1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp khai thác và bảo tồn bền vững nguồn lợi rươi tự nhiên tại xã hồng tiến, huyện kiến xương, tỉnh thái bình (luận văn thạc sĩ)

78 137 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 2,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH --- LẠI THỊ THÙY THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ BẢO TỒN BỀN VỮNG NGUỒN LỢI RƯƠI TỰ NHIÊN TẠI XÃ HỒNG TIẾN, HUYỆN KIẾN XƯƠNG,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

-

LẠI THỊ THÙY

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ BẢO TỒN BỀN VỮNG NGUỒN LỢI RƯƠI TỰ NHIÊN TẠI XÃ HỒNG TIẾN,

HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC BỀN VỮNG

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

-

LẠI THỊ THÙY

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ BẢO TỒN BỀN VỮNG NGUỒN LỢI RƯƠI TỰ NHIÊN TẠI XÃ HỒNG TIẾN,

HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC BỀN VỮNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Chu Hồi và TS Cao Lệ Quyên, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào khác Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Tác giả

Lại Thị Thùy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Khoa Các khoa học liên ngành - Đại học Quốc gia Hà Nội, các Quý Thầy Cô đã truyền dạy tri thức khoa học, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình tôi học tập và thực hiện luận văn Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Chu Hồi và TS Cao

Lệ Quyên đã giúp đỡ, dìu dắt và chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi cũng chân thành cảm ơn Lãnh đạo Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản,

TS Cao Lệ Quyên chủ nhiệm đề tài KHCN cấp Nhà nước: “Nghiên cứu xây dựng chính sách về ngư dân, ngư nghiệp và ngư trường để phát triển nghề cá bền vững

và có trách nhiệm ở Việt Nam” đã tạo điều kiện và cho phép tôi sử dụng các tài

liệu, số liệu và kết quả nghiên cứu liên quan trong luận văn từ đề tài này

Tôi chân thành cảm ơn lãnh đạo và cán bộ, các hộ dân xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã giúp đỡ chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nguồn tư liệu, tài liệu, số liệu hữu ích phục phụ cho luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, hỗ trợ, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập, làm việc và hoàn

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

MỞ ĐẦU……… 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Giả thuyết nghiên cứu 3

5 Kết cấu của luận văn 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO TỒN BỀN VỮNG NGUỒN LỢI RƯƠI 3

1.1.Một số khái niệm liên quan 5

1.2.Tình hình nghiên cứu, bảo tồn bền vững nguồn lợi Rươi 7

1.2.1 Trên thế giới 7

1.2.2 Ở Việt Nam 8

1.3.Đặc điểm vùng nghiên cứu 12

1.3.1 Vị trí địa lý 12

1.3.2 Đặc điểm khí hậu 13

1.3.3 Đặc điểm địa chất – địa hình 15

1.3.4 Đặc điểm các yếu tố thủy lý, thủy hóa 15

1.3.5 Điều kiện kinh tế - xã hội 16

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2 Phạm vi nghiên cứu 19

2.3 Nội dung nghiên cứu 20

2.4 Phương pháp nghiên cứu 20

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25

3.1.Một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của Rươi 25

3.1.1 Đặc điểm sinh học của Rươi 25

3.1.2 Đặc điểm sinh thái học 27

3.1.3 Đặc điểm sinh sản của Rươi 28

3.1.4 Phân bố Rươi 33

3.1.5 Hoạt động bắt mồi 34

Trang 6

3.2.Hiện trạng khai thác 35

3.2.1 Đặc điểm khu vực khai thác Rươi 35

3.2.2 Kỹ thuật khai thác 38

3.2.3 Hiện trạng mật độ lỗ Rươi và sản lượng khai thác 41

3.3.Các tác động đến nguồn lợi Rươi 43

3.3.1 Tác động do biến đổi khí hậu nước biển dâng 43

3.3.2 Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa 44

3.3.3 Tác động của sản xuất nông nghiệp 44

3.3.4 Tác động của cảng biển, công nghiệp khai khoáng 46

3.3.5 Tác động làm thay đổi chất lượng đất và nước 46

3.3.6 Kiến thức người dân trong bảo vệ nguồn lợi Rươi 47

3.4.Mô hình bảo tồn nguồn lợi Rươi bền vững 47

3.4.1 Xây dựng mô hình bảo tồn Rươi vùng nghiên cứu 47

3.4.2 Kết quả mô hình 50

3.4.3 Xây dựng quy trình phục hồi và bảo tồn bền vững nguồn lợi Rươi 57

3.5.Đề xuất giải pháp bảo tồn bền vững nguồn lợi Rươi 61

3.5.1 Nhóm giải pháp bền vững về kinh tế 61

3.5.2 Nhóm giải pháp bền vững về môi trường 61

3.5.3 Nhóm giải pháp bền bền vững về xã hội 63

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 64

1 Kết luận 64

2 Khuyến nghị 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC………68

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1.1 Tỷ lệ giới tính của Rươi 31

Bảng 3.1.2 Sản lượng khai thác Rươi và cáy năm 2014 đến 2018 41

Bảng 3.1 3 Hiện trạng mật độ lỗ Rươi tại vùng nghiên cứu 42

Bảng 3.1 4 Mật độ lỗ Rươi tại ruộng nghiên cứu 6/2019 52

Bảng 3.1.5 Kết quả thu Rươi, lúa, cáy, cói trên mô hình nghiên cứu 56

Bảng 3.1.6 Một số thông số kỹ thuật chính của quy trình 59

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Khung logic nghiên cứu 4

Hình 1.2 Cơ cấu giá trị sản xuất xã Hồng Tiến năm 2018 (%) 16

Hình 1.3 Vùng Rươi xã Hồng Tiến……….……….….…….… …… 18

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí xã Hồng Tiến….……… …….19

Hình 2.2 Khung tiếp cận nghiên cứu chính sách phát triển bền vững 23

Hình 3.1 Rươi (Tylorrhynchus heterochaetus) 26

Hình 3.2 Rươi 5 tháng tuổi 26

Hình 3.3 Trứng Rươi trưởng thành 28

Hình 3.4 Rươi nổi lên mặt nước đi sinh sản 29

Hình 3.5 Lịch con nước tháng 10 năm 2018 30

Hình 3.6 Lịch con nước tháng 11 năm 2018 30

Hình 3.7 Lịch con nước tháng 12 năm 2018 30

Hình 3.8 Rươi giống bố mẹ 31

Hình 3.9 Trứng Rươi sau thụ tinh 32

Hình 3.10 Rươi 3 đốt và lỗ Rươi 3 đốt trên bể ương 33

Hình 3.11 Nơi cư trú của Rươi 34

Hình 3 12 Cơ cấu diện tích nuôi Rươi (%) 36

Hình 3.13 Độ sâu lớp mùn mền (%) 36

Hình 3.14 Cống thu Rươi và điều tiết nước 39

Hình 3.15 Dụng cụ khai thác Rươi của người dân xã Hồng Tiến 40

Hình 3.16 Ruộng Rươi nhà anh Vững 48

Hình 3.17 Ruộng Rươi nhà anh Ba 49

Hình 3.18 Rươi giống trước khi thả 50

Hình 3.19 Nhiệt độ nước tại ruộng Rươi 51

Hình 3.20 Lỗ tương tại ruộng thả giống và ruộng trồng cói 52

Hình 3.21 Mật độ lỗ Rươi 1 tháng và 3 tháng trên ruộng thả giống 53

Hình 3.22 Rươi 3 tháng tuổi và 1,5 tháng tuổi thu trên ruộng Rươi 53

Hình 3.23 Mật độ lỗ Rươi tại gốc cói 54

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Rươi (Tylorrhynchus heterochaetus) là một trong những loài thuộc lớp giun

nhiều tơ, đào hang sinh sống trong bùn hoặc các nền cát sỏi, mép khe đá thuộc bãi triều vùng nước lợ ở các vùng cửa sông ven biển và chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều và độ mặn của nước Ở Việt Nam, Rươi phân bố chủ yếu ở các vùng cửa sông thuộc các tỉnh, thành phố ven/gần biển, như: Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định (Bắc bộ), Thanh Hoá, Nghệ An (Bắc Trung bộ), Khánh Hòa,… (Nam Trung bộ) (Phan Kim Hồng, 2009; 2015; Phạm Đình Trọng, 1999; 2003; 2004)

Trong tự nhiên, mặc dù sinh sản rải rác quanh năm nhưng Rươi thường được khai thác vào các tháng 5, 6 và 10, 11, 12 dương lịch hàng năm, là 2 mùa sinh sản chủ yếu (Nguyễn Quang Chương, 2008) Rươi sinh sản vào đầu con nước thuỷ triều với những thay đổi của thời tiết (có mưa nhỏ, gió mùa,…) Từ tháng 1 đến tháng 6, Rươi thường di cư sinh sản trên các bãi bùn cửa sông, tại vùng nước lợ có độ mặn 0 - 10‰ Trên các nền bùn, cát cửa sông thường quan sát thấy các cá thể Rươi hình ống

có nhiều đốt, màu hồng nhạt pha ánh xanh kim loại

Giun nhiều tơ là nguồn thức ăn giàu đạm, một mắt xích thức ăn quan trọng cho các sinh vật đáy lớn và các loài hải sản như tôm, cá, cua, ở tầng đáy Mặt khác, Rươi đóng vai trò là sinh vật chỉ thị (bio-indicator) để đánh giá chất lượng môi trường nước do khả năng chuyển hoá các mùn bã hữu cơ và xác động vật chết trong chu trình chuyển hoá vật chất vùng triều (Phạm Văn Miên và cộng sự, 1979; Giangrande và cộng sự, 2005)

