1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận tổ chức ngành đánh giá cạnh tranh ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy của việt nam năm 2011

21 157 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 213,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiểu được tầm quan trọng của ngành công nghiệp sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy và tính cấp thiết của việc nắm được tổng quan tình hình thị trường củanhững doanh nghiệp Việt Nam, kết hợ

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy là một trong những ngành côngnghiệp quan trọng, tiềm năng, có ảnh hưởng lớn đến kinh tế và xã hội Theo ướctính, năm 2018 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 240 tỷ USD,trong đó chỉ riêng 4 ngành sử dụng nhiều bao bì giấy là dệt may, da giày, thủy sản

và linh kiện điện tử - điện thoại đã đạt khoảng 110 tỷ USD, cho thấy bao bì giấytrong sản phẩm xuất khẩu chiếm một tỷ trọng rất quan trọng Những năm gần đây,ngành giấy Việt Nam có tốc độ phát triển trung bình khoảng 10 – 12%/năm, theo sốliệu năm 2019 của VPPA - Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam

Bên cạnh đó, trong tương lai gần, ngành công nghiệp giấy có nhiều cơ hội vàtriển vọng phát triển, mở rộng thị trường Đó là hiệu ứng của các Hiệp định thươngmại tự do mang lại như Hiệp định Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương(CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) trong năm 2018

EU luôn được đánh giá là thị trường “màu mỡ” đối với các sản phẩm tiêu dùng nóichung, do đó, đây là cơ hội lớn để các doanh nghiệp mở rộng thị trường, gia tăngsản xuất Tuy vậy, bên cạnh cơ hội thì đây cũng là một thách thức đối với ngànhcông nghiệp giấy của Việt Nam khi chúng ta phải đối mặt với sự cạnh tranh khốcliệt từ các doanh nghiệp nước ngoài khi nguồn vốn FDI đổ vào nước ta đang tậptrung vào ngành công nghiệp tiềm năng này

Hiểu được tầm quan trọng của ngành công nghiệp sản xuất giấy và sản phẩm

từ giấy và tính cấp thiết của việc nắm được tổng quan tình hình thị trường củanhững doanh nghiệp Việt Nam, kết hợp với những kiến thức đã được học ở họcphần Tổ chức ngành, qua việc phân tích bộ số liệu năm 2011, nhóm tác giả đã

nghiên cứu và thực hiện “Báo cáo đánh giá cạnh tranh ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy của Việt Nam năm 2011”.

Chúng em xin cảm ơn TS Đinh Thị Thanh Bình đã tận tình chỉ bảo, hướngdẫn trong suốt quá trình học tập và thực hiện bài báo cáo này Tuy nhiên, do thờigian nghiên cứu và kiến thức của chúng em còn hạn chế nên chắc chắn bài tiểu luậnvẫn còn những thiếu sót nhất định, chúng em rất mong nhận được sự góp ý từ cô đểbài viết được hoàn thiện hơn, từ đó rút ra kinh nghiệm cho những bài viết tiếp theo.Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC THỊ

TRƯỜNG NGÀNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ

1.1 Cấu trúc thị trường

Dưới góc độ kinh tế nói chung, cấu trúc thị trường được hiểu là một tổng thểgồm nhiều nhân tố khác nhau như nhân tố người mua, người bán, các chủng loại sảnphẩm, dịch vụ, giá cả,… có tác động qua lại theo những quy luật nhất định của thịtrường nhằm xác lập nên những điểm giao hòa của các yếu tố như giá cả, lượng cầu,lượng cung… để xác lập một hình thái nhất định của một thị trường cho một loạisản phẩm, dịch vụ nhất định

