Vai trò và ý nghĩa của ngành da cơ bản có thể nhìn thấy rõ từ sự đóng góp của lĩnhvực này trong tiêu dùng quốc nội cũng như xuất khẩu, chẳng hạn: trong nước, ngành Sảnxuất da và các sản
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói trong vô vàn các ngành nghề hiện nay tại Việt Nam nói riêng và trên thếgiới nói chung thì ngành nào cũng đóng góp một phần quan trọng riêng trong sự phát triểnkinh tế chung Một trong số đó phải kể đến là ngành Sản xuất da và các sản phẩm có liênquan
Vai trò và ý nghĩa của ngành da cơ bản có thể nhìn thấy rõ từ sự đóng góp của lĩnhvực này trong tiêu dùng quốc nội cũng như xuất khẩu, chẳng hạn: trong nước, ngành Sảnxuất da và các sản phẩm có liên quan được xếp hàng thứ ba trong các ngành xuất khẩu lớn,chỉ đứng sau dệt may và dầu khí, đồng thời Việt Nam được xếp hàng thứ tư trong số cácnước xuất khẩu da giày lớn trên thế giới và là một trong mười nước sản xuất giày dép lớnnhất thế giới
Chính vì vậy, việc nắm được tình hình hoạt động và phát triển của ngành có vai trò
vô cùng thiết thực đối với cả các doanh nghiệp đã, đang hoặc sắp gia nhập ngành, cũng nhưcác nhà hoạch định chính sách nhằm đưa ngành Sản xuất da và các sản phẩm có liên quanphát triển đúng hướng, ngày càng mang đến nhiều đóng góp tích cực hơn cho nền kinh tếquốc dân
Trong bài báo cáo này, chúng ta sẽ tìm hiểu về Ngành sản xuất da và các sản phẩm cóliên quan thông qua việc tiếp cận với bộ số liệu điều tra doanh nghiệp năm 2006 của Tổngcục thống kê Bên cạnh đó, các thông tin tổng quan về ngành, cấu trúc của thị trường (quy
mô doanh nghiệp, mức độ tập trung của ngành, khoa học và công nghệ, cầu và điều kiệncủa thị trường) và hành vi của các doanh nghiệp (như hành vi về giá, liên kết và sấp nhập,R&D hay các đóng góp cho xã hội) cũng sẽ được trình bày song song, nhằm chỉ ra hiệu quảhoạt động của doanh nghiệp, thuận tiện cho việc đưa ra các khuyến nghị dành cho họ.Thông qua đây, chúng ta có thể đưa ra được những nhận xét khách quan nhất vềNgành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan, và quan trọn hơn, đưa ra những địnhhướng và giải pháp cụ thể để phát triển ngành
Trang 2
Trang 21 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH SẢN XUẤT DA VÀ CÁC SẢN PHẨM CÓ LIÊN QUAN
1.1 Định nghĩa
Nhóm ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan gồm những hoạt động được quyđịnh tại Phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định 27/2018/QĐ-TTg về Hệ thống ngànhkinh tế Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành, theo đó:
15: SẢN XUẤT DA VÀ CÁC SẢN PHẨM CÓ LIÊN QUAN
Ngành này gồm: Thuộc, nhuộm da và chế biến da sống thành da bằng cách thuộc, chếbiến da thành các sản phẩm cho sử dụng cuối cùng Nó cũng bao gồm sản xuất các sảnphẩm tương tự từ các nguyên liệu khác (giả da hoặc thay thế da), như giày dép cao su, túixách từ sản phẩm dệt Sản phẩm được làm từ nguyên liệu thay thế da cũng thuộc nhóm này,
vì chúng được sản xuất bằng các phương pháp tương đương với các sản phẩm da được sảnxuất (ví dụ túi xách) và thường được sản xuất trong cùng một đơn vị
151: Thuộc, sơ chế da; sản xuất va li, túi xách, yên đệm; sơ chế và nhuộm da lông thú
Nhóm này gồm: Sản xuất da lông thú và các sản phẩm da lông thú
1511 -15110: Thuộc, sơ chế da; sơ chế và nhuộm da lông thú
Nhóm này gồm: thuộc, nhuộm da; sản xuất da sơn dương, da cừu, da dê, giấy da, datinh xảo hoặc da hấp (cao su); sản xuất da tổng hợp; cạo lông, chải lông, thuộc, tẩy trắng,xén lông, nhổ lông và nhuộm da lông thú
