Thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về tuyển dụng viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập, gắn với việc kiên quyết xử lý những vi phạm về công tác tuyển dụng ..... Vớ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS HỒ QUANG HUY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Vương Hồng Hưng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Chủ nhiệm, quý thầy cô tại Khoa Luật - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, giải đáp những kiến thức chuyên sâu và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Hồ Quang Huy đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình viết và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn và tỏ lòng trân quý tới PGS, TS Vũ Công Giao - Trưởng Bộ môn Luật Hiến pháp, Luật Hành chính đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong quá trình học tập, khai thác tư liệu, nghiên cứu khoa học để thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè luôn bên cạnh hỗ trợ, động viên và khuyến khích tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vương Hồng Hưng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VIÊN CHỨC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP VÀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 9
1.1 Khái niệm viên chức và đơn vị sự nghiệp công lập 9
1.1.1 Khái niệm viên chức 9
1.1.2 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập 11
1.2 Tuyển dụng viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập 13
1.2.1 Khái niệm tuyển dụng viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập 13
1.2.2 Quy trình tuyển dụng 17
1.2.3 Phương thức tuyển dụng 20
1.2.4 Chủ thể thực hiện tuyển dụng và nguồn tuyển dụng 20
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuyển dụng viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập 21
1.3.1 Các yếu tố chủ quan 21
1.3.2 Các yếu tố khách quan 23
Tiểu kết Chương 1 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP THUỘC SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG 27
2.1 Khái quát về Sở Công Thương tỉnh Hải Dương 27
Trang 62.2 Cơ sở pháp lý, quy trình, thủ tục, ưu điểm và hạn chế trong
quy trình tuyển dụng viên chức tại đơn vị sự nghiệp công
lập thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương 33
2.2.1 Cơ sở pháp lý về tuyển dụng viên chức 33
2.2.2 Quy trình, thủ tục tuyển dụng 36
2.3 Kết quả và những vấn đề đặt ra với hoạt động tuyển dụng viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương 58
2.4 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong tuyển dụng viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương 68
2.4.1 Nguyên nhân của những thành tựu 68
2.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế 71
Tiểu kết Chương 2 81
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP THUỘC SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG 82
3.1 Quan điểm nâng cao chất lượng tuyển dụng viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương 82
3.1.1 Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng đơn vị sự nghiệp công lập vững mạnh về chất lượng chuyên môn, tự chủ trong hoạt động 82
3.1.2 Tuyển dụng viên chức trên cơ sở biên chế, quỹ lương và vị trí việc làm thực sự cần người lao động, đồng thời người được tuyển dụng phải đáp ứng tốt yêu cầu công việc 83
3.1.3 Tuyển dụng viên chức gắn với trách nhiệm của người đứng đầu trong đơn vị sự nghiệp công lập 84
3.1.4 Thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về tuyển dụng viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập, gắn với việc kiên quyết xử lý những vi phạm về công tác tuyển dụng 86
Trang 73.2 Giải pháp nâng cao chất lượng tuyển dụng viên chức tại đơn
vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương 88
3.2.1 Đổi mới công tác tuyển dụng, chỉ áp dụng hình thức xét tuyển đối với người đã làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập khác, người tốt nghiệp thạc sĩ trở lên, tốt nghiệp đại học với điểm trung bình 7,5 trở lên ở các trường đại học công lập 88
3.2.2 Đặc cách tuyển dụng nhân tài, tạo việc làm và cơ chế đãi ngộ tốt đối với nhân tài thông qua việc chi trả lương, thưởng và cung cấp chế độ làm việc 89
3.2.3 Thay thế hình thức xét tuyển bằng hình thức thi tuyển công khai, minh bạch nhằm chọn được người tài vào làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập, đáp ứng yêu cầu công việc trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế 90
3.2.4 Mở rộng điều kiện dự tuyển viên chức để thu hút nhân tài, người có năng lực thực sự vào làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở 92
3.2.5 Đổi mới hình thức thông báo tuyển dụng viên chức của đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng mở, công khai, minh bạch về nội dung, thông tin rộng rãi tới người lao động có nhu cầu tìm việc 94
Tiểu kết Chương 3 97
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐVSNCL Đơn vị sự nghiệp công lập
HĐND Hội đồng nhân dân
KC&TVPTCN Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp
QPPL Quy phạm pháp luật
VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng viên chức được tuyển dụng từ năm 2014 đến
Bảng 2.2 Số lượng viên chức được tuyển dụng theo trình độ học vấn 60 Bảng 2.3 Số lượng viên chức được tuyển dụng phân theo khối ngành 60 Bảng 2.4 Số lượng viên chức được tuyển dụng tại các ĐVSNCL
thuộc Sở phân theo chuyên ngành đào tạo 62 Bảng 2.5 Số lượng viên chức được tuyển dụng từ năm 2014 đến
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ viên chức được tuyển dụng từ năm 2014 đến
năm 2018 tại các ĐVSNCL thuộc Sở 59 Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ viên chức được tuyển dụng theo khối ngành
Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ viên chức được tuyển dụng theo chuyên
Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ viên chức được tuyển dụng theo hình thức
Sơ đồ 1.1 Các bước trong quy trình tuyển dụng viên chức 19
Sơ đồ 2.1 Quy trình tuyển dụng viên chức trong ĐVSNCL
thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương 46
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”, Bác viết: “Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” [38]
Thực tế cho thấy, chất lượng đội ngũ cán bộ phụ thuộc rất lớn vào khâu tuyển dụng Tuyển dụng nhân lực là khâu quan trọng, có ảnh hưởng quyết định đến tình trạng nhân lực của hầu hết cơ quan, đơn vị Với các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL), tuyển dụng là hoạt động có tính chất quyết định chất lượng đội ngũ viên chức trong thực thi công vụ Hoạt động tuyển dụng nếu được thực hiện đúng quy định pháp luật thì các cơ quan, đơn vị sẽ có một đội ngũ nhân lực phù hợp về số lượng và chất lượng, vừa hồng vừa chuyên
Khâu tuyển dụng được chuẩn bị chu đáo, được tiến hành nghiêm túc,
có tiêu chuẩn rõ ràng theo một quy trình khoa học sẽ đảm bảo cho tổ chức, đơn vị có được đội ngũ nhân viên phù hợp, thực hiện được các công việc chuyên môn hiệu quả Ngược lại, nếu khâu tuyển dụng được tiến hành tuỳ tiện, thiếu nghiêm túc thì chẳng những không mang lại lợi ích cho cơ quan, đơn vị mà còn dẫn đến tiêu cực, dễ nảy sinh bất đồng, mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ, xáo trộn công việc trong tập thể đơn vị
Chính vì vậy, trong những năm qua Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác tuyển dụng cán bộ Nhiều văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) đã được ban hành nhằm đổi mới hoạt động tuyển dụng công chức, viên chức, góp phần xây dựng đội ngũ công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước
Theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, nguồn nhân lực chất
Trang 12lượng cao là bộ phận ưu tú nhất của đất nước, bao gồm những người tiêu biểu
về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống; có trình độ học vấn, chuyên môn;
có sức khỏe tốt; luôn đi đầu trong lao động, sáng tạo khoa học; đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong các ĐVSNCL rất cần những con người có tri thức, có kinh nghiệm thực tiễn để lãnh đạo và thực hiện nhiệm vụ trong quá trình đổi mới đất nước, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước và trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Do vậy, để tuyển dụng thành công và sử dụng tốt các nhân tài thì công tác cán bộ cần phải đổi mới và cải tiến theo hướng thực tiễn Ở tất cả các ĐVSNCL hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cần phải được chuẩn hóa, chuyên môn hóa về chất lượng làm việc thông qua sàng lọc và đánh giá chất lượng viên chức hàng năm Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập trên nhiều lĩnh vực
Ở tỉnh Hải Dương, từ thực tiễn tại các ĐVSNCL thuộc Sở Công Thương, việc tuyển dụng người lao động có đủ năng lực đảm nhiệm và hoàn thành tốt công việc chuyên môn theo chức năng, nhiệm vụ mà Uỷ ban nhân dân tỉnh (UBND tỉnh) giao là không hề dễ dàng Những năm qua nhiều lao động trẻ có trình độ cao, có năng lực tốt không muốn làm việc cho cơ quan nhà nước bởi nhiều lý do khác nhau Ở đó, họ không thể phát huy hết khả năng vì tính chất công việc chuyên môn bị ràng buộc bởi những quy định của pháp luật Đồng lương của viên chức nhận được rất thấp và khả năng thăng tiến trong công việc không rõ ràng như tại các doanh nghiệp Vai trò và sự cống hiến của viên chức tại một số đơn vị đôi lúc không được nhìn nhận đúng mức
Có một nghịch lý đang hiện hữu tại các ĐVSNCL thuộc Sở là số lượng viên chức đông nhưng hiệu quả giải quyết công việc của từng lao động không đồng đều, có sự phân cấp rất lớn Nguyên nhân do chất lượng đầu vào và năng
Trang 13lực chuyên môn của viên chức còn nhiều hạn chế Cán bộ viên chức không được giao nhiệm vụ đúng chuyên ngành và bị chồng chéo công việc, do đó chưa phát huy được hết khả năng của người lao động sau khi được tuyển dụng Dù có muốn nhưng các đơn vị vẫn khó tuyển dụng được nhân tài tới làm việc
Vậy làm sao để thu hút được người có năng lực vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập? Làm sao để phát huy được khả năng của họ sau khi tuyển dụng và giữ được người có năng lực phục vụ cho sự phát triển ổn định của các đơn vị? Đây là những câu hỏi khó đối không chỉ với các ĐVSNCL thuộc Sở Công Thương mà còn với tất cả các ĐVSNCL khác trong toàn tỉnh Hải Dương hiện nay
Là một cán bộ đang công tác tại Sở Công Thương tỉnh Hải Dương,
trước tình hình trên, học viên quyết định lựa chọn đề tài: “Tuyển dụng viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập từ thực tiễn Sở Công Thương tỉnh Hải Dương” để thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và
Luật Hành chính, với mong muốn góp phần cải cách quy trình, thủ tục, nâng cao chất lượng tuyển dụng đội ngũ viên chức ở đơn vị mình đang công tác
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, vấn đề tuyển dụng công chức, viên chức trong các ĐVSNCL đã được một số cơ quan, tổ chức và cá nhân nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau Các công trình nghiên cứu về vấn đề này hiện đã được công bố dưới nhiều hình thức như sách chuyên khảo, tham khảo, luận
án, luận văn, bài báo , trong đó một số công trình tiêu biểu có thể kể như:
- Pháp luật về tuyển dụng viên chức ở Việt Nam hiện nay, của Đinh
Thành Tuấn, Luận văn thạc sĩ luật học, 2011
- Tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ta
hiện nay của Nguyễn Huy Hoàng, Luận văn thạc sĩ luật học 2011
Trang 14- Chế độ tuyển dụng viên chức ở Việt Nam hiện nay, của Nguyễn Thanh
Minh, Luận văn thạc sĩ luật học, 2012
- Tuyển dụng viên chức từ thực tiễn ngành hải quan hiện nay, của
Hoàng Minh Tuấn, Luận văn thạc sĩ luật học, 2013
- Hoàn thiện pháp luật về tuyển chọn công chức ở nước ta, Luận án
tiến sĩ của Nguyễn Quốc Hiệp, 2015
- Thực hiện pháp luật về viên chức trong trường đại học ở Việt Nam,
Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Thị Thu Hương, 2016
- Bên cạnh các luận án, luận văn còn có nhiều bài viết đăng trên các
báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu, có thể kể như:
- Một số vấn đề về tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ nhân tài, tác giả Trần
Văn Quảng đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
- Một số giải pháp phát hiện và sử dụng nhân tài ở nước ta hiện nay,
của TS Nguyễn Minh Phương
- Kinh nghiệm trọng dụng nhân tài để hình thành nền kinh tế trí thức của một số quốc gia châu Á và những gợi ý cho Việt Nam, tác giả Lê Thị
Hồng Điệp
- Hệ thống công vụ và xu hướng cải cách của một số nước trên thế giới, của
các tác giả Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Thu Huyền, 2004
- Sự điều chỉnh của pháp luật về viên chức, của GS.TS Phạm Hồng
Thái đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước số 1 năm 2009
- Kinh nghiệm công tác nhân sự của một số nước, của các tác giả Lê
Minh Thông, Nguyễn Danh Châu 2009
- Một số nội dung trong tuyển dụng nhân lực của khu vực nhà nước,
của tác giả Lê Cẩm Hà đăng trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 9 năm 2010
- Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức trong các ĐVSNCL, trong Tạp chí Tổ chức nhà nước của tác giả Trần Anh Tuấn, 2010
Trang 15- Đổi mới hệ thống tổ chức và hoạt động của các ĐVSNCL góp phần
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, của GS,
TS Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ
Những công trình nghiên cứu nêu trên là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả khi thực hiện luận văn Tuy nhiên, một số công trình nghiên cứu đã nêu được thực hiện trước khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 và Luật Viên chức số 58/2010/QH12 được ban hành, vì thế chưa cập nhật các chính sách và quy định pháp luật mới có liên quan Thêm vào đó, các bài viết trước đây chủ yếu phân tích việc tuyển dụng công chức, viên chức trong cả nước nói chung, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về việc tuyển dụng viên chức trong các ĐVSNCL từ thực tiễn của các đơn vị cơ sở tại địa phương, cụ thể là các trung tâm, cơ quan, đơn vị trực thuộc các Sở, ngành của các tỉnh, thành phố trong cả nước Hiện nay số lượng các trung tâm, đơn vị này là rất nhiều, với hàng trăm nghìn biên chế đang làm việc nhưng ít được đề cập đến trong các bài nghiên cứu Vì vậy, có thể khẳng định luận văn này có tính mới, có
ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài nghiên cứu làm rõ thực trạng tuyển dụng viên chức trong các ĐVSNCL thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tuyển dụng viên chức ở địa bàn nghiên cứu cũng như ở các ĐVSNCL trong tỉnh Hải Dương và của nước ta trong những năm tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau:
Trang 16- Khái quát hoá những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài, và khung pháp luật hiện hành của nước ta về tuyển dụng viên chức trong các ĐVSNCL
- Phân tích bối cảnh, thực trạng, những kết quả và hạn chế, xác định nguyên nhân dẫn tới những kết quả và hạn chế trong việc tuyển dụng viên chức của các ĐVSNCL thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương trong khoảng
5 năm gần đây
- Nêu ra các phương hướng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tuyển dụng viên chức tại các ĐVSNCL thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương, hướng đến vận dụng vào thực tiễn tại các ĐVSNCL khác trong
và ngoài tỉnh những năm tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quy trình, thủ tục tuyển dụng, kết quả tuyển dụng viên chức, nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong tuyển dụng viên chức tại ĐVSNCL thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung, luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề tuyển dụng viên chức trong các ĐVSNCL thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương, không nghiên cứu các vấn đề khác về tổ chức bộ máy và hoạt động của các ĐVSNCL
Về mặt không gian, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực tiễn công tác tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương, không mở rộng sang các ĐVSNCL khác của tỉnh hoặc của các địa phương khác
Về mặt thời gian, luận văn nghiên cứu và phân tích thực trạng tuyển dụng viên chức tại các ĐVSNCL thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương trong khoảng 5 năm gần đây, có đề cập rất ít đến một số năm trước đó
Trang 175 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và một số lý thuyết về quản trị công để làm
cơ sở phân tích các vấn đề đặt ra
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học
xã hội như tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh, hỏi - đáp để làm rõ các vấn đề nghiên cứu đặt ra
Thêm vào đó, với tư cách là một cán bộ làm việc tại địa bàn nghiên cứu, tác giả còn sử dụng phương pháp quan sát thực tế và trao đổi, tham vấn một số lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức trong ngành để thực hiện luận văn này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn nêu ra 05 giải pháp đổi mới công tác tuyển dụng viên chức tại các ĐVSNCL đó là: Áp dụng hình thức xét tuyển đối với những người có các tiêu chí, điều kiện dự tuyển đặc biệt; Áp dụng hình thức đặc cách xét tuyển với những trường hợp nhất định để thu hút nhân tài; Thay thế hình thức xét tuyển bằng thi tuyển; Mở rộng điều kiện tham gia dự tuyển của các thí sinh; Quy định bắt buộc việc đăng thông báo tuyển dụng tại các Trung tâm giới thiệu việc làm thuộc tỉnh Những giải pháp trên giúp các cơ quan hành chính nhà nước nói chung, ĐVSNCL của Sở nói riêng và các cơ quan quản lý nhà nước nghiên cứu,
áp dụng vào thực tế tuyển dụng cán bộ công chức, viên chức trong thời gian tới
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện các chính sách pháp luật, nâng cao chất lượng tuyển dụng viên chức Luận văn có thể xem là tài liệu tham khảo hữu ích cho Sở Công Thương tỉnh Hải Dương
và nhiều ĐVSNCL khác của tỉnh cũng như các địa phương khác ở nước ta
Trang 18trong việc nâng cao chất lượng tuyển dụng viên chức trong thời đại kinh tế
mở khi Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về viên chức, đơn vị sự
nghiệp công lập và tuyển dụng viên chức ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Thực trạng tuyển dụng viên chức tại đơn vị sự nghiệp công
lập thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương
Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng tuyển dụng viên
chức tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương
Trang 19Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VIÊN CHỨC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP VÀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Khái niệm viên chức và đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.1 Khái niệm viên chức
Ở Việt Nam, bên cạnh khái niệm viên chức còn có khái niệm cán bộ, công chức Trong thực tế, thuật ngữ viên chức đôi khi dễ bị nhầm lẫn với các thuật ngữ cán bộ, công chức Việc phân biệt rõ ràng đối tượng nào là viên chức sẽ tạo cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý cho các quy định liên quan tới tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức
Về mặt lý thuyết, nhận thức phổ biến ở Việt Nam xem viên chức là những người làm công việc thuần tuý về chuyên môn như giảng dạy, nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh, cung cấp thông tin tại các ĐVSNCL Viên chức không trực tiếp tham gia vào công tác quản lý nhà nước Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là cung cấp những dịch vụ công thiết yếu, cung cấp cho người dân các sản phẩm "phi hiện vật", dựa trên "kỹ năng nghiệp vụ, mang tính nghề nghiệp cao" [53] Với tính chất công việc như vậy, mọi hoạt động nghề nghiệp của viên chức đòi hỏi tính chuyên nghiệp, chính xác, như một chuyên gia [36]
Từ tiêu chí nêu trên, theo Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 01/07/2017,
cả nước có hơn 3,8 triệu cán bộ công chức, viên chức và người hưởng lương, mức tăng 11,3% so với năm 2012, trong đó số viên chức chiếm gần 2,5 triệu người đang làm việc tại 58.000 ĐVSNCL, chưa tính đến số lao động trong các doanh nghiệp nhà nước Đây là lực lượng lao động đông đảo, góp phần vào việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội mà Nhà nước đề ra
Về mặt pháp lý, khái niệm viên chức được sử dụng trong các văn bản
Trang 20quy phạm pháp luật (VBQPPL) của Việt Nam ít nhiều thay đổi theo từng thời
kỳ Hiến pháp 1992 sử dụng cụm từ "cán bộ, viên chức" để chỉ chung những người làm việc tại các cơ quan nhà nước, ĐVSNCL (Điều 8) Theo đó, viên chức là một khái niệm rất rộng, có khi dùng để chỉ một phạm vi rộng lớn những người làm việc trong cả bộ máy, tổ chức nhà nước [43] Trong khi đó, theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức ban hành năm 1998, cụm từ được sử dụng chung cho người làm việc trong khối cơ quan nhà nước nước là "cán bộ, công chức" [44] Chỉ khi Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung năm 2003 thì viên chức mới được tách riêng thành một nhóm, phân biệt với công chức Điểm d, Điều 1 Pháp lệnh này quy định, viên chức là "những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội" Theo quy định này, viên chức là một nhóm nhỏ thuộc một tập hợp lớn hơn là cán bộ, công chức
