Giai đoạn 1976-1990: Trong giai đoạn này, ngành dệt may phát triển nhanh chóng vềnăng lực sản xuất do tiếp quản toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp dệt may ở phía Nam, đồngthời tiếp tục xây d
Trang 1Mục lục
MỞ ĐẦU
Ăn, mặc, ở từ trước đến nay luôn là ba nhu cầu thiết yếu nhất của mỗi cá nhân Xã hội ngàycàng phát triển, Khoa học – công nghệ đột phá, con người ngày nay không chỉ muốn ăn no,mặc ấm mà còn có nhu cầu cao hơn : ăn ngon, mặc đẹp Chính vì thế, từ những ý tưởng vụnvặt ban sơ là tự tay các bà, các mẹ may từng đường chỉ, khâu từng mũi kim để hoàn thiệnnhững chiếc áo, chiếc quần cho gia đình, những người kinh doanh đã dần dần nâng tầmmay mặc lên thành một ngành kinh doanh mới – dệt may
Trải qua nhiều năm hình thành và phát triển, dệt may hiện nay đã là một ngành kinh doanhkhông thể thiếu của mỗi quốc gia Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu của người dân trong nước
mà còn đóng góp vào chuỗi giá trị xuất khẩu cho đất nước đó
Việt Nam, với lợi thế dân số vàng và nguồn lao động dồi dào đi đôi với giá thành rẻ, đóchính là mấu chốt được tận dụng tối đa để phát triển ngành dệt may Hiện nay, ngành kinh
tế này cũng đang được quan tâm rất nhiều từ nhà nước cũng như các nhà đầu tư trong vàngoài nước, tuy nhiên trong quá trình phát triển cũng không thể tránh khỏi những khó khăn
và rào cản
Chính vì thế, nhóm 17 chúng em quyết định tìm hiểu, nghiên cứu và xin đưa ra một số giảipháp để phát triển ngành may mặc Việt Nam trong tương lai thông qua bài tiểu luận “ Báocáo phân tích ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2010 – 2017” Từ những kiến thức đã họctrong môn Tổ chức ngành và quá trình thống kê, phân tích số liệu, nhóm chúng em đã hoànchỉnh bài báo cáo gồm 3 phần:
1. Tổng quan ngành dệt may Việt Nam
2. Phân tích hoạt động ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2010-2017
3. Đánh giá và khuyến nghị giải pháp phát triển ngành dệt may Việt Nam trong tươnglai
Trang 2CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Nghề dệt may đã xuất hiện ở Việt Nam từ lâu đời nay, xuất phát từ những hoạt độngsản xuất cá thể, hộ gia đình rồi tới làng nghề thủ công đi đến sản xuất công nghiệp cóchuyên môn
Giai đoạn trước 1954: Ngành dệt ra đời sớm hơn ngành may, ban đầu chủ yếu làngười dân tự dệt vải phục vụ cho nhu cầu của bản thân rồi sau đó mới xuất hiện các phườngdệt, nơi tập trung các thợ dệt với mục đích thương mại Sau đó, ngành may ra đời bắt đầu làcác thợ may phục vụ triều đình phong kiến Khi thực dân Pháp xâm lược, lối sống Âu hóađược du nhập dẫn đến nhiều nhà may âu phục ra đời Nhưng đây lại là thời kì ngành dệtmay bị mai một do thực dân Pháp vơ vét tài nguyên và cấm các nghề truyền thống
Giai đoạn 1954-1975: Khi đất nước giành độc lập, ngành công nghiệp dệt may đượckhôi phục lại và là ngành ưu tiên phát triển hàng đầu Ngành dệt may đã có nền tảng từ lâu
và nay lại được quan tâm nên đã phát triển nhanh chóng (lực lượng sản xuất tăng nhanh vànhiêu nhà máy mới được xây dựng) Ngành đã giúp giải quyết nhu cầu xã hội, mặt khácgiải quyết công ăn việc làm cho người lao động Đặc biệt, trong giai đoạn này Mỹ đánhmiền Bắc quyết liệt, theo lời kêu gọi của Bác Hồ đội ngũ công nhân đông đảo hàng vạnngười đã hăng say lao động để đảm bảo nhu cầu cơ bản về sợ, vài chăn, màn, bông băng y
tế
Giai đoạn 1976-1990: Trong giai đoạn này, ngành dệt may phát triển nhanh chóng vềnăng lực sản xuất do tiếp quản toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp dệt may ở phía Nam, đồngthời tiếp tục xây dựng nhiều nhà máy lớn trên cả nước như Nhà máy Sợi Hà Nội, Vinh,Huế, Nha Trang, Dệt Kim Hoàng Thị Loan… Bên cạnh đó, bằng nhiều phong trào thi đualao động sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật, ngành đã hoàn thành xuất sắc trướcthời hạn các chỉ tiêu kế hoạch và là đầu mối xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hóa Cho đếnnăm 1990, ngành đã có quy mô: về dệt có 129 DNNN, 1979 HTX và hộ cá thể về may có
166 DNNN, 620 HTX và hộ cá thể Năng lực thiết bị có 860000 cọc sợi và 2000 rô to,
43000 máy dệt, 60000 thiết bị và máy may; đã xây dựng 1 viện công nghệ sợ dệt và 1 trungtâm nghiên cứu may; có trên 2000 tiến sĩ, phó tiến sĩ và kĩ sư công nghệ dệt may; sản lượngthực hiện cuối năm 1990 đạt 50 ngàn tấn sợi và hơn 450 triệu mét vải (khổ 0.80 m), sảnxuất 150 triệu sản phẩm may
Giai đoạn 1991-1998: Trong giai đoạn này, cơ chế bắt đầu chuyển sang cơ chế thịtrường định hướng XHCN Do mới chỉ sản xuất ra những sản phẩm chất lượng trung bình
Trang 3cũ kĩ và lạc hậu; máy dệt đa phần khổ hẹp, tiêu năng lượng và lao động cao; thiếu vốn chođầu tư đổi mới công nghệ Tuy nhiên, cả ngành đã mạnh dạn đầu tư công nghệ mới, sángtạo, bên cạnh đó còn phát triển xí nghiệp liên doanh và bắt đầu xuất hiện 100% vốn nướcngoài đầu tư vào lĩnh vực dệt may Vì thế đã tạo nên nhiều bước tiến vượt bậc, góp phầnlàm cho ngành dệt may có sự phát triển mới cả về quy mô, trình độ công nghệ, mẫu mãhàng hóa và kim ngạch xuất khẩu Hơn nữa, ngành còn có những thay đổi về chất rất quantrọng, từ thiết bị công nghệ đến sản phẩm, toàn ngành đạt tốc độ tăng trưởng bình quânkhoảng 10%/năm.
Giai đoạn sau 1998: Nếu giai đoạn trước năm 1998 là giai đoạn hình thành và địnhhình ngành, thì giai đoạn kể từ năm 1998 là giai đoạn phát triển rực rỡ của ngành dệt mayViệt Nam với hàng loạt sự kiện mở rộng quan hệ hợp tác đầu tư và giao thương với cácquốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Tháng 11/1998, Việt Nam được kết nạp vào APEC,Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ có hiệu lực vào năm 2001 và gia nhậpHiệp định thành lập WTO (2006) đánh dấu mốc tăng trưởng vượt bậc của xuất khẩu hàngdệt may Việt Nam Theo số liệu thống kê năm 2001, toàn ngành có 1.031 doanh nghiệp thìđến năm 2016, số lượng doanh nghiệp trong ngành khoảng 8.000 doanh nghiệp Tốc độtăng trưởng trung bình đạt 17%/năm trong giai đoạn từ 1998 đến nay Ngành dệt may đã nỗlực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Đặc biệt có sự kiện Việt Nam gianhập WTO năm 2007 , điều này mang lại cả cơ hội và thách thức cho ngành dệt may ViệtNam khi hầu hết mọi rào cản về thị trường đều được xóa bỏ, từ đó các doanh nghiệp sẽkhông phải lo chạy hạn ngạch nữa mà tập trung vào sản xuất
1.2 Vai trò ngành dệt may trong kinh tế quốc dân
Qua tình hình sản xuất-xuất khẩu của ngành dệt may đã nói ở phần trên ta có thể thấyđược vai trò của hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm dệt mayđối với nền kinh tế nước ta
Công nghệ dệt may thường được gắn liền với giai đoạn phát triển ban đầu của nềnkinh tế và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước Ta có thểthấy rằng, ngành dệt may là ngành xuất khẩu chut ực của ngành công nghiệp Việt Namtrong những năm qua và tạo ra rất nhiều việc làm cho người lao động, tăng thu lợi nhuận đểtích lũy làm tiền đề phát triển cho các ngành khác, bên cạnh đó còn góp phần nâng cao mứcsống và ổn định tình hình chính trị xã hội
Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, công nghệ dệt may đang đóng góp phầnphát triển nông nghiệp và nông thôn thông qua tăng trưởng sản xuất bông, đay, tơ tằm và làphương tiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp Còn đối vớinhững nước công nghiệp phát triển, công nghệ dệt may đã phát triển đến trình độ cao hơn,sản xuất những sản phẩm cao cấp hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội
Trang 4Vai trò của ngành dệt may đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế của nhiều quốc giatrong điều kiện buôn bán quốc tế Xuất khẩu hàng dệt may đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn
để hiện đại hóa đất nước, làm cơ sở cho nền kinh tế phát triển Nền kinh tế đang trong giaiđoạn cần rất nhiều nguồn lực để có thể phát triển nhanh nhất có thể
Đặc biệt nhờ có hoạt động xuất khẩu và công tác mở rộng thị trường mà sự hợp táckinh tế giữa nước ta với các nước khác ngày càng phát triển bền chặt và thân thiện Sự traođổi giữa các nước diễn ra càng giúp Việt Nam vươn lên trong thời kì toàn cầu hóa hiện nay,
mở rộng thương mại quốc tế Với đường lối mở cửa và hòa nhập, cùng với sự chuyển dịchcông nghệ đang diễn ra sôi nổi ngành dệt may càng có nhiều thuận lợi để phát triển
Công nghiệp dệt may thúc đẩy các ngành gián tiếp phát triển Trong sản xuất kinhdoanh, nếu ngành dệt may có nhu cầu sản xuất lớn thì kéo theo các ngành kahcs cũng pháttriển (ví dụ: ngành điện đảm bảo cho ngành chế tạo máy móc, ngành cơ khí chế tạo máyđáp ứng nhu cầu của ngành dệt may, nhà nước có chủ trương đầu tư phát triển cơ khí dệtmay,…)
Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Lê Tiến Trường cho biết Việt Nam làmột trong 5 quốc gia xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới Lĩnh vực này đóng gópkhoảng 15% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước và tạo ra hơn 2,5 triệu việc làm
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-2017
2.1 Phân tích thị trường ngành dệt may giai đoạn 2010-2017
2.1.1 Tốc độ tăng trưởng ngành dệt may giai đoạn 2010-2017
Sau hơn 20 năm tăng trưởng và phát triển, dệt may của Việt Nam đã trở thành ngànhkinh tế hàng đầu của cả nước với tốc độ trung bình 15% một năm Trong giai đoạn 2010-
2017, tốc độ tăng trưởng của ngành này đã trải qua một xu hướng dao động và tăng lên từ8% năm 2010 đến 10.2% năm 2017
Năm 2012, tốc độ tăng trưởng ngành đột ngột giảm sút do sức mua sụt giảm trongsuốt cả năm 2012 với tất cả các mặt hàng, không loại trừ dệt may và giá cả chưa hấp dẫnchính là rào cản chính khiến các sản phẩm dệt may Việt Nam khó chinh phục thị trường nội
Trang 5Năm 2013, nhờ đã dự báo đúng thị trường mà các doanh nghiệp trong ngành đã tổchức sản xuất phù hợp và đón lõng được thị trường khi những tín hiệu về hợp tác quốc tế,dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu về phía Việt Nam ngày một rõ ràng Và kết quả làxuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam không chỉ tăng về tổng thể mà còn tăng mạnh tạicác thị trường trọng điểm, đạt được mức tăng trưởng cao nhất là 21.8% Năm 2014, lànsóng dịch chuyển đầu tư dệt may để đón đầu các hiệp định thương mại lớn mà Việt Namtham gia đã khiến 83 dự án FDI mới đổ vào Việt Nam với số vốn đăng ký 1,64 tỷ USD.
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2010-2017
Đơn vị: %
Nguồn: Tổng cục thống kê
2.1.2 Thị trường xuất khẩu ngành dệt may
a.Tổng kim ngạch xuất khẩu
Trong giai đoạn 2010-2017, duy chỉ có giai đoạn năm 2011-2012 gần như không cótăng trưởng trong xuất khẩu thì tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam đã trải quamột xu hướng tăng liên tục với giá trị gần gấp 3 lần, từ 11.2 tỷ USD trong 2010 lên 31 tỷUSD trong 2017
Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam giai đoạn 2010-2017
Đơn vị: tỷ USD
Nguồn: Tổng cục Hải quan
b Thị trường xuất khẩu
Việt Nam xuất khẩu dệt may chủ yếu sang Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc Trong đó Mỹ làquốc gia nhập khẩu nhiều sản phẩm dệt may của Việt Nam nhất, theo sau là Nhật Bản, HànQuốc và các thị trường khác
Trang 6Biểu đồ 3: Các thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
Nguồn: Tổng cục Hải quan
2.2 Cơ cấu ngành dệt may Việt Nam
2.2.1 Chuỗi giá trị ngành dệt may
Bảng 1: Tổng hợp chuỗi giá trị dệt may Việt Nam
Sợi sản xuất: 1200 tấn bông và sợi ngắn, 2000 tấn sợi dài
xuất khẩu: 1100 tấn bông và sợi ngắn, 70000 tấn sợi dài
nhập khẩu: 180 nghìn tấn bông và sợi ngắn, 380000 tấn sợi dài
nội địa tiêu thụ 280000 tấn bông và sợi ngắn, 510000 tấn sợi dài
Dệt nhuộm xuất 2.85 tỷ mét vải
xuất sản khẩu 0.39 tỷ mét vải
nhập khẩu 6.4 tỷ mét vải
Trang 7Bảng 2: Số liệu ngành sợi Việt Nam giai đoạn 2011-2016
Sản xuất sợi từ bông và
polyester nhân tạo (nghìn tấn)
về trị giá so với cùng kỳ năm 2015 Hiệp hội Bông sợi Việt Nam (Vcosa) cho biết, donguồn cung bông trong nước hiện chỉ đáp ứng được 2% nhu cầu, nên nhập khẩu bông tiếptục gia tăng mạnh mẽ Việt Nam nhập khẩu bông từ 10 quốc gia trên thế giới, trong đó chủyếu nhập từ Mỹ, nguồn cung lớn thứ hai đến từ Ấn Độ, tiếp đến là Brazil
Ở trong nước, sản lượng bông của Việt Nam giảm, giá quốc tế cũng giảm và chi phísản xuất bông ở Việt Nam chưa thể cạnh tranh được
Polyester:Phần lớn đầu vào polyester phải nhập khẩu từ Trung Quốc do giá thành ViệtNam sản xuất không thể cạnh tranh Việt Nam đã có các nhà máy sản xuất polyester trongnước tuy nhiên năng lực hoạt động còn yếu Chúng ta xuất khẩu dầu thô chủ yếu mà khôngtập trung vào khai thác các chế phẩm từ dầu như polyester
•Thiết bị dệt sợi
Hiện nay nhiều cơ sở sản xuất sợi đã ứng dụng thiết bị công nghệ tiên tiến trongngành Sợi, thiết bị tự động hóa, tự động đổ sợi, vận chuyển ống sợi thô tự động sang máy
Trang 8sợi con, tự động đổ sợi con, tự động vận chuyển ống sợi con sang máy đánh ống sợi, tựđộng đổ búp sợi đầy trên máy đánh ống sợi đã giảm được số lượng công nhân đứng máy,nâng cao chất lượng sợi, bên cạnh đó còn làm giảm được yếu tố chủ quan do con người canthiệp vào máy móc thiết bị
Tuy nhiên do khó khăn về tài chính, hầu hết các doanh nghiệp dệt may hiện nay vẫn
sử dụng máy móc công nghệ lạc hậu, thiếu được đầu tư hiện đại, chưa được nâng cấp đồng
bộ với quy mô nên chất lượng sợi không đồng đều giữa các nhà máy Các loại thiết bị dệtsợi gồm có máy chuẩn bị dệt sợi, máy chải thô, máy chải kỹ, máy kéo sợi, máy ghép cúi, được nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Đức
