Phát huy được tiềm năng tự nhiên, nguồn vốn và sự năng động sáng tạo trong doanh nghiệp và ngư dân, ngành thủy sản đang góp phần hết sức quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh t
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ THUYẾT 5
1 LÝ THUYẾT CHUNG ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG 5
a Tỷ lệ tập trung hóa (CR) 5
b Chỉ số HHI (Hirschman – Herfindahl Index) 6
c Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) 7
d Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) 7
2 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THỦY SẢN 7
a Đánh bắt và khai thác thủy hải sản (3110) 8
b Nuôi trồng thủy sản (3210,3221,3222,3230) 9
CHƯƠNG 2: HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH 11
1 CÁCH XỬ LÝ SỐ LIỆU 11
2 MỨC ĐỘ TẬP TRUNG CỦA CÁC KHỐI NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI VIỆT NAM 11
a Cách tính các chỉ số HHI, CR4 11
b Kết quả tính toán và ý nghĩa các chỉ số đo mức độ tập trung của các khối ngành nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam (HHI và CR4) 12
3 RÀO CẢN GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG 12
a Số lượng doanh nghiệp tham gia vào ngành 12
b Rào cản về môi trường thiên nhiên 12
c Rào cản kỹ thuật- công nghệ 12
d Rào cản thương mại 12
4 CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH 12
a. Cách tính toán 12
b Kết quả tính toán các chỉ số 12
c Ý nghĩa 12
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 12
1 KẾT LUẬN VỀ HIỆU QUẢ NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 12
2 KHUYẾN NGHỊ 12
a Khuyến nghị về chính sách về thể chế 12
b Ưu tiên phát triển bền vững xuất khẩu thủy sản 12
c Áp dụng công nghệ vào ngành nuôi trồng thuỷ sản 12
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Ngành thủy sản đang từng bước trở thành một trong những ngành sản xuất hàng hoá chủ lực, phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng và đang hướng đến xây dựng các vùng sản xuất tập trung Các đối tượng có giá trị cao có khả năng xuất khẩu đã được tập trung đầu tư, khuyến khích phát triển, hiệu quả tốt Phát huy được tiềm năng tự nhiên, nguồn vốn và sự năng động sáng tạo trong doanh nghiệp và ngư dân, ngành thủy sản đang góp phần hết sức quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp cũng như thực hiện xoá đói giảm nghèo ở các vùng miền của đất nước
Bài tiểu luận nhóm của chúng em với đề tài : “Báo cáo về ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam” thông qua các chỉ số Hirschman - Herfindahl Index (HHI), tỷ lệ tập trung hóa (CR4), tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) để có cái nhìn tổng thể cũng như những nhận xét chi tiết về hiệu quả hoạt động của ngành nuôi trồng thủy sản Nhóm dựa trên phân tích của 2 nhóm ngành chính trong ngành nuôi trồng thủy sản là: Khai thác và đánh bắt thủy hải sản (3110), Nuôi trồng thủy sản (3210,3221,3222,3230) để đưa ra những kết luận cùng những kiến nghị nhằm phát triển ngành thủy sản trong nước để phục vụ tiêu dùng cũng như xuất khẩu ra nước ngoài
Bài tiểu luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Hoạt động hiệu quả của ngành
Chương 3: Kết luận và khuyến nghị
Dù nhóm đã cố gắng hết sức trong việc tìm hiểu về các ngành cũng như số liệu nhưng
do sự hạn chế về mặt số liệu, vẫn không thể tránh khỏi sự thiếu sót, nhóm em rất mong nhận được sự góp ý của cô để bài tiểu luận hoàn thiện hơn
Trang 31 LÝ THUYẾT CHUNG ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG
Tập trung thị trường(market concentration) (còn gọi là tập trung ngành -
industry concentration) là thuật ngữ dùng để đo lường vị trí tương đối của các doanh nghiệp lớn trong ngành Tập trung thị trường ám chỉ đến mức độ mà sự tập trung sản xuất vào một thị trường đặc biệt hay là sự tập trung sản xuất của ngành nằm trong tay một vài hãng lớn trong ngành
Một ngành có mức độ tập trung hóa cao tức là một ngành được chi phối bởi một số
ít hãng Khi nói trình độ tập trung hoá của một ngành tức là nói đến mức độ tập trung thị trường của ngành đó
Nói chung, mức độ tập trung thị trường biểu thị sức mạnh thị trường của những hãng lớn, nghĩa là ngành càng tập trung thì các hãng lớn càng có sức mạnh thị trường cao và ngược lại
Khả năng của một công ty hay một nhóm công ty trong việc tăng và duy trì giá bán sản phẩm trên mức giá cạnh tranh được gọi là sức mạnh đối với thị trường (market power) Việc sử dụng sức mạnh đối với thị trường làm giảm sản lượng và tổn thất phúc lợi xã hội
a Tỷ lệ tập trung hóa (CR)
Tỷ lệ tập trung hóa (CR m) là tỷ lệ sản lượng của m doanh nghiệp lớn nhất trong ngành, đôi khi có thể đo lường bằng doanh thu, số nhân công,… Chỉ số này thường được dùng để thể hiện sức mạnh thị trường của những doanh nghiệp có quy mô lớn nhất trong ngành Số lượng các doanh nghiệp thường thấy nhất là 4 hoặc 8, nhưng đôi khi m có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn
Công thức tính CR m:
CR m=∑
i=1
m
❑s i=s1+s2+s3+…+s m Trong đó:
● CR m : Tỷ lệ tập trung hóa
● s i : Thị phần của doanh nghiệp lớn thứ i trong ngành
● m: Số doanh nghiệp
Chỉ số CR m càng cao , mức độ tập trung sức mạnh thị trường càng cao, cạnh tranh càng ít đi
Ưu điểm:
Trang 4- Dễ tính toán, dễ hiểu và mang tính trực giác cao nên phù hợp để miêu tả mức độ tập trung của ngành một cách thực tế
Nhược điểm:
- Do m là một số tùy ý nên kết luận có độ chính xác không cao
- Công thức tính CRm function chỉ bao gồm m doanh nghiệp lớn nhất thay vì toàn bộ các doanh nghiệp trong ngành nên không phản ánh toàn bộ chi tiết về cạnh tranh trong ngành
Công thức:
Trong đó:
+ n: là tổng số doanh nghiệp
+ si : là thị phần của doanh nghiệp thứ i trong ngành
Chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) đánh giá sự tập trung của một công ty trên thị trường Chỉ số HHI (hoặc Chỉ số Herfindahl) được sử dụng để đo lường quy mô của doanh nghiệp trong mối tương quan với ngành và là một chỉ báo về mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành và thường được tính bằng tổng bình phương thị phần của các doanh nghiệp và có giá trị từ 0 đến 10.000
Khi tất cả các doanh nghiệp trong ngành đều có thị phần bằng nhau thì HHI = 1/N*10.000 Khi xem HHI là mục tiêu là để kiểm tra sự độc quyền mà một thị trường đang đạt được, điểm số càng cao, càng có nhiều khả năng sự độc quyền đang diễn ra
+ Khi một thị trường có điểm số từ 1, 000 trở xuống, Bộ Tư pháp coi nó là công bằng và cạnh tranh
+ Từ 1, 000 và 1, 800 là một thị trường vừa phải tập trung
+ Bất cứ điều gì lớn hơn 1, 800 được coi là rất tập trung và có thể nhận được sự chú ý của chính phủ