Loại trừ: sản xuất da sống và da như một phần việc của trại nuôi gia súc được phân vàonhóm 014 (Chăn nuôi); sản xuất da sống và da là phần việc của hoạt động giết mổ đượcphân vào nhóm 1010 (Chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt); sản xuất trang phụcbằng da được phân vào nhóm 14100 (May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú)); sảnxuất da giả không phải từ da tự nhiên được phân vào nhóm 22190 (Sản xuất sản phẩm khác
từ cao su), 2220 (Sản xuất sản phẩm từ plastic)
1512 - 15120: Sản xuất vali, túi xách và các loại tương tự; sản xuất yên đệm
Nhóm này gồm: sản xuất va li, túi xách và các loại tương tự, bằng da, da tổng hợp hoặcbất cứ nguyên liệu nào khác như nhựa, vải dệt, sợi hoặc bìa các tông được lưu hoá, với điềukiện các nguyên liệu này sử dụng cùng công nghệ dùng để xử lý da; sản xuất yên đệm; sản
Trang 3xuất dây đeo đồng hồ phi kim (từ vải, da, nhựa); sản xuất các đồ khác từ da hoặc da tổnghợp: Dây an toàn, túi ; sản xuất dây giày bằng da; sản xuất roi da, roi nài ngựa.
Loại trừ: sản xuất trang phục bằng da được phân vào nhóm 14100 (May trang phục (trừtrang phục từ da lông thú)); sản xuất găng tay và mũ da được phân vào nhóm 14100 (Maytrang phục (trừ trang phục từ da lông thú)); sản xuất giày, dép được phân vào nhóm 15200(Sản xuất giày dép); sản xuất yên xe đạp được phân vào nhóm 30920 (Sản xuất xe đạp và
xe cho người khuyết tật); sản xuất dây đeo đồng hồ kim loại quý được phân vào nhóm
32110 (Sản xuất đồ kim hoàn và chi tiết liên quan); sản xuất dây đeo đồng hồ kim loạithường được phân vào nhóm 32120 (Sản xuất đồ giả kim hoàn và chi tiết liên quan); sảnxuất dây đeo an toàn cho thợ điện và các dây đeo cho nghề nghiệp khác được phân vàonhóm 32900 (Sản xuất khác chưa được phân vào đâu)
152 - 1520 -15200: Sản xuất giày, dép
Nhóm này gồm: sản xuất giày, dép cho mọi mục đích sử dụng, bằng mọi nguyên liệu,bằng mọi cách thức sản xuất bao gồm cả đổ khuôn; sản xuất bộ phận bằng da của giày dép:sản xuất mũi giày và bộ phận của mũi giày, đế trong và phần ngoài đế; sản xuất bao chân,
xà cạp và các vật tương tự; thêu, in gia công trên giày; sản xuất guốc gỗ thành phẩm; giacông đế giày bằng nguyên phụ liệu khác (xốp eva, giả da )
Loại trừ: sản xuất giày dép từ nguyên liệu dệt không có đế được phân vào nhóm 14100 (May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú)); sản xuất bộ phận bằng nhựa của giày dép được phân vào nhóm 2220 (Sản xuất sản phẩm từ plastic); sản xuất ủng, giày cao su và đế, các bộ phận khác của giày dép bằng cao su được phân vào nhóm 22190 (Sản xuất sản phẩmkhác từ cao su); sản xuất bộ phận của giày bằng gỗ (ví dụ cốt giày hoặc gót giày) được phân vào nhóm 1629 (Sản xuất các sản phẩm khác từ gỗ; sản xuất sản phẩm từ tre, nứa, rơm, rạ và vật liệu tết bện)
1.2 Thực trạng phát triển của ngành Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan
Ngành da giày đang giữ vị trí ngọn cờ đấu đối với ngành Sản xuất da và các sản phẩm
có liên quan Hiện nay, Việt Nam đang là nước sản xuất giày dép đứng thứ 3 châu Á sauTrung Quốc, Ấn Độ, và đứng thứ 4 thế giới Hiện Việt Nam đang sản xuất khoảng 920 triệuđôi giày mỗi năm, xuất khẩu hơn 800 triệu đôi tới hơn 50 thị trường trên thế giới, trong đóLiên minh châu Âu (EU) chiếm tỷ lệ lớn nhất
Ngoài ra, sản phẩm túi xách cũng được xuất khẩu sang 40 nước, trong đó thị trường Mỹchiếm tỷ lệ cao nhất với 41,6%
Trang 4Với 12 hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết với các nước và khuvực trên thế giới, xuất khẩu các sản phẩm từ da của Việt Nam sẽ được hưởng ưu đãi lớn khimức thuế xuất giảm mạnh từ 3,5-57,4% xuống 0%, mở ra cơ hội tăng trưởng xuất khẩu lớncho ngành da.
Tuy nhiên, ngành da Việt Nam cũng đang gặp phải rất nhiều vấn đề nan giải Trước hết,cần kể đến một nghịch lý, đó là dù ngành Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan là mộttrong những ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của Việt Nam, nhưng “phần bánh”xuất khẩu lại hầu hết đang nằm trong tay các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI)
Chỉ tính riêng đối với ngành da giày, theo Lefaso, chừng 800 doanh nghiệp doanhnghiệp FDI, mặc dù chiếm chưa đến 25% số lượng doanh nghiệp hoạt động trong ngành,nhưng đang quyết định tới 77% giá trị xuất khẩu, trong đó nhiều doanh nghiệp FDI đanggiữ vai trò dẫn dắt thị trường Chẳng hạn Pouchen với hệ thống dày đặc các công ty con, đãđem về doanh số lên tới trên 30.000 tỷ đồng trong năm 2014 (tương đương 17% tổng kimngạch xuất khẩu toàn ngành da giày của Việt Nam)
Bên cạnh đó, khi các hàng rào thuế quan được hạ xuống thì các hàng rào kỹ thuật và phithuế quan lại được dựng lên Đây là nguy cơ cho các doanh nghiệp sản xuất da vừa và nhỏtrong nước
Chúng ta cũng đang phải đối mặt với thách thức khi tham gia vào chuỗi cung ứng toàncầu, đó là tỷ lệ nguồn cung ứng nguyên, vật liệu nội địa thấp Theo Lefaso, tỷ lệ nội địa hóacủa sản phẩm được sản xuất bởi các doanh nghiệp Việt Nam phải được nâng lên mức 60%
để đáp ứng được điều kiện về quy tắc xuất xứ trong các FTA mà Việt Nam đã tham gia,giúp giảm các chi phí về logistics và nâng cao sự chủ động của doanh nghiệp Việt
Một bất lợi khác, do mải mê “mang chuông đi đánh xứ người” nên các doanh nghiệp dagiày trong nước bao năm nay gần như lãng quên sân nhà Tại thị trường nội địa, nhu cầutiêu thụ sản phẩm giày dép khoảng 150 triệu đôi/năm, nhưng 60% thị phần do các doanhnghiệp ngoại nắm giữ, trong đó phần lớn là các mặt hàng thuộc phân khúc thấp đến trungcấp là từ Trung Quốc, còn phân khúc cao cấp thì rơi vào tay các thương hiệu nước ngoài
“Khi chúng ta được hưởng thuế suất 0% thì ngược lại chúng ta cũng phải giảm thuế nhậpkhẩu về 0% và nguy cơ sân nhà bị chiếm lĩnh bởi các doanh nghiệp ngoại là rất lớn”, ôngDiệp Thành Kiệt nói
1.3 Phân tích ngành theo ma trận SWOT
Mô hình ma trận SWOT bắt nguồn từ 4 chữ viết tắt Strengths (Điểm mạnh),Weakness (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Nguy cơ, Thách thức).Mô hình
Trang 5ma trận SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát cũng như đánh giá rủi rođịnh hướng của một công ty , một dự án kinh doanh và mở rộng ra là của cả một ngành sảnxuất kinh doanh.
Điểm mạnh
- Có chỗ đứng trên thị trường thế giới
- Nguồn lao động giá rẻ
- Giá trị gia tăng của sản phẩm sản xuất trong nước còn thấp do giacông chế biến là chủ yếu, sản xuất theo đơn đặt hàng của nướcngoài
- Phụ thuộc nặng nề vào nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài dùĐiểm yếu
trong nước có nguồn cung tiềm năng từ hoạt động chăn nuôi vàsản xuất nguyên liệu phụ trợ
- Các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với sức ép về hạnngạch và các vụ kiện bán phá giá hay thuế xuất nhập khẩu
- Chính phủ còn yếu về luật thương mại quốc tế, chưa bảo vệ đượcdoanh nghiệp trong các vụ kiện và cáo buộc của nước ngoài
- Việc ký kết các hiệp định tự do thương mại FTA với nhiều nước
và khối kinh tế mở đường cho triển vọng xuất khẩu sản phẩm da
Cơ hội với giá rẻ cho các doanh nghiệp Việt Nam.
- Chính phủ ngày càng có thêm nhiều chính sách hỗ trợ, bảo vệdoanh nghiệp khi tham gia thị trường quốc tế
- Áp dụng kỹ thuật chăn nuôi và công nghệ hiện đại, tiên tiến đểtận dụng nguồn nguyên liệu da trong nước, giảm giá thành đầuvào
Thách thức - Tự chủ công nghệ để giảm thiểu tình trạng gia công cho nước
ngoài, tăng giá trị gia tăng của sản phẩm trong nước
- Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của các nước đang phát triểnkhác như Campuchia, Myanmar, Bangladesh
- Tìm được niềm tin của người tiêu dùng nội địa với các sản phẩm
Trang 6“made in Vietnam”
2 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG
2.1 Qui mô doanh nghiệp
Theo số liệu điều tra năm 2006, có 597 doanh nghiệp trong ngành sản xuất da và cácsản phẩm có liên quan trên tổng số 131 246 doanh nghiệp được điều tra
Trong các doanh nghiệp trong ngành có 4 doanh nghiệp Nhà nước Trung ương, 7 doanhnghiệp Nhà nước địa phương, loại hình công ty TNHH tư nhân, công ty trách nhiệm hữuhạn có vốn Nhà nước không quá 50% chiếm tỷ lệ nhiều nhất: 48,9% (292 doanh nghiệp).Trong 597 doanh nghiệp sản xuất da và sản phẩm có liên quan, có 33 doanh nghiệpthuộc, sơ chế da, sơ chế và nhuộm da lông thú; 194 doanh nghiệp sản xuất vali, túi xách vàcác loại tương tự, sản xuất yên đệm; 371 doanh nghiệp sản xuất giày-dép (chiếm tỷ trọnglớn nhất là 62%)
2.2 Mức độ tập trung của ngành
Tỉ lệ tập trung hóa CRm
Đây là tỉ lệ đo lường mức độ tập trung hóa của ngành
Trong đó: m là số lượng công ty lớn nhất trong ngành (thông thường m=4)
là doanh thu của công ty thứ i, Q là doanh thu của toàn ngành
là thị phần của doanh nghiệp thứ i
Tỉ lệ tập trung hóa CRm nằm trong khoảng [0,1] tỉ lệ này càng tiệm cận với giá trị 1thì tỉ lệ tập trung hóa càng cao Tỉ lệ tập trung hóa CR chỉ tính đến các doanh nghiệp hàngđầu mà không tính đến các doanh nghiệp khác trong ngành.Để khắc phục điều này, cácdoanh nghiệp còn có thể sử dụng chỉ số Hirschman – Herfindahl để tính toán mức độ tậptrung ngành
Chỉ số HHI (Hirschman – Herfindahl Index)
Trang 7Trong đó: n là số doanh nghiệp trong ngành
là thị thần của doanh nghiệp trong ngànhChỉ số HHI nằm trong khoảng [0, 10.000] Chỉ số này càng tiệm cận đến 10.000 thìmức độ phân tán ngành ngày càng thấp hay mức độ tập trung của ngành ngày càng cao.Tính toán chỉ số CR với 4 công ty có doanh thu lớn nhất năm 2006 có chỉ số tập trung
= 0,3 cùng thời gian này chỉ số HHI cho kết quả HHI = 378,163 < 1000 Những con sốnày cho thấy mức độ tập trung hóa của ngành sản xuất da và sản phẩm có liên quan khôngcao Điều này có thể lý giải vì trong giai đoạn này, các doanh nghiệp về da của nước ta mớichỉ chủ tập trung vào hoạt động gia công Trình độ giữa các doanh nghiệp không có sựchênh lệch lớn mà tương đối đồng đều; hình thức liên kết, sáp nhập chưa phổ biến nên vẫnthiếu những ông lớn thực sự chiếm lĩnh thị trường Rào cản thâm nhập thị trường chưa thật
sự khắt khe nên ngành còn nhiều doanh nghiệp ở quy mô vừa và nhỏ
2.3 Khoa học công nghệ
Tính đến 2006, tuy ngành sản xuất da và sản phẩm có liên quan có tốc độ phát triểncao về sản lượng, song về kỹ thuật, công nghệ, quản lý và thiết kế tạo mẫu sản phẩm vẫnphụ thuộc nhiều vào đối tác nước ngoài, việc ứng dụng công nghệ tiên tiến đang được thựchiện, cơ sở vật chất kỹ thuật trong lĩnh vực này mới được đầu tư hạn chế do nhiều doanhnghiệp chủ yếu vẫn làm gia công Khả năng đầu tư và chuyển giao ông nghệ mới phụ thuộcvào nguồn tài chính hạn hẹp, đội ngũ chuyên gia hiểu biết sâu và cập nhật công nghệ cònquá ít và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, do đó không phát huyđược sức mạnh của Công nghệ mới và làm hạn chế hiệu quả đầu tư
Tuy nhiên gia đoạn này cũng ghi nhận một số doanh nghiệp tiềm năng đã đầu tư hoànchỉnh hệ thống tự động hoá thiết kế, các dây chuyền sản xuất thử nghiệm phục vụ công tác
ra mẫu chào hàng đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng, các nhà nhập khẩu Điển hìnhnhư Cty CP giày An Lạc, Cty CP giày Thái Bình và các Cty 100% vốn nước ngoài (TeaKwang Vina, Shyang Hung Cheng, Pou Yuen, Pou Chen, Biti’s HCM, Biti’s Đồng Nai,giày Thượng Đình )
2.3 Cầu và điều kiện thị trường
Ngành sản xuất da và các ngành có liên quan là một nhành kinh tế kỹ thuật được thu hútbởi nhiều lao động, góp phần tạo ra công ăn việc làm cho xã hội, tham gia vào quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế và mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đáta nước thông qua việcđẩy mạnh xuất khẩu Vì vậy, nó có vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu của quá trình phát
Trang 8triển kinh tế xã hội ở Việt Nam Hiện nay, chính phủ quan tâm và coi ngành da và cácngành sản xuất có liên quan là ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển hàng côngnghiệp tiêu dùng hướng ra xuất khẩu Hiện nay, ngành da giày các ngành sản xuất có liênquan củaViệt Nam đang đứng thứ 10 thế giới.
Nhu cầu da sống ở các nước phát triển đang có xu hướng tăng mạnh Cho đến nay sảnphẩm giày dép đang chiếm vị trí hàng đầu trong số các nhành hàng xuất khẩu của Việt Namsang EU; tuy nhiên, đây lại là một thị trường khó tính, không dễ chinh phục Tạithịtrường
EU, Việt Nam là nước xuất khẩu giày dép đứng thứ hai sauTrungQuốc Bởi vậy, ngành dagiàyViệt Nam chịu sức ép lớn từ ngành da giàyTrungQuốc
Dưới đây là bảng kim ngạch xuát khẩu mặt hàng da giày Việt Nam và tốc độ tăngtrưởng của nó trong giai đoạn 2000-2006
Kim ngạch xuất khẩu da giày Việt Nam
Năm Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) Tốc độ tăng trưởng (%)
độ tăng trưởng khá cao Cho thấy nhu cầu ngày càng tăng về mặt hàng này Xong vào năm
2005, EU đã kiện Việt Nam bán phá giá hàng da giày khiến tố độ tăng trưởng của ngành cóchiều hướng hơi chững lại trong năm 2005 và 2006 so với những năm trước đó Vào năm
2006, sau khi có phán quyết của EU về việc áp thuế chống bán phá giá 10% lên mặt hànggiày mũ da có xuất xứ từ Việt Nam nhưng lại áp mức thuế lên đến 16,5% lên mặt hàng giày
mũ da của Trung Quốc, đối thủ cạnh tranh đáng gờm của Việt Nam, thì tình hình xuất khẩudần ổn định, nhiều khác hàng EU đã quay trở về Việt Nam đặt hàng khiến cầu tăng
2.4 Rào cản gia nhập ngành
Trang 9Thứ nhất, thị trường ngành sản xuất da và các sản phẩm liên quan khá cạnh tranh.Theo số liệu thu thập được, có 597 doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành sản xuất da
và các sản phẩm có liên quan ở nước ta năm 2006 Số lượng doanh nghiệp sẵn có trên thịtrường là khá lớn
Thứ hai, ngành đòi hỏi chi phí chi cho lao động cao Ngành sản xuất da và các sảnphẩm liên quan là một ngành đòi hỏi nhiều về lao động do còn nhiều giai đoạn trong sảnxuất da không thể tự động hóa được Ngay cả đối với các nước phát triển, ngành sản xuất
da và các sản phẩm liên quan vẫn tiêu tốn rất nhiều lao động Do vậy, lao động là một ràocản đối với các công ty mới hoặc muốn gia nhập vào ngành Qua đó, tạo gánh nặng trongviệc chi trả chi phí tiền lương, bảo hiểm xã hội,… Song đối với một nước có nguồn laođộng dồi dào như Việt Nam, vấn đề nguồn lao động lại là lợi thế thay vì bất lợi khi so sánhvới các quốc gia khác
Thứ ba, nguyên vật liệu đầu vào chủ yếu được nhập khẩu từ nước ngoài Hiện ngành
da giày Việt Nam đứng thứ tư trong 8 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, chỉ sau TrungQuốc, Hongkong, Italia, thế nhưng 90% sản phẩm da giày Việt Nam là hàng gia công Dosản phẩm gia công luôn phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn cao từ nước đặt hàng nên thường cácnguyên liệu đầu vào phải nhập khẩu từ nước ngoài, và chủ yếu là từ nước đặt hàng Điềunày khiến tăng chi phí và giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Thứ tư, nguyên liệu trong nước có chất lượng thấp Việt Nam có sẵn nguồn nguyênliệu từ việc chăn bò, heo Tuy nhiên tập quán chăn nuôi thiếu tập trung và chưa áp dụngtriệt để những nguyên liệu thu được thường không đẹp, chất lượng thấp, buộc nhà sản xuấtphải tốn thêm nhiều chi phí để xử lý da thuộc
3 HÀNH VI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH
3.1 Hành vi về giá
Các sản phẩm da của Việt Nam nhìn chung không có nhiều giá trị gia tăng do chủ yếu
là các sản phẩm gia công cho các thương hiệu nổi tiếng nước ngoài Chất lượng sản phẩmcủa ngành da và các ngành sản xuất liên quan của Việt Nam luôn bị đánh giá và định giáthấp hơn so với các sản phẩm tương tự của người hàng xóm Trung Quốc Bên cạnh đó, việccạnh tranh với các sản phẩm của Trung Quốc, Ấn Độ… khổng chỉ ở thị trường trong nước
mà còn ở thị trường nước ngoài khiến các sản phẩm da Việt Nam thực sự bị sức ép lớn vềgiá
Khuyến nghị
Trang 10Ngành sản xuất da Việt Nam cần đầu tư nghiên cứu phát triển khoa học, công nghệ đểgiảm bớt số lượng nhân công, giảm chi phí, tiền lương trong sản xuất, tạo lợi thế so với mặthàng da của Trung Quốc, đồng thời tiêu chuẩn hóa sản phẩm của mình.
Chính phủ cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại để các sản phẩm da và các sản phẩmliên quan có thể dễ dàng tiếp cận các thị trường khác không chỉ EU, Mỹ, Nhật… Tăng kimngạch xuất khẩu cho Việt Nam
Tiêu chuẩn và tập trung hóa phương thức chăn nuôi nhằm tạo nguồn da ổn định, chấtlượng cao, giảm thiểu nhu cầu nhập khẩu da từ nước ngoài
Khuyến khích các ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm tăng nguồn cung trong nước chongành
Đẩy mạnh công tác xây dựng thương hiệu các sản phẩm da của người Việt để chuyểnđổi mô hình kinh doanh từ gia công sang mua đứt, bán đoạn Việc này một phần sẽ tăng giátrị cho sản phẩm da Việt Nam, mặt khác lịa giúp đem lại nhiều lợi nhuận hơn cho nhà sảnxuất
3.2 Hoạt động nghiên cứu và phát triển
Ngành da giày chủ yếu là gia công cho thế giới nên thu về giá trị gia tăng không cao.Các trung tâm nghiên cứu phát triển (R&D) chưa được nhiều doanh nghiệp quan tâm đúngmức, trong khi đây lại chính là khâu đặc biệt quan trọng, tạo giá trị gia tăng lớn cho sảnphẩm Nếu các doanh nghiệp Việt Nam làm chủ được khâu R&D thì sẽ nâng cao đáng kểgiá trị trong cả chuỗi giá trị toàn ngành
Công tác R&D đòi hỏi một lực lượng lao động có trình độ cao Trong khí đó, theo sốliệu năm 2006, nhìn chung lao động trong ngành sản xuất da và sản phẩm có liên quan cótrình độ văn hoá mức phổ thông trung học chiếm tỷ lệ cao nhất: 66%; tỷ lệ đại học và trên
đại học chỉ chiếm khoảng 5% Sự thật thì lực lượng chuyên gia cũng như kiến thức và cập
nhật công nghệ còn ít ỏi và cũng chưa đạt đến nhu cầu phát triển kinh doanh Thêm vào đó,khả năng đàm phán để kí hợp đồng công nghệ cũng không mở rộng Đây là một trongnhững lí do khiến năng suất lao động cũng như hiệu quả sản xuất của ngành này bị hạn chế
Trang 11nghiên cứu gắn liền với thực tiễn, việc triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu, sảnphẩm mới vào sản xuất được Viện đẩy mạnh, trong đó tập trung vào các lĩnh vực thuộc da,mẫu mốt, môi trường và đào tạo Một trong các đơn vị trực thuộc viện là Trung tâm Nghiêncứu, Tư vấn và Chuyển giao Công nghệ Da-Giầy với nhiệm vụ:
Nghiên cứu phát triển các nguyên liệu, công nghệ, sản phẩm da-giầy mới
Tư vấn đầu tư, lựa chọn thiết bị, công nghệ, bố trí dây chuyền sản xuất da-giầy
Triển khai các dịch vụ chuyển giao, hỗ trợ khoa học kỹ thuật công nghệ da-giầy
3.3 Hoạt động liên kết và sáp nhập doanh nghiệp
Ngành sản xuất da và sản phẩm có liên quan ở Việt Nam vẫn chủ yếu dựa trên gia công,nguyên phụ liệu chủ yếu phải nhập khẩu tới gần 60% Để thay đổi thực tế trên, nhiều doanhnghiệp trong nước cần chủ động thiết lập các cụm công nghiệp sản xuất nguyên, phụ liệucho ngành này
Thực trạng phần lớn nguyên liệu phải nhập khẩu không chỉ diễn ra ở năm 2006 mà cả 1thập kỷ sau, vấn đề này vẫn chưa được ngành giải quyết triệt để Theo dự báo của Bộ Côngthương, việc ký kết một số hiệp định thương mại (EVFTA, CPTPP) sẽ mở ra cơ hội pháttriển cho ngành da – giày Việt Nam, đặc biệt là thu hút đầu tư, cũng như thúc đẩy xuất khẩuđối với thị trường EU và các nước tham gia CPTPP Tuy nhiên, các doanh nghiệp da giàytrong nước vẫn phải nhập từ 70 – 75% khối lượng nguyên liệu từ nước ngoài, nguyên liệunội địa chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất Chuyên gia trong ngành da giày cho biết, điểm yếucủa ngành da giày Việt Nam là không phát triển sản xuất giày dép song song với phát triểncông nghiệp hỗ trợ như một số nước khác Ở Việt Nam thiếu hình thức tập trung các nhàmáy sản xuất sản phẩm từ da với các nhà máy sản xuất nguyên phụ liệu trong cùng mộtcụm công nghiệp
Khuyến nghị