệp.
• Hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu
+ Vòng luân chuyển nguyên vật liệu
Với : SV NVL : số vòng luân chuyển nguyên vật liệu trong kỳ
NVL SD : giá vốn nguyên vật liệu đã dùng
NVL DT : giá trị lượng nguyên vật liệu dự trữ của kỳ thanh toán + Vòng luân chuyển vật tư trong sản phẩm dỏ dang
VT
Z
HHCB SPDD
=
với :
SV SPDD : số vòng luân chuyển vật tư trong sản phẩm dở dang
Z HHCB : Tổng giá thành hàng hoá đã chế biến
VT DT : giá trị vật tư dự trữ trong kỳ tính toán
Trang 6Hai chỉ tiêu trên cho biết khả năng khai thác các nguồn nguyên liệu của doanh nghiệp Các chỉ tiêu này có giá trị lớn phản ánh doanh nghiệp giảm được chi phí kinh doanh cho dự trữ nguyên vạt liệu, giảm bớt nguyên liệu tồn kho, tăng vòng quay của vốn lưu động Tuy nhiên, nếu quá chú ý đến các chỉ tiêu này có thể dẫn đến thiếu lượng nguyên vật liệu dự trữ cần thiết.
II.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH
Các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạm trù khan hiếm : càng ngày người ta càng sử dụng nhiều các nguồn lực sản xuất vào các hoạt động sản xuất phục vụ các nhu cầu khác nhau của con người Trong khi các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người lại ngày càng đa dạng và tăng không giới hạn Điều này phản ánh qui luật khan hiếm Quy luật khan hiếm bắt buộc mọi doanh nghiệp phải lựa chọn và trả lời chính xác ba câu hỏi : sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? Vì thị trường chỉ chấp nhạn các doanh nghiệp nào quyết định sản xuất đúng loại sản phẩm (dịch vụ) với số lượng va chất lượng phù hợp Mọi doanh nghiệp trả lời không đúng ba vấn đề trên sử dụng các nguồn lực sản suất xã hội để sản xuất sản phẩm không tiêu thụ được trên thị trường –tức kinh doanh không có hiệu quả lãng phí nguồn lực sản xuất xã hội – sẽ không có khả năng tồn tại.
Mặt khác, mọi doanh nghiệp kinh doanh trong cơ chế thị trường mở của và càng ngày càng hội nhập phải chấp nhận và đứng vững trong cạnh tranh Muốn chiến thắng trong cạnh tranh doanh nghiệp phải luôn tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh : chất lượng và sự khác biệt hoá, giá cả và tốc độ cung ứng.
Để duy trì lợi thế về giá cả doanh nghiệp phải sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất hơn so với các doanh nghiệp khác
Trang 7cùng ngành Chỉ trên cơ sỏ sản xuất kinh doanh với hiệu quả kinh tế cao, doanh nghiệp mới đạt được điều này.
Mục tiêu bao trùm, lâu dài của mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận Để thực hiện điều này, doanh nghiệp phải tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm (dịch vụ) cung cấp cho thị trường Muốn vậy doanh nghiệp phải sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhất định Doanh nghiệp càng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất này bao nhiêu
sẽ càng có cơ hội đẻ thu được nhiều lợi nhuận bấy nhiêu Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất xã hội nên là điều kiện đẻ thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh càng cao càng phản ánh doanh nghiệp đã sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất Vì vậy, nâng cao hiệu quả là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thục hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối
đa hoá lợi nhuận.
III THỰC CHẤT PHẠM VI ỨNG DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ.
Để phân tích hoạt động kinh tế đạt kết quả tốt, chính xác và lượng hoá có nhiều phương pháp.
Phương pháp phân tích co tính chất nghiệp vụ kỹ thuật nhằm chính xác hoá nội dung phân tích và gồm hệ thống phương pháp tạo thành.
III.1 PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH :
Là phương pháp sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định
xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích.
Trang 8Vì vậy để tiến hành so sánh phải giải quyết những vấn đề cơ bản như xác định gốc để so sánh, xác định điều kiện và mục tiêu so sánh.
+ thực tế năm nay so với năm trước
+ thực tế doanh nghiệp so với thực tế của ngành
Khi so sánh số liệu thành 1 dãy số, chúng ta có thể nhận định được tình hình phát triển của hiện tượng nghiên cứu trong thời gian dài Phương pháp so sánh đòi hỏi điều kiện :
Phương pháp so sánh thực hiện các nghiệp vụ sau:
+ Đánh giá tình hình hoàn thành kế hoạch Bước đầu tiên quan trọng phân tích hoạt động kinh tế.
+ Đánh giá tình hình phát triển kinh tế của đơn vị trong một kỳ hoặc nhiều kỳ.
+ Đánh giá sâu sắc trình độ công tác đơn vị kinh tế
Bởi lẽ sau khi so sánh tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tình hình chỉ tiêu phân tích
III.2 Phương pháp loại trừ :
Trong phân tích kinh doanh, nhiều trường hợp cần nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh doanh nhờ phương pháp loại trừ Loại trừ là phương pháp xác định và mức độ ảnh hưởng của một nhân tố đến kết quả kinh doanh bằng cách loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác.
Để nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố phải loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác Muốn vậy, có thẻ trực tiếp dựa vào mức biến động ở từng nhân tố hoặc dựa vào phép thay thế lần lượt từng
Trang 9nhân tố Cách thứ nhất gọi là “ số chênh lệch ’’ Cách thứ 2 là thay thế “ liên hoàn”.
Phương pháp loại trừ thực hiện nhiệm vụ sau :
+ Các nhân tố có quan hệ với chỉ liệu phân tích dưới dạng một tích số (hoặc một thương số).
+ Việc sắp xếp và định hướng ảnh hưởng các nhân tố cần tuân theo qui luật “ lượng biến dẫn đến chất biến ’’.
III.3 Phương pháp liên hệ
Mọi kết quả kinh doanh đều có mối liên hệ mật thiết với nhau giữa các mặt các bộ phận Để lượng háo các mối liên hệ đó ngoài các phương pháp đã nêu trong phân tích kinh doanh còn sử dụng phổ biến các cách nghiên cứu liên hệ phổ biến như liên hệ cân đối, liên hệ trực tuyến và liên hệ phi tuyến.
+ Liên hệ cân đối : có cơ sở là sự cân bằng về lượng giữa mặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh : giữa tổng số vốn và tổng
số nguồn ; giữa nguồn thu, huy động và tình hình sử dụng các quỹ, các loại vốn ; giữa nhu cầu và khả năng thanh toán ; giữa nguồn mua sắm và tình hình sử dụng các loại vật tư ; giữa thu chi và kết quả kinh doanh v.v Mối liên hệ cân đối vốn có về lượng của các yếu
tố dẫn đến sự cân bằng cả về mức biến động (chênh lệch) về lượng giữa các mặt của các yếu tô trong quá trình kinh doanh Dựa vào nguyên tắc đó cũng có thể xác định ảnh hưởng của các nhân tố
có quan hệ dưới dạng “ tổng số “ bằng liên hệ cân đối.
+ Liên hệ trực tuyến : là mối liên hệ theo một hướng xác định giữa các chỉ tiêu phân tích Chẳng hạn lợi nhuận có quan hệ cùng chiều với lượng hàng bán ra giá bán có quan hệ ngược chiều vè giá thành tiền thuế v.v Trong mối liên hệ trực tuyến này theo mức phụ
Trang 10thuộc giữa các chỉ tiêu có thể phân tích thành 2 loại quan hệ chủ yếu :
a) Liên hệ trực tiếp giữa các chỉ tiêu như giữa lợi nhuận với gia bán, giá thành tiền thuế v.v Trong trường hợp này các nối liên
hệ không qua một chỉ tiêu liên quan nào : giá bán tăng ( hoặc giá thành hay tiền thuế giảm ) sẽ làm lợi nhuận tăng.
b) Liên hệ gián tiếp là quan hệ giữa các chỉ tiêu trong đó mức độ phụ thuộc giữa chúng được xác định bằng một hệ số riêng Trong trường hợp cần thống kê số liệu nhiều lần để đảm bảo tính chính xác của mối liên hệ thì hệ số này được tính theo công thức chung của hệ số tương quan.