b Chỉ số HHI (Hirschman – Herfindahl Index)
Tỷ lệ tập trung hóa (Concentrate Ratio) là chỉ số được sử dụng nhiều khi đo lường tập trung hóa của ngành, nó được xác định bằng tỉ lệ sản lượng của n doanh nghiêp lớn trong ngành với n là một số tùy chọn Đôi khi, tỷ lệ tập trung còn đo lường bằng doanh thu, số nhân công,… Xu hướng hiện nay người ta thường đo lường bằng doanh thu của các doanh nghiệp có quy mô lớn
Công thức:
Trang 5Trong đó:
+ si : là thị phần của doanh nghiệp lớn thứ i trong ngành
+ n: số doanh nghiệp tùy chọn Hiện tại trong ứng dụng thường sử dụng chủ yếu n=4 Với n=4, ta có công thức CR4 : CR4 = S1+ S2+ S3+ S4
c Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
ROA – Return on Total Asset, chỉ tiêu ROA thể hiện tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả chỉ tiêu cho biết bình quân cứ một đồng tài sản được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Công thức:
ROA = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản x 100%
Vì lợi nhuận ròng chia cho doanh thu bằng tỷ suất lợi nhuận biên, còn doanh thu chia cho giá trị bình quân tổng tài sản bằng hệ số quay vòng của tổng tài sản, nên còn cách tính
tỷ số lợi nhuận trên tài sản nữa, đó là:
Tỷ số lợi nhuận trên tài sản = Tỷ suất lợi nhuận biên × Số vòng quay tổng tài sản
d Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS: Return On Sales) cho biết, một đồng doanh thu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ ra mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận Đây là 2 yếu tố có quan hệ rất mật thiết với nhau: Doanh thu chỉ ra vai trò, vị thế trên thị trường, còn lợi nhuận chỉ ra chất lượng và hiệu quả cuối cùng của DN 2 yếu tố này thể hiện vai trò và vị thế của DN Doanh thu thuần, lợi nhuận sau thuế, tỷ suất sinh lợi trên doanh thu càng lớn thì DN lại càng có vai trò và vị thế cao trên thị trường
Công thức: Hệ số ROS = Lợi nhuận sau thuế/Doanh thu thuần
Sở hữu đường bờ biển dài 3,260 km và khu đặc quyền kinh tế với diện tích 1 triệu
km vuông, Việt Nam là một đất nước đầy tiềm năng để phát triển ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản Việt Nam sở hữu nhiều chủng loại thủy sản đa dạng được phân bố dựa trên sự khác biệt về đặc điểm địa lý và về khí hậu:
- Khu vực miền Bắc với thế mạnh về các loại cá nước ngọt, chăn nuôi cá - lúa và
nuôi cá lồng trên biển
- Khu vực miền Trung tập trung vào nuôi thâm canh tôm sú và nuôi cá lồng trên
biển và tôm hùm
- Khu vực miền Nam sở hữu nhiều loại hình chăn nuôi đa dạng như nuôi ao,
hàng rào, nuôi lồng cho cá da trơn và nhiều chủng loại khác như cá lóc, cá rô đồng, tôm càng xanh được nuôi thâm canh tích hợp với các chủng loại khác như
Trang 6mô hình chăn nuôi kết hợp cá – lúa, tôm lúa và mô hình nuôi trồng thủy sản kết hợp với rừng ngập mặn
a Đánh bắt và khai thác thủy hải sản (3110)
● Khai thác thủy sản biển:
Với đường bờ biển dài trên 3.260 km, tài nguyên hải sản của vùng biển nước ta được đánh giá là rất phong phú và đa dạng, với hơn 2.000 loài sinh vật biển, đảm bảo trữ lượng khai thác hằng năm gần 2 triệu tấn
Theo thống kê, sản lượng đánh bắt hải sản ven bờ và xa bờ tăng bình quân 5%/năm với hàng triệu tấn hải sản và hàng triệu phương tiện đánh bắt các loại Tổng sản lượng thủy sản khai thác năm 2016 ước đạt 3,1 triệu tấn; 11 tháng năm 2017 đạt trên 3 triệu tấn Tính hết năm 2016, cả nước có gần 110.000 tàu cá, trong đó có trên 2.800 tàu dịch vụ hậu cần; trên 31.000 tàu khai thác có công suất từ 90CV trở lên
Tuy nhiên ngành khai thác thủy sản biển của Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn khi cơ
sở hạ tầng và phương tiện đầu tư cho khai thác chưa được dầu tư đúng mức Hiện nay, dù
có khá nhiều cảng cá trên cả nước, nhưng hầu hết các cảng cá đều thô sơ, chưa được nâng cấp và mở rộng; rất nhiều cảng chưa có khả năng tiếp nhận những tàu lớn Bên cạnh đó, hệ thống tàu khai thác còn lạc hậu, số lượng tàu vỏ thép cũng không nhiều
● Khai thác thủy sản nội địa
Việt Nam có khoảng 2.360 con sông, trong đó có 106 sông chính, từ 3 - 5 nghìn hồ chứa các loại, trên 700 loài và phân loài thuỷ sản, là nguồn nguyên liệu dồi dào cho các hoạt động khai thác thủy sản nội địa
Theo số liệu của Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản, bình quân các bãi đánh bắt khai thác thủy sản nội địa ước tính khai thác được khoảng 200.000 tấn mỗi năm Tuy nhiên,
Ủy hội Sông Mêkông lại ước tính bình quân sản lượng khai thác thủy sản nội địa ở các vùng đồng bằng châu thổ của Việt Nam có thể lên đến từ 300.000 đến 900.000 tấn/năm Điều này cho thấy, tiềm năng khai thác thuỷ sản ở Việt Nam còn rất lớn, nhưng hiện nay, sản lượng khai thác thủy sản nội địa lại đang có xu hướng giảm, nhất là ở trên các sông, hồ lớn Nếu như sản lượng khai thác nội địa năm 2001 đạt 243.000 tấn, thì đến năm 2012, con
số này chỉ còn 204.000 tấn
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sản lượng thuỷ sản khai thác nội địa có xu hướng ngày càng giảm, như: Sử dụng chất nổ, xung điện, ngư cụ đánh bắt không theo đúng quy định… Nhưng trong đó, nguyên nhân chủ yếu là do ô nhiễm nguồn nước, làm cho môi trường thuỷ
Trang 7sinh thay đổi Nhìn chung, hiện tượng ô nhiễm bắt nguồn từ việc sử dụng các hóa chất trong nông nghiệp và các dự án kiểm soát lũ làm mất môi trường sinh sản và sinh trưởng của các loài cá tại địa phương, cá di trú cũng như các loài thủy sinh khác Những mối đe dọa này đặc biệt nghiêm trọng đối với các hộ nghèo có sinh kế phụ thuộc vào hoạt động đánh bắt thủy sản
● Nuôi trồng thủy sản biển
Đối với lĩnh vực nuôi biển, Việt Nam có tiềm năng lớn về diện tích nuôi biển, với diện tích có khả năng sử dụng phát triển nuôi biển bao gồm các vùng vịnh kín, bãi triều ven biển, và một phần ở các hải đảo, vùng biển xa bờ Tổng diện tích tiềm năng nuôi biển ở nước ta khoảng 500.000 ha, trong đó diện tích nuôi vùng bãi triều ven biển 153.300 ha; diện tích nuôi vùng vũng vịnh, eo ngách và ven đảo là 79.790 ha và nuôi vùng biển xa bờ 100.000 ha, diện tích còn lại phục vụ nuôi khác
Trong thời gian qua, nghề nuôi biển đã phát triển rộng rãi trên nhiều vùng của đất nước Tuy nhiên, nghề nuôi biển Việt Nam mới ở trình độ thấp, chủ yếu ở vùng ven bờ và
đã bộc lộ một số bất cập như: Chưa tuân thủ theo quy hoạch; còn rất manh mún, nhỏ lẻ; cơ
sở hạ tầng, việc cung cấp con giống, thức ăn, công nghệ nuôi nhiều hạn chế; chưa hình thành được các chuỗi giá trị, chưa có thị trường ổn định; phải đối mặt với không ít những rủi ro về thiên tai, môi trường và dịch bệnh,… dẫn đến phát triển thiếu bền vững
● Nuôi trồng thủy sản nội địa (nước lợ, nước ngọt)
Theo số liệu của Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Việt Nam có khoảng 2.360 con sông, trong đó có 106 sông chính, từ 3 - 5 nghìn hồ chứa các loại, trên 700 loài và phân loài thuỷ sản, cho thấy đây là tiềm năng nguồn lợi thủy sinh nội địa rất phong phú và đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành nuôi trồng thủy sản phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu phát triển
Các sản phẩm nuôi trồng thủy sản chủ yếu là sản phẩm nước ngọt đóng vai trò chi phối và chiếm khoảng 65 - 70% tổng sản lượng toàn ngành, đặc biệt là cá da trơn nuôi trên sông, nhưng hoạt động nuôi trồng thủy sản nước mặn và nước lợ mới đem lại giá trị xuất khẩu chủ yếu (và phần lớn nguồn thu này xuất phát từ khu vực đồng bằng sông Cửu Long) Tuy sản lượng bình quân có tăng trong những năm gần đây nhưng năng suất nuôi bình quân
có xu hướng giảm Điều này được lý giải là tình hình dịch bệnh của thuỷ sản nuôi trồng diễn biến phức tạp Nguyên nhân chủ yếu được cho là do ô nhiễm nguồn nước từ các hoạt động nuôi trồng thủy sản và chế biến thủy sản, cũng như nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt chưa được xử lý đúng mức
Trang 8Ngoài ra, các mối lo ngại về môi trường liên quan đến phát triển nuôi trồng thủy sản
ở Việt Nam như: Ô nhiễm nước cục bộ do nồng độ các chất trong nguồn nước ngọt và các trại nuôi cá lồng trên biển, chưa chú ý đến sức tải của dòng chảy; các nguy cơ mắc bệnh và tác động đến đa dạng sinh học thủy sinh khi nhập các loài ngoại lai mới cho ngành thủy sản; tình trạng mất nhiều vùng rừng ngập mặn và đất ngập nước do chuyển đổi các vùng ven biển và cửa sông thành trại nuôi tôm; các ổ dịch ở các loài thủy sản, xâm nhập mặn do các yếu kém trong quy hoạch và quản lý nuôi tôm ở các vùng đất cát và đất nông nghiệp;
xu hướng tăng đáng kể tỷ lệ cá tạp sử dụng trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt và ở biển…
● Sản xuất giống thủy sản
Nguồn con giống trong hoạt động của ngành thủy sản đóng vai trò rất quan trọng,
nó là khâu đầu tiên trong chuỗi giá trị của ngành thủy sản, nên có khả năng sẽ ảnh hưởng đến tất cả các khâu còn lại của chuỗi sản xuất Nhưng hiện chất lượng nguồn con giống thủy sản ở Việt Nam khá thấp
Đối với cá tra, tỉ lệ cá tra bột lên cá hương chỉ khoảng 20-35%, chất lượng cá bố mẹ thấp, chưa được chọn lọc, tiêu chuẩn hóa nên có hiện tượng thoái hóa giống Hiện nguồn cá tra giống chủ yếu được thu mua từ các hộ nuôi với chất lượng không đảm bảo do trình độ
kỹ thuật của các hộ nông dân còn nhiều hạn chế
Đối với tôm, chất lượng nguồn tôm giống đang là vấn đề đáng báo động Hiện lượng tôm giống đã qua kiểm dịch chưa cao, tôm bố mẹ gần như phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác tự nhiên nên chất lượng không đồng đều Việc quản lý nhà nước về tôm giống còn nhiều bất cập ngay từ khâu nhập khẩu tôm bố mẹ
Ngành sản xuất giống thủy sản ở Việt Nam cho đến hiện nay vẫn còn hạn chế trong việc thu hút được sự đầu tư từ những doanh nghiệp tư nhân, thay vào đó, hầu hết các trung tâm, viện nghiên cứu sản xuất giống thủy sản là thuộc quyền sở hữu và quản lí của Nhà nước cùng các cơ quan địa phương
Trang 9CHƯƠNG 2: HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH
Sử dụng stata 14 để lọc bộ số liệu được cho ta được:
Đế xử lý bộ số liệu năm 2010 và tính toán các chỉ số đo lường mức dộ tập trung của ngành bán buôn nhiên liệu rắn, lỏng, khí và các sản phẩm liên quan ta làm các bước sau:
- Bước 1: Tạo 1 file excel bao gồm 2 sheet nhỏ đề tên để tính toán các chỉ số từng nhóm
- Bước 2: Sử dụng Stata mở bộ số liệu năm 2010 – chọn file so_lieu_thuc_hanh.dta
- Bước 3: Sử dụng các lệnh
keep if nganh_kd==3210|nganh_kd==3221|nganh_kd==3110|nganh_kd==3230 //lọc các mã ngành kinh doanh
tab nganh_kd // cho biết số doanh nghiệp trong mỗi ngành
keep nganh_kd ts12 kqkd1 kqkd4 kqkd19 //dữ lại các biến cần thiết để tính toán rename ts12 tongts // đổi tên biến
rename kqkd1 doanhthu
rename kqkd4 doanhthuthuan
rename kqkd19 loinhuansauthue
gen doanhthu2=doanhthu^2 // tạo biến mới
- Bước 4: Sử dụng lệnh “keep if” để lọc mã ngành của ngành định tính
- + sử dụng lệnh “keep if nganh_kd == 3110”
+ copy dữ liệu thu được sang sheet1 của excel
- + sử dụng lệnh “keep if nganh_kd==3210| nganh_kd==3221| nganh_kd==3230| nganh_kd==3222”
+ copy dữ liệu thu được sang sheet2 của excel
SẢN TẠI VIỆT NAM
Đối với từng sheet:
Bước 1: Dùng lệnh SUM để tính tổng của cột tongts, doanhthu, doanhthuthuan, doanhthu2
Bước 2: Dùng lệnh “sort by-> nganh_kd-> largest to smallest
Bước 3: tính CR4= tổng 4 dn có doanhthu lớn nhất/tổng doanhthu
Bước 4: tính HHI= tổng doanhthu2/tổng doanhthu^2
Trang 10b Kết quả tính toán và ý nghĩa các chỉ số đo mức độ tập trung của các khối ngành
nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam (HHI và CR4)
Theo như bảng số liệu được cung cấp năm 2010 và công thức tính toán ta được bảng kết quả sau:
NHÓM
NGÀNH
MÃ NGÀNH
TÊN NHÓM
SỐ DOANH NGHIỆP
1 3110 Đánh bắt và khai
thác thủy hải sản 0,329681 47,773391 36
2
3210
Nuôi trồng và
sản xuất thủy hải sản
0.626433 171,64766
4
36
Bảng 1: Kết quả tính chỉ số HHI và CR4 của ba nhóm ngành
*trong 17 DN này có 3 DN dữ liệu bị missing nên bị loại trong quá trình tính toán các chỉ số
**trong 14 DN này có 1 DN dữ liệu bị missing nên bị loại trong quá trình tính toán các chỉ số
Nhận xét: nhìn vào bảng kết quả ta có thế thấy chỉ số CR4 ở mức khá cao ở nhóm ngành Nuôi trồng thủy sản và Sản xuất giống thủy sản (CR4 có biên độ giao động từ 0 đến 1) cho thấy mức độ tập trung cao hơn ở nhóm ngành này Trong khi đó chỉ số HHI lại ở cao( > 100) ( HHI có biên độ giao động trong khoảng từ 0 đến 10000) cho thấy mức độ tập của các doanh nghiệp sản xuất và nuôi trồng thủy sản là công bằng và cạnh tranh
Với nhóm ngành khai thác và đánh bắt thủy hải sản:
Chỉ số CR4: chỉ số CR4 là 0,329681 ở mức khá cao cho thấy mức độ tập trung cao và sức mạnh độc quyền của các doanh nghiệp lớn Doanh nghiệp chiếm thị phần lớn nhất là doanh nghiệp có mã DN là madn 770432 chiếm 11,031896% thị trường, doanh nghiệp chiếm thị phần thứ 2 là doanh nghiệp có mã DN là madn 772125 chiếm 10,136933% các doanh nghiệp chiếm thị phần thứ 3, 4 chiếm tới 6,6970503% và 5,1022519% trong khi tất cả các doanh nghiệp còn lại chỉ chiếm 33,528917% và có một số doanh nghiệp không chiếm được thị phần hoặc có thị phần không đáng kể trên thị trường là các doanh nghiệp có
mã dn 770547, 770538, 770545
Ta có biểu đồ sau: