1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tổ chức ngành báo cáo tình hình cạnh tranh ngành sản xuất và chế biến các sản phẩm từ sữa ở việt nam

32 76 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 230,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo lý luận đó, hiệu suất công nghiệp trong đó có thể được coi là những lợiích tiềm năng cho người tiêu dùng và xã hội như một toàn thể được xác định bởihành vi của các công ty trong ra

Trang 1

MỤC LỤC

A LỜI MỞ ĐẦU 3

B NỘI DUNG 6

I KHUNG PHÂN TÍCH SCP VÀ ỨNG DỤNG 6

1 Khái quát về khung phân tích SCP 6

2 Áp dụng mô hình SCP vào phân tích ngành sữa ở Việt Nam và sự biến động về giá sữa trên thị trường 7

II CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG NGÀNH SỮA Ở VIỆT NAM 8

1 Tổng quan về ngành 8

2 Cấu trúc sản phẩm trong ngành 10

3 Cấu trúc thị trường ngành sữa 12

4 Các rào cản gia nhập ngành 14

5 Liên kết dọc trong ngành sữa 16

III HÀNH VI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH 17

1 Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) 17

2 Các chiến lược quảng cáo và marketing của các doanh nghiệp sữa 19

3 Chiến lược định giá của doanh nghiệp 21

4 Các chính sách của chính phủ 23

IV TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG SỮA VÀ SỰ BIẾN ĐỘNG GIÁ NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 24 1 Tình hình thị trường sữa Việt Nam 24

2 Tình hình, diễn biến về giá sữa trong những năm gần đây 26

V.MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ GIẢI PHÁP 28

1 Giải pháp quản lý ổn định giá sữa 29

2 Chiến lược phát triển ngành sữa 30

C KẾT LUẬN 32

Trang 2

A LỜI MỞ ĐẦU

Sữa là thực phẩm quan trọng và thiết yếu đối với mọi người dân Chi tiêu chosữa chiếm hơn 10% trong tổng chi tiêu cho thực phẩm tại Việt Nam GDP bình quânđầu người tăng trưởng ổn định là yếu tố quan trọng thúc đẩy tiêu thụ sữa

Tuy nhiên, sản xuất sữa trong nước tại Việt Nam không thể bắt kịp với nhu cầugia tăng trong nước Từ năm 2001 – 2014, sản xuất sữa trong nước tăng trưởng26,6%/năm, đạt 456.400 tấn năm 2013, chỉ đủ đáp ứng 28% nhu cầu trong nước vàđạt 549.500 tấn vào năm 2014 Hai mảng chính dẫn dắt sự tăng trưởng của toànngành sữa trong nước và cũng là 2 mặt hàng quan trọng nhất là sữa nước và sữa bột.Riêng tổng giá trị trường của 2 mảng này đã chiếm gần 3/4 giá trị thị trường, trong

đó, giá trị sữa bột chiếm 45% và sữa nước 30% Năm 2015 cũng ghi nhận mức sảnlượng sản xuất sữa các loại này cao nhất từ trước đến nay

Thị phần sữa bột phần lớn do các doanh nghiệp nước ngoài như Abbott,Friesland Campina Vietnam và Mead Johnson nắm giữ do người tiêu dùng ViệtNam vẫn sẵn sàng trả giá cao cho thương hiệu sữa ngoại Trong khi đó, đối với mặthàng sữa nước, ngoài Vinamilk chiếm trên 50% thị phần, còn có sự góp mặt củanhiều doanh nghiệp khác như TH Milk, Nutifood, IDP, Hanoi Milk…