+ Liên hệ phi tuyến : là mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trong mức độ liên hệ không được xác định theo tỷ lệ và chiều hướng liên
hệ luôn biến đổi : liên hệ giữa các mức năng suất thu hoạch với năm kinh doanh của vườn cây lâu năm hoặc súc vật sinh sản, giữa lượng vốn sử dụng với sức sản xuất và sức sinh lời của vốn.vv
Trong trường hợp này, mối liên hệ giữa chỉ tiêu phân tích ( hàm số ) với các nhân tố ( biến số ) thường có dạng hàm luỹ thừa.
Để quy về hàm tuyến tính người ta dùng các thuật toán khác nhau như phép toán loga, bảng tương quan và phương trình chuẩn tắc v.v cũng có thể dùng vi phân hàm số của toán học để xác định ảnh hưởng của các nhân tố (biến số x) đến mức biến động của chỉ tiêu phân tích ( số giả của hàm số y ).
Tuy nhiên, những mối liên hệ phức tạp này thường chỉ sử dụng phân tích chuyên đề hoặc trong phân tích đồng bộ phục vụ yêu cầu quản lý.
III.4 Phương pháp hồi qui và tương quan
Trang 11Hồi qui và tương quan là các phương pháp của toán học, được vận dụng trong phân tích kinh doanh để biểu hiện và đánh giá mối liên hệ tương quan giữa các chỉ tiêu kinh tế
Phương pháp tương quan là quan sát mối liên hệ giữa một tiêu thức kết quả và một hoặc nhiều tiêu thức nguyên nhân nhưng
ở dạng liên hệ thực Còn hồi quy la một phương pháp xác định độ biến thiên của tiêu thức kết quả theo sự biến thiên của tiêu thức nguyên nhân Bởi vậy hai phương pháp này có liên hệ chặt chẽ với nhau và có thẻ gọi tắt là phương pháp tương quan Nếu quan sát, đánh giá mối liên hệ giữa một tiêu thức kết quả và một tiêu thức nguyên nhân gọi là tương quan đớn Nếu quan sát, đánh giá mối liên hệ giữa một tiêu thức kết quả và nhiều tiêu thức nguyên nhân gọi là tương quan bội.
IV Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh
Quá trình sản xuất kinh doanh thường ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Nghiên cứu hiệu quả kinh doanh là một vấn đề cần thiết, do đó xem xét đến các nhân tố ảnh hưởng hiệu quả sản xuất kinh doanh là một nhiệm vụ đặt ra, nhờ đó giúp cho các doanh nghiệp có điều kiện nhìn nhận rõ ràng những tác động tích cực ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh mà thúc đẩy hoặc kìm hãm
nó Ta có thể phân chia các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh làm hai nhóm.(Xem hình ).
IV.1 Các nhân tố bên trong.
1.1 Lực lượng lao động:
Người ta thường nhắc đến luận điểm ngày nay khoa học kỹ thuật công nghệ đã trở thành lực lượng lao động trực tiếp áp
Trang 12Các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD
Các nhân tố bên trong DN Các nhân tố bên ngoài DN(Môi trường bên ngoài)
Lực lượng lao động
Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và sử dụng TBKT Quản trị doanh nghiệp Hệ thống trao đổi xử lý thông tin Tính toán kinh tế
Môi trường kinh tế Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng Môi trường pháp lý
dụng kỹ thuật tiên tiến la điều kiện tiên quyết để tăng hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp Tuy nhiên, cần thấy rằng : thứ nhất, máy móc dù tối tân đến đâu cũng do con người tạo ra Nếu không có lao động sáng tao của con người sẽ không thể có các máy móc thiết bị đó Thứ hai, máy móc thiết bị dù có hiện đại đến đâu cũng phải phù hợp với trình độ tổ chức, trình độ kỹ thuật, trình độ
sử dụng máy móc của người lao động Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp nhập tràn lan thiết bị hiện đại của nước ngoài nhưng trình độ sử dụng yếu kém nên vừa không đem lại năng suất cao lại vừa tốn kém cho hoạt động sửa chữa, kết cục hiệu quả kinh doanh rất thấp.
Trong sản xuất kinh doanh lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và đưa chúng
Trang 13vào sử dụng tạo ra tiềm năng lớn cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh Cũng chính lực lượng lao động sáng tạo ra sẩn phẩm mới với kiểu dáng phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng, làm cho sản phẩm ( dịch vụ ) của doanh nghiệp có thẻ bán được tạo cơ sở
để nâng cao hiệu quả kinh doanh Lực lượng lao động tác động trực tiếp đến năng suất lao động, đến trình độ sử dụng các nguồn lực khác (máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, ) nên tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Ngày nay, sự phát triển khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tri thức Đặc trưng cơ bản của nền kinh
tế tri thức là hàm lượng khoa học kết tinh trong sản phẩm ( dịch vụ ) rất cao đòi hỏi lực lượng lao động phải là lực lượng rất tinh nhuệ, có trình độ khoa học kỹ thuật cao Điều này khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của lực lượng lao động đối với việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.2 Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật.
Công cụ lao động là phương tiện mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động Quá trình phát triển sản xuất luôn gắn liền với quá trình phát triển của công cụ lao động Sự phát triển của công cụ lao động gắn bó chặt chẽ với quá trình tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành Như thế, cơ sở vật chất kỹ thuật là nhân tố hết sức quan trọng tạo ra tiềm năng, tăng năng suất, chất lượng, tăng hiệu quả kinh doanh chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp chịu tác động manh mẽ của trình độ kỷ thuật cơ cấu tính đồng bộ của máy móc thiết bị chất lượng công tác bảo dưỡng sửa chữa máy móc thiết bị
Trang 14Ngày nay, công nghệ kỹ thuật phát triển nhanh chóng chu kỳ công nghẹ ngày càng ngắn hơn và ngày càng hiện đại hơn đóng vai trò ngày càng to lớn mạng tính chất quyết định đối với việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả Điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tìm được giải pháp đầu tư đúng đắn chuyển giao công nghệ phù hợp với trình độ công nghệ tiên tiến của thế giới, bồi dưỡng va đào tạo lực lượng làm chủ được công nghệ kỹ thuật hiên đại để tiến tới chỗ ứng dụng kỹ thuật ngày càng tiên tiến, sáng tạo công nghệ kỹ thuật mới làm cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.3 Nhân tố quản trị doanh nghiệp
Càng ngày nhân tố quản trị càng đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quản trị doanh nghiệp chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng đắn trong môi trường kinh doanh ngày càng biến động Chất lượng của chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất quyết định sự thành công hiệu quả kinh doanh hay thất bại, kinh doanh phi hiệu quả của một doanh nghiệp Định hướng đúng và luôn định hướng đúng là cơ sở để đảm bảo hiệu quả lâu dài của doanh nghiệp Đến nay người ta cũng khẳng định ngay
cả đối với việc đảm bảo và ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm của một doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng nhiều của nhân
tố quản trị chứ không phải của nhân tố kỹ thuật ; quản trị đinh hướng chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 chính là dựa trên nền tảng tư tưởng này
Trong quá trình kinh doanh, quản trị doanh nghiệp khai thác
và thực hiện phân bổ các nguồn lực sản xuất Chất lượng của hoạt
Trang 15động này cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của mỗi thời kỳ.
1.4 Hệ thống trao đổi và xử lí thông tin.
Ngày nay sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học
kỹ thuật đang làm thay đổi hẳn nhiều lĩnh vực sản xuất, trong đó công nghệ tin học đóng vai trò đặc biệt quan trọng Thông tin được coi là hàng hoá là đối tượng kinh doanh và nền kinh tế thị trường hiện nay là nền kinh tế thông tin hoá
Để đạt được thành công khi kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, các doanh nghiệp rất cần nhiều thông tin chính xác về nhu cầu của thị trường hàng hoá, về công nghệ kỹ thuật về người mua, về các đối thủ cạnh tranh Ngoài ra doanh nghiệp còn rất cần đến các thông tin về kinh nghiệm thành công hay thất bại của các doanh nghiệp khác ở trong nước và quốc
tế, cần biết các thông tin về các thay đổi trong các chính sách kinh
tế của nhà nước và các nước khác có liên quan
1.5 Nhân tố tính toán kinh tế
Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỉ số giữa kết quả đạt được và hao phí các nguồn lực để đạt kết quả đó Cả hai đại lượng kết quả và hao phí nguồn lực của mỗi thời kỳ cụ thể đều khó đánh giá một cách chính xác.
Nếu xét trên phương diện giá trị và sử dụng lợi nhuận là kết quả, chi phí là cái phải bỏ ra sẽ có :
Kinh tế học đã khẳng định tốt nhất là sử dụng phạm trù lợi nhuận kinh tế vì lợi nhuận kinh tế mới là lợi nhuận “thực” ; song muốn xác định được lợi nhuận kinh tế thì phải xác định được chi phí kinh tế Phạm trù chi phí kinh tế phản ánh chi phí “thực”, chi phí sử dụng tài nguyên Đáng tiếc là đến nay khoa học chưa tính
Trang 16toán được chi phí kinh tế mà chỉ sử dụng phạm trù chi phí tính toán Trên cơ sở chi phí tính toán sẽ xác định được lợi nhuận tính toán
2.Nhân tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp.
2.1.Môi trường pháp lý.
Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật, Mọi qui định pháp luật về kinh doanh đều tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Vì môi trường pháp lý tạo ra “sân chơi” để các doanh nghiệp cùng tham gia hoạt động kinh doanh, vừa cạnh tranh lại vừa hợp tác với nhau nên việc tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh là rất quan trọng.Một môi trường pháp lý lành mạnh vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt động kinh doanh của mình lại vừa điều chỉnh các hoạt động kinh tế vĩ mô theo hướng không chỉ chú ý đến kết quả và hiệu quả riêng mà còn phải chú ý đến lợi ích các thành viên khác trong xã hội Môi trường pháp lý đảm bảo tính bình đẳng của mọi loại hình doanh nghiệp sẽ điều chỉnh các hoạt động kinh doanh, cạnh tranh nhau một cách lành mạnh ; mỗi doanh nghiệp buộc phải chú ý phát triển các nhân tố nội lực, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và khoa học quản trị tiên tiến để tận dụng được các cơ hội bên ngoài nhằm phát triển kinh doanh của mình, tránh những đổ vỡ không cần thiết, có hại cho xã hội
Tính nghiêm minh của luật pháp thể hiện trong môi trường kinh doanh thực tế ở mức độ nào cũng tác động mạnh mẽ đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Sẽ chỉ có kết quả và hiệu quả tích cực nếu môi trường kinh doanh mà mọi thành viên đều tuân thủ pháp luật Nếu ngược lại nhiều doanh nghiệp sẽ
Trang 17lao vào con đường làm ăn bất chính, trốn lậu thuế, sản xuất hàng giả, hàng nhái cũng như gian lận thương mại, vi phạm pháp lệnh môi trường làm cho môi trường kinh doanh không còn lành mạnh Trong môi trường này, nhiều khi kết quả và hiệu quả kinh doanh không do các yếu tố nội lực từng doanh nghiệp quyết định dẫn đến những thiệt hại rất lớn về kinh tế và làm xói mòn đạo đức
xã hội
2.2 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là nhân tố bên ngoài tác động rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp Trước hết phải kể đến các chính đầu tư, chính sách phát triển kinh tế, chính sách cơ cấu các chính sách kinh tế vĩ mô này tạo ra sự tiên hay kìm hãm
sự phát triển của từng ngành, từng vùng kinh tế cụ thể do đó tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc các ngành, vùng kinh tế nhất định.
2.3 Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng
Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng như hệ thống đường giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, điện nước cũng như sự phát triển của giáo dục và đào tạo đều là những nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp kinh doanh ở khu vực có hệ thống giao thông thuận lợi, điện nước đầy đủ, dân cư đông đúc và có trình độ dân trí cao sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để sản xuất, tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu giảm chi phí kinh doanh và do đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mình Ngược lai, ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, hải đảo biên giới có cơ sở hạ tầng yếu kém, không thuận lợi cho mọi hoạt động như vận chuyển hàng hoá các doanh nghiệp hoạt động với hiệu quả kinh doanh không
Trang 18cao Thậm chí có nhiều vùng sản phẩm làm ra mặc dù rất có giá trị nhưng không có hệ thống giao thông thuận lợi vẫn không thể tiêu thụ được dẫn đến hiệu quả kinh doanh rất thấp.
Trình độ dân trí tác động rất lớn đến chất lượng của lực lượng lao động xã hội nên tác động trực tiếp đến nguồn nhân lực của mỗi doanh nghiệp
Chất lượng của đội ngũ lao động lại là nhân tố bên trong ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
V Hướng biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh
Nghiên cứu hiệu quả kinh doanh và nắm bắt được các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh là tiền đề cho các doanh nghiệp tự đánh giá hiệu quả kinh doanh của mình một cách thực chất và định hướng đúng đắn cho tương lai nhằm quyết tâm khai thác tối đa mọi tiềm lực để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Trên cơ sở tăng cường tích luỹ để tái đầu tư sản xuất cả chiều sâu lẫn chiều rộng góp phần nâng cao hiệu quả cho toàn nền kinh tế
Các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh:
V.1 Tăng cường quản trị chiến lược kinh doanh
Nền kinh tế thị trường mở cửa và ngày càng hội nhập với khu vực và quốc tế vừa tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, vừa làm cho tính biến động của môi trường kinh doanh ngày càng lớn hơn Đặc biệt khi mà các hiệp định thương mại được
ký kết giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới đang ngày càng xoá đi các rào cản thuế quan đối với các hoạt động xuất, nhập khẩu Điều này dẫn đến sự thâm nhập trực tiếp của các doanh nghiệp ở các nước vào thị trường của nhau Trong môi
Trang 19trường kinh doanh này để chống đỡ với sự thay đổi không lường trước của môi trường đòi hỏi doanh nghiệp phải có một chiến lược kinh doanh mang tính chất động và tấn công Chất lượng của hoạch định và quản trị chiến lược tác động trực tiếp đến sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp, vị thế cạnh tranh cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Chiến lược kinh doanh phải được xây dựng theo qui trình khoa học, phải thể hiện tính linh hoạt cao Đó không phải là bản thuyết trình chung chung mà phải thể hiện qua các mục tiêu cụ thể trên cơ sở chủ động tận dụng các cơ hội và tấn công làm hạn chế các đe doạ của thị trường Trong quá trình hoạch định chiến lược phải thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa chiến lược tổng quát và các chiến bộ phận.
Một vấn đề quan trọng nữa là phải chú ý đến chất lượng khâu triển khai thực hiện chiến lược, biến chiến lược kinh doanh thành các chương trình, các kế hoạch và chính sách kinh doanh phù hợp V.2 Lựa chọn quyết đinh sản xuất kinh doanh có hiệu quả
V.2.1 Quyết định mức sản xuất và sự tham gia của các yếu tố đầu vào.
Mọi doanh nghiệp kinh doanh đều có mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận Xét trên phương diện lý thuyết thì để đạt được mục tiêu này, trong mọi thời kỳ kinh doanh doanh nghiệp phải quyết định mức sản xuất của mình thoả mãn điều kiện doanh thu biên thu được từ đơn vị sản phẩm thứ i phải bằng với chi phí kinh doanh biên để sản xuất ra đơn vị sản phẩm thứ i đó : MC=MR Mặt khác, để sử dụng các nguồn lực đầu vào có hiệu quả nhất doanh nghiệp quyết định sử dụng khối lượng mỗi nguồn lực sao cho mức chi phí kinh doanh để có đơn vị yếu tố đầu vào thứ j nào đó
Trang 20phải bằng với sản phẩm doanh thu biên mà yếu tố đầu vào đó tạo
ra : MRP j = MC j
Để vận dụng lý thuyết tối ưu vào quyết định mức sản lượng sản xuất cũng như việc sử dụng các yếu tố đầu vào vấn đề là ở chỗ doanh nghiệp phải triển khai quản trị chi phí kinh doanh Việc tính toán chi phí kinh doanh và từ đó là tính chi phí kinh doanh cận biên phải được tiến hành liên tục và đảm bảo tính chính xác cần thiết nhằm cung cấp thường xuyên những thông tin về chi phí kinh doanh theo yêu cầu của bộ máy quản trị doanh nghiệp
V.2.2 Xác định và phân tích điểm hoà vốn
Kinh doanh trong cơ chế thị trường, mọi doanh nghiệp đều quan tâm đến hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào Để quyết định sản xuất một loại sản phẩm doanh nghiệp phải tính toán để biết được phải sản xuất bao nhiêu sản phẩm với mức giá đầu vào cụ thể nào và bán với giá nào thì đảm bảo hoà vốn và bắt đầu có lãi Điều này đặt ra yêu cầu xác định và phân tích điểm hoà vốn.
Điểm hoà vốn là điểm mà ở tại đó tổng doanh thu bằng tổng chi phí bỏ ra Tại điểm hoà vốn, kết quả kinh doanh của loại sản phẩm đó bằng không Đây chính là ranh giới giữa ân hoặc dương của mức doanh lợi
Phân tích điểm hoà vốn chính là xác lập và phân tích mối quan hệ tối ưu giữa chi phí kinh doanh, doanh thu, sản lượng và giá cả Điểm mấu chốt để xác định chính xác điểm hoà vốn là phải phân chia chi phí kinh doanh thành chi phí kinh doanh cố định và chi phí kinh doanh biến đổi và xác định được chi phí kinh doanh cố định cho từng loại sản phẩm theo công thức :
Trang 21AVC -
P
FC
KD HV
=
Với : Q HV là mức sản lượng hoà vốn
FC KD là chí phí kinh doanh cố định gắn với loại sản phẩm đang nghiên cứu
AVC KD là chi phí kinh doanh biến đổi bình quân để sản xuất một đơn vị sản phẩm
P là giá bán sản phẩm đó.
V.3 Phát triển trình độ và tạo động lực cho đội ngũ lao động
Lao động sáng tạo của con người là nhân tố quyết định hiệu quả kinh doanh Xu thế xây dựng nền kinh tế tri thức đòi hỏi đội ngũ lao động phải có trình độ chuyên môn cao, có năng lực sáng tạo Vấn đề tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại nhằm thường xuyên nâng cao chất lượng cho đội ngũ lao động là nhiệm
vụ mà doanh nghiệp phải hết sức quan tâm Đặc biệt, đội ngũ lao động quản trị phải có khả năng hoạch định chiến lược, bổ xung có hiệu quả các nguồn lực, chủ động ứng phó với những thay đổi bất thường của môi trường kinh doanh
Doanh nghiệp phải xây dựng cơ cấu lao động tối ưu, đảm bảo
đủ việc làm trên cơ sở phân công và bố trí lao động hợp lí phù hợp với năng lực, sở trường và nguyện vọng của mỗi người Khi giao việc phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của mỗi người Phải đảm bảo cung cấp đầy đủ các điều kiện cần thiết của quá trình sản xuất, đảm bảo sự cân đối thường xuyên trong sự biến động của môi trường kinh doanh Phải chú trọng công tác vệ sinh công nghiệp và các điều kiện về an toàn lao động
Trang 22Động lực tập thể và cá nhân là yếu tố quyết định khả năng sáng tạo, là yếu tố tập hợp, liên kết giữa các thành viên lại với nhau Tạo động lực cho tập thể, cá nhân là vấn đề đặc biệt quan trọng Yếu tố tác động mạnh mẽ nhất tới việc tạo động lực là việc thực hiên trả lương, khuyến khích lợi ích vật chất và chịu trách nhiệm vật chất đối với người lao động Không thể tạo ra động khi trả lương, thưởng không theo nguyên tắc công bằng Mặt khác nhu cầu tinh thần của người lao động ngày càng cao đòi hỏi phải chuyển sang quản trị dân chủ, tạo ra bầu không khí hữu nghị, thân thiện giữa các thành viên Phải ngày càng đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin cho người lao động Đồng thời phải đặc biệt chú trọng phát triển nhân cách của đội ngũ những người lao động
V.4 Công tác quản trị
Bộ máy quản trị doanh nghiệp gọn, nhẹ, năng động, linh hoạt trước biến đổi thị trường luôn là đòi hỏi bức thiết đối với công tác quản trị doanh nghiệp Muốn vậy, phải chú ý đến ngay từ khâu tuyển dụng theo nguyên tác tuyển người theo yêu cầu của công việc chứ không được phép ngược lại.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp phải thích ứng với sự biến động của môi trường kinh doanh Phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ trách nhiệm, mối quan hệ giữa các bộ phận, cá nhân trong bộ máy quản trị doanh nghiệp và phải phải được qui định rõ ràng trong điều lệ cũng như hệ thống nội qui của doanh nghiệp Những qui định này phải quán triệt nguyên tắc phát huy tính chủ động, sáng tạo trong quản trị
Trang 23Thiết lập hệ thống thông tin hợp lí là nhiệm vụ không kém phần quan trọng của công tác tổ chức doanh nghiệp Việc thiết lập
hệ thống thông tin phải đáp ứng các yêu cầu sau :
- Phải đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin đảm bảo thường xuyên cung cấp thông tin cần thiết đến đúng các địa chỉ nhận tin.