•Khả năng sản xuất
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã mở rộng hoạt động sản xuất sợi, nhờ đó tốc
độ tăng trưởng đạt trên 300% trong 15 năm, từ 2 triệu cọc (năm 2000) lên 6,1 triệu cọc(năm 2014), 6,3 triệu cọc (năm 2015) và 6,5 triệu cọc trong (năm 2016), năng suất 900nghìn tấn sợi và bông nhân tạo, chiếm khoảng 2,5% năng lực của thế giới Ngành sợi pháttriển do hai nguyên nhân chính là lợi thế cạnh tranh do chi phí đầu vào (chi phí nhân công,tiền thuê đất) thấp và nhu cầu sản xuất của ngành dệt may Việt Nam, cũng như nhu cầu sợitại thị trường quốc tế, tăng mạnh, đặc biệt là Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Hàn Quốc2 Tuynhiên, xuất khẩu sợi của Việt Nam gặp không ít thách thức do: (i) Doanh nghiệp TrungQuốc giảm nhập khẩu sợi của Việt Nam để mua bông nội địa sản xuất sợi; (ii) Các nướctăng cường sử dụng biện pháp phòng vệ thương mại với Việt Nam
•Thị trường tiêu thụ sợi
Việt Nam thuộc top 5 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu sợi cotton lớn nhất thế giới.Chúng ta xuất khẩu khoảng 65% sợi tự nhiên sang thị trường nước ngoài, chủ yếu là xuấtkhẩu sang Trung Quốc, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ
Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, trong 8 tháng năm 2017, Việt Nam đãxuất khẩu được 867.885 tấn xơ, sợi dệt các loại, trị giá 2,31 tỷ USD, tăng 15% về lượng và24% về trị giá so với cùng kỳ năm trước
Trang 9Biểu đồ 4: Tăng trưởng xuất khẩu xơ sợi tại một số thị trường chính của Việt Nam
Đơn vị: USD
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Trung Quốc là thị trường tiêu thụ chủ yếu nhóm sản phẩm này của Việt Nam, chiếm54% về lượng và chiếm 55% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.Xuất khẩu xơ sợi sang các nước Đông Nam Á chiếm 7,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩunhóm hàng này của cả nước, đạt 182,98 triệu USD Xuất khẩu sang các nước EU chỉ chiếm
tỷ trọng rất nhỏ 0,7% trong tổng kim ngạch, đạt 17,98 triệu USD
b. Dệt nhuộm
•Nguyên vật liệu
Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chỉ thực hiện gia công sản phẩm, chưa chủ độngđược nguồn nguyên liệu cho việc sản xuất ra sản phẩm hoàn thiện.Năm 2016, kim ngạchxuất khẩu hàng dệt may đạt hơn 28 tỷ USD Để đạt được kim ngạch xuất khẩu đó, ngànhdệt may đã tiêu thụ hết 8,9 tỷ m2 vải Tuy nhiên, các nhà máy trong nước chỉ sản xuất được2,8 tỷ m2 vải, còn lại phải nhập khẩu hơn 6 tỷ m2 vải và phụ liệu, với tổng giá trị gần 17 tỷUSD
Trang 10•Thiết bị dệt nhuộm
Với gần 1/3 số máy móc thiết bị cần nâng cấp do đã sử dụng qua hai thập kỷ, côngđoạn dệt nhuộm in của chúng ta đang chậm hơn 20% so với các nước khác trong khu vựcChâu Á
Mặc dù thiết bị đang được đầu tư nâng cấp từ các dự án FDI từ Trung Quốc, HànQuốc, Đức và Đài Loan nhưng máy móc nhập khẩu từ các quốc gia này hầu hết là côngnghệ truyền thống với chi phí nhập khẩu rẻ hơn nhưng gây ra những ảnh hưởng tiêu cựcđến môi trường cụ thể là ô nhiễm các con sông và hồ nước