Tính chung giai đoạn 2010-2015, sản lượng sản xuất sữa tươi tăng trung bình16%/năm, từ mức 520,6 triệu lít năm 2010 lên 1.093 triệu lít năm 2015; Sữa bột cólượng sản xuất đã trở lại đà tăng sau năm 2014 bị giảm, đạt 97,3 nghìn tấn, tăng19,5% so với năm 2013, sản lượng sản xuất sữa bột tăng trung bình 10,5%/năm, từmức 58,9 ngàn tấn năm 2010 lên mức 97,1 ngàn tấn năm 2015 Theo Tổng CụcThống kê, năm 2015 ngành sữa Việt Nam đã ghi nhận mức sản lượng sản xuất sữacác loại cao nhất từ trước đến nay Trong đó, chủ yếu tập trung vào những tên tuổinhư: Vinamilk, Công ty CP Thực phẩm Sữa TH, Công ty CP Thực phẩm Dinhdưỡng Đồng Tâm 3A (Nutifood), Công ty CP Sữa quốc tế IDP, Công ty TNHH

Trang 3

Dinh dưỡng 3A, Công ty CP Sữa Hà Nội… Năm 2016, sản lượng và mức tiêu thụcác sản phẩm sữa tiếp tục khởi sắc.

Doanh thu ngành sữa tại các thành phố không tăng trưởng hoặc liên tục tăngtrưởng âm, trong khi đó tiêu thụ sữa tại nông thôn liên tục tăng trưởng ở mức haichữ số Tuy nhiên trong quý 1/2018, tổng mức chi tiêu cho sản phẩm sữa toàn thịtrường chỉ đạt mức thấp dưới 5% Đặc biệt là khu vực thành phố tăng trưởng âmtrong quý do nhu cầu về sữa bột trẻ em vẫn chưa có dầu hiệu hồi phục

Sản lượng ngành sữa của Việt Nam được dự báo sẽ tăng khoảng 10% trongnăm 2017 và 2018 Tuy nhiên, sản xuất sữa nguyên liệu mới chỉ đáp ứng được 39-40% nhu cầu ngành sữa trong nước, còn lại phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu Doanh

số tiêu thụ sữa Việt Nam tăng trưởng mạnh từ 42,000 tỷ đồng năm 2010, và có mứctăng trưởng kép hàng năm là 11.7% trong giai đoạn 2010-2017 Doanh số tiêu thụsữa bột năm 2017 tăng 14.4% so với năm 2016 Theo VDA, doanh số tiêu thụ sữabột sẽ tiếp tục tăng trưởng khá trong giai đoạn 2017-2020 Thị trường sữa nước ViệtNam có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm đạt 22.4% trong giai đoạn 2010 – 2017.Tính đến 3 tháng đầu năm 2018, doanh số tiêu thụ sữa nước tăng 10.8% so với cùng

kỳ năm 2017 Doanh số tiêu thụ sữa chua 3 tháng đầu năm 2018 tăng 10.7% so vớicùng kỳ năm trước

Việt Nam vốn không có ngành chăn nuôi trâu bò sữa truyền thống nên không

có các giống trâu bò sữa chuyên dụng đặc thù nào Chăn nuôi bò sữa xuất hiện ởViệt Nam từ những năm đầu của thế kỷ XX Trải qua những năm tháng khó khăncủa đất nước, ngành chăn nuôi bò sữa đã đóng góp đáng kể trong việc đảm bảo nhucầu lương thực thực phẩm cho sự phát triển của đất nước Tuy nhiên ngành chănnuôi bò sữa mới chỉ thực sự trở thành ngành sản xuất hàng hóa từ những năm 1990trở lại đây Từ năm 1986 Việt Nam bắt đầu phong trào Đổi mới và chỉ sau 3 năm từmột nước thiếu lương thực Việt Nam đã có lương thực xuất khẩu Kinh tế phát triển

đã tạo ra nhu cầu dùng sữa ngày càng tăng Do vậy, đàn bò sữa ở TP HCM, các tỉnh

Trang 4

phụ cận như Bình Dương, Đồng Nai, Long An, ngoại thành Hà Nội và các tỉnh phụcận cũng tăng nhanh về số lượng Từ năm 1986 đến 1999 đàn bò sữa tăng trưởngtrung bình 11%/năm Phong trào chăn nuôi bò sữa tư nhân đã hình thành.