Cùng với sự bổ sung, hoàn thiện của pháp luật, khái niệm công chức và viên chức tiếp tục có sự điều chỉnh theo hướng rõ ràng, cụ thể hơn bằng hai đạo luật riêng là Luật Cán bộ, công chức 2008, và Luật Viên chức 2010 Luật Viên
chức năm 2010 quy định: "Viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng
theo vị trí việc làm, làm việc tại ĐVSNCL theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSNCL theo quy định của pháp luật" [46]
Qua những phân tích ở trên, có thể thấy những đặc điểm cơ bản của viên chức như sau:
- Thứ nhất, về quốc tịch: Là công dân Việt Nam
- Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Là người được tuyển dụng theo vị trí
việc làm và được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị (do ngân sách nhà nước cấp hoặc từ nguồn thu của đơn vị)
- Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại ĐVSNCL
Trang 21- Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức được
tính kể từ khi được tuyển dụng Hợp đồng làm việc được ký kết giữa viên chức và ĐVSNCL có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động
- Thứ năm, về chế độ lao động: Viên chức làm việc theo chế độ Hợp đồng
làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSNCL theo quy định của pháp luật Điều đó có nghĩa giữa viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên… Hợp đồng làm việc dựa trên cơ sở pháp lí để giải quyết những vấn đề liên quan đến việc vi phạm quyền, nghĩa vụ hay các vấn đề phát sinh giữa các bên
1.1.2 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập
Trước khi có Luật Viên chức (2010), Nhà nước đã ban hành nhiều VBQPPL có liên quan đến ĐVSNCL nhưng không đưa ra khái niệm thực sự
rõ ràng về các đơn vị này Luật Viên chức 2010 quy định: “ĐVSNCL là tổ
chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” [46, Điều 9, Khoản 1]
Tuy nhiên, cần thấy rằng hiện nay hoạt động cung cấp các dịch vụ công thiết yếu cho người dân và xã hội không còn được xem là công việc độc quyền của các ĐVSNCL mà có sự bình đẳng về quyền giữa các đơn vị trong
và ngoài công lập Trong thực tế ở nước ta thời gian qua, một số dịch vụ công đã được trao cho khối tư nhân như dịch vụ công chứng, tư vấn thuế, đấu giá Điểm khác biệt giữa ĐVSNCL và các đơn vị khác là đơn vị công lập được thành lập bởi những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc bởi các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
Về mặt pháp lý, hầu hết các ĐVSNCL chỉ thực hiện cung cấp một loại hình dịch vụ công theo chức năng, nhiệm vụ đã được quy định cụ thể trong
Trang 22các văn bản quy phạm pháp luật và theo quyết định thành lập đơn vị đó Ngoài nhiệm vụ chính đã được quy định, nhiều ĐVSNCL có thể thực hiện cung cấp một số loại hình dịch vụ khác trong phạm vi, chức năng của mình nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào một lĩnh vực chính được giao Ví dụ: Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, bên cạnh hoạt động nghiên cứu cũng có thể đảm nhiệm việc đào tạo một số trình độ, chuyển giao công nghệ bảo quản nông sản cho các doanh nghiệp Hay Trường Đại học kỹ thuật y tế Hải Dương được thành lập với hoạt động chủ yếu là đào tạo nhân lực y tế, nhưng bên cạnh đó cũng thực hiện việc nghiên cứu khoa học
và khám chữa bệnh Những dịch vụ công mà các đơn vị này cung cấp có đặc điểm là không thu tiền hoặc có thu tiền nhưng không đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên hết Đây là điểm khác biệt lớn nhất trong hoạt động giữa ĐVSNCL so với đơn vị sự nghiệp ngoài công lập thuộc các thành phần kinh tế khác
Theo pháp luật hiện hành, các ĐVSNCL có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính Luật Viên chức 2010 chia các ĐVSNCL thành 2 loại: (i) ĐVSNCL được giao quyền tự chủ hoàn toàn và (ii) ĐVSNCL chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn Dù vậy, hiện nay vẫn còn không ít hạn chế, tồn tại trong việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho ĐVSNCL, đồng thời đây cũng là vấn đề còn nhiều tranh luận
Tại dự Hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 6, khóa XII, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết:
Tính đến tháng 11 năm 2017 cả nước có 57.995 ĐVSNCL với tổng biên chế khoảng 2,45 triệu viên chức, trong đó ngành y tế và giáo dục chiếm gần 70% biên chế (Số liệu trên chưa kể công an, quân đội và khu vực doanh nghiệp nhà nước) Đây là lực lượng giữ vai trò chủ đạo, cung cấp hầu hết dịch vụ sự nghiệp công, liên quan đến mọi
Trang 23người, mọi nhà và toàn xã hội, như dịch vụ y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học-công nghệ, văn hóa, thể dục-thể thao Chi lương cho các ĐVSNCL chiếm tới gần 40% tổng quỹ lương của Ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, chỉ có 123 đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, 2.758 đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên, 12.968 đơn vị bảo đảm một phần chi thường xuyên, 42.146 đơn vị do Ngân sách nhà nước bảo đảm hoàn toàn hoạt động [35]
Tại báo cáo của Sở Tài chính tỉnh Hải Dương về việc cung cấp số liệu các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tỉnh hưởng lương từ ngân sách sau khi sáp nhập gửi Bộ Tài chính, tính đến tháng 01 năm 2019, toàn tỉnh có 1.070 ĐVSNCL, trong đó số lượng đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu
tư là 5 đơn vị, có 40 đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên, 369 đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên, 656 đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên
1.2 Tuyển dụng viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập
1.2.1 Khái niệm tuyển dụng viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập
Theo nhận thức phổ biến, tuyển dụng là quy trình sàng lọc và tuyển chọn những người có đủ năng lực đáp ứng một công việc trong một tổ chức, công ty, hoặc một chương trình tự nguyện hay nhóm cộng đồng Ở khía cạnh khác có thể hiểu tuyển dụng là việc lựa chọn người để làm một hay nhiều công việc nào đó Với ý nghĩa như vậy, bất kỳ một cơ quan, đơn vị nào có nhu cầu sử dụng nhân lực thì đều phải tiến hành hoạt động tuyển dụng Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh nhiều mặt giữa các đơn vị, đặc biệt tại các doanh nghiệp, việc tuyển dụng nhân lực được xem như một chiến lược, một nghệ thuật khoa học để thu hút nhân tài [34]
Thông thường tuyển dụng phải theo nguyên tắc cạnh tranh giữa các thí sinh thông qua hình thức thi có đánh giá kết quả và chọn lọc, như vậy mới
Trang 24đúng nghĩa là "thi tuyển" Trong phần lớn các lĩnh vực, số lượng việc làm được tạo ra thường ít hơn số lao động tìm việc Do vậy, khi có nhiều ứng viên tham gia tuyển dụng cho một vị trí việc làm sẽ khiến người tuyển dụng có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn Nếu việc tuyển dụng được thực hiện một cách công bằng sẽ lựa chọn được người có trình độ chuyên môn cao nhất, xứng đáng nhất [34]
Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong các ĐVSNCL (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 121/2006/NĐ-CP, sau đây gọi là Nghị định
số 116/2003/NĐ-CP) đưa ra định nghĩa “tuyển dụng” tại khoản 6 Điều 3 như
sau: “Tuyển dụng là việc tuyển người theo hình thức hợp đồng làm việc trong