- Phải tăng cường chất lượng công tác thu nhận xử lý thông tin, đảm bảo thường xuyên cập nhật bổ xung thông tin.
- Phải phù hợp với khả năng sử dụng, khai thác thông tin của doanh nghiệp
- Phải đảm bảo chi phí kinh doanh thu thập, xử lí và khai thác, sử dụng thông tin là cao nhất
- Phải phù hợp với trình độ phát triển công nghệ tin học, từng bước hội nhập với hệ thống thông tin quốc tế
V.5 Phát triển công nghệ kỹ thuật
Nhiều doanh nghiệp nước ta hiện nay có trình độ công nghệ kĩ thuật rất lạc hậu, máy móc thiết bị quá cũ kỹ làm cho năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm không đảm bảo và kết cục là hiệu quả kinh tế thấp hoặc kinh doanh không có hiệu quả
Nhu cầu đổi mới kỹ thuật công nghệ là rất chính đáng song phát triển kỹ thuật công nghệ luôn đòi hỏi phải đầu tư lớn ; đầu tư đúng hay sai sẽ tác động tới hiệu quả lâu dài trong tương lai Vì vậy, để quyết định đầu tư đổi mới kỹ thuật công nghệ phải giải quyết tốt 3 vấn đề :
Thứ nhất, phải dự đoán đúng cung- cầu thị trường, tính chất cạnh tranh, nguồn lực cần thiết đến loại sản phẩm ( dịch vụ ) doanh nghiệp sẽ đầu tư phát triển.
Trang 24Thứ hai, phải phân tích, đánh giá và lựa chọn công nghệ phù hợp Các trường hợp nhập công nghệ lỗi thời, thiết bị bãi rác, gây
ô nhiễm môi trường đều đã ẩn chứa nguy cơ sử dụng không có hiệu quả chúng trong tương lai.
Thứ ba, phải có giải pháp huy động vốn đúng đắn Nếu dự án đổi mới thiết bị không được đảm bảo bởi các điều kiện huy động và
sử dụng vốn đúng đắn cũng đều chứa đựng nguy cơ thất bại, không đem lại hiệu quả
Trong quá trình sản xuất kinh doanh hiện nay, các hướng chủ yếu nhằm đổi mới và phát triển kỹ thuật công nghệ là :
- Nâng cao chất lượng quản trị công nghệ kỹ thuật, từng bước hoàn thiện quản trị định hướng chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000.
- Nghiên cứu, đánh giá để co thể chuyển giao công nghệ một cách
có hiệu quả, tiến tới làm chủ công nghệ và có khả năng sáng công nghệ mới.
- Nghiên cứu, đánh giá và nhập các loại thiết bị máy móc phù hợp với trình độ kỹ thuật, các điều kiện tài chính ; từng bước quản trị
và sử dụng có hiệu quả thiết bị máy móc hiện có.
- Nghiên cứu sử dụng vật liệu mới và vật liệu thay thế theo nguyên tắc nguồn lực dễ kiếm hơn, rẻ tiền hơn mà vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm
- Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tin học trong mọi lĩnh vực quản trị kĩ thuật và quản trị các hoạt động kinh doanh khác.
V.6 Tăng cường và mở rộng quan hệ cầu nối giữa doanh nghiệp và
xã hội
Cùng với sự phát triển và mở rông thị trường, sự phụ thuộc giữa các doanh nghiệp với thị trường cũng như giữa các doanh