Bài nghiên cứu về ngành sản xuất và chế biến các sản phẩm từ sữa của ViệtNam nhằm phác họa bức tranh tổng quan về ngành sữa ở Việt Nam Cụ thể, bàinghiên cứu của nhóm sẽ áp dụng khung phân tích SCP để chỉ rõ hành vi cấu kết độcquyền nhóm của các Doanh nghiệp và kết quả từ việc độc quyền nhóm mang lại dựatrên 3 khía cạnh: giá, chất lượng sản phẩm và sự đa dạng hóa, từ đó xác định đượcmức độ cạnh tranh trên thị trường Nhóm cũng xin đề xuất một số giải pháp để bình

ổn giá các sản phẩm sữa để giúp người tiêu dùng có thể tiếp cận được những sảnphẩm chất lượng với giá cả phù hợp

Trang 5

B NỘI DUNG

I KHUNG PHÂN TÍCH SCP VÀ ỨNG DỤNG

Khái quát về khung phân tích SCP

Khung phân tích SCP hay còn được gọi là mô hình cấu trúc, hành vi và hiệusuất (SCP) được sử dụng như một khuôn khổ phân tích, làm rõ các mối quan hệ giữacấu trúc thị trường, các hành vi của các tác nhân trong thị trường và hiệu suất Nóđược phát triển vào năm 1959 bởi Joe S Bain Jr., người đã mô tả nó trong cuốn sách

" Industrial Organization " Các mô hình SCP được coi là một cơ sở quan trọng của

lý thuyết tổ chức công nghiệp, và nó cũng là một điểm khởi đầu khi phân tích thịtrường và các ngành công nghiệp, không chỉ về kinh tế, mà còn trong lĩnh vực quảntrị kinh doanh

Theo lý luận đó, hiệu suất công nghiệp (trong đó có thể được coi là những lợiích tiềm năng cho người tiêu dùng và xã hội như một toàn thể) được xác định bởihành vi của các công ty trong ranh giới của ngành công nghiệp này, đến lượt nó phụthuộc vào cấu trúc của các trên thị trường

Elements of the Paradigm

Trang 6

Cấu trúc: tập hợp các yếu tố tương đối ổn định theo thời gian và ảnh hưởng

đến hành vi của người bán hoặc người mua Bởi thực tế thị trường không tuân theocác quy luật, điều kiện của thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nên về cơ bản nó phụthuộc ở mức độ: cung cấp tập trung, nhu cầu tập trung, sự khác biệt của sản phẩm vàcác rào cản lối vào của thị trường Ngoài ra, cấu trúc của thị trường luôn luôn đượcxác định bởi bản chất của các sản phẩm và công nghệ có sẵn

Hành vi: cách thức mà trong đó người mua và người bán hành xử, giữa chính

mình, và đối với các tác nhân khác Các công ty lựa chọn hành vi chiến lược riêngcủa họ, đầu tư vào nghiên cứu, phát triển, quảng cáo cấp,

Hiệu suất: được đo bằng cách so sánh các kết quả của các công ty cùng ngành

về hiệu quả, và tỷ lệ khác nhau được sử dụng để đánh giá mức độ lợi nhuận khácnhau Các biến được xem xét ở đây là số lượng, chất lượng sản phẩm, phân bổnguồn lực, hiệu quả sản xuất, … Các biến số này được sử dụng để đo mức độ hiệuquả là lợi nhuận hoặc mức độ chênh lệch giữa giá và chi phí biên

Một cách tổng quát về khung phân tích SCP của Mason và Bain đó là cấu trúcthị trường sẽ quyết định hành vi của doanh nghiệp, các hành vi lại là yếu tố quyếtđịnh đến hiệu quả của việc ra lựa chọn

1 Áp dụng mô hình SCP vào phân tích ngành sữa ở Việt Nam và sự biến động về giá sữa trên thị trường

Ngành sữa ở Việt Nam hiện có sự tham gia của rất nhiều các hãng trong vàngoài nước như Vinamilk, Friesland Campina Việt Nam, TH True Milk, MeadJohnson, Abbot, Nestle….với mức độ chênh lệch tương đối nhiều về thị phần cũngnhư sự đa dạng về sản phẩm Dựa trên khung lý thuyết SCP, nhóm sẽ đi vào phântích cấu trúc thị trường của ngành và thu thập dữ liệu để tính mức độ tập trung thịtrường, xác định xem kiểu thị trường của ngành sữa ở Việt Nam là gì Sau đó sẽ tiếpcận môi trường ngành dưới góc độ các hành vi của doanh nghiệp để nhận định đượcđặc điểm như kiểu cạnh tranh trong ngành, có sự cấu kết hay không, chính sách về

Trang 7

giá và đánh giá các hành vi ấy có phù hợp với kiểu cạnh tranh đã xác định ở trướchay không Cuối cùng, đưa ra các số liệu về giá cả và chất lượng sản phẩm và kháiquát về sự phát triển của ngành trong những năm qua để thấy được hiệu quả của môitrường cạnh tranh đó như thế nào Từ đó đưa ra các nhận định, đánh giá về thịtrường cũng như một số các chính sách khuyến nghị để phát triển ngành, tạo môitrường lành mạnh trong cạnh tranh và quan trọng nhất là bình ổn về giá sữa trên thịtrường.

II CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG NGÀNH SỮA Ở VIỆT NAM

1 Tổng quan về ngành

Sản xuất và chế biến các sản phẩm từ sữa là một trong những ngành có tốc độtăng trưởng rất nhanh ở Việt Nam Bắt đầu xuất hiện từ những năm 1990 tại ViệtNam, nhu cầu các sản phẩm về sữa tăng mạnh, kéo theo sự gia tăng các nhà sảnxuất, chế biến và giá trị của toàn bộ ngành hàng Nếu như những năm 1990 chỉ có 1,

2 doanh nghiệp sản xuất sữa thì tới nay đã có tới hơn 70 doanh nghiệp sản xuất vàchế biến các sản phẩm từ sữa ở Việt Nam Dưới góc độ về tiêu dùng trong nước,Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có nhu cầu về sữa lớn nhất trên thế giới vớicác tiền đề kinh tế xã hội ổn định, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm tăng từ 6-8%,tốc độ tăng dân số bình quân khoảng 1%/năm

Việc tiêu dùng các sản phẩm từ sữa tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn là

Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với 10% dân số tiêu dùng tới 90% các sản phẩm

từ sữa (số liệu năm 2017, Somers) Lượng cầu các sản phẩm về sữa tăng nhanh tới1333,4 triệu lít năm 2017 đối với sữa tươi và 127,4 nghìn tấn đối với sữa bột Năm

2018, sản lượng tiêu thụ tại Việt Nam đạt mức 26 lít/ người/ năm Ước tính sảnlượng tiêu thụ sữa của Việt Nam sẽ đạt trên 2,5 triệu lít vào năm 2020

Sữa là mặt hàng còn nhiều cơ hội tăng trưởng trong ngành hàng tiêu dùngnhanh, do thu nhập của người dân ngày một tăng, kèm theo đó là nhu cầu tiêu dùngsữa tăng cả ở thành thị lẫn nông thôn

Trang 8

Từ 2018, các thương hiệu sữa của Việt Nam sẽ bị cạnh tranh gay gắt về giá vớicác đối thủ ngoại ngay trên chính sân nhà Khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực, thuếnhập khẩu sản phẩm sữa từ New Zealand, Singapore, Nhật Bản sẽ cắt giảm xuốngcòn 0% khiến các dòng sản phẩm này tăng khả năng cạnh tranh về giá.

Một vấn đề lớn khác là người tiêu dùng đang ngày càng quan tâm hơn tới sứckhỏe bản thân, gia tăng nhận thức về các sản phẩm dinh dưỡng Điều này dẫn tớinhu cầu sử dụng các sản phẩm sữa chua, sữa nước cao cấp (organic, sữa A2) và cácloại sữa thay thế từ thực vật (sữa óc chó, sữa đậu nành, sữa macca) ngày càng giatăng Ngược lại, nhu cầu tiêu thụ sữa hoàn nguyên lại giảm

Trang 9

Trong nhiều năm qua, ngành sữa ViệtNam luôn đạt tốc độ tăng trưởng tốt Theobáo cáo của Công ty Cổ phần Nghiên cứuNgành và Tư vấn Việt Nam (VIRAC), tronggiai đoạn 2010-2016, doanh thu tiêu thụ sữaViệt Nam mức tăng trưởng kép hàng năm là11.7%.

Chỉ tính riêng 3 tháng đầu năm 2017,doanh số tiêu thụ sữa đạt khoảng 18.7 nghìn

tỷ đồng, tăng 13.9% so với cùng kỳ năm

2016 Bởi vậy, đây được coi là giai đoạnhoàng kim của ngành sữa Việt Nam, tạo cơhội cho những ngành phụ trợ liên quan baogồm cả ngành đóng gói, bao bì

Tổng doanh thu toàn ngành năm 2017 ước đạt 102,000 tỷ đồng, mức cao kỷlục trong ngành Trong đó, riêng Vinamilk, doanh nghiệp lớn nhất ngành sữa đạt51,000 tỷ đồng, tăng 19.7% so với năm 2016, đóng góp gần 50% tổng doanh thutoàn ngành trong năm

- Chế biến các đồ uống giải khát từ sữa;

- Sản xuất kem từ sữa tươi, sữa đã tiệt trùng,diệt khuẩn, đồng hoá;

Trang 10

- Sản xuất sữa làm khô hoặc sữa đặc có đường hoặc không đường;

- Sản xuất sữa hoặc kem dạng rắn;

- Sản xuất bơ;

- Sản xuất pho mát hoặc sữa đông;

- Sản xuất sữa chua lỏng;

- Sản xuất casein hoặc lactose;

- Sản xuất kem và các sản phẩm đá ăn được khác như kem trái cây

Theo số liệu của CTCP Nghiên cứu Ngành và Tư vấn Việt Nam (VIRAC), thịtrường sữa nước Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm đạt 22.4% trong giaiđoạn 2010 – 2017, tăng từ 10.7 nghìn tỷ đồng trong năm 2010 lên hơn 44.2 nghìn tỷđồng vào năm 2017 Tính đến 6 tháng đầu năm 2018, doanh thu tiêu thụ sữa nướcđạt 24.6 nghìn tỷ đồng, tăng 11.3% so với cùng kỳ năm 2017

Nguồn: Vinamilk, EMI, StoxPlus

Trang 11

Theo thống kê trong năm 2017, ngành sữa Việt Nam có thị phần cao nhất ởngành sữa bột chiếm 43%, sữa bột chủ yếu là sữa công thức dành cho trẻ sơ sinh vàtrẻ nhỏ Tiếp theo là sữa nước chiếm 32% và sữa chua, sữa đặc và sữa đậu nànhchiếm thị phần còn lại là 25%

3 Cấu trúc thị trường ngành sữa

Hiện nay có hơn 70 doanh nghiệp sản xuất và chế biến các sản phẩm từ sữa tạiViệt Nam, trong đó năm 2017, phần lớn thị phần nằm trong tay của các “ông lớn”Vinamilk, Friesland Campina (với các nhãn hiệu như Dutch Lady hay Friso…) và

TH True Milk với tổng thị phần chiếm tới 82%, phần còn lại chủ yếu nằm trong taycác doanh nghiệp vừa và nhỏ khác như Neslte, Hanoi Milk, Mead Johnson, Abbot,Mộc Châu…

Bảng 3.1 - Một số doanh nghiệp lớn trên thị trường sữa Việt Nam

Tên công

ty

Các thương hiệu trên thị trường

Vinamilk Sữa tươi Vinamilk, sữa bột Dielac, sữa đặc Ông Thọ,

Vfresh, sữa đậu Goldsoy, phô mai Con Bò Cười…

Các thương hiệu sữa bột Neslte, sữa tươi Nestle, sữa bột

ăn dặm Nestle, Milo, Nutren

Hanoi

Milk

Sữa tươi Hanoimilk, sữa chua Izzy, sữa chua lỏng Yoha

Trang 12

Johnson

Enfa Grow, Enfa Lac, Enfa Mama, Enfamil

Fonterra Sữa Anlene, Similac, Anmum…

Nguồn: Vinamilk, EMI, StoxPlus

Trong các ngành sữa Việt Nam, Vinamilk chiếm thị phần cao nhất, lên đến58%, tiếp theo là Fresland Campania với 21% và TH True Milk chiếm 13% thịphần, còn lại thị phần là của các hãng khác

Năm 2018, có thể nhận thấy độ phổ biến của hai sản phẩm Milo và Ovaltinethuộc 2 nhãn hiệu sữa có tiếng trên thị trường Việt Nam, khi hai hãng này đưa rachiến dịch truyền thông có tính chất trái ngược nhau Vào tháng 6, Nestle đã đưa rachiến dịch quảng cáo cho Milo “Nhà vô địch làm từ Milo” nhằm cổ vũ tinh thần thểthao lành mạnh Và chỉ 3 tháng sau FrieslandCampina cho ra mắt thông điệp “Chẳng

Trang 13

cần vô địch, chỉ cần con thích” mang tính đả kích với hình ảnh của Milo Điều thú vị

đó là 2 doanh nghiệp lớn này còn treo pano quảng cáo đối diện nhau trên 1 con phốtấp nập tại quận 3 thành phố Hồ Chí Minh khiến người xem vô cùng thích thú về sựđối lập của nó Nhưng câu chuyện không dừng lại ở đó, khi người dùng mạng xã hộitiếp tục xôn xao về việc FrieslandCampina truyền thông đánh vào tâm lý phụ huynhkhi đưa ra loạt hình ảnh so sánh con em mình khi chật vật giành chức vô địch và khivui chơi với điều mình thích Ngay sau đó, Nestle Việt Nam đã tố đại diện củaOvaltine về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm bản quyền tác giả

Chỉ vài ngày sau đó, Milo lại khiến cho dân tình băn khoăn khi gỡ bỏ tấm pano

“Nhà vô địch” xuống và thay vào đó bằng thông điệp “Mẹ biết con thích Milo”, dấylên một câu hỏi liệu Nestle có đang vận dụng lại chiến lược của FrieslandCampina

Nhìn nhận về chiến dịch quảng cáo “không đội trời chung” này, có thể nhậnthấy cả Milo và Ovaltine đang có được sự quan tâm rất lớn của dư luận trên thịtrường Chiến dịch của hãng dù nhằm vào đối phương nhưng đã gây được tiếngvang lớn Cũng qua đó, dường như hai hãng sữa lớn này đang có những bước đimạnh dạn để “hâm nóng” lại thị trường sữa trong những năm vừa qua khi thị trườngsữa đang bão hòa nhanh chóng

4 Các rào cản gia nhập ngành

4.1 Rào cản về kỹ thuật

+Công đoạn quản trị chất lượng nguyên liệu đầu vào và đầu ra là hết sức quantrọng vì nó ảnh hưởng đến chất lượng người tiêu dùng

+Trong khi sản xuất, việc pha chế các sản phẩm từ sữa cũng phức tạp vì các tỉ

lệ vitamin, chất dinh dưỡng được pha trộn theo hàm lượng

+Khi sữa thành phần đã xong, các doanh nghiệp sữa phải sử dụng vỏ hộp đạttiêu chuẩn để dễ dàng vận chuyển và bảo quản

Trang 14

4.2 Rào cản về vốn

Một dây chuyền sản xuất sữa có giá trị trung bình khoảng vài chục tỷ, đó làmột khoản đầu tư không nhỏ, chưa tính đến các chi phí xây dựng nhà máy, chi phínhân công, chi phí nguyên liệu Khi các doanh nghiệp lớn trên thị trường đã thâutóm gần như toàn bộ các trang trại nuôi bò sữa thì việc một doanh nghiệp mới thamgia vào thị trường sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu

đủ lớn và ổn định Nếu chấp nhận nhập khẩu nguyên liệu, giá thành đội lên khiếndoanh nghiệp cần có nguồn vốn đủ lớn để hoặc là xây dựng trang trại riêng chomình, hoặc nhập khẩu từ nước ngoài Chưa kể đến các chi phí bán hàng, tiếp thịquảng cáo sản phẩm…

4.3 Tính kinh tế theo quy mô

Các doanh nghiệp sữa lớn đạt được tính kinh tế theo quy mô do tự chủ hơn về

nguồn nguyên liệu đầu vào, hạn chế nhập khẩu nguyên liệu, đồng thời với mức chiphí cố định ban đầu bỏ ra thì càng những đơn vị sữa về sau, chi phí càng hạ vàdoanh nghiệp đạt được tính kinh tế theo quy mô, khiến giá thành sản phẩm của họ

có tính cạnh tranh trên thị trường tương đương các sản phẩm khác, mặc dù trong giá

đã bao gồm cả các chi phí liên quan đến các hoạt động quảng cáo, đầu tư trang thiết

bị máy móc công nghệ

4.4 Rào cản liên quan đến các kênh phân phối

Muốn hàng hóa đến tay người tiêu dùng buộc phải thông qua các kênh phânphối Hiện tại các kênh phân phối lớn và chủ yếu là các siêu thị lớn như Big C, CoopMart, VinMart…, các cửa hàng tiện ích, các đại lý lớn và nhỏ, các cửa hàng bán lẻbình dân Hầu hết các kênh phân phối lớn đều có sự liên kết và phong tỏa của cácdoanh nghiệp sữa lớn như Vinamilk, TH Truemilk, Nestle, Dutch Lady…và hiếm cócác sản phẩm của các công ty nhỏ như các sản phẩm sữa Izzy, Ba Vì, Mộc Châu…Ngoài lý do về sự thỏa thuận chặt chẽ trong phân phối các sản phẩm sữa giữa nhàphân phối với các công ty sữa lớn thì một cản trở khiến các doanh nghiệp nhỏ hơnchỉ có thể phân phối thông qua các kênh nhỏ lẻ, đó là muốn tiến vào kệ hàng của các

Trang 15

siêu thị, đại lý lớn buộc doanh nghiệp phải chấp nhận lép vế, chịu bán hạ giá sảnphẩm của mình hoặc chịu trách nhiệm về doanh số bán hàng….khiến lợi nhuận bịgiảm đáng kể.

4.5 Rào cản về thói quen của người tiêu dùng

Người tiêu dùng không sẵn sàng chuyển đổi thói quen sử dụng sản phẩm củamình đối với các mặt hàng mới tham gia vào thị trường, chưa có uy tín và sự kiểmđịnh về chất lượng Sự trung thành đối với các sản phẩm trước đó đã tồn tại trên thịtrường là một trong những rào cản lớn nhất khiến doanh nghiệp e ngại trong giaiđoạn đầu thâm nhập vào thị trường bán hàng

4.6 Các rào cản khác

Một số các rào cản khác như rào cản về chi phí chuyển đổi, các rào cản khimuốn rút lui khỏi ngành….là một trong những rào cản lớn đối với doanh nghiệptham gia thị trường sữa

5 Liên kết dọc trong ngành sữa

Việc biến mình trở thành nhà cung cấp chính cũng như liên kết chặt chẽ vớicác nhà phân phối giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí của mình, tăng lợi nhuận,không bị phụ thuộc vào các nhà cung cấp, đặc biệt là các nhà xuất khẩu nguyên liệu

từ nước ngoài để có nguồn nguyên liệu ổn định phục vụ sản xuất Đây cũng đượccoi là một trong những biện pháp làm gia tăng rào cản gia nhập ngành hiệu quả củacác doanh nghiệp lớn trên thị trường Liên kết dọc trong ngành sữa bao gồm 2 hoạtđộng chính:

+Xây dựng các trang trại nuôi bò sữa làm nguyên liệu đầu vào

TH Truemilk trong những năm trở lại đây trở thành một trong những ông lớntrong thị trường sữa khi nắm tới 8% thị phần sữa chỉ trong một thời gian ngắn Đónggóp không nhỏ cho thành công này là sự hình thành của trang trại nuôi bò tại Nghệ

An mà tập đoàn TH đã đầu tư với tổng số vốn lên tới 1,2 tỷ USD Tổng diện tíchtrang trại bò này lên tới 37.000 ha với 45.000 con bò sữa với hơn 22.000 con cho

Trang 16

sữa, cho năng suất sữa bình quân 40 lít/ con/ ngày được nuôi trong trang trại tậptrung và khép kín.

Vinamilk cũng là ông lớn trong chăn nuôi bò với trang trại nuôi bò hiện đạinhất khu vực Đông Nam Á đã được Global G.A.P (Global Good AgriculturalPractices) chứng nhận Hiện Vinamilk có tới 10 trang trại nuôi bò sữa ở Việt Nam,trong đó có 7 trang trại đạt tiêu chuẩn GAP với các giống bò nhập khẩu từ Australia,New Zealand và Mỹ Tổng đàn bò hiện nay của Vinamilk là khoảng 120.000 con,mục tiêu nâng lên tới 180.000 con vào năm 2020 với sản lượng cung cấp khoảng

1200 tấn/ngày Mỗi trang trại của Vinamilk được đầu tư lên tới cả trăm tỷ đồng vớinguồn thức ăn và môi trường sống lành mạnh và đạt tiêu chuẩn quốc tế

+Liên kết với các nhà phân phối hoặc tự trở thành nhà phân phối của mình

TH True Milk đã đầu tư rất lớn để hình thành chuỗi cửa hàng TH True Marttrên khắp các thành phố lớn Bắt đầu hình thành cửa hàng đầu tiên từ tháng 5/2011,hơn 1 năm sau đó TH True Milk đã nâng tổng số cửa hàng lên tới 100 cửa hàng Đốivới Vinamilk, chiến lược của công ty là phân phối chủ yếu thông qua các kênh đại lý

và liên kết với các chuỗi siêu thị lớn trên cả nước Tuy nhiên, công ty sẽ phải đốimặt với nhiều rủi ro hơn khi tiến hành phân phối theo cách này và phải chia sẻ lợinhuận một phần cho doanh nghiệp phân phối, đổi lại sản phẩm sẽ đến tay người tiêudùng dễ dàng hơn và nhanh chóng hơn Đặc biệt với các đại lý của Vinamilk, khimuốn tiến hành làm đại lý cần cam kết không buôn bán bất cứ mặt hàng sữa nàokhác ngoài sản phẩm của Vinamilk

III HÀNH VI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH

1 Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D).

R&D – Research and Development là hoạt động nghiên cứu và phát triển

trong các doanh nghiệp sản xuất – dịch vụ, có nhiệm vụ nghiên cứu – phát triển sản

Ngày đăng: 03/09/2020, 09:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Khung phântích SCP hay còn được gọi là mô hình cấu trúc, hành vi và hiệu suất (SCP) được sử dụng như một khuôn khổ phân tích, làm rõ các mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường, các hành vi của các tác nhân trong thị trường và hiệu suất - tiểu luận tổ chức ngành báo cáo tình hình cạnh tranh ngành sản xuất và chế biến các sản phẩm từ sữa ở việt nam
hung phântích SCP hay còn được gọi là mô hình cấu trúc, hành vi và hiệu suất (SCP) được sử dụng như một khuôn khổ phân tích, làm rõ các mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường, các hành vi của các tác nhân trong thị trường và hiệu suất (Trang 5)
Bảng 3.1 - Một số doanh nghiệp lớn trên thị trường sữa Việt Nam Tên công - tiểu luận tổ chức ngành báo cáo tình hình cạnh tranh ngành sản xuất và chế biến các sản phẩm từ sữa ở việt nam
Bảng 3.1 Một số doanh nghiệp lớn trên thị trường sữa Việt Nam Tên công (Trang 11)
Từ năm 2015 trở lại đây, tình hình sữa có nhiều khởi sắc vì áp dụng công nghệ tiên tiến sản xuất, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều thách thức - tiểu luận tổ chức ngành báo cáo tình hình cạnh tranh ngành sản xuất và chế biến các sản phẩm từ sữa ở việt nam
n ăm 2015 trở lại đây, tình hình sữa có nhiều khởi sắc vì áp dụng công nghệ tiên tiến sản xuất, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều thách thức (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w