biên chế ở ĐVSNCL của Nhà nước thông qua thi hoặc xét tuyển” [17] Như
vậy, có thể thấy, khái niệm “tuyển dụng” theo Nghị định số 116/2003/NĐ-CP chỉ có tính khái quát, tập trung vào các hình thức thi và xét tuyển Trong khi
đó, tại khoản 4, Điều 3, Luật viên chức 2010 quy định: “Tuyển dụng là việc
lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong ĐVSNCL” [46] Định nghĩa này tập trung vào yêu cầu đối với cá nhân được
tuyển dụng làm viên chức là có tư cách đạo đức, trình độ chuyên môn và khả năng làm việc, nhưng không quy định rõ hình thức hợp đồng làm việc và hình thức tuyển dụng (là thông qua thi hay xét tuyển)
Trong thực tế, các ĐVSNCL thường có nhiều công việc khác nhau theo vị trí việc làm, từ đơn giản đến phức tạp, do đó không thể tuyển dụng viên chức để thực hiện mọi công việc Đối với việc cung cấp dịch vụ công theo đặc thù của từng đơn vị, cần phải sử dụng người có chuyên môn, kỹ thuật nên được thực hiện bởi đội ngũ viên chức Đội ngũ này ngoài việc thực hiện nhiệm vụ được giao còn phải trực tiếp chịu trách nhiệm với những công việc mà mình đã làm Đối với những công việc giản đơn mang tính thừa hành,
Trang 25giúp việc, các cơ quan thường sử dụng lao động hợp đồng theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP, hợp đồng vụ việc hoặc sử dụng dịch vụ cung ứng lao động chuyên nghiệp từ các đơn vị khác [16] Đây là sự phân công lao động theo hình thức phân loại công việc, tuy giản đơn nhưng cần thiết, đảm bảo cho công việc chuyên môn của viên chức được trân trọng đúng mức, được hưởng lương tương xứng với năng lực và chất lượng việc làm [16]
Như đã phân tích ở các phần trên, việc tuyển dụng nhân sự có tác động rất lớn đến tới sự tồn tại và phát triển của một đơn vị Tuyển dụng được viên chức xứng đáng, có năng lực cũng chính là việc sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực mà Nhà nước đầu tư cho các ĐVSNCL Có thể coi hoạt động tuyển dụng viên chức giống như việc người nông dân chọn những cây giống tốt nhất để trồng trên thửa ruộng của mình Nếu đơn vị nào tổ chức tuyển dụng tốt, thu hút được nhân lực có trình độ cao, có ý thức tốt sẽ là cơ sở để xây dựng một đội ngũ viên chức có đủ phẩm chất năng lực, góp phần vào sự phát triển của đơn vị Ngược lại, nếu việc tuyển dụng không được tiến hành một cách nghiêm túc sẽ làm giảm uy tín và hiệu quả hoạt động chung của cơ quan, thậm chí còn tạo ra nguy cơ sa sút hoặc trì trệ của đơn vị
Tuyển dụng viên chức không giống như tuyển dụng công chức Công chức mang trong mình công quyền, hoạt động để thực thi công vụ, vì vậy, tuyển dụng công chức phải tuân theo những quy định chặt chẽ về điều kiện, phương thức; khi tuyển dụng phải căn cứ vào chỉ tiêu biên chế của cơ quan nhà nước, và chủ yếu được thực hiện bằng hình thức thi tuyển Đối với tuyển dụng viên chức, ĐVSNCL căn cứ vào vị trí việc làm và quỹ lương để xây dựng kế hoạch Do đặc thù cung cấp dịch vụ công, đơn vị sự nghiệp cần người có trình độ chuyên môn kỹ thuật hoặc kỹ năng đặc biệt, được đào tạo bài bản để đảm nhiệm công việc, vì vậy, tuyển dụng viên chức theo một thủ tục đơn giản hơn, chủ yếu bằng phương thức xét tuyển, nội dung xét tuyển tập
Trang 26trung đánh giá năng lực chuyên môn của ứng viên [34] ĐVSNCL và viên chức ràng buộc với nhau bằng hợp đồng làm việc Tuy nhiên trong các VBQPPL chưa có sự phân biệt rành mạch giữa nhiệm vụ của công chức và viên chức cũng như đặc thù công việc của hai đối tượng này nên việc tuyển dụng viên chức ở Việt Nam nhiều năm qua vẫn phải tuân theo những quy định khá chặt chẽ như tuyển dụng công chức (đặc biệt ở một số ngành có số lượng nhân sự lớn), làm giảm đi tính chủ động của các ĐVSNCL
Tuyển dụng viên chức tại các ĐVSNCL cũng có những điểm khác biệt
so với tuyển dụng nhân lực tại các đơn vị ngoài công lập Cùng là việc lựa chọn người xứng đáng nhất, phù hợp nhất nhưng tiêu chuẩn, phương thức tuyển dụng ở hai khu vực khác nhau Tuyển dụng nhân lực tại khu vực ngoài công lập không nhất thiết phải theo một khuôn phép được quy định sẵn, đơn vị tuyển dụng có thể tự đặt ra tiêu chuẩn đối với ứng viên dự tuyển, kết quả cuối cùng
mà họ mong muốn là lựa chọn được người phù hợp nhất cho công việc [34] Đây cũng chính là mục đích tuyển dụng viên chức trong các ĐVSNCL thuộc nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, việc tuyển dụng viên chức bắt buộc phải tuân theo những quy định trong các VBQPPL có liên quan; với những điều kiện, phương thức, thủ tục chặt chẽ hơn Điều này được lý giải bởi viên chức là người làm việc trong các cơ quan nhà nước, có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công, phục vụ công tác quản lý nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và đặc biệt là
sử dụng ngân sách nhà nước để thực hiện hoạt động chuyên môn nên việc tuyển dụng phải theo những quy định của pháp luật
Theo quy định hiện nay, tuyển dụng viên chức có những khác biệt so với tiếp nhận viên chức Tuyển dụng là lựa chọn một người mới trở thành viên chức, còn tiếp nhận là việc nhận một người đang là viên chức hoặc công chức tại một cơ quan, đơn vị công lập khác tới làm việc Tuyển dụng viên chức phải tuân theo những quy định của pháp luật hành chính, đồng thời phải thực
Trang 27hiện đúng các quy định của pháp luật lao động Suy cho cùng, viên chức là người lao động làm việc cho đối tượng sử dụng lao động đặc biệt là cơ quan hành chính nhà nước Vì vậy, những quy định về độ tuổi tuyển dụng, thủ tục tuyển dụng, quy trình tuyển dụng, hợp đồng làm việc cũng phải dựa trên cơ sở những nguyên tắc của pháp luật lao động [53] Về vấn đề này, Luật Viên chức năm
2010 quy định căn cứ đầu tiên để tuyển dụng viên chức là vị trí việc làm, ngoài ra còn có một số yếu tố khác Cụ thể, Điều 20 Luật Viên chức năm 2010 quy định:
“Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của ĐVSNCL” [46]
Qua những phân tích trên, có thể định nghĩa, “Tuyển dụng viên chức
là việc lựa chọn những công dân Việt Nam có đủ năng lực, phẩm chất, trình độ làm công tác chuyên môn tại các ĐVSNCL, việc tuyển dụng được thực hiện qua ký kết hợp đồng làm việc theo vị trí việc làm mà đơn vị yêu cầu” Đây là công việc có tầm quan trọng đặc biệt, ảnh hưởng đến sự tồn
tại và phát triển của một đơn vị, bên cạnh đó còn tác động tới công tác quản lý của Nhà nước đối với các ĐVSNCL và đội ngũ viên chức
1.2.2 Quy trình tuyển dụng
Quy trình là một chuỗi các thủ tục được xác lập theo thứ tự thời gian nhằm thực hiện một công việc nhất định một cách hợp lý, khoa học
Tại các đơn vị ngoài công lập, lãnh đạo đơn vị hoặc trưởng phòng nhân sự thường tham gia trực tiếp vào quá trình tuyển dụng, việc tuyển dụng được thực hiện theo một số thủ tục tùy theo quy định của chính đơn vị đó Thời gian tuyển dụng nhân sự tại các đơn vị ngoài công lập từ khâu đầu đến khâu kết thúc thường ngắn hơn so với tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL, do các đơn vị ngoài công lập có thể tự chủ trong hoạt động này
Quy trình tuyển dụng viên chức trong các ĐVSNCL hiện được quy định tại Mục 4, Chương 2, Nghị định số 29/2012/NĐ-CP Theo khoản 4
Trang 28Điều 5 Nghị định này, hàng năm, ĐVSNCL xây dựng kế hoạch tuyển dụng viên chức trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để tổ chức thực hiện Việc tuyển dụng viên chức phải tuân thủ đầy đủ các bước đã được quy định nhằm đảm bảo tính công bằng, minh bạch và tạo sự thống nhất trong tuyển dụng giữa các đơn vị [19]
Đơn vị tuyển dụng viên chức xây dựng và thực hiện quy trình, thủ tục tuyển dụng chặt chẽ theo đúng các quy định của pháp luật không chỉ giúp cho việc tuyển dụng đạt hiệu quả tối ưu mà còn thể hiện tính công khai, minh bạch, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi ứng viên Tuy nhiên trong thực tế chủ thể tuyển dụng cũng cần phải nghiên cứu tới đặc thù nghề nghiệp chuyên môn của từng vị trí việc làm để có phương án tuyển dụng phù hợp Nói cách khác, các bước tuyển dụng cần phải tuân theo quy định của pháp luật, song cũng cần có sự mềm mại để tạo điều kiện thuận lợi cho người dự tuyển, nhất là trong hoàn cảnh có sự cạnh tranh thu hút nhân lực gay gắt như hiện nay Một quy trình tuyển dụng tốt sẽ giúp cho đơn vị tìm kiếm được những người tài, những nhân viên ưu tú, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cơ quan cần Đồng thời, người được tuyển cũng phải hoà nhập được với công việc, với môi trường và văn hoá làm việc của đơn vị
Thủ tục tuyển dụng viên chức đơn giản hơn so với tuyển dụng công chức bởi được lựa chọn giữa hai phương thức là thi tuyển và xét tuyển Việc chủ động chọn lựa giữa hai phương án tạo sự linh hoạt cần thiết cho các chủ thể tuyển dụng Có thể thấy hình thức xét tuyển sẽ tạo sự thông thoáng với cả đơn vị tuyển dụng và người dự tuyển về thời gian, không gian và quy mô tổ chức Khi áp dụng hình thức xét tuyển, đơn vị có thể dựa vào kinh nghiệm làm việc của ứng viên, kết quả học tập tại trường đại học như bằng cấp, chứng chỉ, bảng điểm, kết quả phỏng vấn ứng viên để đánh giá chất lượng trước khi đưa ra quyết định tuyển dụng
Trang 29Tuy vậy, như đã phân tích, tuyển dụng viên chức lại có thủ tục phức tạp hơn so với tuyển dụng nhân lực tại các đơn vị ngoài công lập Các đơn vị ngoài công lập không bị ràng buộc bởi các quy định hành chính mà chủ yếu chịu sự tác động của pháp luật lao động [34] Với những đơn vị ngoài công lập, chủ thể tuyển dụng có thể sử dụng tất cả các phương thức để tuyển dụng nhân lực, miễn không trái với quy định của pháp luật
Ở các địa phương, hoạt động tuyển dụng tại các ĐVSNCL thường phải tuân theo trình tự như: Xây dựng chỉ tiêu cho từng vị trí việc làm theo quy định trong Nghị quyết của HĐND tỉnh, thông báo tuyển dụng, nhận hồ sơ dự tuyển, tổ chức tuyển dụng, công nhận kết quả và ký hợp đồng làm việc với viên chức Những bước trên đều quy định về trình tự thủ tục, thời gian, chủ thể thực hiện Có thể khái quát hoá thành sơ đồ như sau:
Sơ đồ 1.1 Các bước trong quy trình tuyển dụng viên chức
Trang 301.2.3 Phương thức tuyển dụng
Hiện tại ở Việt Nam, tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển (gồm xét tuyển thường và xét tuyển đặc cách) Mỗi hình thức đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Việc lựa chọn phương thức tuyển dụng nào là do người đứng đầu đơn vị sự nghiệp căn
cứ vào tình hình cụ thể để quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình [37] Phương thức xét tuyển thường được áp dụng trong các ĐVSNCL khối ngành kinh tế, văn hóa và cơ quan tham mưu bởi ít ứng viên tham gia dự tuyển và tạo sự thông thoáng cho cả đơn vị tuyển dụng và người dự tuyển, tuy nhiên cũng tồn tại một số bất cập trong việc chọn lựa ứng viên phù hợp
Thông thường, hình thức xét tuyển đặc cách chỉ áp dụng đối với những đối tượng tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, có nhiều thành tích nổi bật, có nhiều nghiên cứu khoa học được áp dụng vào thực tiễn, được các trường đại học, học viện ghi nhận và được cấp giấy khen, hoặc có công trình nghiên cứu được tặng thưởng bằng khen cấp tỉnh trở lên; người tốt nghiệp thạc sĩ loại khá tại trường đại học công lập ở nước ngoài; những đối tượng thuộc diện ưu tiên khác mà pháp luật quy định Vì vậy số lượng những người được xét đặc cách không nhiều Trong khi đó, hình thức tuyển dụng công chức được thực hiện chặt chẽ hơn và thường phải thông qua thi tuyển [37]
Luật Viên chức hiện nay quy định đa dạng các hình thức tuyển dụng nhằm tạo ra sự linh hoạt để phù hợp với điều kiện cũng như nhu cầu thực tế ở từng giai đoạn đặc thù của mỗi ĐVSNCL Điều đó góp phần nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị tuyển dụng và phát huy thẩm quyền,
trách nhiệm của người đứng đầu trong cơ quan
1.2.4 Chủ thể thực hiện tuyển dụng và nguồn tuyển dụng
Trong thực tế, chủ thể thực hiện tuyển dụng nhân sự (tức là chủ thể sử dụng lao động) rất đa dạng, bao gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nhau
Trang 31Tại các cơ quan nhà nước, chủ thể tuyển dụng viên chức là các ĐVSNCL được các tổ chức, tổ chức chính trị - xã hội thành lập Các cơ quan nhà nước là chủ thể đặc biệt trong quá trình thực hiện tuyển dụng Đây là chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, nhân danh Nhà nước thực hiện trách nhiệm quản lý xã hội,
vì vậy việc tuyển dụng viên chức được tổ chức thực hiện theo quy định của pháp luật, tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của mình Chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan nhà nước không giống nhau, vì thế nhu cầu và dạng viên chức tuyển dụng ở mỗi đơn vị cũng ít nhiều khác nhau
Nguồn tuyển dụng viên chức là những người lao động có quốc tịch Việt Nam, có đầy đủ phẩm chất, đạo đức, đủ sức khỏe, có trình độ chuyên môn phù hợp với nhu cầu tuyển dụng, đáp ứng được vị trí việc làm cần tuyển Trong đó có thể bao gồm cả những người lao động đang công tác ở cơ quan, đơn vị khác, sinh viên đã tốt nghiệp, người có nhu cầu tìm việc
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuyển dụng viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, trách nhiệm thực hiện pháp luật là trách nhiệm mang tính nguyên tắc do Hiến pháp quy định Bất kỳ một
cơ quan nhà nước nào cũng phải tuân thủ những quy định của pháp luật trong việc tuyển dụng nhân sự Vì vậy, hoạt động tuyển dụng viên chức chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, từ những yếu tố chủ quan của ĐVSNCL và người lao động tới những yếu tố khách quan từ phía cơ chế, chính sách, pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật tới nguồn nhân lực
1.3.1 Các yếu tố chủ quan
So với các chủ thể ngoài nhà nước, các ĐVSNCL có một số lợi thể để thu hút nguồn nhân lực, đặc biệt là thu hút nhân lực có trình độ chuyên sâu, được đào tạo bài bản Nhiều ĐVSNCL được thành lập sớm, được Nhà nước
“bảo trợ” toàn bộ về lương, địa điểm làm việc, trang thiết bị, ngân sách hoạt
Trang 32động nên có điều kiện thuận lợi thu hút nguồn nhân lực vào làm việc Đặc biệt, trong thời bao cấp, các đơn vị sự nghiệp gần như độc quyền trong việc thu hút nguồn lao động nên đã xây dựng được đội ngũ viên chức khá hùng hậu Nhiều viên chức đã đạt được những thành tựu nổi bật trong các lĩnh vực chuyên môn, mang lại danh tiếng cho các ĐVSNCL, tạo động lực phấn đấu cho những thế hệ sau Những thành tựu trong quá khứ và hiện tại là cơ sở để các ĐVSNCL tạo sức hút đối với người lao động có trình độ chuyên môn tới làm việc lâu dài [34]
Tâm lý, thói quen nương tựa Nhà nước của người lao động cũng là yếu
tố ảnh hưởng tới công tác tuyển dụng Chế độ tập trung bao cấp tồn tại trong thời gian dài ở nước ta đã hình thành tâm lý trong một bộ phận người lao động muốn được vào biên chế tại các ĐVSNCL để có cơ hội phát triển về chuyên môn, ổn định công việc, được bảo đảm tốt hơn về chính sách pháp luật, khi về già được hưởng các chế độ chính sách hưu trí Tư duy đó đã ăn sâu bén rễ, trở thành mong ước của nhiều người, kể cả những người đã và đang làm việc ổn định tại các đơn vị, doanh nghiệp ngoài công lập
Trong thời đại mở cửa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang thể hiện ngày một rõ, những ĐVSNCL kiểu mới đang có sự chuyển mình mạnh mẽ, nhờ sự “bảo trợ” của Nhà nước đã thể hiện những ưu thế vượt trội trên nhiều các lĩnh vực như y tế, giáo dục và nghiên cứu khoa học Yếu tố trên thu hút nhiều lao động tri thức cao, chuyên môn giỏi muốn được vào làm việc trong các cơ quan nhà nước để cống hiến chất xám Ngược lại, những ĐVSNCL chậm đổi mới đang bộc lộ một số yếu kém về cơ chế, môi trường làm việc không tốt, chế độ đãi ngộ kém sẽ khiến người lao động nảy sinh “tâm lý chán nản” khi phải “bám víu” vào Nhà nước Bên cạnh đó là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt về chế độ tiền lương và điều kiện làm việc của các tổ chức ngoài công lập sẽ tạo ra sự so sánh, khiến một số cơ quan
Trang 33hành chính nhà nước “kiểu cũ” khó thu hút được nguồn nhân lực có trình độ cao tới làm việc
Về mặt đời sống xã hội và nhận thức, người lao động có xu hướng và mong muốn được làm việc tại nơi có cơ hội phát triển về chuyên môn, nâng cao thu nhập và vị trí việc làm; có cơ hội thăng tiến trong công việc để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, phục vụ cuộc sống Vì vậy, những ĐVSNCL có đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, môi trường làm việc tốt vẫn có thể thu hút được lao động giỏi, song những đơn vị nào không đáp ứng đủ các điều kiện trên thường gặp khó khăn trong việc thu hút lao động chuyên môn
Như đã đề cập, ngày nay, hoạt động cung cấp dịch vụ công cũng không còn là độc quyền của các ĐVSNCL mà còn được trao cho khối tư nhân Trước đây các ĐVSNCL được Nhà nước trao cho nhiều quyền hơn trong tổ chức bộ máy và hoạt động nhằm tạo cơ chế độc quyền trong cung cấp dịch vụ công nhưng hiện nay đã có sự cạnh tranh của khối tư nhân Với sự phát triển của nền kinh tế, cơ chế mở cửa, nhiều doanh nghiệp tư nhân có tiềm lực mạnh đã thu hút nguồn nhân lực chuyên môn trong nhiều ngành nghề Bối cảnh đó tạo ra nhiều cơ hội cho người lao động có thể tự do lựa chọn đơn vị làm việc trong hay ngoài công lập, miễn sao tổ chức đó đáp ứng được những nhu cầu việc làm và chế độ tiền lương, đồng thời giúp họ phát huy được năng lực chuyên môn vốn có và phát triển bản thân
1.3.2 Các yếu tố khách quan
Chế độ, chính sách, pháp luật là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới việc tuyển dụng nhân sự tại các ĐVSNCL Như đã phân tích ở các phần trên, trước khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung năm 2003, việc
tổ chức thi tuyển viên chức trong nước vẫn được ghi chung là “Kỳ thi tuyển cán bộ, công chức” Trong các quyết định tuyển dụng người lao động vẫn được ghi là “Quyết định tuyển dụng công chức” Nói cách khác, viên chức vẫn được
Trang 34xem là một bộ phận cấu thành của đội ngũ cán bộ, công chức (thậm chí trước khi Luật Viên chức ra đời, nhiều văn bản vẫn đồng nhất hai khái niệm công chức, viên chức) Phải đến khi Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức 2010 được ban hành thì các chính sách, chế độ đãi ngộ và khung pháp luật áp dụng cho đội ngũ công chức, viên chức mới được tách biệt với nhau
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, các ĐVSNCL vẫn đang thực hiện những nhiệm vụ mà Nhà nước giao quyền, cụ thể là việc cung cấp các dịch vụ công Sự phân biệt về chức năng, nhiệm vụ giữa hai đối tượng công chức và viên chức vì thế vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng Viên chức cũng là người thực hiện công vụ nhưng quyền lực bị hạn chế khiến đội ngũ này mất đi sự linh hoạt nhất định trong hoạt động và thi hành nhiệm vụ của mình Nói cách khác, quan điểm về viên chức trong thời gian qua đã có sự thay đổi theo hướng tích cực nhưng những ảnh hưởng từ cơ chế chính sách cũ tới đội ngũ viên chức tại các ĐVSNCL không dễ gì xoá bỏ [34]
Cơ chế, chính sách pháp luật và những ưu đãi trong chế độ tiền lương đang là rào cản vô hình trong việc tuyển dụng viên chức giỏi Cụ thể, công chức hiện nay được hưởng 25% phụ cấp công vụ và không phải nộp quỹ bảo hiểm thất nghiệp, trong khi viên chức không hề được hưởng phụ cấp này mà hàng tháng vẫn phải đóng thêm tiền bảo hiểm thất nghiệp [20] Như vây về cơ bản, thu nhập của công chức luôn cao hơn viên chức, dù cả hai đối tượng có cùng thời gian làm việc và cùng chuyên ngành, cùng có điều kiện làm việc như nhau
Thực tế cho thấy sự phát triển của xã hội và thị trường lao động đòi hỏi pháp luật về tuyển dụng viên chức phải luôn được điều chỉnh Các quy định của pháp luật về tuyển dụng viên chức hiện nay còn một số điểm chưa phù hợp với thực tiễn và chậm điều chỉnh để bắt kịp sự phát triển kinh tế - xã hội
Tuyển dụng viên chức không phải là một hoạt động hoàn toàn tách biệt
mà gắn liền việc sử dụng, quản lý đội ngũ viên chức trong các ĐVSNCL
Trang 35Hiện nay, trong hầu hết các ĐVSNCL, việc quản lý viên chức vẫn được thực hiện bằng những mệnh lệnh hành chính hơn là những quy định của pháp luật lao động Điều này ít nhiều cũng tác động tiêu cực tới hoạt động chuyên môn của nhóm đối tượng này
Những bất cập, hạn chế nêu trên hiện đang là rào cản vô hình trong việc tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao làm việc trong các ĐVSNCL ở nước
ta hiện nay
Trang 36Tiểu kết Chương 1
Chương 1 của luận văn phân tích những khái niệm, đặc điểm về viên chức, ĐVSNCL, công tác tuyển dụng viên chức theo vị trí việc làm tại các ĐVSNCL Những phân tích này được thực hiện cả từ góc độ lý luận và góc độ những quy định của pháp luật hiện hành của nước ta, cụ thể là trong các văn bản QPPL đối với viên chức
Chương 1 đặc biệt chú ý phân tích quy trình và những phương thức tuyển dụng viên chức trong các ĐVSNCL Nguyên tắc được rút ra hiện nay trong việc tuyển dụng viên chức là: “công khai, minh bạch, khách quan, đúng pháp luật”; bảo đảm tính cạnh tranh nhằm tuyển chọn được ứng viên phù hợp với yêu cầu đã đề ra về năng lực, vị trí việc làm Quy trình tuyển dụng viên chức tại các ĐVSNCL có thể linh hoạt nhưng phải đảm bảo đúng, đủ các yêu cầu đã nêu trong các VBQPPL
Chương 1 cũng đồng thời đề cập và phân tích những yếu tố khách quan
và chủ quan có ảnh hưởng trực tiếp tới việc tuyển dụng viên chức trong các ĐVSNCL ở nước ta hiện nay Từ những phân tích ở Chương 1, luận văn có
cơ sở đánh giá thực tiễn việc tổ chức tuyển dụng viên chức tại các ĐVSNCL thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương trong Chương 2
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP THUỘC SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1 Khái quát về Sở Công Thương tỉnh Hải Dương
Theo quy định chung ở nước ta, các Sở Công Thương là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về công nghiệp và thương mại, bao gồm các ngành và lĩnh vực: Cơ khí; luyện kim; điện; năng lượng mới, năng lượng tái tạo; dầu khí; hóa chất; vật liệu nổ công nghiệp; công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản (trừ khoáng sản làm vật liệu xây dựng và sản xuất xi măng); công nghiệp tiêu dùng; công nghiệp thực phẩm; công nghiệp chế biến khác; an toàn thực phẩm; lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh; xuất khẩu, nhập khẩu; xúc tiến thương mại; thương mại điện tử; dịch vụ thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế; quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá; chống trợ cấp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; khuyến công, quản lý cụm công nghiệp, công nghiệp hỗ trợ; quản lý và tổ chức thực hiện các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của sở theo quy định của pháp luật
Sở Công Thương tỉnh Hải Dương có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của
Trang 38- Dự thảo các quyết định, chỉ thị thuộc thẩm quyền ban hành của UBND tỉnh về lĩnh vực công thương;
- Dự thảo quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của sở;
- Dự thảo văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn, chức danh đối với trưởng, phó các đơn vị thuộc sở; dự thảo quy định tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo phụ trách lĩnh vực công thương của Phòng Kinh tế hoặc Phòng Kinh
tế và Hạ tầng thuộc UBND huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh;
- Dự thảo quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các tổ chức, đơn vị thuộc Sở theo quy định của pháp luật;
- Dự thảo các quyết định, chỉ thị cá biệt thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch UBND tỉnh về lĩnh vực công thương;
Bên cạnh đó, Sở Công Thương còn có những nhiệm vụ như: Hướng dẫn
và kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình và các quy định về phát triển công thương sau khi được phê duyệt; Thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến, giáo dục, theo dõi thi hành pháp luật về lĩnh vực công thương; Giúp UBND tỉnh chủ trì, kiểm tra, thẩm định thiết kế các dự án đầu tư xây dựng, chất lượng các công trình thuộc ngành công thương trên địa bàn tỉnh theo phân cấp; Cấp, sửa đổi,
bổ sung, gia hạn và thu hồi các loại giấy phép, chứng nhận thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của Sở Công Thương theo quy định của pháp luật, sự phân công hoặc ủy quyền của UBND tỉnh; Thực hiện chức năng quản lý nhà nước và tham mưu giúp UBND tỉnh về các lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực thương mại, gồm thương mại nội địa, xuất nhập khẩu, thương mại điện tử, xúc tiến thương mại, cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và hội nhập kinh tế; Tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về giám
Trang 39định, đăng ký, cấp giấy phép, chứng chỉ, chứng nhận trong phạm vi trách nhiệm quản lý của Sở theo quy định của pháp luật và phân công hoặc ủy quyền của UBND tỉnh; Quản lý, theo dõi, khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, các hội, hiệp hội và các tổ chức phi chính phủ thuộc phạm vi quản lý của Sở trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật; Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của ĐVSNCL thuộc Sở quản lý theo quy định của pháp luật; Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công thương theo phân công hoặc ủy quyền của UBND tỉnh; Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực công thương đối với các Phòng Kinh tế hoặc Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc UBND huyện, thành phố, thị xã; Tổ chức thực hiện kế hoạch nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học
- kỹ thuật và công nghệ trong công nghiệp và thương mại thuộc phạm vi quản
lý của Sở; Hướng dẫn thực hiện các tiêu chuẩn, quy phạm, định mức kinh tế -
kỹ thuật, chất lượng sản phẩm công nghiệp; Xây dựng hệ thống thông tin lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ; Tổ chức thực hiện chính sách, chương trình, kế hoạch, đề án xây dựng phát triển mạng lưới điện nông thôn và chợ nông thôn tại các xã trên địa bàn tỉnh, đánh giá công nhận xã đạt tiêu chí về điện và chợ theo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới…[61]
Về cơ cấu tổ chức và biên chế, hiện tại Sở Công Thương tỉnh Hải Dương có lãnh đạo Sở (gồm 01 Giám đốc và 03 Phó Giám đốc, tính đến thời điểm tháng 01 năm 2020) và các tổ chức tham mưu tổng hợp và chuyên môn, nghiệp vụ gồm: Văn phòng; Thanh tra; Phòng Kế hoạch - Đầu tư và Hợp tác quốc tế; Phòng Kỹ thuật an toàn - Môi trường; Phòng Quản lý công nghiệp; Phòng Quản lý thương mại; Phòng Quản lý năng lượng [61] Bên cạnh đó, Sở còn có các ĐVSNCL, gồm: Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp; Trung tâm Xúc tiến thương mại
Trang 40Tổng số cán bộ, công chức, viên chức của các phòng khối văn phòng
Sở và các đơn vị thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương, tính đến thời điểm tháng 01 năm 2020 là 81 người, trong đó số lượng công chức, viên chức và người lao động của hai ĐVSNCL là 25 người [33]
Về hai ĐVSNCL thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương:
(1) Trung tâm Xúc tiến Thương mại được thành lập theo Quyết định số 4128/QĐ-UBND, ngày 11/11/2008 của UBND tỉnh Hải Dương, trên cơ sở đổi tên Trung tâm Thông tin, xúc tiến Thương mại và Du lịch thành Trung tâm Xúc tiến thương mại trực thuộc Sở Công Thương tỉnh Hải Dương Trung tâm là ĐVSNCL tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động, có chức năng thực hiện việc tiếp nhận, cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động thương mại; tổ chức và tư vấn các hoạt động xúc tiến thương mại trên địa bàn tỉnh theo quy định Nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Trung tâm là:
a) Xây dựng kế hoạch hoạt động của Trung tâm trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt;
b) Xây dựng các chương trình, kế hoạch xúc tiến thương mại 05 năm, hàng năm và tổ chức thực hiện theo sự chỉ đạo của Giám đốc Sở;
c) Tổ chức tiếp nhận, xử lý, tổng hợp, cung cấp thông tin về hoạt động thương mại trong và ngoài nước phục vụ sự chỉ đạo của tỉnh và cung cấp cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu;
d) Tổ chức việc thông tin tuyên truyển, giới thiệu, quảng bá về các doanh nghiệp và sản phẩm của tỉnh;
đ) Xây dựng, quản lý hệ thống thông tin; triển khai thực hiện chương trình thương mại điện tử và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thương mại;
e) Tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại như: Hội chợ, triển lãm, hội thảo; khảo sát, nghiên cứu thị trường và cung cấp thông tin về thị trường cho các hoạt động thương mại trong tỉnh;