BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ LÀI ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở CÁC XÃ VEN BIỂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ LÀI
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở CÁC XÃ VEN BIỂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ LÀI
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở CÁC XÃ VEN BIỂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lài
Trang 4Xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo đã giảng dạy cho lớp cao học Địa lí
Tự nhiên - Khóa XXIV
Xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban ngành huyện Phú Lộc đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ cho việc thực nghiệm của luận văn
Xin gửi lời cảm ơn chân thành những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cùng các bạn học viên lớp Địa lý Tự nhiên, Khóa XXIV trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế …đã luôn sẻ chia, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn
Thừa Thiên Huế, tháng 8 năm 2017
Nguyễn Thị Lài
Trang 5MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BIỂU BẢNG 6
DANH MỤC HÌNH ẢNH 8
A MỞ ĐẦU 10
1 Tính cấp thiết của đề tài 10
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 11
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 11
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
3.1 Đối tượng nghiên cứu 12
3.2 Phạm vi nghiên cứu 12
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 12
4.1 Quan điểm nghiên cứu 12
4.2 Phương pháp nghiên cứu 14
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 16
5.1 Ý nghĩa khoa học 16
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 16
6 Tổng quan các công trình nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp có liên quan đến đề tài 17
6.1 Trên thế giới 17
6.2 Ở Việt Nam 18
6.3 Ở tỉnh Thừa Thiên Huế 20
7 Cấu trúc của luận văn 21
B NỘI DUNG 23
CHUƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 23
1.1 Một số khái niệm được sử dụng trong đề tài 23
1.1.1 Biến đổi khí hậu 23
1.1.2 Tình trạng dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu 23
1.1.3 Khả năng chống đỡ và phục hồi 26
Trang 61.1.4 Thích ứng với biến đổi khí hậu 26
1.1.5 Kịch bản biến đổi khí hậu 27
1.2 Các vấn đề cơ bản về đánh giá tính dễ bị tổn thương 27
1.2.1 Khái niệm tính dễ bị tổn thương 27
1.2.2 Các hợp phần của tính dễ bị tổn thương 31
1.2.3 Xây dựng phương pháp xác định tính dễ bị tổn thương 32
1.2.3.1 Phương pháp tích hợp bản đồ 32
1.2.3.2 Phương pháp chuẩn hóa các biến 32
1.3 Biến đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam 33
1.3.1 Biến đổi khí hậu trên thế giới 33
1.3.1.1 Biến đổi khí hậu trong quá khứ 33
1.3.1.2 Biến đổi khí hậu trên thế giới hiện nay 34
1.3.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam 35
1.4 Kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam 38
1.4.1 Kịch bản biến đổi nhiệt độ 38
1.4.2 Kịch bản biến đổi về lượng mưa 40
1.4.3 Kịch bản nước biển dâng 41
1.4.4 Kịch bản biến đổi của một số hiện tượng khí hậu cực đoan 41
Chương 2 Biểu hiện biến đổi khí hậu ở các xã ven biển huyện Phú Lộc, Tỉnh Thừa Thiên Huế 44
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội các xã ven biển huyện Phú Lộc 44
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên 44
2.1.1.1 Vị trí địa lý 44
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo 45
2.1.1.3 Đặc điểm khí hậu 45
2.1.1.4 Thủy văn 48
2.1.1.5 Tài nguyên đất 49
2.1.2 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội 51
2.1.2.2 Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp 52
2.1.2.3 Tình hình phát triển các ngành kinh tế 53
2.2 Biểu hiện biến đổi khí hậu ở các xã ven biển huyện Phú Lộc 56
Trang 72.2.2 Sự thay đổi lượng mưa trong quá khứ và hiện tại 59
2.2.3 Các thiên tai liên quan đến biến đổi khí hậu tác động đến các xã ven biển huyện Phú Lộc 61
2.2.3.1 Bão và áp thấp nhiệt đới 61
2.2.3.2 Lũ lụt 63
2.2.3.3 Nước biển dâng và xâm nhập mặn 65
2.3 Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dân ở vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2100 65
2.3.1 Lựa chọn kịch bản biến đổi khí hậu cho tỉnh Thừa Thiên Huế 65
2.3.2 Kịch bản thay đổi nhiệt độ 66
2.3.3 Kịch bản thay đổi lượng mưa 70
2.3.4 Kịch bản nước biển dâng 72
Chuơng 3 Tính dễ bị tổn thương do tác động biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp thích ứng đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp ở các xã ven biển huyện Phú Lộc 75
3.1 Xác định các biến 75
3.2 Xây dựng và chuẩn hóa các biến 76
3.2.1 Các biến của chỉ số nhạy cảm (S) 78
3.2.1.1 Chỉ số tiếp cận giao thông 78
3.2.1.2 Ảnh hưởng của các khu dân cư 78
3.2.1.3 Ảnh hưởng của các khu công nghiệp 79
3.2.1.4 Mức độ phụ thuộc của cộng đồng 80
3.2.2 Các biến của chỉ số phơi nhiễm (E) 81
3.2.2.1 Nước biển dâng đến 2050 81
3.2.2.2 Biến đổi nhiệt độ đến 2050 83
3.2.3 Các biến của chỉ số khả năng thích nghi (AC) 84
3.2.3.1 Độ dốc 84
3.2.3.2 Đa dạng sinh học 85
3.3 Xác định trọng số 86
3.4 Tính giá trị chỉ số dễ bị tổn thương 86
3.4.1 Các chỉ số chính (S,E,AC) 86
3.4.2 Chỉ số tổn thương (V) 89
3.2 Đề xuất giải pháp thích ứng đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp ở các xã ven biển huyện Phú Lộc 90
Trang 83.2.1 Cơ sở khoa học của việc đề xuất các giải pháp 90
3.2.1.1 Cách tiếp cận với thích ứng 90
3.2.1.2 Nguyên nhân của tính dễ bị tổn thương hiện tại 91
3.2.2 Đề xuất giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp ở các xã ven biển huyện Phú Lộc 92
3.2.2.1 Nhóm giải pháp công trình 92
3.2.2.2 Nhóm giải pháp phi công trình 92
C KẾT LUẬN 97
1 Kết luận 97
2 Kiến nghị 98
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
E PHỤ LỤC 102
Trang 10DANH MỤC BIỂU BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Một số định nghĩa của các tác giả về thuật ngữ ―tính dễ bị tổn thương‖ trong
các lĩnh vực khác nhau 28
Bảng 1.2 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua ở các vùng khí hậu của Việt Nam 35
Bảng 1.3 Kịch bản NBD theo các kịch bản RCP cho dải ven biển Việt Nam 41
Bảng 2.1 Cơ cấu các loại đất huyện Phú Lộc 49
Bảng 2.2 Dân số 6 xã ven biển huyện Phú Lộc năm 2016 51
Bảng 2.3 Cơ cấu kinh tế theo ngành các xã ven biển huyện Phú Lộc 53
Bảng 2.4 Hiện trạng sử dụng đất các xã ven biển huyện Phú Lộc 56
Bảng 2.4 Diễn biến thiên tai ảnh hưởng đến Thừa Thiên Huế từ 2005 - 2016 57
Bảng 2.5 Nhiệt độ tháng I, nhiệt độ tháng VII, nhiệt độ trung bình năm trong 58
Bảng 2.6 Số cơn bão đổ bộ vào Thừa Thiên Huế từ 1950-2009 62
Bảng 2.7 Đặc trưng của bão vào Thừa Thiên Huế theo các pha ENSO (1950-2009) 62
Bảng 2.8 Đỉnh lũ trung bình 10 năm tại các trạm ở TT-Huế thời kì 1978-2016 64
Bảng 2.9 Biến đổi của nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ cơ sở ở Thừa Thiên Huế 67
Bảng 2.10 Biến đổi của nhiệt độ trung bình các mùa (0C) so với thời kỳ cơ sở tại Huế69 Bảng 2.11 Biến đổi của lượng mưa năm (%) so với thời kỳ cơ sở tại Thừa Thiên Huế70 Bảng 2.12 Biến đổi của lượng mưa theo mùa (%) so với thời kỳ cơ sở 72
Bảng 2.13 Mực NBD theo các kịch bản từ Đèo Ngang-Đèo Hải Vân 73
Bảng 2.14 Nguy cơ ngập đối với tỉnh Thừa Thiên - Huế 73
Bảng 3.1 Các biến được sử dụng trong đánh giá 75
Bảng 3.2 Chuẩn hóa các biến 77
Bảng 3.3 Mực NBD theo các kịch bản từ Đèo Ngang-Đèo Hải Vân 81
Bảng 3.4 Biến đổi của nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ cơ sở ở Thừa Thiên Huế 83
Bảng 3.5 Biến đổi của lượng mưa năm (%) so với thời kỳ cơ sở tại Thừa Thiên Huế 84
Bảng 3.6 Trọng số của các chỉ số 86
Bảng 3.7 Diện tích và tỷ lệ mức độ tổn thương của các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 89
Trang 11Bảng 3.9 Tỉ lệ người dân có tiếp cận các nguồn thông tin về BDKH của các xã nghiên cứu (Đơn vị %) 94
Trang 12DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang
Hình 1.1 Chuẩn sai nhiệt độ (0C) trung bình năm (a) và nhiều năm (b) trên quy mô cả nước 38Hình 1.2 Chuẩn sai nhiệt độ trung bình năm (0C) đối với các trạm ven biển và hải đảo 39Hình 1.3 Biến đổi của nhiệt độ trung bình năm (0C) theo kịch bản RCP4.5 39Hình 1.4 Biến đổi của nhiệt độ trung bình năm (0C) theo kịch bản RCP8.5 40Hình 1.5 Biến đổi của lượng mưa năm (%) ở 7 vùng khí hậu và hải đảo Việt Nam 40Hình 1.6 Dự tính số lượng bão và áp thấp nhiệt đới thời kỳ cuối thế kỷ (theo kịch bản RCP4.5 và RCP8.5 của mô hình PRECIS) 42Hình 1.7 Biến đổi của bão và áp thấp nhiệt đới vào cuối thế kỷ so với thời kỳ cơ sở (theo kịch bản RCP4.5 và RCP8.5 của mô hình PRECIS) 42Hình 1.8 Biến đổi của số ngày nắng nóng (ngày/năm) vào giữa và cuối thế kỷ so với thời kỳ cơ sở, theo kịch bản RCP4.5 từ tổ hợp mô hình 43Hình 2.1 Bản đồ hành chính các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 44Hình 2.2 Nhiệt độ trung bình năm giai đoạn 2005 - 2016 58Hình 2.3 Tỷ lệ phần trăm ý kiến của người dân về sự thay đổi nhiệt độ trung bình khu vực 59Hình 2.4 Lượng mưa trung bình năm giai đoạn 2005 - 2016 60Hình 2.5 Tỷ lệ ý kiến người dân về sự thay đổi lượng mưa trung bình năm khu vực 61Hình 2.6 Kịch bản biến đổi của nhiệt độ trung bình năm (0C) ở Bắc Trung Bộ 68Hình 2.7 Kịch bản biến đổi lượng mưa năm (%) ở khu vực Bắc Trung Bộ 71Hình 2.8 Bản đồ nguy cơ ngập ứng với mực NBD 100 cm, tỉnh Thừa Thiên Huế 74Hình 3.1 Bản đồ chỉ số tiếp cận giao thông của các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 78Hình 3.2 Bản đồ chỉ số ảnh hưởng của các khu dân cư của các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 79Hình 3.3 Bản đồ chỉ số ảnh hưởng của các khu công nghiệp của các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 80Hình 3.4 Bản đồ chỉ số mức độ phụ thuộc vào công đồng của các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 81Hình 3.5 Bản đồ mực NBD đến năm 2050 của các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 82
Trang 13Hình 3.7 Bản đồ chỉ số lƣợng mƣa đến năm 2050 của các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 84Hình 3.8 Bản đồ chỉ số độ dốc của các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 85Hình 3.9 Bản đồ chỉ số đa dạng sinh học của các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 85Hình 3.10 Bản đồ chỉ số nhạy cảm S của các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 87Hình 3.11 Bản đồ chỉ số nhạy cảm E của các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 88Hình 3.12 Bản đồ chỉ số nhạy cảm AC của các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 88Hình 3.13 Bản đồ chỉ số nhạy cảm V của các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 89
Trang 14A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu hay sự ấm lên toàn cầu được coi là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21 Theo Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên
nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên, viết tắt là IUCN (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources), Việt Nam là một trong năm
quốc gia chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu Mực nước biển dâng, nhiệt độ tăng, sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan được dự đoán sẽ xảy ra với tần suất, cường độ nhiều hơn, sẽ tác động nghiêm trọng đến con người và nền kinh tế Việt Nam Đối với một quốc gia có đường bờ biển dài và hai đồng bằng châu thổ lớn là đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long thì những mối đe dọa do mực nước biển dâng cao, bão, lũ lụt, xói lở bờ biển và xâm nhập mặn… là thực sự nghiêm trọng Điều này đã, đang và sẽ gây ảnh hưởng lớn đến sinh kế của người dân ven biển sống phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhạy cảm với BĐKH Người dân ven biển là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước tác động của BĐKH do họ có năng lực thích ứng hạn chế và thường sinh sống ở những vùng địa lý dễ bị tổn thương nhất bởi thiên tai, trong khi lại thiếu các nguồn lực cần thiết để đương đầu với các rủi ro này Hơn nữa, họ thường làm việc trong những lĩnh vực nhạy cảm với BĐKH như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và hầu như không có cơ hội để chuyển đổi nghề nghiệp
Nhận thức những thách thức của BĐKH đối với Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008, thành lập
―Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH‖, đây là một trong những
thành công ban đầu quan trọng trong nỗ lực ứng phó với BĐKH của Việt Nam vì mục tiêu phát triển bền vững
Biến đổi khí hậu tác động đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề trong đời sống KT - XH với những mức độ khác nhau trong đó sản xuất nông nghiệp (SXNN)
là lĩnh vực chịu tác động nặng nề nhất cụ thể làm thay đổi cơ cấu mùa vụ; tác động xấu đến trồng trọt, chăn nuôi; đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và nguy cơ xuất hiện
Trang 15Do tác động của BĐKH trong những năm gần đây các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế thường chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhiều loại thiên tai, trong đó bão, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn là những loại thiên tai tác động mạnh và gây thiệt hại nặng nề nhất ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, chất lượng trong SXNN Ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân, diện tích đất nông nghiệp bị
bỏ hoang hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng ngày một gia tăng Điều này ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề an ninh lương thực của địa phương, đó cũng là nguy cơ làm gia tăng tình trạng đói nghèo, tệ nạn xã hội trên địa bàn
Để cải thiện đời sống cho người dân đồng thời tìm ra hướng đi mới cho nền nông nghiệp của các xã ven biển trước những ảnh hưởng của BĐKH, cần có các hình thức tổ chức lãnh thổ SXNN và các mô hình sinh kế phù hợp với BĐKH nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH), nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân
Do đó, việc ―ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở CÁC XÃ VEN BIỂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG‖
là một vấn đề có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nhằm xác định xu hướng và tình trạng dễ bị tổn thương do BĐKH gây ra đối với hoạt động SXNN ở các xã ven biển huyện Phú Lộc, trên cơ sở đó đề xuất một
số giải pháp thích ứng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về đánh giá mức độ tổn thương do anh hưởng của BĐKH đến nông nghiệp
- Biểu hiện của BĐKH trên địa bàn các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương do BĐKH đến hoạt động SXNN ở các
xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Đề xuất một số giải pháp thích ứng với BĐKH cho cộng đồng SXNN ở các
Trang 16xã ven biển huyện Phú Lộc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng gây tổn thương: Các hiện tượng thời tiết cực đoan, sự thay đổi nhiệt độ, lượng mưa và nước biển dâng
- Đối tượng bị tổn thương bao gồm: Cơ sở vật chất và hạ tầng SXNN, đối tượng SXNN, năng suất, thu nhập, sinh kế của các hộ sống ven biển thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phân tích, đánh giá mức độ tổn thương do BĐKH đến SXNN ở các xã ven biển huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế
- Đề xuất các giải pháp thích ứng do BĐKH đối với SXNN ở các xã ven biển
huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm hệ thống
Tiếp cận hệ thống theo quan điểm cấu trúc trong địa lý học đó là việc nghiên
Trang 17Cấu trúc thẳng đứng là các thành phần cấu tạo như: Địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, sinh vật và mối quan hệ giữa chúng Đối với việc nghiên cứu tính dễ tổn thương do BĐKH ta phải đặt trong mối quan hệ có tính hệ thống với các tai biến thiên nhiên do quá trình nội lực, ngoại lực, tai biến nhân sinh Mặt khác cần xem xét mối quan hệ giữa các tai biến thiên nhiên với nhau, cũng như mối quan hệ giữa các tai biến thiên nhiên với hoạt động SXNN trên địa bàn các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế để từ đó có nhận định đúng, toàn diện, tìm ra nguyên nhân, mối quan hệ, đánh giá mức độ tác động, đề xuất giải pháp thích ứng hợp lí
4.1.2 Quan điểm tổng hợp
Quan điểm này xem các yếu tố và hiện tượng của môi trường tự nhiên là một tổ hợp có tổ chức, giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau Sự tác động của con người vào một hợp phần hay bộ phận tự nhiên nào đó có thể gây ra những biến đổi lớn trong hoạt động của cả tổng thể Tuy nhiên, quan điểm này không yêu cầu nhất thiết phải nghiên cứu tất cả các thành phần mà có thể lựa chọn một số đại diện có vai trò chủ đạo, là những nhân tố có vai trò quyết định đến các thuộc tính cơ bản nhất của tổng thể Áp dụng quan điểm này, đề tài chỉ đánh giá tính tổn thương do BĐKH đến hoạt động SXNN ở các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
4.1.3 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng đều có quá trình phát sinh, vận động và biến đổi Do đó, khi đánh giá chúng chỉ đúng ở một thời điểm nhất định Đứng trên quan điểm lịch sử, phân tích nguồn gốc phát sinh, đánh giá đúng đắn hiện tại sẽ là cơ sở để đưa ra các dự báo xác thực về xu hướng phát triển trong giai đoạn sắp tới Vận dụng quan điểm này,
đề tài phân tích đặc điểm tự nhiên - KT - XH, hiện trạng BĐKH trên địa bàn các xã ven biển huyện Phú Lộc với chuỗi số liệu nhiều năm nhằm phản ánh cơ bản nhất đặc điểm của đối tượng, từ đó tính toán chỉ số tổn thương
4.1.4 Quan điểm lãnh thổ
Mỗi một công trình nghiên cứu địa lí tự nhiên nói riêng cũng như địa lý nói chung đều được gắn với một lãnh thổ cụ thể Các thành phần tự nhiên luôn có sự thay đổi theo thời gian và phân hoá theo không gian Vì vậy, khi nghiên cứu một khu vực cần xác định sự phân hoá không gian theo lãnh thổ và việc đánh giá cần
Trang 18gắn liền trên một lãnh thổ cụ thể được phân chia Với quan điểm này, đề tài cần xác định rõ những yếu tố gây nên và biểu hiện của các tai biến thiên nhiên để từ đó xác định đúng những tai biến thiên nhiên đó gây nên tổn thương gì, mức độ ra sao đối với hoạt động SXNN ở các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
4.1.5 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của chính họ Do đó, đây vừa là xu thế, vừa là yêu cầu bắt buộc trong bất kì hoạt động KT - XH nào
Quan điểm này được tác giả vận dụng xuyên suốt quá trình đánh giá phân tích hiện trạng và đề xuất giải pháp trong hoạt động SXNN ở địa bàn nghiên cứu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Bao gồm các tư liệu và bản đồ về các điều kiện tự nhiên, về sự BĐKH, tác động của BĐKH đến SXNN; các thông tin về dân sinh, KT - XH các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế có liên quan đến BĐKH; một số tài liệu thuộc các chương trình, dự án phát triển KT - XH, phát triển nông nghiệp thích ứng với BĐKH vùng ven biển Tất cả các nguồn tư liệu có liên quan đến đối tượng và lãnh thổ nghiên cứu đã được đề tài tiếp cận và vận dụng có chọn lọc trong nghiên cứu
4.2.2 Phương pháp bản đồ, viễn thám và hệ thông tin địa lý (GIS)
Ứng dụng bản đồ học, kỹ thuật viễn thám trên cơ sở tư liệu ảnh máy bay, ảnh
vệ tinh qua các thời kỳ để đánh giá mức độ biến động các đặc điểm tự nhiên, hoạt động SXNN do tác động của BĐKH gây ra Sử dụng hệ thông tin địa lý (GIS) để cập nhật tài liệu khí tượng, thủy văn, các thông tin về biến động môi trường tự nhiên trên bề mặt, lưu trữ hệ thống cơ sở dữ liệu, các bản đồ bộ phận giúp cho công tác nghiên cứu, đề xuất các giải pháp ứng phó và thích nghi với BĐKH và cập nhật tài liệu một cách thuận tiện, nhanh chóng
4.2.3 Phương pháp chỉ số trong đánh giá tính dễ bị tổn thương
Đánh giá tính dể bị tổn thương do BĐKH được tiến hành bằng cách xây dựng
Trang 19của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) (2007)
Tính dể bị tổn thương V (Vulnerability) được biểu thị là hàm của mức độ phơi nhiễm E (Exposure) - mức độ mà BĐKH tác động lên hệ thống; mức độ nhạy cảm S (Sensitivity) - là mức độ mà hệ thống bị ảnh hưởng và khả năng thích ứng AC (Adaptative Capacity) - là khả năng của hệ thống có thể điều chỉnh
Hàm số có dạng:
V= f(E, S,AC)
Trên cơ sở phân tích các chỉ số dễ bị tổn tương, đề tài tiến hành đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương thông qua công thức tổng hợp tính chỉ số tổn thương do IPCC (2007) đề xuất:
4.2.5 Phương pháp thực địa
Áp dụng phương pháp này nhằm thu thập tài liệu, tìm hiểu thực trạng của BĐKH và các tác động của nó đến SXNN ở các xã ven biển huện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế; khảo sát các mô hình nông - lâm nghiệp thích ứng với BĐKH hiện
có ở địa phương, kiểm tra đối chiếu các tài liệu về tự nhiên và KT - XH ở trên thực địa Trong quá trình thực địa, đề tài phối hợp điều tra phỏng vấn hộ nông dân theo phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA) nhằm thu thập thông tin của cư dân địa phương Quá trình nghiên cứu thực địa được tiến hành dựa trên phương pháp khảo sát theo tuyến và theo điểm cho các mục tiêu đề tài đặt ra Các kết quả nghiên cứu ở thực địa là cơ sở quan trọng cho việc đề xuất các giải pháp và mô hình SXNN
thích ứng với BĐKH ở khu vực nghiên cứu
Trang 204.2.6 Phương pháp chuyên gia
Được vận dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm lấy ý kiến của các nhà khoa học trong việc nghiên cứu các biểu hiện của BĐKH; các dạng tác động chính của BĐKH đến SXNN; các giải pháp và các mô hình SXNN thích ứng với BĐKH cho các xã ven biển huện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế Đồng thời, đề tài còn tham khảo
ý kiến các nhà quản lý của các ngành có liên quan, cán bộ và nhân dân địa phương
4.2.7 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA)
Trong quá trình thực hiện, đề tài tiến hành tham vấn ý kiến của người dân thông qua hệ thống bảng hỏi được thiết kế sẵn gồm 50 câu hỏi liên quan đến thông tin chung về chủ hộ, sinh kế, hoạt động SXNN, biểu hiện của BĐKH và ảnh hưởng của BĐKH đến SXNN Việc tham vấn được tiến hành qua các cấp quản lý: từ cấp tỉnh, huyện, xã, thôn; đồng thời khảo sát trực tiếp với những người dân có tham gia hoạt động SXNN tại các địa bàn trọng điểm được lựa chọn về các nội dung như mức độ tổn thất do BĐKH gây ra đối với SXNN, các loại thiên tai tác động mạnh nhất, tình hình sản xuất, sinh kế, thu nhập của nguời SXNN Ngoài các phương pháp trên, đề tài còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp phân tích
hệ thống, phương pháp thống kê…
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện phương pháp đánh giá tính
dễ bị tổn thuơng cho một hoạt động kinh tế cụ thể truớc những tác động của BĐKH, trên cơ sở đó xác lập các luận chứng khoa học cho việc đề xuất các giải pháp thích
ứng trong hoạt động SXNN đối với BĐKH
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu tham khảo cho nguời dân địa phuơng và các cấp quản lý nhằm lựa chọn các giải pháp thích ứng với BĐKH trong hoạt động SXNN, góp phần giảm thiểu những rủi ro và thiệt hại cho nguời dân ở các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
Đề tài còn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên cao học chuyên
Trang 216 Tổng quan các công trình nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp có liên quan đến đề tài
6.1 Trên thế giới
Sự ―BĐKH toàn cầu‖ đã và đang làm cho môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên đang bị suy thoái, đời sống nhân dân, các hoạt động kinh tế đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng cho nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển Chính vì vậy, các vấn đề nghiên cứu về nguyên nhân, quy luật, các giải pháp phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai đã được các quốc gia, các tổ chức quốc tế chú trọng
và đầu tư nghiên cứu
Các tổ chức UNESCO, UNDP, WHO, FAO… đã chủ trì phối hợp nhiều dự án
để phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai, nhiều dự án hỗ trợ nghiên cứu thiên tai, các tổ chức cứu trợ, giảm nhẹ thiên tai trên toàn thế giới và ở nhiều quốc gia Ngoài ra còn
có các tổ chức phi chính phủ cũng tham gia thực hiện các dự án bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai… hiện nay nhiều quốc gia đã thành lập uỷ ban quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai
Vào những năm 1998 - 2003, Subbiah và cộng sự thuộc Trung tâm sẵn sàng ứng phó với thiên tai Châu Á (ADPC) đã nghiên cứu và ứng dụng một hệ thống thông tin về khí hậu để giảm thiểu các rủi ro thiên tai Hệ thống thông tin này bao gồm một chu trình liên tục của các hệ dự báo, sự phổ biến, sự áp dụng và đánh giá kết quả
Năm 2005, Burton và Lim, trong công trình ―Đạt được sự thích ứng đầy đủ trong nông nghiệp‖ đã nghiên cứu sự thích ứng với BĐKH bằng những thay đổi
ngắn hạn trong SXNN như: lựa chọn cây trồng, phương thức trồng linh hoạt
Ramamasy và Baas (2007) đã nghiên cứu và xuất bản cuốn sách: “Climate variability and change: adaptation to drought in Bangladesh”, đây là tài liệu quan
trọng cho cán bộ khuyến nông, các nhóm làm việc chuyên về kỹ thuật, quản lý thiên tai, đại diện cho cộng đồng và các chuyên gia phát triển để ứng phó, thích ứng với BĐKH, đặc biệt là sự gia tăng thường xuyên của hạn hán ở Bangladesh, đây là một quốc gia dựa vào nông nghiệp là chủ yếu
Trang 22Năm 2008, Lyndsay đã công bố công trình nghiên cứu thích ứng với BĐKH
và nâng cao năng lực bảo tồn tài nguyên nước của chính quyền địa phương, chính phủ, các bên liên quan, các tổ chức quản lý tài nguyên nước tại Ontario, Canada Nghiên cứu này đã chỉ ra một số biện pháp thích ứng, nâng cao năng lực quản lý bằng các thể chế, kế hoạch, chính sách của các cấp chính quyền về các nguồn tài nguyên nước ở quy mô đầu nguồn thông qua sự hợp tác của các thành phố, tỉnh, chính phủ các bên liên quan và các thành viên của cộng đồng, bao gồm các vấn đề sau: Hình thành các mối quan hệ đối tác giữa các cơ quan liên quan; làm rõ vai trò
và trách nhiệm của các bên; chia sẻ thông tin; sự tham gia nhiều hơn và tích cực hơn của các bên liên quan; xây dựng sự đồng thuận
Năm 2009, trong công trình nghiên cứu ―Đông Nam Á và những hòn đảo ở Thái Bình Dương: ảnh hưởng của BĐKH đến năm 2030‖ đã xác định và tóm tắt các nghiên cứu mới nhất, đánh giá của các chuyên gia liên quan đến tính dể bị tổn thương
do tác động của BĐKH như: mực nước biển dâng (NBD), nhu cầu cấp nước, thay đổi trong nông nghiệp, huỷ hoại sinh thái, cơ sở hạ tầng và các mẫu bệnh
Trong công trình ―Biến đổi khí hậu Việt Nam trong khoảng 100 năm gần đây‖,
thông qua chuỗi các số liệu, Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu (1990 đã chứng minh được sự BĐKH ở Việt Nam về nhiệt độ, lượng mưa, mực NBD và dự báo được sự BĐKH ở nước ta cũng như đề xuất các chính sách, giải pháp ứng phó với BĐKH ở Việt Nam
Năm 2002, Trung tâm nghiên cứu và hợp tác quốc tế Canada (CECI) đã công
bố công trình nghiên cứu: Xây dựng năng lực thích ứng với BĐKH ở miền Trung Việt Nam (2002 - 2005) Công trình nghiên cứu này nhằm củng cố năng lực để thiết
Trang 23thiên tai, lồng ghép việc phòng và giảm thiểu rủi ro, thiệt hại vào kế hoạch phát triển của địa phương
Năm 2003, dưới sự tài trợ của GEF/UNDP, Viện khí tượng thuỷ văn, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đưa ra ―Thông báo đầu tiên của Việt Nam cho công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH‖ Công ước khung này đã thông báo về tình hình phát thải khí nhà kính của Việt Nam trong năm 1994; nêu lên được những tác động tiềm tàng của BĐKH và những biện pháp thích ứng cho các ngành KT - XH của Việt Nam như tài nguyên nước, nông nghiệp, thuỷ sản, năng lượng
Roger và cộng sự (2006) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa thích ứng với BĐKH quản lý rủi ro thiên tai và giảm nghèo ở Việt Nam trong báo cáo ―Liên kết BĐKH và quản lý rủi ro thiên tai cho sự giảm nghèo bền vững quốc gia Việt Nam‖ Báo cáo đã xét đến nguy cơ của BĐKH, thiên tai và các tác động tiềm năng của BĐKH; cách tiếp cận trong quản lý rủi ro thiên tai; cách tiếp cận trong thích ứng với BĐKH; nghiên cứu điển hình ở Nam Định
Nguyễn Đức Ngữ (2007), ―Biến đổi khí hậu‖ đã tổng quan được BĐKH toàn
cầu, tác động và các chiến lược ứng phó; đối với Việt Nam nghiên cứu thực trạng BĐKH, xác định kịch bản BĐKH, những tác động tiềm tàng đối với các ngành, lĩnh vực, trong đó có hoạt động SXNN và các chiến lược giảm nhẹ Tác giả cũng đã đưa
ra những công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH và nghị định thư Kyoto
Uỷ ban liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) (2007) qua phân tích và phỏng đoán các tác động của NBD đã công nhận ba vùng châu thổ được xếp trong nhóm cực kỳ nguy cơ do sự BĐKH là vùng hạ lưu sông Mekong (Việt Nam), sông Ganges - Brahmaputra (Bangladesh) và sông Nile (Ai cập) Chương trình phát triển của Liên hợp quốc đánh giá: ―Khi nước biển tăng lên 1m, Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người dân mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp‖
Nguyễn Hữu Ninh (2007), dựa vào các số liệu hiện có, tác giả đã tổng quan về BĐKH ở Đồng bằng sông Cửu Long trong báo cáo: ―Lũ lụt ở đồng bằng sông Sửu Long‖ Báo cáo đã tổng quan các vấn đề như: BĐKH và lũ lụt; hiện trạng quản lý thiên tai và thích ứng BĐKH Theo báo cáo thì trong tương lai BĐKH sẽ tác động đến chế độ thuỷ văn và sự phát triển KT - XH của đồng bằng sông Cửu Long Mặc dù
Trang 24ở khu vực này giàu về tài nguyên và tiềm năng phát triển nhưng nghèo đói ở khu vực này là rào cản lớn nhất trong thích ứng BĐKH Các lĩnh vực dễ bị tổn thương, nhất là nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản
Trần Thục và nnk (2008) đã tổng quan được tác động của BĐKH đến nông nghiệp, công nghiệp, nghề cá, dịch vụ…, đưa ra chi phí phục hồi do BĐKH mang lại đồng thời các tác giả đã đánh giá, đưa ra rất nhiều các giải pháp thích ứng về tự nhiên, các ngành nghề, các chính sách, chương trình, kế hoạch KT - XH và gắn sự thích ứng đó vào mục tiêu quốc gia, các chương trình trọng điểm để phát triển bền vững của đất nước
Đào Xuân Học (2008), ―Kế hoạch thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn‖, tác giả đã đưa ra được những tác động của BĐKH
đến nông nghiệp và PTNT một số vùng dễ bị tổn thương, giới thiệu khung chương trình hành động thích ứng với BĐKH của ngành, triển khai tổ chức thực hiện và một số đề xuất, kiến nghị
Lê Anh Tuấn (2009) đưa ra báo cáo với chủ đề ―Tổng quan về nghiên cứu biến đổi và các hoạt động thích ứng ở miền Nam Việt Nam‖ Trong bản báo cáo này, tác
giả đã lược khảo các nghiên cứu các nguy cơ và thách thức của BĐKH với miền Nam nói riêng và Việt Nam nói chung; sau đó đưa ra các hoạt động nghiên cứu thích ứng của chính quyền, các viện nghiên cứu, các trường đại học, các tổ chức xã hội và nhân dân địa phương
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), công bố Kịch bản BĐKH, NBD dưới sự
kế thừa kịch bản BĐKH, NBD những năm trước và tình hình diễn biến thực tế của BĐKH tại Việt Nam đã đưa ra (1) những biểu hiện BĐKH, NBD trên thế giới và Việt Nam; (2) xây dựng kịch bản BĐKH, NBD cho Việt Nam (Nguy cơ ngập theo các mực NBD) Đây là định hướng cho Bộ, ngành, địa phương đánh giá tác động BĐKH và triển khai kế hoạch hành động nhằm thích ứng, giảm thiểu những tác động tiềm tàng của BĐKH
6.3 Ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Là tỉnh vùng duyên hải Miền Trung, Thừa Thiên Huế là tỉnh chịu tác động của
Trang 25gió khô nóng gây hạn hán; NBD gây nhiễm mặn ảnh hưởng đến hoạt động SXNN;
do đó, việc nghiên cứu về BĐKH ở tỉnh được nhiều nhà khoa học và các ban ngành quan tâm
Năm 2001, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã thực hiện đề án
“Nghiên cứu phương án phục hồi, thích nghi cho vùng cửa sông ven biển Thuận An
- Tư Hiền và đầm phá Tam Giang - Cầu Hai”; mục tiêu đề án nghiên cứu, phục hồi
các hệ sinh thái nhạy cảm nhằm thích nghi tốt hơn với BĐKH ở vùng cửa sông, ven biển Thừa Thiên Huế
Chi cục PCLB và QLĐĐ Thừa Thiên Huế (2007), Báo cáo chiến lược phòng chống và giảm nhẹ thiên tai vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020
Trần Thục, Nguyễn Văn Thắng, Dương Hồng Sơn, Hoàng Đức Cường và nnk
(2011) có công trình nghiên cứu BĐKH và ứng phó với BĐKH ở Việt Nam: Nghiên cứu chi tiết cho tỉnh Thừa Thiên Huế đã đề cập đến vấn đề phục hồi sinh thái và
phát triển bền vững trong bối cảnh BĐKH
Lê Văn Thăng và nnk (2011), đã xuất bản các công trình: ―Thích ứng với BĐKH và các chính sách liên quan ở tỉnh Thừa Thiên Huế”; ―Thích ứng với BĐKH cấp cộng đồng và các chính sách liên quan ở Thừa Thiên Huế” (dự án FLC.09.04
và 10.04); ―Luận cứ khoa học cho việc lựa chọn và hoàn thiện các mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng ở Miền Trung và đề xuất nhân rộng” (Đề tài
NCKHCN, mã số BĐKH 18, thuộc Chương trình KH&CN phục vụ mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH); trong đó đề cập đến BĐKH, các chính sách, mô hình thích ứng với BĐKH ở Thừa Thiên Huế
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế (2013), ―Quyết định số 313/QĐ-UBND về việc phê duyệt Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020‖ trong đó đề cập đến các vấn đề liên quan đến BĐKH, các kế hoạch hành
động của tỉnh và các giải pháp ứng phó, giảm thiểu tác động của BĐKH
Đề tài đã vận dụng có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước
để xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ mục tiêu nghiên cứu của đề tài
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn bao gồm 3 chuơng:
Trang 26Chuơng 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc đánh giá tác động biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp
Chương 2 Đánh giá tính dễ bị tổn thương do tác động biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp ở các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế Chuơng 3 Đề xuất giải pháp thích ứng do biến đổi khí hậu đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp ở các xã ven biển huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 27B NỘI DUNG CHUƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm được sử dụng trong đề tài
1.1.1 Biến đổi khí hậu
Công ước chung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH đã định nghĩa: BĐKH là những ảnh hưởng có hại của khí hậu, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến các thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến các
hệ thống KT - XH hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người
Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH định nghĩa: BĐKH là sự thay đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do tác động của con người làm thay đổi tình hình khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất
BĐKH đề cập đến sự thay đổi về trạng thái của khí hậu mà có thể xác định được (ví dụ, sử dụng các phương pháp thống kê…) diễn ra trong một thời gian dài, thường là một thập kỷ hoặc lâu hơn BĐKH đề cập đến bất cứ biến đổi nào theo thời gian, có hay không theo sự biến đổi của tự nhiên do hệ quả các hoạt động của con người
Tóm lại, khái niệm về BĐKH tuy có sự khác nhau ở một vài điểm, nhưng tất
cả đều thống nhất ở chổ BĐKH là sự thay đổi trạng thái khí hậu so với trung bình nhiều năm và nguyên nhân của BĐKH được quyết định chủ yếu bởi con người
1.1.2 Tình trạng dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu
Hiện nay, có nhiều khái niệm về tính dễ bị tổn thương và việc sử dụng thuật ngữ liên quan đến tính dễ bị tổn thương chưa có sự thống nhất Tính dễ bị tổn thương thường đi kèm với các nguy cơ tự nhiên như lũ lụt, hạn hán và nguy cơ xã hội như nghèo đói, vv Gần đây, khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong bối cảnh BĐKH để biểu thị mức độ thiệt hại mà một khu vực dự kiến sẽ bị ảnh hưởng
do các tác động khác nhau của BĐKH Có nhiều nghiên cứu về tính dễ bị tổn
Trang 28thương trên thế giới và khái niệm về tính dễ bị tổn thương cũng khác nhau tùy theo quan điểm của những nhà nghiên cứu Có thể điểm qua một số định nghĩa về tính dễ
bị tổn thương điển hình như sau:
Chamber (1983) định nghĩa tính dễ bị tổn thương có 2 mặt Một mặt là rủi ro bên ngoài, các cú sốc mà một cá nhân hoặc hộ gia đình phải chịu từ các tác động của BĐKH và một mặt là nội bộ bên trong đó là sự không có khả năng bảo vệ, có nghĩa là thiếu phương tiện để đối phó mà không bị thiệt hại
O'brien và Mileti (1992) đã thử nghiệm tính dễ bị tổn thương đối với BĐKH và khẳng định rằng bên cạnh sự ổn định và giàu có về kinh tế, khả năng chống chịu của dân cư với các cú sốc về môi trường, cấu trúc và tình trạng sức khỏe của người dân
có thể đóng một vai trò quan trọng quyết định đến tính dễ bị tổn thương Tuổi tác là một vấn đề quan trọng vì người già và trẻ em vốn là những đối tượng dễ bị tổn thương do những rủi ro môi trường và nguy cơ phơi lộ Dân số trong độ tuổi lao động
và có sức khỏe tốt có nhiều khả năng đối phó và do đó ít bị tổn thương hơn khi đối mặt với nguy cơ phơi lộ
Blaikie và cộng sự (1994) định nghĩa tính dễ bị tổn thương là các đặc điểm của một người hoặc một nhóm người về khả năng của họ để dự đoán trước, đối phó, chống chịu và phục hồi từ các tác động của các nguy cơ tự nhiên và khẳng định rằng tính dễ bị tổn thương có thể được đánh giá thông qua khả năng chống chịu và mức độ nhạy cảm
Watson và cộng sự (1996) định nghĩa tính dễ bị tổn thương như mức độ mà BĐKH có thể gây thiệt hại hoặc gây tổn hại cho một hệ thống, không chỉ phụ thuộc vào mức độ nhạy cảm của hệ thống đó mà còn về năng lực thích ứng với các điều kiện khí hậu mới
Theo Adger (1999), tính dễ bị tổn thương là mức độ mà một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội dễ bị thiệt hại do BĐKH Nó được coi là một hàm của hai thành phần: ảnh hưởng có thể có của một hiện tượng đến con người, được gọi là năng lực hoặc tính dễ bị tổn thương về mặt xã hội và rủi ro về một hiện tượng như vậy có thể xảy
ra, thường được gọi là sự phơi lộ (exposure)
Trang 29Kasperson và cộng sự (2000) định nghĩa tính dễ bị tổn thương như mức độ mà một hệ thống dễ bị thiệt hại do bị phơi lộ với một nhiễu loạn hoặc căng thẳng và thiếu năng lực hoặc các biện pháp để đối phó, phục hồi hoặc thích ứng một cách cơ bản để trở thành một hệ thống mới hoặc sẽ bị mất đi vĩnh viễn
USEPA - Cục Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ (United State Environment Protection Agency, 2006) định nghĩa tính tổn thương của một hệ thống là mức độ tổn thất của hệ thống đó dưới tác động của một áp lực nào đó từ bên ngoài hay bên trong hệ thống
Trong các báo cáo của Ủy ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC), khái niệm này vẫn được sử dụng khác nhau qua các thời kỳ Trên thực tế, IPCC đã đưa ra các khái niệm khác nhau về tính dễ bị tổn thương đối với BĐKH qua các năm Năm
1992, tính dễ bị tổn thương được định nghĩa như mức độ mà một hệ thống không có khả năng đối phó với những hậu quả của BĐKH và NBD Năm 1996, báo cáo lần thứ 2 (SAR) của IPCC đã định nghĩa tính dễ bị tổn thương là mức độ mà BĐKH có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống, không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy cảm của
hệ thống mà còn phụ thuộc vào năng lực thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới Định nghĩa này bao gồm sự phơi lộ, mức độ nhạy cảm, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hưởng của BĐKH Năm 2001, báo cáo lần thứ 3 (TAR) của IPCC đã định nghĩa tính dễ bị tổn thương là mức độ một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội bị nhạy cảm với các thiệt hại do BĐKH gây ra Tính dễ bị tổn thương là một hàm của mức độ nhạy cảm của một hệ thống đối với những thay đổi của khí hậu (mức độ mà một hệ thống sẽ ứng phó với một sự thay đổi của khí hậu, bao gồm những tác động có lợi và có hại), năng lực thích ứng (mức
độ mà sự điều chỉnh trong thực tiễn, quá trình thực hiện, hoặc cơ cấu có thể giảm nhẹ hoặc bù lại được những thiệt hại tiềm ẩn hoặc tận dụng được những cơ hội tạo
ra từ sự thay đổi khí hậu đó) và mức độ phơi lộ của hệ thống với các nguy cơ khí hậu Năm 2007, báo cáo lần thứ 4 (AR4) của IPCC đã định nghĩa tính dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ một hệ thống bị nhạy cảm hoặc không thể chống chịu trước các tác động có hại của BĐKH, bao gồm dao động khí hậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan Tính dễ bị tổn thương là một hàm của các đặc tính,
Trang 30cường độ và mức độ (phạm vi) của các biến đổi và dao động khí hậu mà hệ thống
đó bị phơi lộ, mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứng của hệ thống đó Theo định nghĩa mới nhất này, khi các biện pháp thích ứng được tăng cường thì tính dễ bị tổn thương theo đó sẽ giảm đi
Như vậy, đã có khá nhiều định nghĩa về tính dễ bị tổn thương được đưa ra bởi các nhà khoa học và tổ chức Trong đó, định nghĩa của IPCC (2007) đã thể hiện tính phổ quát của các chỉ số ảnh hưởng đến tính dễ bị tổn thương và cho phép lượng hóa kết quả nghiên cứu nên được đề tài luận văn lựa chọn và áp dụng
1.1.3 Khả năng chống đỡ và phục hồi
Khả năng chống đỡ và phục hồi là khả năng của một cộng đồng để chống lại, ứng xử và phục hồi từ những tác động của hiểm họa một cách kịp thời và hiệu quả, bảo tồn và phục hồi cấu trúc, chức năng và đặc điểm cơ bản thiết yếu
Khả năng chống đỡ và phục hồi là một khái niệm quen thuộc trong bối cảnh giảm nhẹ rủi ro thiên tai (DRR) và ngày càng được thảo luận nhiều trong các vấn đề thích ứng Một cộng đồng có khả năng chống đỡ và phục hồi là một cộng đồng có khả năng phù hợp để quản lý những hiểm họa nhằm giảm thiểu tác động của chúng và/hoặc để phục hồi nhanh chóng từ bấc cứ tác động tiêu cực nào, để từ đó đạt đến một trạng thái tương tự hoặc tốt hơn trước khi hiểm họa xảy ra Có nhiều mối liên kết chặt chẽ gữa khả năng chống đỡ và phục hồi với năng lực thích ứng; do đó, khả năng chống đỡ và phục hồi cũng khác nhau rất nhiều giữa các nhóm khác nhau trong một cộng đồng
1.1.4 Thích ứng với biến đổi khí hậu
Để có thể giảm tình trạng dễ bị tổn thương do BĐKH, cần tập trung xây dựng năng lực thích ứng, đặc biệt của những người dễ bị tổn thương nhất; và trong một số trường hợp, phải tập trung làm giảm sự hứng chịu hay tính nhạy cảm đối với tác động khí hậu Đảm bảo rằng những sáng kiến phát triển không vô tình làm tăng tình trạng dễ bị tổn thương Quy trình này là sự thích ứng
Thích ứng được định nghĩa như sau: Là sự điều chỉnh của các hệ thống tự nhiên hay xã hội để ứng phó với các kích thích do BĐKH đang hoặc được dự báo sẽ
Trang 31xảy ra hay với các tác động của chúng, để từ đó, giảm nhẹ sự thiệt hại hoặc khai thác những cơ hội thuận lợi mà nó mang lại
1.1.5 Kịch bản biến đổi khí hậu
Kịch bản BĐKH là một giả định có cơ sở khoa học và sự tin cậy của sự biến đổi trong tương lai của các mối quan hệ giữa KT - XH, tổng thu nhập quốc dân, phát thải khí nhà kính, BĐKH và mực nước biển dân Như vậy, kịch bản BĐKH có điểm giống với dự báo khí hậu vì điều phản ánh sự tiến triển tương lai của thủy văn, khí hậu Nhưng điểm khác biệt ở chổ là kịch bản BĐKH bao giờ cũng đưa ra quan điểm về mối quan hệ ràng buộc giữa phát triển và hành động
Kịch bản BĐKH sẽ là định hướng để giúp chúng ta có thể xây dựng và triển khai kế hoạch hành động nằm thích ứng và giảm thiểu tác động tiềm tàng của BĐKH trong tương lai
1.2 Các vấn đề cơ bản về đánh giá tính dễ bị tổn thương
1.2.1 Khái niệm tính dễ bị tổn thương
Nghĩa thông thường của từ ―tính dễ bị tổn thương‖ đề cập đến khả năng bị thương, nghĩa là mức độ mà một hệ thống có thể bị tác động xấu do tiếp xúc với một tai biến
Để hiểu được khái niệm tính dễ bị tổn thương, trước tiên cần làm rõ một số khái niệm: tai biến, rủi ro và thảm họa
- Tai biến là mối nguy hiểm tiềm ẩn có khả năng gây hại cho con người (và tài sản) và nơi ở
- Rủi ro là nguy cơ phải chịu các mối gây hại, hoặc khả năng mà một vài loại tổn thất xảy ra, là kết quả của sự kiện tai biến
- Thảm họa là sự kiện đơn lẻ với quy mô lớn mà vượt quá năng lực ứng phó và phục hồi của một khu vực
Khái niệm về tính dễ bị tổn thương đã có nhiều thay đổi trong 20 năm qua Đã
có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu tố để đánh giá tính dễ bị tổn thương Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến tính dễ bị tổn thương giữa các ngành, lĩnh vực cũng khác nhau Đặc biệt, trong những năm gần đây khái niệm dễ bị tổn thương đã được nhiều nhà khoa học quan
Trang 32tâm hơn, việc đánh giá tính dễ bị tổn thương là một hệ thống nhằm phân tích các rủi
ro từ nguy cơ bên ngoài cũng như nội bộ bên trong của nó Điều này nhằm mục đích tăng khả năng phục hồi của xã hội bằng cách tăng khả năng chống chịu của những yếu tố dễ bị tổn thương
Dưới đây tổng hợp lại một số định nghĩa của các tác giả về thuật ngữ ―tính dễ
bị tổn thương‖ trong các lĩnh vực khác nhau
Bảng 1.1 Một số định nghĩa của các tác giả về thuật ngữ “tính dễ bị tổn thương”
trong các lĩnh vực khác nhau
Gabor (1979) Tính dễ bị tổn thương là mối đe dọa tác động trực tiếp đến
cộng đồng, xét đến không chỉ đặc tính của các yếu tố hóa học,
mà còn xem xét cả tình trạng sinh thái của cộng đồng và khả năng ứng phó khẩn cấp, tại bất kỳ thời điểm nào Tính dễ bị tổn thương là một thành phần của rủi ro
Timmerman (1981) Tính dễ bị tổn thương là mức độ phản ứng tiêu cực của một hệ
thống khi gặp một tai biến Mức độ và đặc trưng của các phản ứng tiêu cực bị giới hạn bởi khả năng phục hồi của hệ thống (khả năng hấp thụ và phục hồi từ sự kiện tai biến)
Alexander (1991) Tính dễ bị tổn thương con người là hàm số của chi phí và lợi
ích khi sinh sống ở khu vực chịu rủi ro từ tai biến thiên nhiên
Cutter (1996) Tính dễ bị tổn thương được hiểu như là một rủi ro sinh lý
cũng như một phản ứng xã hội, nhưng trong một khu vực cụ thể hoặc vùng địa lý Đó có thể là không gian địa lý, nơi con người và những vùng tổn thương được xác định, hoặc không gian xã hội, nơi mà con người sống trong đó chịu tổn thương nhiều nhất
Trang 33Clark (1998) Tính dễ bị tổn thương là hàm của hai biến: 1) sự tiếp xúc với
các tai biến; và 2) khả năng ứng phó, chia thành khả năng chống cự (khả năng hấp thụ các tác động và tiếp tục thực hiện các chức năng), và khả năng phục hồi (khả năng hồi phục lại sau những tổn thất)
Cutter et al (2000) Theo nghĩa rộng, tính dễ bị tổn thương là tiềm năng thiệt hại
tài sản hoặc tính mạng từ các tai biến môi trường
Downing (2001) Tính dễ bị tổn thương bao gồm độ phơi nhiễm, tính nhạy, khả
năng phục hồi của hệ thống để chống lại các mối nguy hiểm
do ảnh hưởng của thiên tai
Joanne Linnerooth
Bayer (2010)
Tính dễ bị tổn thương là khái niệm được hiểu trong một phạm
vi rộng và có quy tắc, bao gồm cả địa lý, rủi ro, hiểm họa, kỹ thuật, nhân chủng học và sinh thái
Fekete 2009 Tính dễ bị tổn thương bao gồm tiếp xúc, nhạy cảm và năng
lực của các khu vực nghiên cứu khi bắt gặp một mối nguy hiểm hoặc sức ép cụ thể
Ban Thư ký Khối
Thịnh vượng chung
(CS) (1997)
Tính dễ bị tổn thương là kết quả của hai nhóm yếu tố: (1) tỷ lệ
và cường độ của rủi ro và các hiểm họa và (2) khả năng chống chịu và khôi phục trở lại sau các rủi ro và hiểm họa đó Các hiểm họa bắt nguồn từ 3 nguyên nhân chính: tác động kinh tế, khoảng cách và sự biệt lập, khả năng có thể xảy ra tai biến thiên nhiên
Trang 34Ủy ban Liên hợp
quốc về Biến đổi
Khí hậu - IPCC
(1997)
Tính dễ bị tổn thương được định nghĩa là mức độ mà một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội có thể bị tổn hại do chịu sự phá hủy từ BĐKH Tính dễ bị tổn thương là một hàm của độ nhạy cảm của hệ thống với các thay đổi khí hậu và khả năng thích ứng của hệ thống trước những thay đổi đó Trong khuôn khổ này, một hệ thống dễ bị tổn thương là một hệ thống có độ nhạy cảm cao với những thay đổi khí hậu bình thường
hệ thống có thể giảm thiểu hoặc hấp thụ ảnh hưởng của các sự kiện cực đoan Tính dễ bị tổn thương môi trường khác với tính dễ bị tổn thương nhân văn bởi lẽ môi trường thì rất phức tạp với nhiều cấp độ tổ chức khác nhau
Ủy ban Liên hợp
quốc về Biến đổi
Khí hậu - IPCC
(2001)
Tính dễ bị tổn thương là mức độ mà một hệ thống bị tổn hại hoặc không thể ứng phó với các tác động tiêu cực; khi đó tính
dễ bị tổn thương không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng
Trang 35Mặc dù có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu tính dễ bị tổn thương, nhưng vẫn có thể nhận ra được những điểm chung giữa chúng Rất nhiều các nghiên cứu trong thời gian gần đây sử dụng khái niệm tính dễ bị tổn thương của IPCC Theo IPCC (2001), tính dễ bị tổn thương được định nghĩa là mức độ (degree)
mà một hệ thống dễ bị ảnh hưởng hoặc không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của BĐKH, gồm các hiện tượng biến đổi theo quy luật và cực đoan của khí hậu Tính
dễ bị tổn thương là một hàm số của đặc trưng, cường độ và mức độ của các dao động
khí hậu tới một hệ thống, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của nóError! Reference source not found Định nghĩa này được Metzger làm rõ hơn và theo đó,
tính dễ bị tổn thương bao gồm 3 thành phần: Độ phơi nhiễm (Exposure), độ nhạy cảm (Sensitivity) và khả năng thích ứng (Adaptive Capacity), và được biểu thị bằng công
thức: V = f (E, S, AC) (2)
Trong đó:
Độ phơi nhiễm (E) có thể được hiểu là những hiểm họa trực tiếp (ví dụ như sức ép), bản chất và quy mô của các thay đổi của các dao động khí hậu của một vùng (ví dụ như nhiệt độ, lượng mưa, các hiện tượng thời tiết cực đoan )
Độ nhạy cảm (S) thể hiện điều kiện môi trường xã hội có thể làm cho các tai biến trở nên trầm trọng hơn hoặc làm giảm nhẹ nó
Khả năng thích ứng (AC) thể hiện khả năng áp dụng các giải pháp thích ứng giúp ngăn chặn các tác động tiềm tàng
Mục tiêu của luận văn là đánh giá tổn thương đối với SXNN dưới tác động tiêu cực của tự nhiên và kinh tế xã hội trong bối cảnh BĐKH, học viên cũng sử dụng khái niệm tính dễ tổn thương của IPCC
1.2.2 Các hợp phần của tính dễ bị tổn thương
- Tính nhạy cảm (Sensitivity): Theo Kleynhans (1999) tính nhạy cảm sinh thái
là khả năng chống chịu trước một tác động cụ thể (như sự thay đổi môi trường) và khả năng phục hồi sau khi chịu ảnh hưởng của tác động Nếu sức chống chịu và khả năng giữ cân bằng của hệ thống càng nhỏ thì càng nhạy cảm, và ngược lại
Trang 36- Sự phơi nhiễm/ Mật độ tổn thương (Exposure): Theo Cutter (2000) và Mai Trọng Nhuận (2008) mật độ tổn thương là mật đô các đối tượng bị tổn thương được xác định theo sự phân bố, vai trò của các đối tượng bị tổn thương
Khái niệm khác về sự phơi nhiễm là mức độ tiếp xúc của đối tượng nghiên cứu với các yếu tố tác động tới nó theo các chiều hướng khác nhau túy vào yếu tố
- Khả năng thích ứng (Adaptive capacity): Theo IPCC thì khả năng thích ứng (Adaptive Capacity) là khả năng của một hệ thống nhằm thích nghi với BĐKH (bao gồm sự thay đổi cực đoan của khí hậu), nhằm giảm thiểu các thiệt hại, khai thác yếu
tố có lợi hoặc để phù hợp với tác động của BĐKH
1.2.3 Xây dựng phương pháp xác định tính dễ bị tổn thương
1.2.3.2 Phương pháp chuẩn hóa các biến
Các biến giá trị được hiểu là một đại lượng được đưa vào trong một công thức toán học để tính toán cho một giá trị cần tìm Việc lựa chọn các biến trong việc đánh giá tổn thương phụ thuộc vào lý thuyết và phương pháp tiếp cận kết hợp với ý kiến chuyên gia Các biến chọn khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau
Đối với mỗi một biến, do được đo lường bằng các đại lượng khác nhau (ví dụ: biến nhiệt độ được đo bằng độ C, mức độ ảnh hưởng; hoặc chỉ số AC được đo bằng các yếu tố về KT - XH) Vì vậy, để có thể đánh giá được ta phải đưa các đại lượng
về một trục (cùng một đơn vị) Đơn vị ở đây chính là chỉ số đánh giá Vì vậy, ta áp dụng công thức sau:
Trang 37
Trong đó:
Zij: Giá trị được chuẩn hóa ở loại i của vùng j;
Xij: Giá trị chưa được chuẩn hóa ở loại i của vùng j;
Xi Max: Giá trị lớn nhất của chỉ số (của lớp thông tin);
Xj Min: Giá trị nhỏ nhất của chỉ số;
1.3 Biến đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Biến đổi khí hậu trên thế giới
1.3.1.1 Biến đổi khí hậu trong quá khứ
Trong quá khứ, khí hậu của trái đất đã có những thay đổi với những quy mô thời gian từ vài triệu năm đến vài trăm năm Những vụ núi lửa phun trào mạnh, đưa vào khí quyển một lượng khói bụi khổng lồ ngăn cản ánh sáng Mặt trời xuống Trái đất, có thể làm lạnh bề mặt Trái đất trong một thời gian dài Sự thay đổi của dòng chảy đại dương cũng làm thay đổi sự phân bố nhiệt độ và lượng mưa
Quá trình băng hà và không băng hà bắt đầu xảy ra từ khoảng hai chục triệu năm trước công nguyên Trong thời gian này, nhiệt độ bề mặt Trái đất thường biến động 5 - 70
C Tuy nhiên, có thể có những biến động lên đến 10 - 150C ở các vùng vĩ
độ trung bình và vĩ độ cao thuộc Bắc bán cầu Ở thời kỳ không băng hà, khoảng 125.000 - 130.000 năm trước công nguyên, nhiệt độ trung bình ở Bắc bán cầu cao hơn thời kỳ tiền công nghiệp 20C (giữa thế kỷ XVIII)
Trái đất trải qua thời kỳ băng hà cuối cùng khoảng 18.000 năm trước công nguyên Trong thời kỳ này, băng bao phủ phần lớn bề mặt Bắc Mỹ, Bắc Âu và Bắc
Á với mực nước biển thấp hơn hiện nay đến 120m Thời kỳ băng hà này kết thúc vào khoảng 10.000 - 15.000 năm trước công nguyên
Cách đây khoảng 12.000 năm, Trái đất ấm lên đáng kể đến khoảng 10.500 năm trước công nguyên Sau đó Trái đất lạnh đi đột ngột, kéo dài khoảng 500 năm, rồi cũng đột ngột chấm dứt và ấm trở lại
Khoảng 5.000 - 6.000 năm trước, nhiệt độ không khí ở vĩ độ trung bình của Bắc bán cầu cao hơn hiện nay 1 - 30C Trong thời kỳ cuối băng hà, có những thay đổi nhỏ
Trang 3812.000 - 14.000 năm trước công nguyên là vùng có cây cỏ, các loài cá và chim thú
Từ khoảng 4.000 năm trước công nguyên, khí hậu Trái đất trở nên khô hạn, nhiều hồ
bị cạn Có nhiều chứng cớ cho thấy, khoảng 5.000 - 6.000 năm trước công nguyên, nhiệt độ cao hơn hiện nay
1.3.1.2 Biến đổi khí hậu trên thế giới hiện nay
Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC năm 2007, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,740C trong thời kỳ 1906 - 2005 và tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó Nhiệt độ trên lục địa tăng nhanh hơn so với trên đại dương (IPCC, 2007) Trong 100 năm qua, lượng mưa có xu hướng tăng ở khu vực vĩ độ cao hơn 300C Tuy nhiên, lượng mưa lại có
xu hướng giảm ở khu vực nhiệt đới từ giữa những năm 1970 Hiện tượng nưa lớn có dấu hiệu tăng ở nhiều khu vực trên thế giới (IPCC, 2007)
Nóng lên toàn cầu làm băng tan, dẫn đến gia tăng mực nước biển Từ năm
1961, mực nước biển trung bình trên toàn cầu dân cao với tốc độ trung bình 1,8mm/năm (từ 1,3 - 2,3 mm/năm) và từ năm 1993 ở mức 3,1 mm/năm (từ 2,4 - 3,8 mm/năm), do sự dãn nở vì nhiệt, tan các mũ băng và những tảng băng ở vùng cực,
sự nóng lên toàn cầu làm giảm lượng băng và tuyết Dữ liệu vệ tinh từ năm 1978 của NASA chỉ ra rằng, diện tích băng ở biển Bắc Cực giảm trung bình khoảng 2,7% /thập kỷ (dao động từ 2,1 - 3,3% /thập kỷ), mức giảm lớn nhất trong mùa hè 7,4%/thập kỷ (dao động từ 5,0 - 9,8%/thập kỷ) Độ che phủ băng và tuyết ở vùng núi nhìn chung giảm ở cả hai bán cầu
Từ năm 1900 đến năm 2005, lượng mưa tăng đáng kể ở các khu vực phía Đông của Bắc và Nam Mỹ, Bắc Âu, Bắc và Trung Á, nhưng giảm ở Sahel, Địa Trung Hải, Nam Phi và các khu vực Nam Á Tổng diện tích bị ảnh hưởng bởi hạn hán đã tăng lên từ những năm 1970
Trong hơn 50 năm qua, số ngày lạnh, đêm lạnh và sương giá ít hơn ở hầu hết các khu vực đất liền và tăng số ngày nóng đêm nóng Các đợt sóng nhiệt trở nên thường xuyên hơn ở hầu hết các khu vực đất liền, tần xuất của các hiện tượng như mưa lớn tăng hầu hết ở các khu vực và kể từ năm 1975 phạm vi ảnh hưởng của mực
Trang 39Nhiệt độ trung bình của Bắc bán cầu trong nửa sau thế kỷ XX cao hơn bất kỳ giai đoạn 50 năm nào trong 500 năm gần đây và có thể cao nhất trong ít nhất 1.300 năm qua Bằng chứng quan sát được từ tất cả các châu lục và hầu hết các đại dương chỉ ra rằng, nhiều hệ thống tự nhiên đang bị ảnh hưởng bởi BĐKH, đặc biệt là nhiệt độ tăng Băng ở hai cực đang tăng với tốc độ nhanh chóng Các dòng sông băng trên thế giới đang bị thu hẹp lại và ngày càng mỏng hơn Do nước biển hấp thụ nhiều nhiệt hơn băng nên khi diện tích băng nhỏ lại, lượng nhiệt hấp thụ tăng lên làm cho băng tan nhiều hơn Dưới tác động của BĐKH, lớp băng của đảo Greenland có thể tan chảy với tốc độ 400 tỷ tấn mỗi năm Trong thời gian từ năm 2000 đến 2010, đảo băng này đã mất 229km2
1.3.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Việt Nam với diện tích khoảng 331.212 km2, bờ biển dài 3.260km với hơn 3.000 hòn đảo và 2 quần đảo Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương trong vùng nhiệt đới gió mùa với lãnh thổ trải dài trên 15 vĩ độ từ phía Bắc xuống phía Nam Việt Nam có đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là 2 đồng bằng lớn, thấp và bằng phẳng Với vị trí và đặc điểm như vậy Việt Nam được xếp là một trong những quốc gia bị tác động mạnh nhất bởi BĐKH và NBD
Trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,70C, mực NBD khoảng 20cm Hiện tượng Elnino, Lanina ngày càng tác động mạnh mẽ đến Việt Nam BĐKH thực sự đã làm cho các loại hình thiên tai mà đặc biệt là bão lũ, hạn hán ngày càng ác liệt [4]
Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP): Việt Nam nằm trong số 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất đối với BĐKH
và khi mực nước biển tăng 1m ở Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp (tương đương 5 triệu tấn thóc) và 10% GDP
Bảng 1.2 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua ở các
vùng khí hậu của Việt Nam
Vùng khí hậu
Nhiệt độ ( O C) Lượng mưa (%) Tháng
I
Tháng VII
Năm Thời kỳ
XI-IV
Thời kỳ V-X
Năm
Trang 4011 đến tháng 4, còn mùa nóng diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10 Tuy nhiên, các chỉ
số này thay đổi theo từng vùng miền, từng địa hình và theo cả địa hình cho nên mùa mưa với lũ lụt và mùa khô với hạn hán thường mang tính cực đoan và gây nhiều hậu quả nghiêm trọng Việt Nam nằm dọc theo đường di chuyển bão Tây - Bắc Thái Bình Dương và là một trong 10 nước trên thế giới được coi là dễ bị tổn thương nhất trước áp thấp nhiệt đới Trung bình mỗi năm có 6 - 7 trận bão hay áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến vùng bờ biển của Việt Nam, đặc biệt là miền Bắc và miền Trung Nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam cho thấy, từ năm 1900 đến năm 2000, nhiệt
độ trung bình tăng 0,10C một thập kỷ Mùa hè nóng hơn với nhiệt độ trung bình các tháng hè tăng từ 0,10C đến 0,30
C một thập kỷ Nếu so với năm 1990, nhiệt độ tăng trong khoảng từ 1,4 - 1,50C vào năm 2050 và từ 2,5 - 2,80C vào năm 2100 Điều này cho thấy xu thế tăng nhiệt độ cứ qua 10 năm lại lớn lên Mùa nóng sẽ khắc nghiệt,
và lượng mưa cùng với cường độ mưa sẽ tăng lên đáng kể ở các vùng miền Mùa khô sẽ càng sâu sắc và có nguy cơ biến các vùng dễ bị tổn thương như Nam Trung
Bộ thành bán hoang mạc Phần lớn diện tích vùng ven bờ của Việt Nam bị đe dọa ngập lụt hàng năm, trong đó có đồng bằng sông Cửu Long chiếm 75% tổng diện tích, và 10% diện tích của đồng bằng sông Hồng Ở một số khu vực như các tỉnh miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long, lũ xuất hiện với cường độ ngày càng tăng Các trận bão gần đây mà Việt Nam phải hứng chịu đã trở nên khốc liệt và quỹ