•Năng lực sản xuất
Đối với ngành nhuộm và hoàn tất, các doanh nghiệp tại Việt Nam đã sản xuất được2,85 triệu m2 vải, nhưng Việt Nam phải nhập khẩu 6,44 triệu m2 vải để đáp ứng nhu cầutrong nước tổng cộng 8,9 triệu m2 vải Việt Nam cũng xuất khẩu 390 triệu m2 vải
•Thị trường tiêu thụ
Sản phâm vải sản xuất ra hầu hết được tiêu thụ nội địa, xuất khẩu không đáng kể.Hiện tại cần phải tăng năng lực sản xuất vải gấp 3 lần đồng thời quy mô sản xuất sợi để đápứng đầu vào cũng phải tăng lên tương ứng để đáp ứng hết được nhu cầu vải trong nước
c. May
•Nguyên vật liệu
Bộ Công thương cho biết, tính chung từ đầu năm đến hết tháng 4-2017, Việt Nam đãnhập khẩu 3,3 triệu USD mặt hàng vải may mặc, tăng 6,75% so với cùng kỳ năm
2016 Nguồn vải may mặc nhập khẩu chủ yếu từ các nước châu Á, trong đó dẫn đầu là thị
trường Trung Quốc, chiếm 52% tổng kim ngạch
Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) cũng cho biết, chỉ riêng mặt hàng vải, doanhnghiệp trong nước phải nhập khẩu tới 86% để phục vụ sản xuất và xuất khẩu, do chất lượngvải trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường xuất khẩu chính của dệt may.Năm 2016, Việt Nam nhập khẩu 5 tỷ USD nguyên phụ liệu dệt, may, da giày chủ yếu
từ các nước Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc
•Thiết bị sản xuất
Trang 11Máy may Việt Nam chủ yếu có nguồn gốc từ Trung Quốc, Đức, trong đó tỷ trọngmáy may nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm tỷ trọng cao nhất (trên 50%) Tuy nhiên, hiệnnay có đến 30 - 40% doanh nghiệp ngành may tại Việt Nam sử dụng thiết bị, công nghệ củaĐức Trong tương lai, tỷ lệ này sẽ còn tăng nữa bởi khi sử dụng thiết bị, công nghệ Đứckhông chỉ đảm bảo sự ổn định trong vận hành, tiết kiệm nhân công mà với chất lượng sảnphẩm đầu ra cũng đều đạt tiêu chuẩn của đối tác, trong đó phải kể đến các thị trường lớn là
EU và Mỹ
•Năng lực sản xuất
Năm 2015 Việt Nam sản xuất được 3,9 tỷ sản phẩm may mặc với đa dạng các mặthàng từ áo sơ mi, áo khoác, quần dài và quần áo thể thao tới quần áo lót, áo thun, váy, đồvest… Tuy nhiên, khâu thiết kế chưa được chú trọng, chủ yếu là may theo đơn đặt hàng vàcác mẫu thiết kế mua của nước ngoài
•Thị trường tiêu thụ
Năm 2017, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đạt 31 tỷ USD, tăng10,23% so với năm 2016 Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc đạt 25,91 tỷUSD, tăng 8,7%; xuất khẩu sơ sợi ước đạt 3,51 tỷ USD, tăng 19,9%; xuất khẩu vải khôngdệt đạt 472 triệu USD, tăng 13,73%; xuất khẩu nguyên phụ liệu dệt may ước đạt 1,1 tỷUSD, tăng 17,3% Tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may ước đạt 18,91 tỷUSD, tăng 11,43% so với năm 2016
Hoa Kỳ vẫn đứng đầu thị trường xuất khẩu chính của dệt may Việt Nam với 48,3% tỷtrọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu, đạt 12,53 tỷ USD, tăng 9,4% so với năm 2016 3
trọng tâm xuất khẩu còn lại là EU, Nhật Bản và Hàn Quốc cũng đạt được những kết quả
tích cực Đặc biệt, năm 2017 đánh một dấu mốc quan trọng của ngành dệt may Việt Namkhi lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu sản phẩm may mặc sang thị trường Trung Quốc, dựkiến năm 2018 sẽ xuất khẩu được nhiều hơn
2.2.2 Cấu trúc thị trường ngành dệt may Việt Nam
a.Phân theo loại hình doanh nghiệp
Chúng ta xem xét hai loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp Việt Nam và doanhnghiệp có đầu tư từ FDI
Trang 12Trong 5 năm (2012 - 2016), ngành dệt đã thu hút 5 tỷ USD từ 26 quốc gia và vùnglãnh thổ, góp phần lớn vào việc gia tăng năng lực sản xuất, giảm nhập khẩu nguyên phụliệu Theo số liệu từ Bộ Công Thương, tính đến giữa năm 2012 có gần 1.390 dự án FDI đầu
tư với số vốn đăng ký 6,12 tỷ USD vào lĩnh vực dệt may Cao điểm trong thu hút FDI vàodệt may là giai đoạn 2014 - 2015 Chỉ tính riêng năm 2014, làn sóng dịch chuyển đầu tư dệtmay để đón đầu các hiệp định thương mại lớn mà Việt Nam tham gia đã khiến 83 dự ánFDI mới đổ vào Việt Nam với số vốn đăng ký 1,64 tỷ USD, với 11 dự án sợi, 14 dự án dệt
và 58 dự án may; đưa năng lực sản xuất tăng thêm khoảng 20% và dự kiến năng lực sảnxuất sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới
Đầu năm 2017, Mỹ rút khỏi TPP cùng với những diễn biến bất lợi của TPP, các nhàđầu tư nước ngoài đang hoạt động trong lĩnh vực dệt may tại Việt Nam vẫn quyết định tăngvốn đã cho thấy bức tranh sáng sủa, chứng tỏ môi trường đầu tư ở Việt Nam vẫn rất hấpdẫn Ông Lê Tiến Trường, Chủ tịch tập đoàn Dệt may Việt Nam nói rằng, không có TPPnhưng ngành dệt may Việt vẫn còn các FTA khác như: FTA VN - EU, FTA VN - Hàn Quốc,FTA VN - Nhật Bản, FTA VN- Liên minh kinh tế Á - Âu,…Vì thế nguồn FDI đổ vào ViệtNam vẫn tăng và phát triển tốt Bên cạnh những thuận lợi từ các FTA, thì ngay bản thân cácchính sách về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và chi phí lao động cạnh tranh đãkhiến Việt Nam trở thành trung tâm thu hút vốn FDI dệt may trong khu vực Điều này cũngphần nào lý giải vì sao Việt Nam đứng trong top 5 các quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhấtthế giới
Đối với những doanh nghiệp nội trong ngành dệt may thì có vẻ như không chiếmnhiều ưu thế so với doanh nghiệp ngoại
Trang 13Bảng 3: Giá trị xuất khẩu top 10 doanh nghiệp dệt may lớn nhất trong 8 tháng đầu năm 2014
Đơn vị: triệu USD
ST
T Doanh nghiệp
8 tháng/2014
Quốc tịch
(Nguồn: Hiệp hội Dệt may Việt Nam/)
Từ bảng tổng hợp trên thì trong top 10 (năm 2014) đã có đến 7 doanh nghiệp ngoại
và tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc từ các doanh nghiệp trong nước duy trì ởmức 40% từ năm 2009 (tức là các doanh nghiệp FDI chiếm xấp xỉ 60% tỷ trọng kim ngachxuất khẩu) Các doanh nghiệp FDI lĩnh vực sản xuất hàng may mặc tuy chỉ chiếm khoảng25% về lượng nhưng đóng góp tới hơn 60% kim ngạch xuất khẩu do các doanh nghiệp FDIkhông chỉ có lợi thế về máy móc, công nghệ mà còn có đơn hàng ổn định từ công ty mẹchuyển về.Như vậy, sau gần 10 năm đẩy mạnh xuất khẩu hàng may mặc, kim ngạch xuấtkhẩu từ các doanh nghiệp Việt Nam vẫn không có nhiều chuyển biến rõ rệt
Trang 14b Phân loại theo lĩnh vực kinh doanh.
Biểu đồ 5: Các doanh nghiệp lớn trong ngành dệt may phân theo chuỗi giá trị
Về lĩnh vực xuất khẩu hàng xơ sợi, tính tới 31/12/2016, có 228 dự án dệt sợi có vốnđầu tư FDI (chiếm khoảng 10% doanh nghiệp sản xuất xơ sợi), tuy nhiên tổng kim ngạchxuất khẩu mặt hàng xơ sợi của các doanh nghiệp FDI năm 2016 đạt 73% tổng kim ngạchxuất khẩu Trong giai đoạn 2013 - 2017, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng xơ sợi của cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư FDI liên tục tăng (từ 64% năm 2013 lên 73% năm 2016) trongkhi về lượng xuất khẩu hàng xơ sợi từ các doanh nghiệp Việt Nam gần như không đổi ởmức 0,7 - 0,8 tỷ USD Điều này cho thấy tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu hàng xơ sợiđến từ các doanh nghiệp FDI chứ không phải từ các doanh nghiệp Việt Nam
Nhóm ngành dệt sợi, hiện tại STK đang dẫn đầu về giá trị vốn hóa, đạt 1.109 tỷ đồng,đồng thời cũng đứng đầu về quy mô tổng tài sản và quy mô vốn chủ sở hữu, tiếp sau đó làFTM và ADS, đây là 3 công ty dệt sợi niêm yết lớn nhất hiện tại
Nhóm ngành may mặc, Tập đoàn Dệt may Việt Nam (VGT) là doanh nghiệp đầungành dệt may Việt Nam hiện nay Hiện tại VGT đang dẫn đầu với giá trị vốn hóa lên đến5.500 tỷ đồng, đồng thời cũng đứng đầu về quy mô vốn chủ sở hữu, đạt 7.594 tỷ đồng tính
Trang 15như VGG, PPH, HTG, TVT, MGG lần lượt có quy mô vốn hóa và tổng tài sản rất lớn Cácdoanh nghiệp tư nhân có vốn hóa lớn bao gồm TCM, TNG, GMC, trong đó TCM đang dẫnđầu về giá trị vốn hóa, đạt 1.392 tỷ đồng Đây là 3 công ty sản xuất hàng may mặc niêm yếtlớn nhất hiện tại Ngành may mặc là ngành nhận được nhiều FDI nhất trong các ngành dệtmay Thị trường thời trang tại Việt Nam và Thế giới ngày càng phát triển do nhu cầu củangười dân ngày càng cao Giá trị sản xuất nhắm mục tiêu của ngành dệt may trong năm
2015 là 24.875 tỷ USD, tăng 1,5 lần so với năm 2010 và sẽ đạt 37.670 tỷ USD vào năm
2020 Hơn nữa ngành may mặc phát triển đi kèm với một lượng nhân công ngày càng lớn,giúp giải quyết một phần vấn đề công ăn việc làm
2.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành dệt may giai đoạn 2010-2017
2.3.1 Doanh thu
Trong giai đoạn 2010-2017, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, đặc biệt là các tậpđoàn lớn có mức tăng trưởng tốt về doanh thu Tổng doanh thu thuần của các doanh nghiệpdệt may trong nước năm 2017 đạt 220 nghìn tỷ VND.Trong đó, tổng doanh thu 2017 củacác doanh nghiệp đã lên sàn chứng khoán đạt 65 nghìn tỷ VND, chiếm 30% doanh thu củacác doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Nhìn chung, tổng doanh thu ngành dệt may có sự tăng trưởng liên tục trong giai đoạn2010-2017 Dựa trên số liệu của các doanh nghiệp dệt may đã niêm yết, có thể thấy tăngtrưởng doanh thu ngành dệt may có sự đột phá vào năm 2011 với mức tăng trung bình44,15% Mức tăng trưởng trung bình về doanh thu của các doanh nghiệp dệt may giảmmạnh năm 2012 mặc dù vẫn có sự gia tăng về giá trị tuyệt đối Sự sụt giảm này có thể được
lý do cuộc khủng hoảng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2011-2012 và sự biến động về tỷgiá Mức tăng trưởng doanh thu trung bình sau đó đã có sự hồi phục dần vào các năm 2013,
2014, 2015 trước khi có một sự suy giảm nhẹ năm 2016
Biểu đồ 6: Tăng trưởng bình quân của các doanh nghiệp lớn đã niêm yết giai đoạn
2011-2017
Đơn vị: phần trăm
Nguồn: Vietstock finance