Dưới góc độ cạnh tranh, nhằm mục đích thực thi hiệu quả chính sách cạnh tranhnói chung và Luật Cạnh tranh, việc xem xét cấu trúc thị trường đồng nghĩa với việcđánh giá tổng thể các yếu tố về cơ cấu doanh nghiệp, nhóm các doanh nghiệp (là tổchức hoặc cá nhân kinh doanh) đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên một thịtrường, mức độ tập trung trên thị trường, các rào cản gia nhập thị trường,… để từ đócso nhìn nhận đúng đắn về hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường.Cấu trúc thị trường trong bài báo cáo được nghiên cứu thông qua: số lượng vàquy mô doanh nghiệp, mức độ tập trung của ngành và các rào cản gia nhập thị trường

1.2 Các yếu tố đánh giá cấu trúc thị trường

1.2.1 Các doanh nghiệp tham gia thị trường

Số lượng doanh nghiệp tham gia thị trường sẽ tạo cơ sở cho việc đánh giá tínhkhốc liệt hay bình thường của cạnh tranh trên thị trường, tiềm năng thị trường, cũngnhư xu hướng phát triển của thị trường đó

Tìm hiểu về doanh nghiệp tham gia thị trường đồng thời giúp xác định đượccác đối thủ cạnh tranh cụ thể của mỗi doanh nghiệp trên thị trường, từ đó sẽ dễ dànghơn trong việc nhận dạng các hành vi cạnh tranh lẫn nhau hay bắt tay nhau giữa cácdoanh nghiệp thông qua các biểu hiện của thị trường

Trang 3

1.2.2 Các chỉ số đánh giá mức độ tập trung thị trường

1.2.2.1 Chỉ số HHI (Hirschman – Herfindahl Index)

Chỉ số Herfindahl – Hirschman (HHI) được sử dụng để đo lường quy mô củadoanh nghiệp trong mối tương quan với ngành và là một chỉ số về mức độ cạnhtranh giữa các doanh nghiệp trong ngành và thường được tính bằng tổng bìnhphương thị phần của các doanh nghiệp trong một ngành:

= ∑ 2

=1

Trong đó: n: là tổng số doanh nghiệp

: là thị phần của doanh nghiệp thứ t trong ngành

HHI có giá trị thuộc khoảng (1; 1) HHI nhỏ thể hiện không có một doanh nghiệp nào có quyền lợi nổi trội trên thị trường HHI càng lớn, mức độ tập trung trong ngành doanh nghiệp càng cao.

− Nếu HHI < 0,01: thị trường có tính cạnh tranh cao

− Nếu HHI < 0,15: không có sự tập trung ở thị trường

− Nếu 0,15 < HHI < 0,5: mức độ tập trung vừa phải ở thị trường

− Nếu HHI > 0,5: mức độ tập trung cao ở thị trường

Ưu điểm và nhược điểm của chỉ số HHI:

− Ưu điểm:

+ Phản ánh nhạy bén sự tham gia hay thoát ra của doanh nghiệp khỏi ngành tínhđến Khi có tình trạng doanh nghiệp tham gia vào ngành thì thị phần của hàng giảmmột cách tương đối vì vậy HHI của ngành giảm một cách tương đối tức là mức độtập trung ngành cũng giảm xuống

+ Dễ dàng tính toán và tính đến tất cả các điểm trên đường cong tập trung thị trường

+ Tính đến mọi doanh nghiệp tham gia thị trường, do đó mức độ chính xác cao

và phản ánh thị trường toàn diện hơn so với chỉ số tập trung hóa

− Nhược điểm: không làm rõ được khi so sánh các ngành có mức độ tập trung bằng nhau vì các ngành này chưa chắc quy mô doanh nghiệp đã bằng nhau

3

Trang 4

1.2.2.2 Tỷ lệ tập trung (CR m )

Tỷ lệ tập trung (CRm) là tổng thị phần của m doanh nghiệp lớn nhất trên thịtrường Chỉ số này thường dùng để thể hiện sức mạnh thị trường của những doanhnghiệp có quy mô lớn nhất trong ngành Số lượng các doanh nghiệp thường thấynhất là 4 hoặc 8, nhưng đôi khi m có thể lớn hơn hay nhỏ hơn Khi m khác nhau thìcác kết luận về mức độ tập trung của thị trường cũng khác nhau