Ngày nay, nhu cầu về sản phẩm Rươi ngày một tăng nên Rươi được khai thác vào mùa sinh sản một cách triệt để Mặt khác, các chất độc hại tồn dư từ việc sử dụng hóa chất và thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân làm biến đổi các điều kiện tự nhiên của các vùng bãi triều cửa sông, các bãi sinh sản tự nhiên, ảnh hưởng đến phát triển và sinh sản của Rươi Theo Phạm Đình Trọng (1999) nguyên nhân nguồn lợi Rươi bị suy giảm là do nơi cư trú bị mất dần và môi

Trang 10

trường của chúng bị xâm hại, bị ô nhiễm, bị đào xới do các hoạt động kinh tế thiếu kiểm soát ở vùng ven bờ gây ra Các bãi cói ven sông bị đào bới, lấy đất làm gạch hoặc bị lấn để xây dựng các công trình công nghiệp hoặc dân dụng, các cánh đồng lúa ven sông sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật gây ô nhiễm nguồn nước và nền đáy ruộng Có thể nói, mất nơi cư trú và ô nhiễm môi trường là thủ phạm chính gây

ra hiện tượng suy giảm nguồn lợi Các vấn đề nói trên liên quan đến nguồn lợi Rươi

có thể quan sát thấy ở xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (vùng nghiên cứu)

Thực trạng nói trên đặt ra nhu cầu bảo tồn bền vững nguồn lợi Rươi nói chung

và ở vùng nghiên cứu nói riêng Vì vậy, việc chọn và thực hiện đề tài “Thực trạng

và giải pháp khai thác và bảo tồn bền vững nguồn lợi Rươi tự nhiên tại xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình” là một vấn đề cấp thiết Kết quả nghiên

cứu của đề tài là cơ sở khoa học để xác lập mô hình bảo tồn nguồn gen Rươi quý, kích thích sinh sản nhằm phát triển bền vững nguồn giống và nguồn lợi Rươi - một giống thủy sản đặc hữu của vùng nước lợ

2 Mục tiêu nghiên cứu

(i) Hiểu được hiện trạng khai thác và tình hình nguồn lợi Rươi tại xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình;

(ii) Nghiên cứu bổ sung đặc điểm sinh học, sinh sản và phân bố Rươi ở xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình;

(iii) Đề xuất giải pháp phục hồi bãi sinh sản tự nhiên của Rươi để bảo đảm phát triển nguồn lợi Rươi bền vững

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm sáng tỏ cơ sở lý luận phát triển bền vững và bảo tồn bền vững nguồn lợi thủy sản vùng triều (nhấn mạnh vào loài Rươi);

Đánh giá bổ sung đặc điểm sinh học, sinh sản và phân bố Rươi ở vùng nghiên cứu;

Đánh giá hiện trạng khai thác và tình hình nguồn lợi Rươi tự nhiên tại xã Hồng Tiến, Kiến Xương, Thái Bình;

Trang 11

Nghiên cứu xác lập mô hình bảo tồn nguồn lợi Rươi vùng nghiên cứu;

Đề xuất giải pháp duy trì bền vững mô hình bảo tồn vùng Rươi và các biện pháp duy trì mô hình bảo tồn Rươi bền vững

4 Giả thuyết nghiên cứu

Vùng bảo tồn Rươi tự nhiên tại xã Hồng Tiến được xây dựng dựa trên xây dựng mô hình bảo tồn Đánh giá hiện trạng vùng Rươi nhằm mục đích xác định được thực trạng về sản lượng, môi trường sống của đối tượng nghiên cứu Đồng thời dựa trên kết quả đánh giá hiện trạng triển khai nghiên cứu các thông số của mô hình bảo tồn và đánh giá các tác động đến vùng Rươi Thông qua kết quả nghiên cứu đề xuất giải pháp để bảo tồn bền vững nguồn lợi Rươi ở vùng nghiên cứu

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kiến nghị, luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về bảo tồn bền vững nguồn lợi Rươi

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 12

4

Hình 1.1 Khung logic nghiên cứu

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ BẢO TỒN BỀN VỮNG NGUỒN LỢI RƯƠI TỰ NHIÊN TẠI XÃ HỒNG TIẾN, HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

KHÁI NIỆM

MỤC TIÊU

NHIỆM

VỤ

PHƯƠNG PHÁP

CẦU NỐI

Bảo tồn bền vững nguồn

lợi rươi

Nghề cá bền vững là gì?

Giải pháp bảo tồn bền vững nguồn lợi rươi

Đặc điểm khu vực nghiên

Mô hình bảo tồn nguồn lợi Rươi

Đánh giá hiện trạng khai thác và tình hình nguồn lợi Rươi

Các yếu tố tác động đến nguồn lợi Rươi Đánh giá hiện trạng khai thác và đề xuất giải pháp bảo tồn nguồn lợi Ruơi

Phương pháp thu thập phân tích tài liệu Phương pháp nghiên cứu sinh học, sinh sản Phương pháp điều tra thực địa

Phương pháp điều tra thực địa Phương pháp xử ly số liệu nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm Phương pháp điều tra thực địa

Trang 13

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN VỀ BẢO TỒN BỀN VỮNG NGUỒN LỢI RƯƠI

1.1 Một số khái niệm liên quan

- Nguồn lợi thủy sản: Theo Luật thủy sản (2017) nguồn lợi thủy sản là tài

nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên có giá trị kinh tế, khoa học, du lịch, giải trí (khoản 2, Điều 3)

- Bảo tồn: Theo định nghĩa của IUCN (1991) là sự quản lý, sử dụng sinh

quyển của con người nhằm thu được lợi nhuận bền vững cho thế hệ hiện tại trong khi vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng những yêu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai

- Phát triển bền vững (PTBV) được Liên hợp quốc thống nhất thông qua ở nhiều hội nghị và cuộc họp từ năm 1992 đến 2016 và được hiểu: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”

- Tính bền vững là sự duy trì các điều kiện mà con người và thiên nhiên có thể

tồn tại và chung sống hài hòa với nhau, duy trì cân bằng ổn định giữa ba yếu kinh

tế - xã hội - môi trường và kết hợp hài hòa ba yếu tố đó để thỏa mãn các nhu cầu hiện tại mà không phương hại đến các nhu cầu của tương lai, đảm bảo cho thế hệ tương lai vẫn có đủ mọi điều kiện về môi trường (trong đó có các nguồn tài nguyên) và kinh tế - xã hội (Fiksel và nnk, 2012) Cụ thể:

(i) “Giá trị” của một hệ thống lợi ích được duy trì theo thời gian

(ii) Mức độ các hệ thống sinh học duy trì tính đa dạng và sức sản xuất

(iii) Sức chống chịu của các hệ thống: Khả năng kéo dài của quá trình

(iv) Duy trì các quá trình sinh sản, sản xuất: không gây suy thoái, nguy hiểm tới các hệ thống sinh vật tự nhiên; thay thế nguồn tài nguyên mà con người sử dụng bởi các nguồn tài nguyên có giá trị tương đương hoặc cao hơn cho cùng hoạt động mà không làm suy thoái, gây nguy hiểm tới cá hệ thống sinh vật tự nhiên

Trang 14

- Theo Ratta Tieya và cộng sự “Nghề cá bền vững là giữ cho tổng sản lượng

khai thác và lượng chết tự nhiên thấp hơn số lượng cá thể được bổ sung mới”

- Phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản được tổ chức Nông lương thế giới (FAO) thông qua vào năm 1991 (COFI, 1991) Theo đó, “Phát triển bền vững là quản lý và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên và định hướng thay đổi công nghệ

và thể chế theo cách đảm bảo đạt được và tiếp tục đáp ứng nhu cầu của con người cho các thế hệ hiện tại và tương lai Bảo tồn đất, nước, thực vật và tài nguyên di truyền, không suy thoái về môi trường, phù hợp về mặt công nghệ, khả thi về mặt kinh tế và được xã hội chấp nhận” Đơn giản hơn, định nghĩa này chủ yếu nhấn

mạnh đến thu hoạch tài nguyên mà không làm cạn kiệt tài nguyên và bao gồm 3 nội dung chính:

(i) Khai thác tài nguyên để tăng trưởng kinh tế mà không ảnh hưởng đến khả năng duy trì khai thác của tài nguyên và môi trường

(ii) Tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên được khai thác, đồng thời đa dạng hóa

sử dụng tài nguyên giúp khai thác hiệu quả, tiết kiện chi phí hơn và giảm tác động của việc sử dụng tài nguyên lên các thành phần khác của hệ sinh thái và nỗ lực khác của con người

(iii) Sử dụng các biện pháp phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái do quá trình khai thác phá hủy trong quá khứ, để khôi phục chúng trở lại sử dụng sản xuất

Hội nghị Thủy sản Thế giới do FAO tổ chức năm 1984 đã thông qua Chiến lược Quản lý và Phát triển Thủy sản và phê duyệt 5 Chương trình Hành động liên quan, là khuôn khổ quốc tế cho quản lý và phát triển nghề cá Chiến lược đưa ra các hướng dẫn về sử dụng bền vững tài nguyên thủy sản và bảo vệ môi trường sống dưới nước khỏi ô nhiễm và các hình thức suy thoái môi trường khác, bao gồm cả những nguồn từ hoạt động nghề cá, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản Hội nghị cũng đã thông qua một nghị quyết đặc biệt kêu gọi hành động quốc tế để bảo vệ nguồn lợi thủy sản của các nước đang phát triển khỏi ô nhiễm Hai vấn đề chính có tầm quan trọng khi

xem xét phát triển bền vững và bảo tồn môi trường đối với nghề cá: thứ nhất, đặc trưng và đánh giá hiện trạng nguồn lợi thủy sản và môi trường sống hiện tại; thứ hai,

Trang 15

các can thiệp kỹ thuật khác nhau liên quan đến việc sử dụng bền vững tài nguyên thủy sản và bảo vệ môi trường nước

Mục tiêu của Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm

2020 như sau: “Bảo tồn, bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thủy sản nhằm phục hồi nguồn lợi thủy sản, các loài thủy sản có giá trị kinh tế và nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ; gắn với quản lý có hiệu quả các hoạt động khai thác thủy sản nhằm phát triển ngành khai thác thủy sản bền vững, đồng thời giữ gìn tính đa dạng sinh học của tài nguyên sinh vật biển Việt Nam”

1.2 Tình hình nghiên cứu, bảo tồn bền vững nguồn lợi Rươi

1.2.1 Trên thế giới

Trên thế giới, nghiên cứu về Lớp Giun nhiều tơ được bắt đầu từ hàng thế kỷ trước, trong khi đó Rươi chỉ được đề cập trong các nghiên cứu từ những năm 1960 đến nay Một số công trình nghiên cứu đáng chú ý như Imajima và nnk (1964) đã phát hiện loài Rươi phân bố ở biển Nhật Bản đồng thời đã mô tả đặc điểm hình thái của chúng Zenkevich (1965) trong cuốn sách “Đời sống động vật” phần Giun nhiều tơ cũng đưa loài Rươi vào danh sách loài cửa sông ở Viễn Đông Nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm sinh học, sinh thái (Gidholm L, 1969) đã dùng ánh sáng để điều khiển sự tạo đàn sinh sản của một loài Rươi khác

Nghiên cứu của Yasunori Koya và các cộng sự (2003), “Phương pháp thụ tinh

nhân tạo và quan sát quá trình phát triển của phôi Tylorrhynchus heterochaetus tại

Nhật Bản” Nghiên cứu này đã chỉ ra được phương pháp thụ tinh, nồng độ muối thích hợp cho thụ tinh nhân tạo đối tượng Rươi Tỷ lệ muối là 80,5% trứng bắt đầu phân bào tử sớm sau thụ tinh và phát triển phân chia mô, nồng độ muối thích hợp đạt từ 50-75%

Nghiên cứu của Yasushi Konno và các cộng sự (2004) về “Sinh thái học quần

thể của polychaeta, Tylorrhynchus heterochaetus trong các trầm tích ở Kitakami và

sự đóng góp của chúng vào nguồn nitơ cho sự phát triển của Phragmites australis”

đã chỉ ra khả năng hấp thụ nitơ trong môi trường của quần thể Rươi

Trang 16

“Nghiên cứu cho sinh sản đối tượng Rươi (Tylorrhynchus heterochaetus)” của

Trần Xinghan (2013) đã chỉ ra quá trình phát triển cá thể bố mẹ, quá trình thụ tinh phát triển phôi của Rươi và bước đầu hoàn thiện quy trình cho Rươi đẻ và ương giống thành công

Nghiên cứu của Ma Dinh Chang (2014) về “Chế độ sinh sản và đặc điểm kỹ

thuật chính (Tylorrhynchus heterochaetus)” đã chỉ ra đặc điểm sinh sản và các yếu

tố tác động đến quá trình sinh sản của Rươi, đồng thời hoàn thiện quy trình cho sinh sản nhân tạo đối tượng Rươi

Nghiên cứu của Mục Xuê Hui (2017) “Sự phát triển của ấu trùng Rươi Tylorrhynchus heterochaeta và ảnh hưởng của độ mặn đến sinh sản và phát triển của ấu trùng” đã chỉ ra rằng sự phát triển phôi thai của Rươi trải qua 8 giai đoạn, bao gồm cả hợp tử, sự phân tách, blastula, gastrula, trochophore sớm, muộn trochophore, ba setiger nectochaete và ba setiger nectochaere, độ mặn thích hợp cho việc thụ tinh là 10-13‰

Có thể nói, nghiên cứu đối tượng Rươi và hiện tượng Rươi trên thế giới còn rất ít, đặc biệt là các nghiên cứu về bảo tồn nguồn lợi Rươi Nghiên cứu thường tập trung tại các nước, như: Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Trung Quốc là quốc gia đầu tiên hoàn thiện kỹ thuật cho sinh sản nhân tạo và nuôi đối tượng Rươi thâm canh và bán thâm canh Đối tượng Rươi chủ yếu được nuôi tại các vùng ven biển của Phúc Kiến, Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc) Hình thức nuôi khoanh vùng tự nhiên có Rươi và tiến hành lấy giống theo mùa, sử dụng công nghệ tạo giống tự nhiên bằng phương pháp mô phỏng môi trường tự nhiên của Rươi khi vào mùa sinh sản, và phương pháp sinh sản nhân tạo Rươi được nuôi trong ao đất, ruộng lúa, nuôi trên bể xi măng

1.2.2 Ở Việt Nam

Tại Việt Nam, Rươi sống ở vùng triều cửa sông ven bờ, các vùng nước lợ Chúng có vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất mùn bã hữu cơ và xác động vật chết, tạo nên độ màu mỡ, tơi xốp cho vùng đất ngập nước ven biển Rươi cũng được xem như là sinh vật chỉ thị mức độ ô nhiễm môi trường thông qua xác định mật độ

Trang 17

quần thể, sản lượng và tần suất xuất hiện Ngoài ra, Rươi còn là động vật biển mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân địa phương

Một số nghiên cứu độc lập (Nguyễn Công Tiễu, 1927; Gravier, 1932) đã thu mẫu để phân tích loài Rươi tại vùng cửa sông thuộc các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng

và Quảng Bình Các tác giả có chung nhận định là loài Rươi (T heterochaetus)

phân bố và xuất hiện nhiều nhất vẫn là vùng Hải Phòng, Thái Bình và Hải Dương Theo điều tra nghiên cứu của Dawydoff (1952) thì Rươi có xuất hiện ở vùng biển Nha Trang và Côn Đảo Tác giả cho rằng những cá thể Rươi bắt gặp tại Nha Trang có thể có nguồn gốc ở phía Bắc, bị các dòng chảy của mưa bão đưa về phía Nam Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào kiểm chứng lại nhận định này Ở miền Tây Nam Bộ, Rươi phân bố nhiều ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Bến Tre Ở Bến Tre, ngày Rươi xuất hiện nhiều thường vào các ngày 28, 29, 30 cận Tết Nguyên Đán

Theo công bố trong Bách Khoa thủy sản (2007) thì tất cả các vùng nước lợ thuộc các cửa sông ở nước ta đều có Rươi phân bố, nhưng nhiều hơn cả là các vùng bãi triều cửa sông Văn Úc, sông Hồng, sông Thái Bình và một phần vùng sông Thanh Hoá Vùng Hải Dương có khu vực Tứ Kỳ là vùng có nhiều Rươi nhất – là nơi có nghề truyền thống đánh bắt Rươi Dựa vào màu sắc của Rươi, người dân phân biệt Rươi thành 5 nhóm: Rươi hoa, Rươi xăm, Rươi câu, Rươi chiêm và Rươi mùa Nguyễn Quang Chương (2009) cho rằng Rươi xuất hiện nhiều ở vùng đồng lúa ven các sông lớn như Kinh Thầy (Kinh Môn - Hải Dương) và các sông Lạch Tray (Kiến An), sông Dế (An Hải), sông Luộc (An Lão), sông Văn Úc (Tiên Lãng) Hải Phòng Ngoài ra, Rươi còn xuất hiện ở các vùng cửa biển như Hoàng Tân (Quảng Ninh), Đình Vũ - Cửa Cấm (Hải Phòng) những vùng trên đều nằm ở vùng nước lợ cửa sông chịu tác động của thủy triều

Nguyễn Trọng Thạch (1980) trong bài “Mùa nước Rươi” đã đề cập đến sự phân bố và mùa vụ xuất hiện của Rươi Nguyễn Văn Khang (1991) coi mùa xuất hiện đồng thời là mùa khai thác Rươi Tuy nhiên, khi bàn đến mùa vụ, hai tác giả mới chỉ dựa vào kinh nghiệm dân gian Nghiên cứu của ông cho thấy trước những năm 90 chỉ riêng tỉnh Hải Dương có tới 50-70 xã ven sông khai thác Đến năm

Trang 18

1991 chỉ còn trên 10 xã song tại các xã đó Rươi cũng xuất hiện thưa thớt, có năm

có, có năm không Về sản lượng trước năm 1991 cả tỉnh Hải Hưng hàng năm dao động từ 10 đến 20 tấn song đến những năm sau này những con số đó không còn nữa

Đáng chú ý, Phạm Đình Trọng (1999), trong công trình “ Về một số đặc điểm

sinh học và mùa vụ sinh sản của loài Rươi (Tylorrhynchus heterochaetus

(Quatrefages) - Polychaeta) ở vùng ven biển miền Bắc nước ta” đã cho thấy chi tiết hơn về mùa vụ xuất hiện của Rươi Tác giả đã ghi chép và quan sát tỉ mỉ về sự xuất hiện của Rươi ở 12 khu vực nước lợ - lợ nhạt ven sông Kinh Thày, Lạch Tray, sông

Dế, sông Luộc, sông Văn Úc thuộc các tỉnh: Hải Dương có Kinh Môn; Hải Phòng

có Cựu, Khuể (h Tiên Lãng), Quý Cao (h Vĩnh Bảo), Ruồn, nhánh Ruột Lợn (h Kiến An), Tú Đôi (h Kiến Thụy), Dế, Đình Vũ (h An Hải); Quảng Ninh có Hoàng Tân (ven bờ vịnh Hạ Long) và tỉnh Thái Bình trong suốt thời gian từ năm 1972 đến năm 1998 (17 năm) Kết quả ghi chép và quan sát, tác giả đã phát hiện được Rươi xuất hiện sáu tháng (âm lịch) trong năm gồm tháng 4, 5, 9,10, 11, 12 (tương đương các tháng 5, 6, 10, 11,12 và tháng 1 dương lịch) nhưng tập trung nhất vào các tháng 9,10 và 11 Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trong khoảng 10 năm từ 1988 đến

1999, Rươi xuất hiện thưa dần và sản lượng tự nhiên giảm sút nhanh chóng Mỗi kỳ Rươi xuất hiện, khối lượng được bán ở các chợ tại Hải Phòng chỉ khoảng vài trăm kilôgam Cũng trong công trình này, Phạm Đình Trọng (1999) đề cập đến ba yếu tố môi trường cơ bản liên quan đến sự xuất hiện của Rươi là: Khí tượng-thời tiết, thủy triều và ánh sáng Đến năm 2016, Nguyễn Đình Trọng có công trình “Nghiên cứu

bảo tồn nguồn lợi Rươi (Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages) và phát triển

nghề khai thác Rươi dựa vào cộng đồng ở vùng nước lợ thuộc tỉnh Hải Dương”

Mô hình thử nghiệm tại 3 xã là An Thanh, Tứ Xuyên (huyện Tứ Kỳ) và Vĩnh Lập (huyện Thanh Hà) Với 2 công thức thử nghiệm là: đầm trồng lúa, đầm trắng được bón phân; đầm trồng lúa, đầm trắng không bón phân Kết quả bước đầu đánh giá Rươi là loài sinh vật ưa môi trường sạch, giàu nguồn thức ăn tự nhiên Để quản lý các mô hình đầm/ruộng khai thác Rươi, cần có hệ thống cống giúp trao đổi nước, đảm bảo độ sâu cần thiết, chất đáy phù hợp, nguồn thức ăn dồi dào và tuyệt đối phòng tránh ô nhiễm nguồn nước Mô hình bán thâm canh Rươi – Lúa sẽ tạo môi

Trang 19

trường phù hợp nhất cho việc khai thác, bảo tồn nguồn lợi Rươi Kết quả của đề tài bước đầu xác định được hình thức nuôi Rươi ở các huyện tỉnh Hải Dương chủ yếu

do người dân chủ động bằng cách đắp bờ tạo thành ao/đầm và xây cống tại vùng đồng lúa – khu vực có Rươi xuất hiện , rồi chờ khi đến vụ thu hoạch Rươi Nghiên cứu chỉ ra rằng mật độ Rươi xuất hiện tại khu vực gần cống có mật độ cao nhất, mật

độ thấp dần cuối ruộng Rươi là sinh vật đáy nên nước cần trao đổi theo nhịp độ thủy triều Về thức ăn thì chủ yếu sử dụng thức ăn tự nhiên tự nhiên và bổ sung phân hữu

cơ hoai mục

Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I (2009) về “Một số đặc điểm sinh học của Rươi ở miền Bắc Việt Nam”, thực hiện tại Bãi triều cửa sông Văn Úc - Hải Phòng từ tháng 10/2007 – tháng 6/2008 đã xác định được mùa vụ sinh sản chính của Rươi là tháng 5; 6 và tháng 10; 11 dương lịch và thường vào kỳ trăng tròn của tháng Đề tài đã xác định được khi Rươi tham gia sinh sản thường vào đầu con nước thủy triều và đi cùng với sự biến động của thời tiết (có mưa nhỏ, gió mùa,…) Xác định được một số yếu tố môi trường vào thời điểm Rươi nổi lên sinh sản: Nhiệt độ (nước: 26.57 0C; không khí: 26.070C), độ trong (29.5cm), pH (7.4-7,81), DO (5.79mg/l) và độ mặn (1.5‰) Đề tài đã xác định được số đốt cơ thể (D), chiều dài (L), chiều rộng thân (R) và trọng lượng (P) trung bình của Rươi trước (tr) và khi (k) tham gia sinh sản: Dtr = 166 đốt, Dk = 61 đốt; Ltr = 10.60 cm,

Lk = 4.812 cm; Rtr = 2.31 mm, Rk = 5.64 mm; Ptr = 0.442 gam, Pk = 0.532 gam

Đã dựa vào màu sắc để phân biệt giới tính của Rươi và xác định được tỷ lệ (đực/cái) của Rươi khi tham gia sinh sản là 1/1,9 và xác định được hình thức sinh sản của Rươi là hình thức sinh sản hữu tính

Nghiên cứu của Nguyễn Quang Chương và cộng sự (2012) về “Sự phát triển của phôi Rươi từ quá trình thụ tinh nhân tạo và ảnh hưởng của độ mặn trong ương ấu trùng

Rươi Tylorrhynchus heterochaetus lên giai đoạn Metachophora” đã chỉ ra rằng sức

sinh sản của Rươi vào tháng 9 cao hơn tháng 5, thí nghiệm cho Rươi thụ tinh nhân tạo thành công, tỷ lệ thụ tinh đạt 78,9-79,1% Sự phát triển của phôi diễn ra tại độ mặn 15‰, giai đoạn phát triển lên ấu trùng Trochophora mất 10-17 giờ, độ mặn thuận lợi cho ấu trùng Rươi phát triển là 10-15‰ (tỷ lệ sống từ 63-66%), độ mặn 5‰ (tỷ lệ

Trang 20

sống đạt 43%), trong môi trường nước ngọt ấu trùng Rươi chết Nghiên cứu này chỉ dừng lại ở sự phát triển của ấu trùng Rươi đến giai đoạn Trochophora, chưa nghiên cứu về đặc điểm sinh học và phát triển giai đoạn khác trong vòng đời, nghiên cứu chưa

đề cập đến các vấn đề khác như thức ăn, nhiệt độ,… đến hoàn thành quy trình sản xuất giống Rươi nhân tạo

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I (2013) đã thực hiện nghiên cứu “Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất nhân tạo giống Rươi” và thu được kết quả tương đối khả quan, tỷ lệ thành thục trên 70%, tỷ lệ sống đến cỡ giống >1,5 cm đạt trên 5% Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này chỉ dừng nghiên cứu thực nghiệm chưa sản xuất nhân rộng mô hình sản xuất nhân tạo giống Rươi cung cấp cho thị trường Nghiên cứu của Vũ Quang Mạnh và cộng sự (2018) đã phát hiện 21 bộ thuộc

9 lớp động vật không xương sống cỡ lớn trong đất Rươi (họ: Nereididae, giống:

Tylorrhynchus) xuất hiện trong cả 4 mùa trong năm, 5 tầng sâu nghiên cứu và xuất

hiện duy nhất tại sinh cảnh ruộng nuôi Rươi

Như vậy, trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu Rươi chủ yếu tập trung về các nội dung như: hình thái, sinh trưởng, phát triển, đặc điểm sinh sống, mùa vụ sinh sản Nghiên cứu bước đầu về công nghệ tạo giống Rươi và nghiên cứu bảo tồn nguồn lợi Rươi mới chỉ thực hiện tại Hải Dương Đối với vùng Rươi tại Quảng Ninh, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng người dân chủ yếu đắp ruộng trồng lúa, cải tạo ruộng, lấy giống từ nguồn giống tự nhiên theo con nước và thu Rươi theo mùa Rươi nổi Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên ngành của các nhà khoa học đã cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để lựa chọn các giải pháp bảo tồn Rươi bền vững

1.3 Đặc điểm vùng nghiên cứu

1.3.1 Vị trí địa lý

Xã Hồng Tiến thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình nằm trên vùng đất bồi của

hạ lưu tả ngạn sông Hồng Xã Hồng Tiến gồm 6 thôn: Khả Cảnh, Tân Thành, Đông Tiến, Nam Hòa, Nam Tiến và Cao Bình với dân số trên 6.000 nhân khẩu

Trang 21

Vị trí xã nằm trong vùng có lợi thế phát triển kinh tế đồng bằng Bắc Bộ, cách Hà Nội 140 km, Hải Phòng 80 km, thành phố Thái Bình 30 km, tuyến quốc lộ 37B là tuyến đường bộ nối ba tỉnh Thái Bình, Nam Định và Hà Nam và đi qua xã nối với huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, chiều dài toàn tuyến là 139 km là lợi thế phát triển kinh tế của xã

1.3.2 Đặc điểm khí hậu

Đặc điểm khí hậu xã Hồng Tiến mang đặc điểm của vùng có địa hình thấp và bằng phẳng nên nền nhiệt tương đối cao, thuộc chế độ nhiệt nóng Nhiệt độ không khí trung bình năm là 24,6ºC, tương ứng với tổng nhiệt năm khoảng 8.100 ÷ 8.600ºC Vùng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc, chế độ nhiệt ở đây phân hóa ra làm hai mùa nóng - lạnh rất rõ rệt

Sự chênh lệch nhiệt độ nước giữa mùa đông và mùa hè rất rõ rệt Nhiệt độ nước về mùa đông có xu thế tăng dần từ trong sông ra ngoài khơi (từ 18 - 21ºC) Khi tiến sâu vào sông và đạt 18ºC tại ngưỡng cửa sông, ở nhiệt độ này đã ảnh hưởng đến sự hoạt động bắt mồi, cũng như khả năng sinh trưởng của động vật nuôi

là hạn chế, thậm chí có đối tượng ngưng hẳn việc bắt mồi Mùa hè, nhiệt độ nước dao động từ 27 - 29ºC thay đổi theo xu thế giảm dần từ trong sông ra, nhiệt độ này lại rất thích hợp cho hầu hết các đối tượng nuôi thủy sản (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2015)

Nhiệt độ nước trong các ruộng lúa, cói trung bình năm trong khoảng 25,2 - 26,7ºC Đối với mùa hè (từ tháng 4 - 10) nhiệt độ nước trung bình dao động trong khoảng 25 - 37ºC và sự dao động nhiệt giữa ngày và đêm không nhiều, do đó rất thích hợp cho tất cả các đối tượng thủy sản

Đối với mùa đông (từ tháng 11-tháng 3 năm sau), nhiệt độ nước dao động trong khoảng 17 - 21ºC là thấp so với các đối tượng thủy sản, do vậy, vào mùa sinh sản chính nhưng nguồn giống tự nhiên trong thời gian này thường ít Riêng hai tháng chuyển tiếp giữa hai mùa với nhau có sự giao thoa nhiệt độ, nhiệt độ trong tháng 3 là chế độ nhiệt chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa hè và trong tháng 11 là chế độ nhiệt từ mùa hè sang mùa đông, thường gây sốc nhiệt, và tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2015)

Trang 22

Mùa mưa khu vực Thái Bình nói chung và xã Hồng Tiến nói riêng trùng với mùa hoạt động của gió mùa hè và thịnh hành là gió Đông Nam Số ngày mưa năm

ở đây dao động trong khoảng 117 - 153 ngày và phân bố tương đối đều trong năm, chỉ có 3 tháng 11, 12 và 1 có dưới 10 ngày mưa/tháng do ảnh hưởng của kiểu thời tiết khô hanh rất đặc trưng của miền Bắc nước ta Hầu hết các tháng còn lại trong năm đều có số ngày mưa dao động trong khoảng 10 - 20 ngày/tháng, trong đó tháng

8 hoặc 9 có nhiều ngày mưa nhất trong năm, đạt khoảng 14 - 20 ngày (Viện Kinh tế

và Quy hoạch thủy sản, 2015)

Vào mùa mưa, lượng mưa đạt trung bình trong khoảng 124,2mm/tháng, tập

trung từ tháng 5 đến tháng 10 (mưa lớn tập trung tháng 9 - 10), chiếm 84 - 92% tổng lượng mưa toàn năm Thời gian này thường trùng với hiện tượng bão lụt, kết hợp với lượng mưa lũ từ thượng nguồn đổ về qua hệ thống sông Hồng ảnh hưởng rất lớn đến thủy sản như: làm tăng độ đục trong ao, giảm giá trị pH, giảm lượng ôxy hòa tan, kéo theo nhiều chất bẩn có chứa mầm bệnh,…

Mùa khô lượng mưa chỉ đạt 15,8 - 43,4 mm, tập trung vào các tháng còn lại

trong năm (tháng 11 – tháng 4 năm sau), kết hợp với lượng nước ở thượng nguồn bị chặn lại do giữ nước trên các đập chứa phục vụ thủy lợi; làm cho lưu lượng nước

đổ xuống thượng nguồn bị giảm mạnh Dẫn đến sự xâm thực của nước lợ từ ngoài biển vào sâu trong đất liền qua hệ thống sông (từ 10 - 20 km), khả năng xâm thực nước mặn vào trong nội đồng vùng huyện Kiến Xương là tương đối lớn, do vậy có thể bố trí nuôi tôm rảo nội đồng tại các xã ven sông Hồng phía Đông Nam huyện Kiến Xương (Hồng Tiến và Bình Định) Hiện tượng xâm thực nước mặn vào vùng nội đồng đưa lượng lớn nguồn giống Rươi trở lại vùng ruộng lúa, cói, khu vực ngập theo thủy triều của huyện Kiến Xương

Độ ẩm không khí: Trung bình năm khoảng 85,2% và không có sự thay đổi độ

ẩm nhiều qua các tháng trong năm Vào mùa mưa, lượng mưa lớn, nhưng nhiệt độ,

số giờ nắng cao dẫn đến khả năng bốc hơi mạnh, do vậy độ ẩm tương đối ổn định

Đây là điều kiện lý tưởng cho sự phát triển các đối tượng thủy sản

Trang 23

1.3.3 Đặc điểm địa chất – địa hình

Địa hình khu vực xã Hồng Tiến thuộc loại địa hình đồng bằng thấp: có độ cao tuyệt đối từ 0,5 - 3m Mật độ chia cắt >2km/km2 Đồng bằng tích tụ cao ở xã Hồng Tiến đất thấp, có độ cao dưới 1m Do nằm ngay ven sông Hồng cách Vườn quốc gia Xuân Thủy 25 km nên nước mặn có thể xâm nhập vào vùng sâu trong sông Đây là một điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng diện tích có Rươi sinh sống và

thuận lợi cho tập tính di cư sinh sản của Rươi

Lưu vực sông Hồng dài khoảng 1.500 km; đoạn hạ lưu qua Việt Nam dài trên 500km, lưu vực bao gồm: Trung Quốc, Lào và Việt Nam; tính đến Sơn Tây (Trung Quốc) diện tích lưu vực khoảng 143.700 km2 Lưu lượng QTX = 3.000 - 4.000m3/s;

Qmax = 6.000m3/s Sông Hồng đoạn chảy qua xã Hồng Tiến có chiều rộng trung bình khoảng 350  400 m, chảy qua huyện Tiền Hải và huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định ra phía của biển

1.3.4 Đặc điểm các yếu tố thủy lý, thủy hóa

Nước biển xâm nhập vào các cửa sông khá sâu vào đất liền, 22 km đối với sông Hồng với nồng độ muối 5 - 10‰ Độ cao thủy triều và sự nhiễm mặn hạ lưu các cửa sông là điều kiện thuận lợi để chuyển đổi một số diện tích sang vùng Rươi kết hợp lúa và cáy

Vùng ngoài cửa sông Hồng do 2 tỉnh Thái Bình và Nam Định quản lý, gồm có: Vườn quốc gia Xuân Thủy và khu vực rừng ngập mặn thuộc xã Nam Phú huyện Tiền Hải Những tấm thảm thực vật thủy sinh ở vùng ven sông, cửa sông là cỗ máy sinh học nhằm nhiệm vụ điều hòa về mặt khí hậu và đặc biệt là chúng có thể làm sạch môi trường nước/đất Đây cũng là môi trường sinh sản của các đối tượng thủy sản Tuy nhiên, vùng đất bãi bồi và khu vực rừng ngập mặn này được chuyển đổi sang các hoạt động nuôi trồng thủy sản với các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao như tôm sú, tôm thẻ, ngao, làm mất diện tích rừng ngập mặn ven xã Nam Phú, thu hẹp dần bãi đẻ, bãi sinh sản của đối tượng thủy sản và nhất là đối tượng Rươi Nguồn nước mặt trên địa bàn xã bao gồm nước mặt trong: sông Hồng, hệ thống sông nội đồng và trong hệ thống ao hồ

Trang 24

Hệ thống sông nội đồng: có mạng lưới khá dày đặc, với mật độ 2,54 km/km2

Hệ thống sông nội đồng lấy nguồn nước mặt trực tiếp từ các sông Hồng Hệ thống

ao hồ: nằm phần lớn trong các khu dân cư phân bố khắp địa bàn xã chứa một phần nguồn nước mặt của xã

Qua báo cáo đánh giá hiện trạng môi trường tỉnh giai đoạn 2011-2017, kết quả phân tích mẫu nước trên các sông Hồng vào 2 mùa (mùa khô và mùa mưa) cho thấy, diễn biến chất lượng nước trên sông Hồng như sau: các thông số pH, DO, Fe,

Cu, As, Pb, Cd, Hg, chất hoạt động bề mặt, chlordane, coliform tại các thời điểm được quan trắc đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 08:2015/BTNMT Chất lượng nước sông Hồng bị ô nhiễm bởi hàm lượng các chất hữu cơ (COD, BOD5)

1.3.5 Điều kiện kinh tế - xã hội

Năm 2018, tổng giá trị sản xuất và thu nhập đạt 139,063 tỷ đồng Trong đó, nông, lâm, thủy sản đạt 79,03 tỷ đồng chiếm 55%; Công nghiêp, xây dựng cơ bản đạt 30,2 tỷ đồng chiếm 22%; Thương mại, dịch vụ và thu khác đạt 32,8 tỷ đồng chiếm 23% trong cơ cấu kinh tế xã Thu nhập bình quân hộ dân từ 40 đến 50 triệu đồng/năm

Hình 1.2 Cơ cấu giá trị sản xuất xã Hồng Tiến năm 2018 (%)

Năng suất lúa bình quân đạt 133,1 tạ/ha, sản lượng thóc đạt 4.379 tấn Sản lượng cói đạt 522 tấn, giá trị thu nhập khoảng 520 triệu đồng Tổng diện tích cây

Trang 25

màu: Cây màu hè đạt 43 ha, chủ yếu là ngô, ớt, bầu bí và đậu đỗ các loại; Cây màu

vụ đông đạt 63 ha, chủ yếu là ngô, bầu, bí, rau màu các loại

Về chăn nuôi: Đàn trâu, bò là 303 con, đàn lợn có 9.610 con, trong đó đàn lợn nái là 560 con, đàn lợn thịt là 650 con, đàn lợn sữa là 8400 con Đàn gia cầm, thuỷ cầm khoảng: 26.000 con, trong đó đàn gà khoảng 18.000 con Đàn vịt đẻ khoảng 4.500 con Đàn vịt thịt khoảng 3.500 con

Về nuôi trồng và khai thác thủy sản: Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản là 90,6 ha, ước thu từ nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 30 tỷ đồng Khai thác đánh bắt thủy hải sản đạt trên 20 tỷ đồng Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh các đối tượng

có giá trị cao như Cá Vược; Ba Ba; Tôm Thẻ chân trắng Đối với các loại sản vật tự nhiên như; Rươi, Cáy khoanh vùng thu hoạch

Khu vực vùng Rươi tại xã Hồng Tiến nằm ven sông Hồng có diện tích khoảng

50 ha Diện tích phân chia vùng trồng lúa phía trong bằng hệ thống đê rộng 4 m Đây là khu vực lấy nước trực tiếp từ sông Hồng và con nước lên xuống theo chế độ thủy triều, độ mặn dao động từ 0 đến 10‰ Toàn bộ diện tích ruộng được giao người dân quản lý sử dụng, đất sử dụng được giao 50 năm do huyện trực tiếp giao quyền sử dụng đất và quản lý

Hiện nay, nguồn lợi Rươi tại xã Hồng Tiến chỉ dừng lại ở khoanh vùng tự nhiên có Rươi sinh sống, người dân bước đầu có tiến hành đắp bờ bao, hệ thống kênh mương, cửa cống để chủ động tháo nước, rửa bãi và lấy giống, bãi được trồng cói hoặc lúa cung cấp nơi trú ẩn cho Rươi phát triển Ngoài ra, người dân còn tiến hành cải tạo đáy ruộng bằng cày bừa tạo độ tơi xốp và tăng dinh dưỡng khu vực bùn đáy ao lấy giống thả tự nhiên và thu hoạch

Có hai hình thức khoanh vùng thu Rươi tự nhiên, Rươi kết hợp với trồng lúa

01 vụ/năm, vụ lúa được trồng vụ hè thu gần với thời điểm thu sản lượng thu Rươi lớn nhất trong năm Hình thức khoanh vùng Rươi kết hợp với trồng cói vừa là nơi trú ẩn vừa cung cấp mùn bã hữu cơ cho Rươi

Trang 26

Trang 27

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Loài Rươi Tylorrhynchus heterochaetus và vùng Rươi

tự nhiên tại xã Hồng Tiến

Trang 28

2.3 Nội dung nghiên cứu

(i) Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về phát triển và bảo tồn bền vững nguồn lợi thủy sản vùng triều, nhấn mạnh vào loài Rươi;

(ii) Đánh giá bổ sung đặc điểm sinh học, sinh sản và phân bố Rươi ở vùng nghiên cứu làm cơ sở cho lựa chọn giải pháp bảo tồn nguồn lợi Rươi;

(iii) Đánh giá hiện trạng khai thác và tình hình nguồn lợi Rươi tự nhiên tại xã Hồng Tiến, Kiến Xương, Thái Bình;

(iv) Nghiên cứu thử nghiệm mô hình bảo tồn nguồn lợi Rươi vùng nghiên cứu; (v) Đề xuất giải pháp khai thác và bảo tồn Rươi bền vững ở vùng nghiên cứu

2.4 Phương pháp nghiên cứu

a) Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp

Mục đích của phương pháp này là tổng quan phân tích các thông tin liên quan đến cơ sở lý thuyết của đề tài; các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài đã được công bố; các nguồn tài liệu, tư liệu, thông tin liên quan khác Phương pháp này được sử dụng cho nội dung tổng quan về khai thác và bảo tồn bền vững nguồn lợi

Rươi tại Chương 1

b) Nghiên cứu sinh học của Rươi

Sử dụng thiết bị nghiên cứu như kính hiển vi, các phương pháp thực nghiệm nghiên cứu đặc điểm sinh học Với mục đích tìm hiểu về sinh sản, sinh trưởng ấu trùng Rươi, các yếu tố tác động đến quá trình sinh sản và phát triển của ấu trùng, môi trường sinh sinh trưởng và phát triển của ấu trùng Phương pháp này sử dụng để cung cấp luận cứ khoa học trong nghiên cứu một phần nội dung của Chương 3

- Các trang thiết bị bao gồm các lưới lọc có mắt lưới (200, 250, 300 và 350 mesh), máy sục khí, các bể chứa, các thiết bị bảo ôn nhiệt; các thiết bị dụng cụ đo

độ mặn, pH, DO, kính hiển vi điện tử, dụng cụ y tế (găng tay và cồn sát trùng), thiết

bị điều chỉnh nhiệt độ, thùng, xô chậu, ủng chống thấm

- Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản (khoảng nhiệt độ, độ mặn, Ph), sinh trưởng ấu trùng Rươi: Mỗi khoảng nhiệt độ, độ mặn,

Trang 29

Ph được thực hiện 01 thí nghiệm Mỗi yếu tố nghiên cứu được thí nghiệm lặp lại ít nhất 3 lần và có các lô thí nghiệm đối chứng để có sự so sánh đánh giá Số lượng thí nghiệm bố trí 09 thí nghiệm lặp lại 3 lần tổng 27 thí nghiệm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sinh sản sinh, đặc điểm sinh học Rươi

Cách lấy mẫu Rươi: Rươi được lấy vào mùa sinh sản bằng cách vớt Rươi khi Rươi nổi tại các ruộng triển khai mô hình vào tháng 5, 9, 10 âm lịch Đối với mẫu Rươi sau khi thả giống tiến hành đào lỗ Rươi vào tháng 5, 6, 7, 8 dương lịch đo kích thước Rươi Tổng mẫu thu thập 60 mẫu

c) Đều tra thực địa

Chọn mẫu điều tra bảng câu hỏi cấu trúc: Cỡ mẫu điều tra được căn cứ vào số

lượng hộ gia đình có ruộng Rươi phương pháp điều tra mẫu thủy sản của FAO (2002) với độ tin cậy 90 – 95%, dung lượng mẫu khảo sát chính thức thực hiện theo các nội dung điều tra khác nhau chiếm khoảng 50-60% tổng hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu

Trên cơ sở cộng đồng được lựa chọn và số mẫu cần thu thập, lập danh sách các

hộ dân và chọn mẫu khảo sát hộ dân theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Khoảng cách mẫu k được xác định bởi: k = N/n với N là cỡ quần thể (cụm/chùm); n

là cỡ mẫu Tiếp đến chọn đơn vị mẫu đầu tiên nằm giữa 1 và k bằng phương pháp ngẫu nhiên Sau đó chọn các đơn vị mẫu tiếp theo bằng cách cộng k với đơn vị mẫu đầu tiên, tiếp tục cho đến khi đủ số mẫu: i + 1k; i + 2k; i + 3k…i + (n - 1)k Như vậy,

sẽ điều tra 25/40 hộ dân có ruộng thác Rươi tại xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương Phương pháp này phục vụ nội dung nghiên cứu đánh giá hiện trạng khai thác và tình hình nguồn lợi và thu mẫu Rươi tự nhiên tại xã Hồng Tiến, Kiến Xương, Thái Bình tại Chương 3

d) Xử lý số liệu nghiên cứu

Sử dụng Excel để sắp xếp, phân tích dữ liệu, trình bày lập bảng, vẽ đồ thị và phân tích thông kê Các thông tin dữ liệu được mã hóa dạng số trước khi tiến hành các phép xử lý thống kê Số liệu từ các phiếu điều tra được số hóa và nhập trong các bảng tính và cho phép tính toán trực tiếp ngay tại bảng tính