= ∑

=1Trong đó: m: số doanh nghiệp lớn nhất trên thị trường

St: thị phần của doanh nghiệp thứ t trên thị trường

CRm dao động trong khoảng từ 0 đến 1 CRm càng lớn thì mức độ tập trung cànglớn, trên thị trường có ít sự cạnh tranh và cần phải có sự điều tiết của chính phủ

− Khi CRm → 0: ngành gồm rất nhiều công ty, mỗi công ty chiếm thị phần rất nhỏ trong ngành => ngành ít tập trung

− Khi CRm → 1: ngành tập trung hơn

− Khi CRm = 1: m hoặc ít hơn m công ty trong ngành sản xuất ra toàn bộ sản phẩm (sản lượng) của ngành

Ưu điểm và nhược điểm của tỷ lệ tập trung CRm

− Ưu điểm: đặc biệt thích hợp khi mô tả thực nghiệm trình độ tập trung hoácủa một ngành nào đó vì nó dễ tính toán, dễ hiểu và có tính trực giác cao

− Nhược điểm: Lựa chọn tuỳ ý m sẽ đưa ra các kết luận không chính xác Khắcphục khuyết điểm này đa số các nước thống nhất chọn m = 4

1.2.3 Rào cản gia nhập và rút khỏi thị trường

Rào cản gia nhập sẽ cho phép đánh giá tính năng động, linh hoạt, minh bạchcủa thị trường Nếu việc gia nhập hay rút khỏi thị trường của một doanh nghiệp diễn

ra dễ dàng thì thị trường đó có tính cạnh tranh cao, hoạt động lành mạnh và giá cảđược thị trường điều chỉnh, phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh thực tế của cácdoanh nghiệp Ngược lại, ở các thị trường có các rào cản gia nhập lớn thì tất yếucạnh tranh trên thị trường bị hạn chế và vì vậy sức mạnh thị trường sẽ tập trung vàomột số lượng nhỏ các doanh nghiệp

4

Trang 5

CHƯƠNG 2 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG NGÀNH SẢN XUẤT GIẤY VÀ SẢN PHẨM TỪ GIẤY

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Ngành giấy là một trong những ngành được hình thành rất sớm tại Việt Nam,khoảng năm 284 Năm 1912, nhà máy sản xuất bột giấy đầu tiên bằng phương phápcông nghiệp đi vào hoạt động với công suất 4.000 tấn giấy/năm tại Việt Trì Trongthập niên 1960, nhiều nhà máy giấy được đầu tư xây dựng nhưng hầu hết đều cócông suất nhỏ (dưới 20.000 tấn/năm) như Nhà máy giấy Việt Trì; Nhà máy bột giấyVạn Điểm; Nhà máy giấy Đồng Nai; Nhà máy giấy Tân Mai, Năm 1975, tổngcông suất thiết kế của ngành giấy Việt Nam là 72.000 tấn/năm nhưng do ảnh hưởngcủa chiến tranh và mất cân đối giữa sản lượng bột giấy và giấy nên sản lượng thực

tế chỉ đạt 28.000 tấn/năm Ngành giấy có những bước phát triển vượt bậc, sản lượnggiấy tăng trung bình 11%/năm trong giai đoạn 2000 – 2006; tuy nhiên, nguồn cungnhư vậy vẫn chỉ đáp ứng được gần 64% nhu cầu tiêu dùng (năm 2008) phần còn lạivẫn phải nhập khẩu Mặc dù đã có sự tăng trưởng đáng kể tuy nhiên, tới nay đónggóp của ngành trong tổng giá trị sản xuất quốc gia vẫn rất nhỏ

Biểu đồ 1 Đóng góp của giá trị sản xuất ngành giấy trong GDP

Nguồn: Tổng cục thống kê

Trang 6

2.1.2 Phân loại

Theo Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam VSIC 2007, ngành nghề kinh doanh giấy và các sản phẩm từ giấy được phân loại như sau:

Mã 17010: Sản xuất bột giấy, giấy và bìa

− Sản xuất bột giấy được tẩy trắng, tẩy trắng một phần hoặc chưa được tẩy trắng bằng cơ học, hoá học (hoà tan hoặc không hoà tan) hoặc xử lý hoá chất một phần;

− Sản xuất bột giấy từ xơ bông;

− Loại bỏ mực và sản xuất bột giấy từ giấy bỏ;

− Sản xuất giấy và giấy bìa với quy trình công nghệ cao;

− Chế biến giấy và giấy bìa như:

+ Sơn phủ, tẩm thấm giấy và giấy bìa;

+ Sản xuất giấy nhăn;

+ Sản xuất giấy cán mỏng thành tấm từ giấy và bìa giấy

− Sản xuất giấy thủ công;

− Sản xuất giấy báo và giấy để in ấn khác hoặc giấy viết;

− Sản xuất giấy sợi để chèn lót và giấy sợi xenlulo cuộn;

− Sản xuất giấy than hoặc giấy nền cuộn hoặc bản rộng

− Sản xuất giấy được tráng, phủ hoặc tẩm thấm, trong đó tẩm thấm và tráng phủ

là thành phần chính, được phân vào nhóm sản xuất các sản phẩm tẩm thấm, tráng phủ;

− Sản xuất giấy ráp được phân vào nhóm 23990 (Sản xuất các sản phẩm từ chấtkhoáng phi kim loại khác chưa được phân vào đâu);

− Sản xuất áo cứu đắm được phân vào nhóm 32900 (Sản xuất khác chưa đượcphân vào đâu)

Trang 7

Mã 17021: Sản xuất bao bì bằng giấy, bìa

− Sản xuất bao bì bằng giấy và bìa giấy lót làn sóng (có nếp gấp để bảo quản thủy tinh);

− Sản xuất bao bì bằng bìa cứng;

− Sản xuất các bao bì khác bằng giấy và bìa;

− Sản xuất bao tải bằng giấy;

− Sản xuất hộp đựng tài liệu trong văn phòng và đồ tương tự

Loại trừ: Sản xuất phong bì được phân vào nhóm 17090 (Sản xuất các sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa được phân vào đâu)

Mã 17022: Sản xuất giấy nhăn và bìa nhăn

− Sản xuất giấy nhăn và giấy bìa

− Sản xuất bao bì bằng giấy nhăn hoặc bìa

Loại trừ: Sản xuất sản phẩm từ bột giấy ép hoặc đúc được phân vào nhóm

17090 (Sản xuất các sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa được phân vào đâu)

Mã 17090: Sản xuất các sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa được phân vào

đâu

− Sản xuất giấy vệ sinh cá nhân và giấy dùng trong gia đình và sản phẩm chèn lót bằng xenlulo như:

+ Giấy vệ sinh;

+ Khăn ăn, giấy ăn, khăn lau;

+ Băng vệ sinh và khăn lau vệ sinh, tã giấy cho trẻ sơ sinh;

+ Cốc, chén đĩa, khay bằng giấy

− Sản xuất các đồ dệt chèn lót và sản phẩm chèn lót như: giấy vệ sinh, băng vệsinh;

− Sản xuất giấy viết, giấy in;

− Sản xuất giấy in cho máy vi tính;

− Sản xuất giấy tự copy khác;

− Sản xuất giấy nến và giấy than;

− Sản xuất giấy phết hồ sẵn và giấy dính;

− Sản xuất phong bì, bưu thiếp;

Trang 8

− Sản xuất sổ sách, sổ kế toán, bìa rời, an-bum và các đồ dùng văn phòng phẩmtương tự dùng trong giáo dục và thương mại;

− Sản xuất hộp, túi, túi dết, giấy tóm tắt bao gồm sự phân loại đồ dùng văn phòngphẩm bằng giấy;

− Sản xuất giấy dán tường và giấy phủ tường tương tự bao gồm giấy có phủ chất dẻo và giấy dán tường có sợi dệt;

− Sản xuất nhãn hiệu;

− Sản xuất giấy lọc và bìa giấy;

− Sản xuất ống chỉ, suốt chỉ bằng giấy và bìa giấy;

− Sản xuất khay đựng trứng và các sản phẩm đóng gói khác được đúc sẵn;

− Sản xuất giấy mới từ giấy phế thải;

− Sản xuất vàng mã các loại

− Sản xuất giấy hoặc bìa giấy với khổ lớn được phân vào nhóm 17010 (Sản xuất bột giấy, giấy và bìa);

− In trên sản phẩm giấy được phân vào nhóm 18110 (In ấn);

− Sản xuất quân bài được phân vào nhóm 32400 (Sản xuất đồ chơi, trò chơi);

− Sản xuất trò chơi và đồ chơi bằng giấy hoặc bìa giấy được phân vào nhóm

32400 (Sản xuất đồ chơi, trò chơi)

Nhóm tiến hành nghiên cứu và phân tích tình hình hoạt động và hiệu quả củacác doanh nghiệp trong ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (mã cấp 2 là 17).Theo số liệu năm 2011, có tổng cộng 1921 doanh nghiệp đang kinh doanh trong thịtrường sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy ở Việt Nam

Bảng 1 Số lượng doanh nghiệp theo mã ngành

17090 Sản xuất các sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa 568

được phân vào đâu

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp theo số liệu 2011

Trang 9

Bảng 1 cho thấy, ngành sản xuất bao bì bằng giấy, da nổi trội hơn các ngànhkhác khi số lượng doanh nghiệp chiếm 40,34% tổng số doanh nghiệp của ngành sảnxuất giấy và sản phẩm từ giấy Ngành sản xuất giấy nhăn và bìa nhăn chưa thực sựphát triển, chỉ có 192 trong số 1921 doanh nghiệp tham gia hoạt động này.

2.3 Rào cản gia nhập thị trường

2.3.1 Rào cản về tài chính

Bao bì giấy là sản phẩm phụ trợ cho công nghiệp chế biến, không có tính đặctrưng và khác biệt lớn Rào cản gia nhập ngành chủ yếu ở yếu tố vốn, khi suất vốnđầu tư một nhà máy bao bì là khá lớn, đòi hỏi doanh nghiệp phải có tiềm lực tàichính tốt Bên cạnh đó, khả năng cạnh tranh của ngành sản xuất giấy trong nướcthấp nhưng vốn đầu tư lớn, từ 15 – 17 triệu USD một dây chuyền sản xuất, phải mất

15 – 20 năm mới có thể hoàn vốn Chính vì vậy, ngân hàng cũng "ngại" khôngmuốn cho vay đối với các dự án sản xuất giấy Trong năm 2010, ngành giấy có 8 dự

án giấy được triển khai nhưng do thiếu vốn nên chỉ có 2 dự án được triển khai đúngtiến độ Đây cũng là nguyên nhân khiến các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoàiđang thống lĩnh thị trường bao bì giấy Việt Nam

Vấn đề lớn nhất mà ngành giấy đang phải đối mặt là giá nguyên liệu đầu vàotăng cao Doanh nghiệp trong ngành bị các doanh nghiệp Trung Quốc tranh muanguyên liệu và cả giấy thành phẩm bởi hoạt động sản xuất giấy tại Trung Quốc đangđược tinh giảm bớt theo hướng chọn lọc dự án đảm bảo các yếu tố bảo vệ môitrường Điều đó khiến nguồn cung của ngành giấy rơi vào tình trạng căng thẳng.Nguồn cung giấy phế liệu trong nước không thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất củacác doanh nghiệp, dẫn đến nhu cầu nhập khẩu số lượng lớn nhằm phục vụ cho sảnxuất trong nước Tình trạng giá nhập khẩu cao là một phần do các doanh nghiệpchưa chủ động được nguồn nguyên liệu thô để làm nguyên liệu sản xuất giấy thànhphẩm và ngành chưa có đủ dây chuyền sản xuất bột giấy từ gỗ

Trang 10

chuẩn môi trường trong sản xuất giấy, trong đó một số tiêu chuẩn còn cao hơn cảchâu Âu (ví dụ chỉ tiêu COD - tiêu chuẩn để xác định khối lượng của các chất ônhiễm hữu cơ trong nước của Việt Nam chỉ được tối đa 200mg/l, khắt khe hơn 1,5lần so với tiêu chuẩn của Hà Lan là 325 mg/l) do đó nếu tuân thủ đúng quy định thìchi phí xử lý nước thải của các doanh nghiệp sản xuất giấy là khá cao Tuy nhiên,theo thống kê thì hiện nay 90% các doanh nghiệp trong ngành không có hệ thống xử

lý nước thải hoặc có nhưng chưa đạt yêu cầu, chỉ thực hiện để đối phó Nếu việckiểm tra các tiêu chuẩn xử lý nước thải được thực hiện chặt chẽ hơn sẽ đội chi phícủa các doanh nghiệp này lên khá nhiều

Thứ hai, quy định về ký quỹ khi nhập khẩu phế liệu Nghị định số38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu đãquy định về việc bắt buộc phải ký quỹ khi nhập khẩu phế liệu Theo đó tổ chức, cánhân nhập khẩu phế liệu phải thực hiện ký quỹ trước khi tiến hành thủ tục thôngquan phế liệu nhập khẩu ít nhất 15 ngày làm việc Đối với giấy phế liệu, mức kýquỹ được chia theo khối lượng đơn hàng: 15% giá trị lô hàng nếu dưới 100 tấn, 18%giá trị lô hàng nếu từ 100 – 500 tấn, và 20% giá trị lô hàng nếu trên 500 tấn Quyđịnh này đã gây thêm gánh nặng chi phí và thủ tục cho doanh nghiệp khi khoản tiền

ký quỹ bị treo gần 1 tháng (thời gian ký quỹ trước khi thông quan phải ít nhất 15ngày làm việc và thời gian hoàn trả khoản tiền này trong vòng 5 ngày làm việc saukhi nhận văn bản đề nghị của tổ chức nhập khẩu)

Thời gian làm thủ tục kéo dài làm phát sinh chi phí lưu container/lưu bãi rấtlớn tại các cảng Chỉ riêng với ngành giấy: phí lưu container, lưu bãi đã lên tới hàngtrăm tỷ đồng; nhiều doanh nghiệp buộc phải ngừng sản xuất do thiếu nguyên liệudẫn đến bị khách hàng phạt, tâm lý người lao động bất an; chi phí sản xuất tăng cao,không cạnh tranh được với các sản phẩm nhập khẩu từ các nước trong khu vực ngaytrên sân nhà,… Ngoài ra, khó khăn trong việc kiểm định nhập khẩu và tồn đọng quánhiều container tại các cảng gây thiếu hụt, mất cân đối container trong vận chuyểncủa các hãng tàu, làm cho cước vận chuyển đến Việt Nam cao hơn nhiều so với cácnước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia,…

Ngày đăng: 03/09/2020, 08:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển - Tiểu luận tổ chức ngành đánh giá cạnh tranh ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy của việt nam năm 2011
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển (Trang 5)
Nhóm tiến hành nghiên cứu và phân tích tình hình hoạt động và hiệu quả của các doanh nghiệp trong ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (mã cấp 2 là 17) - Tiểu luận tổ chức ngành đánh giá cạnh tranh ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy của việt nam năm 2011
h óm tiến hành nghiên cứu và phân tích tình hình hoạt động và hiệu quả của các doanh nghiệp trong ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (mã cấp 2 là 17) (Trang 8)
Bảng 2. Chỉ số đo mức độ cạnh tranh của từng tiểu ngành trong ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy năm 2011 - Tiểu luận tổ chức ngành đánh giá cạnh tranh ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy của việt nam năm 2011
Bảng 2. Chỉ số đo mức độ cạnh tranh của từng tiểu ngành trong ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy năm 2011 (Trang 12)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w