Trang 30

Dữ liệu xử lý phục vụ nội dung đánh giá hiện trạng khai thác Rươi, phân tích đánh giá kết quả mô hình bảo tồn và thả thêm giống

e) Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm là phương pháp tác động lên đối tượng nghiên cứu một cách chủ động, tác động vào môi trường sống của đối tượng nghiên cứu trong điều kiện tự nhiên Phương pháp này thực hiện nội dung nghiên cứu xác lập mô hình bảo tồn nguồn lợi Rươi vùng nghiên cứu và nghiên cứu đặc điểm sinh sản của Rươi Mô hình nghiên cứu thực nghiệm tại xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

Mô hình được xây dựng bằng cách chọn 04 ô ruộng tiêu chuẩn 0,4 ha thuộc

02 hộ dân tại vùng nghiên cứu Ruộng triển khai mô hình đáp ứng tiêu chí có nguồn nước vào riêng biệt, có cống thu Rươi riêng, thuận tiện đi chuyển cũng như tác động kỹ thuật khác trên ruộng

Giám sát mô hình: Sau khi triển khai mô hình sẽ được theo dõi và giám sát tần suất 1 lần/tháng vào chu kỳ thuỷ triều) cao nhất và thấp nhất (trong khoảng từ 7-10 ngày nhằm thu thập mẫu, đo nhiệt độ, độ mặn, đánh giá về chất lượng nước, đất và mật độ lỗ Rươi trên ruộng

Đánh giá hiệu quả mô hình: Dựa trên kết quả số liệu quan sát mô hình sử dụng đánh giá kết quả mô hình

d) Phương pháp tiến cận

Tiếp cận phát triển bền vững: là sự kết hợp nhiều ngành, các lĩnh vực khác nhau nhằm mục đích bảo tồn bền vững nguồn lợi Rươi Về nguyên tắc, phát triển bền vững là quá trình vận hành đồng thời ba bình diện phát triển: kinh tế tăng trưởng bền vững; xã hội ổn định, thịnh vượng, công bằng, văn hoá đa dạng; và môi trường được trong lành, tài nguyên được duy trì bền vững

Trang 31

Hình 2.2 Khung tiếp cận nghiên cứu chính sách phát triển bền vững

Nói cách khác, muốn phát triển bền vững thì phải cùng đồng thời thực hiện 3

mục tiêu: (1) Phát triển có hiệu quả về kinh tế (tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập

cho người dân); (2) Phát triển hài hòa các mặt xã hội (xóa đói giảm nghèo, đảm bảo

an sinh xã hội, tiến bộ và công bằng xã hội, giải quyết việc làm); và (3) Cải thiện

môi trường môi sinh, bảo đảm phát triển lâu dài vững chắc cho thế hệ hôm nay và

mai sau (khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm,

hạn chế thiên tai,…)

Cách tiếp cận sinh kế bền vững (SLA): Kết hợp khung khái niệm với một bộ

các nguyên tắc hoạt động để cung cấp hướng dẫn về xây dựng chính sách và thực

tiễn phát triển được đề xuất bởi Cơ quan Phát triển quốc tế Anh Quốc (DFID) năm

2003 Cách tiếp cận này đặt các hoạt động kinh tế và xã hội của con người làm

Môi trường

Sử dụng TNTN Quản lý môi trường

Xã hội

Mức sống,An sinh xã hội, Bình đẳng,

Kinh tế

Lợi nhuận Kinh tế xanh

SE

Tính bền vững

ES

SEE

EE

Xã hội – Môi trường

Luật môi trường

Luật Thủy sản

Môi trường – Kinh tế

Hiệu quả tài nguyên

Khuyến khích sử dụng TNTN

Kinh tế - Xã hội (ES)

Thương mại, quyền lao đông

Mô hình tr

Trang 32

trung tâm phân tích Tiếp cận SLA nhấn mạnh đến các chiến lược sinh kế của hộ gia đình ngư dân, sự ảnh hưởng của các thể chế chính thức và không chính thức về sinh kế và quản lý nguồn lợi, sự không đồng nhất về xã hội và kinh tế của các hộ gia đình tham gia đánh bắt và bản chất đa chiều của đói nghèo, tầm quan trọng của quá trình xem xét trong nỗ lực để giải quyết chúng

Trang 33

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của Rươi

3.1.1 Đặc điểm sinh học của Rươi

a) Vị trí phân loại

Rươi (Tylorrhynchus heterochaetus) thuộc ngành giun đốt, lớp giun nhiều tơ

Rươi sống ở vùng cửa sông ven biển, nơi chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều và sống ẩn nấp dưới đáy hay giấu mình trong cát, bùn trong suốt quá trình sinh trưởng Rươi được khai thác rải rác quanh năm ở các vùng bãi triều Tại xã Hồng Tiến Rươi thường xuất hiện nhiều vào tháng 5 – 6 và 9 – 11 (âm lịch), vào các kỳ con nước, Rươi nổi lên đi sinh sản và lúc này kích thước cơ thể Rươi đạt lớn nhất Khi chưa trưởng thành Rươi sống trong môi trường đáy và đào hang sâu từ 30 đến 60 cm Rươi chưa trưởng thành có chiều dài từ 15 đến 20 cm chia là 2 phần có màu đặc trưng, phần trên có màu đỏ sau đó nhạt dần về phía đuôi và chuyển dần sang màu trắng sữa Trước khi nổi chất dinh dưỡng dồn về phần đầu và thân chiếm là 1/3 cơ thể, khi trưởng thành phần thân chuyển màu trắng sữa hay màu xanh nhạt Đuôi dài chiếm 2/3 cơ thể có màu đen viền trắng Gần đến chu kỳ nổi chúng chuyển dần lên sống trên mặt đất khoảng từ 5 đến 15 cm Khi nổi lên, cơ thể chứa nhiều sản phẩm sinh dục; phần này trôi nổi trong nước, được thu gom và bán trên thị trường Phần còn lại bị tiêu giảm và phân hủy dưới đáy Mỗi một con Rươi chỉ sinh sản một lần trong đời, sau khi sinh sản cá thể bố mẹ thường chết, để lại sự phát triển của ấu trùng

Ấu trùng theo các dòng thủy triều vào vùng đất ngập nước, định cư ở đó để sinh trưởng đến khi trưởng thành Rươi là một loại đặc sản có giá trị kinh tế rất cao, được dùng làm thực phẩm cho người và nuôi vỗ tôm bố mẹ Về phân loại Rươi thuộc: Giới: Animalia

Trang 34

Hình 3.1 Rươi (Tylorrhynchus heterochaetus)

Hình 3.2 Rươi 5 tháng tuổi

Cơ thể Rươi được chia làm 2 phần: Đầu, thân và thuỳ đuôi, đầu Rươi gồm 2 phần: Thuỳ trước miệng và phần quanh miệng Thuỳ trước miệng nhỏ dẹp theo hướng lưng bụng và có dạng hình tam giác cân, đỉnh quay về phía trước Mặt trên của thuỳ trước miệng có hai anten ngắn gồm phần gốc và phần ngọn liên hoàn,

Trang 35

không có sự khác biệt và ngăn cách Hai bên của thuỳ trước miệng có đôi xúc biện phân đốt rõ Phần gốc của xúc biện phình lớn, có hình trứng, phần ngọn có dạng như bướu nhỏ, linh động Đôi xúc biện là cơ quan cảm giác, có vai trò như môi bên Phía mặt lưng của phần trước miệng có 2 đôi mắt màu đen Phần quanh miệng ngắn mang hai đôi chi ở hai bên Phần trước hầu lộn ra ngoài, đưa hàm kitin hình móc, có răng ở phía trong ra ngoài để nghiền hay gặm thức ăn Trong điều kiện bình thường, hàm kitin nằm giữa xoang trước hầu và hầu, bề mặt của phần trước hầu được phủ kitin và có nhiều núm lồi

Chiều dài thân Rươi từ 4 - 8cm, đường kính cơ thể từ 2 - 3mm, thân Rươi có

từ 55 - 65 đốt các đốt đều ngắn Độ dài đốt ngắn hơn chiều rộng đốt, mỗi đốt thân

có một đôi chi bên, mỗi chi bên là phần lồi của thành bên cơ thể và phân thành 2 nhánh, nhánh lưng và bụng, trên nhánh lưng có chi lưng, túm tơ lưng và thuỳ lưng dưới phát triển còn thuỳ lưng trên tiêu giảm Các túm tơ ở Rươi thường có màu đen Đến thời kỳ sinh sản (tháng 10 dương lịch hàng năm) cơ thể và chân bên Rươi

có nhiều thay đổi, như: tăng về kích thước, các chi bên mập hơn, tơ lưng và bụng rất phát triển Phía trước đốt cuối cùng là vùng sinh trưởng, nơi sẽ hình thành các đốt mới của cơ thể Rươi Phần cuối của đốt cuối cùng có lỗ hậu môn Thuỳ đuôi có dạng hình nón, không có chi bên nhưng có hai vuốt nhỏ màu trắng sữa

Thời gian sinh sản của chúng phụ thuộc vào chu kỳ lên xuống của thủy triều Rươi thường nổi lên trước chu kỳ con nước cao nhất khoảng từ 2 đến 3 ngày, mỗi

cá thể bố mẹ chỉ sinh sản 1 lần duy nhất Rươi thường tập trung một số lượng lớn

cá thể bơi lên mặt nước vào chu kỳ nước cường, khi nước rút chúng bơi theo ra phía sông bơi lên vùng nước mặn có độ mặn cao hơn để sinh sản

3.1.2 Đặc điểm sinh thái học

Rươi trưởng thành giống như con rết, có dạng hình ống, trụ tròn không đều dẹt theo hướng lưng bụng, mặt bụng hơi lồi và ở giữa có rãnh sâu chạy dọc suốt chiều dài cơ thể, phần sau hẹp dần về phía đuôi, mặt lưng gồ cao và có màu hồng thẫm hơn

Trong môi trường tự nhiên, ngoài chuyển động trườn nhỏ các chi bên và sự uốn lượn tạo sóng của toàn cơ thể, Rươi còn có chuyển động nhờ sự hô hấp trong

Trang 36

khi nó có thể di chuyển hay không Nhờ đó mà lớp nước xung quanh luôn xáo động, giúp Rươi có thể tạo được nguồn nước luôn mới, giàu ôxy hơn và giúp chúng

hô hấp được tốt hơn

Khi thành thục cơ thể Rươi cái có màu xanh nhạt hay màu nâu vàng (màu của trứng), bên trong cơ thể chứa đầy trứng, trứng hình cầu Cơ thể đực có màu trắng sữa bên trong chứa tinh trùng màu trắng

Hình 3.3 Trứng Rươi trưởng thành

Chu kỳ sống của Rươi tương đối ngắn, tuổi thọ của Rươi từ 5 đến 6 tháng Tốc độ sinh trưởng của Rươi đạt giá trị tối thiểu trong 4 tháng đầu đời cơ thể đạt kích thước từ 18-20cm, sau đó chúng dừng sinh trưởng về chiều dài và chuẩn bị cho quá trình sinh sản

3.1.3 Đặc điểm sinh sản của Rươi

Rươi thành thục và xuất hiện vào những thời gian nhất định trong năm, thường vào những ngày triều cường hàng năm và Rươi không xuất hiện vào những ngày trời nắng, có nước đục Từ tháng 1 đến tháng 6 âm lịch, chế độ thủy triều lên, xuống về đêm nên Rươi di cư sinh sản ban đêm, khi xuất hiện chúng bơi lên trên mặt nước theo dòng nước tiến về phía cống nước, trong thời gian này cơ thể chúng chứa ít sản phẩm sinh dục hơn chiều dài từ 3 đến 4 cm và có kích thước nhỏ hơn Rươi tháng 9 đến tháng 12 Vào vụ mùa cơ thể Rươi chứa đầy các sản phẩm sinh

Trang 37

dục nên chúng rất dễ bị vỡ, cá thể Rươi vào vụ này có chiều dài hơn, kích thước to hơn Trong thời gian này thủy triều thường lên xuống vào gần sáng do vậy Rươi thường xuất hiện vào sáng sớm và bơi trên mặt nước đi sinh sản, giai đoạn này nếu gặp điều kiện môi trường, thời tiết thích hợp chúng sẽ xuất hiện với số lượng cá thể dày đặc

Hình 3.4 Rươi nổi lên mặt nước đi sinh sản

Rươi đào hang sinh trưởng, phát triển và thành thục trong đầm, bãi triều, trước thời gian sinh sản Rươi đào hang sâu và trú ẩn, trong thời gian sinh sản chúng trú

ẩn gần mặt hơn, trước ngày triều cường khi nước thủy triều đạt đỉnh cao nhất cũng

là thời gian Rươi từ dưới nền đáy nổi lên mặt nước đồng loạt và theo con nước thủy triều ra sông sinh sản Khi ra sông, Rươi tiếp tục xuôi theo dòng nước trôi ra đến cửa sông, gặp sự chênh lệch về độ mặn cơ thể Rươi tự vỡ ra phóng sản phẩm sinh dục vào nước, sinh sản quần thể như vậy làm tăng thêm khả năng thụ tinh cho trứng Đặc điểm sinh sản quần thể của Rươi cũng chính là đặc điểm chung của loài giun nhiều tơ, giúp chúng duy trì và tái tạo nòi giống

Khi xem xét sự biến động của các yếu tố thủy hóa trong các đợt thu mẫu, kết

quả phân tích độ trong và độ mặn của nước thủy triều cao nhất vào tháng 11 và tháng 12, tương ứng với thời điểm này Rươi đi sinh sản số lượng rất đông Vào

Trang 38

tháng 10 mực nước cao nhất là 3,5 m, vào tháng 11 và 12 mực nước thủy triều cao trên 3,5 m

Hình 3.5 Lịch con nước tháng 10 năm 2018

(Nguồn: Công ty cổ phần cảng Hải Phòng)

Hình 3.6 Lịch con nước tháng 11 năm 2018

(Nguồn: Công ty cổ phần cảng Hải Phòng)

Hình 3.7 Lịch con nước tháng 12 năm 2018

(Nguồn: Công ty cổ phần cảng Hải Phòng)

Đến mùa sinh sản, phần thứ nhất rất phát triển, tăng mạnh về kích thước (chiều cao thân) và chứa đầy sản phẩm sinh dục Các cơ quan khác như cơ, ống tiêu hóa tiêu giảm dần để nhường chỗ cho phát triển tuyến sinh dục Phần thứ 2 tiêu

Trang 39

biến dần sau khi hoàn thành vai trò chuyển hóa vật chất dinh dưỡng thành sản phẩm sinh dục

Về hình dạng và cấu tạo cơ thể Rươi đực tương tự như Rươi cái, khi sinh trưởng và phát triển trong hang dưới bùn thì quan sát bên ngoài hầu như không phân biệt được đực cái, vào mùa sinh sản thì cơ thể chúng thay đổi màu sắc và rất

dễ phân biệt Khi thành thục cơ thể Rươi đực có màu sắc sặc sỡ, thường là màu trắng đục pha chút phớt hồng, bên trong cơ thể chứa đầy tinh dịch, có màu trắng sữa Rươi cái có màu đỏ đậm, màu xanh nhạt, bên trong chứa đầy trứng có màu xanh nhạt

Bảng 3.1.1 Tỷ lệ giới tính của Rươi Loại

Ngày đăng: 03/09/2020, 11:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quang Chương, 2008, Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài Rươi (Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages, 1865) tại Hải Phòng”, Luận văn Thạc sĩ. ĐH NNHN, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tylorrhynchus heterochaetus" Quatrefages, 1865) tại Hải Phòng
3. Vu Quang Manh, Nguyen Thi Ha, “Rươi (Nereididae: Tylorrhunchus) và quần xã động vật không xương sống cỡ lớn trong đất ven biển tỉnh Hải Dương, Việt Nam” Tạp chí khoa học, Khoa học tự nhiên và công nghệ tập 15, Số 9 (2018), 155-164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rươi (Nereididae: Tylorrhunchus) và quần xã động vật không xương sống cỡ lớn trong đất ven biển tỉnh Hải Dương, Việt Nam
Tác giả: Vu Quang Manh, Nguyen Thi Ha, “Rươi (Nereididae: Tylorrhunchus) và quần xã động vật không xương sống cỡ lớn trong đất ven biển tỉnh Hải Dương, Việt Nam” Tạp chí khoa học, Khoa học tự nhiên và công nghệ tập 15, Số 9
Năm: 2018
6. Phạm Công Thảo, Nguyễn Thức Tuấn, Nguyễn Quang Chương, 2012, Sự phát triển của phôi Rươi từ quá trình thụ tinh nhân tạo và ảnh hưởng của độ mặn trong ương ấu trùng Rươi Tylorrhynchus heterochaetus lên giai đoạn Metachophora, Kỷ yếu Hội nghị NCKH trẻ ngành thủy sản toàn quốc do Vifinet (mạng lưới các Trường và Viện nghiên cứu thủy sản Việt Nam). Đại học Nông Lâm Huế, 4/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tylorrhynchus heterochaetus
8. Phạm Đình Trọng, 1999, Về một số đặc điểm sinh học và mùa vụ sinh sản của loài Rươi (Tylorhynchus heterochaetus (Quatrefages) - Polychaeta) ở vùng ven biển miền Bắc nước ta, Tài nguyên và môi trường biển, Nhà XBKH&KT, Tập VI : 264-271 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Tylorhynchus heterochaetus
5. Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên, 1980, Định loại Động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam, NXB KH&KT: 573 trang Khác
7. Phạm Đình Trọng, 1998a, Một số đặc điểm về thành phần loài, phân bố và sinh thái của động vật đáy (trong đó có Giun nhiều tơ) trong vùng rừng ngập mặn miền Bắc, Tuyển tập báo cáo khoa học, Hội nghị khoa học, công nghệ biển toàn quốc lần thứ IV, Hà Nội, 11- 1998: 1039-1046 Khác
9. Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, 2015, Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản tỉnh Thái Bình đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.Tiếng Anh Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm