1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận tổ chức ngành phân tích ngành vận tải hàng hóa bằng đường bộ ở việt nam năm 2011

36 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 267 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:Thông qua việc thực hiện tính toán các chỉ số quan trọng năm 2011 tại Việt Nam,nhóm em xin được trình bày tổng quan phát triển ngành trong những giai đoạn

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài:

Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa hiện nay, vận tải là một ngành dịch vụkhông chỉ tham gia vào việc cung ứng, điều phối, lưu thông hàng hóa, mà còn phục vụnhu cầu đi lại và hầu hết các hoạt động đời sống của người dân Có thể nói, giao thôngvận tải đã và đang góp mặt trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, văn hóa, xã hội Vìvậy, ngành giao thông vận tải đang có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Và đểđất nước phát triển và trở thành một nước có nền công nghiệp mạnh thì giao thông vậntải chính là một ngành cần được đầu tư và phát triển trước nhất

Hiện nay, giao thông vận tải tại Việt Nam đang có năm loại hình cơ bản làđường sắt, đường thủy, đường bộ, đường hàng không và đường ống Trong đó, loạihình giao thông vận tải đường bộ là phổ biến và được sử dụng rộng rãi nhất, được đầu,

tư nâng cấp, tu sửa thường xuyên để phục vụ nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hànhkhách trên cả nước Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, khối lượng hàng hóa vậnchuyển bằng đường bộ năm 2017 là hơn 1,3 tỉ tấn, tương đương với 77,68% tổng khốilượng của tất cả các ngành vận tải Cũng trong năm đó, số lượt hành khách vận chuyểnbằng đường bộ cũng đạt ngưỡng cao nhất với tỉ trọng 67,11% so với tổng số lượt hànhkhách trên tất cả các ngành vận tải

Qua các kết quả thống kê nói trên, giao thông vận tải đường bộ đã được chứngminh là loại hình vận tải quan trọng chủ yếu đóng góp vào nền kinh tế quốc dân Dovậy, hoạt động xây dựng công trình đường bộ đang là vấn đề được toàn Đảng, toàn dânquan tâm theo dõi Nhận thức được thực trạng này, nhóm chúng em dưới sự hướng dẫncủa ThS Đinh Thị Thanh Bình cùng với việc sử dụng bộ dữ liệu về các ngành năm

2011 và công cụ lọc dữ liệu Stata, đã nghiên cứu về đề tài “Phân tích ngành vận tải hàng hóa bằng đường bộ ở Việt Nam năm 2011” để từ đó đề xuất các giải pháp để cải thiện hiệu quả của ngành.

2

Trang 2

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Thông qua việc thực hiện tính toán các chỉ số quan trọng năm 2011 tại Việt Nam,nhóm em xin được trình bày tổng quan phát triển ngành trong những giai đoạn gần đây,điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức ngành; đi sâu phân tích thị trường ngành, hành

vi của các doanh nghiệp trong ngành và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói riêng

và toành ngành nói chung

Phương pháp nghiên cứu:

Nhóm sử dụng bộ số liệu DN2011.xlsx trên phần mềm STATA, sau đó tiến hànhlọc và nghiên cứu các số liệu quan trọng về các chỉ số phù hợp, kết hợp với quá trìnhtổng hợp các kiến thức lý thuyết được học cũng như những thông tin thực tế nhóm tìmhiểu được qua các kênh thông tin chính thống, nhằm đưa ra được đánh giá khách quan

và chi tiết về hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành

Cấu trúc báo cáo gồm 4 chương:

Chương I: Cơ sở lý thuyết

Chương II: Cấu trúc thị trường ngành xây dựng công trình đường bộ ở Việt Nam

Chương III: Phân tích hành vi của các doanh nghiệp trong ngành xây dựng côngtrình đường bộ ở Việt Nam

Chương IV: Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và một số khuyến nghị

Trang 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1 Các lý thuyết chung

1.1 Mô hình phân tích theo Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP)

Tiếp cận sử dụng mô hình SCP (Structure – Conduct – Performance) được xâydựng chủ yếu dựa trên học thuyết cổ điển, từ lâu đã được cân nhắc là một trong nhữngphương pháp tiếp cận phổ biến nhất đối với nghiên cứu kinh tế học công nghiệp SCPnghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa cấu trúc thị trường, hành vi của các doanhnghiệp trong thị trường đó cũng như hiệu quả kinh tế mà các doanh nghiệp này đạtđược SCP thường được sử dụng để đánh giá dựa trên lý thuyết các chính sách côngnghiệp, trong đó phải kể đến chính sách cạnh tranh Cụ thể hơn, SCP cung cấp nhữngcông cụ, cơ sở lý thuyết để đo lường nhằm điểu chỉnh hoặc ngăn chặn sự phát triển củacủa cấu trúc thị trường có xu hướng có bất lợi tới phúc lợi của toàn xã hội

Theo mô hình này, cấu trúc của thị trường quyết định hành vi của công ty vànhững hành vi này lại là nhân tố quyết định kết quả trên thị trường, ví dụ như lợinhuận, hiệu quả, tiến bộ về kỹ thuật và tăng trưởng Lập luận của mô hình liên quanđến nhận định cấu trúc ngành nhất định dẫn tới những dạng hành vi nhất định, mà sau

đó lại dẫn tới nhữngểu kết quả nhất định Đặc biệt, nhiều ngành bị tập trung cao tạo ranhững hành vi dẫn đến kết quả kinh tế nghèo nàn, đặc biệt là làm giảm sản lượng vàhình thành giá cả độc quyền Trong đó:

Trang 4

xem xét sự phân bổ của các thành phần này, có tính đến những đặc tính riêng của từng thị trường.

• Hành vi (Conduct):

Hành vi thể hiện thái độ và các quyết định của các doanh nghiệp trongthị trường thông qua việc các doanh nghiệp này quy định giá, cách phân bổngân sách vào các lĩnh vực quảng cáo và nghiên cứu…

• Hiệu quả (Performance):

Các tác động từ phía các quyết định của doanh nghiệp sẽ được nghiêncứu kỹ lưỡng Nghiên cứu tập trung vào phân tích hiệu quả hoạt động củadoanh nghiệp thông qua đánh giá mức độ hài lòng, mức độ đáp ứng nhu cầu từphía người tiêu dùng, sự vận hành của doanh nghiệp liên quan đến chi phí, giá

cả và lợi nhuận để trả lời câu hỏi liệu rằng những doanh nghiệp này có gópphần làm tăng phúc lợi xã hội hay không

Các trường phái nghiên cứu:

• Trường phái Havard

Mô hình SCP bắt nguồn từ công trình nghiên cứu tại đại học Havard Công việcban đầu được thực hiện bởi E.S Mason (See E.S.Mason, Economic Concentration and theMonopoly Problem (Havard University Press, 1957)) vào năm 1930, được phát triển bởihọc sinh của ông là J.S.Bain vào những năm 1950 Lý thuyết đã được phát triển thông quacác nghiên cứu mang tính kinh nghiệm hơn là từ những mô hình mang tính lý thuyết về 20ngành công nghiệp của Hoa đầu những năm 1950 Kết luận rằng cấu trúc thị trường quyếtđịnh kết quả tạo ra một niềm tin rằng chống độc quyền nên liên quan đến các biện phápđiều chỉnh về mặt cơ cấu hơn là các biện pháp điều chỉnh mang tính hành vi Trường pháiCấu trúc thị trường được định hình trước hết bơi số lượng các chủ

Trang 5

thể kinh tế tham gia mua, bán trên thị trường Nếu thị trường có ít người bán, thịtrường sẽ có dấu hiệu độc quyền bán Người bán sẽ có nhiều quyền lực để áp đặt giálên người mua Ngược lại nếu thị trường có ít người mua, thị trường sẽ có dấu hiệu độcquyền mua Người mua sẽ có nhiều quyền lực để áp đặt giá lên người bán Thị trườngchỉ thực sự cạnh tranh khi có nhiều người mua và nhiều người bán Các rào cản gianhập ngành, khả năng đa dạng hóa, mức độ liên kết dọc, và loại thị trường cũng ảnhhưởng đến cấu trúc thị trường Nếu như rào cản gia nhập ngành lớn, các doanh nghiệpđang chiếm lĩnh thị trường sẽ có nhiều quyền lực áp đặt giá cao hơn mà không sợ bị đedọa cạnh tranh bởi các doanh nghiệp mới, sẵn sàng nhập ngành Ngành có liên kết dọcmạnh trong chuỗi giá trị sẽ tạo quyền lực thị trường lớn hơn cho các doanh nghiệpchiếm lĩnh cả chuỗi giá trị Tuy nhiên, nếu liên kết dọc yếu, quyền lực thị trường củadoanh nghiệp chiếm lĩnh cả chuỗi giá trị sẽ giảm Do đó, bằng việc tập trung nghiêncứu các ngành bị tập trung, Bain đã cho rằng hầu hết các ngành công nghiệp bị tậptrung hơn mức cần thiết (tính kinh tế nhờ quy mô không phải là cơ bản, thiết yếu ở hầuhết các ngành); gây khó khăn, rào cản trong việc gia nhập thị trường cho các doanhnghiệp mới; bên cạnh đó việc đặt giá độc quyền gắn với các ngành độc quyền nhóm bắtđầu xảy ra ở mức tập trung tương đối thấp.

Mặc dù trường phái Chicago đã chỉ trích những phân tích của trường phái Bain,với lập luận rằng các kết luận rút ra từ những nghiên cứu mang tính kinh nghiệm làthiếu sót; đã sai khi thấy các rào cản gia nhập có mặt ở khắp nơi, khi thấy tính kinh tếnhờ quy mô không xuất hiện nhiều ở các ngành Việc lên án rất nhiều hành vi kinhdoanh được coi là hạn chế cạnh tranh là nhận thức sai lầm Tuy nhiên, bất chấp sựthắng thế của trường phái Chicago, mô hình S-C-P vẫn là một công cụ cơ bản của phântích chống độc quyền Mặc dù các nhà kinh tế chủ đạo không còn tin rằng cấu trúc thịtrường quyết định kết quả nhưng họ cũng chấp nhận rằng cấu trúc thị trường là quantrọng đối với khả năng của công ty hành xử mang tính hạn chế cạnh tranh

Trang 6

• Trường phái Chicago

“Chicago” là một trường phái của những nhà kinh tế học tại Đại họcChicago ủng hộ thị trường tự do và kinh tế tiền tệ Không giống như trường pháiHavard, nền tảng của các phân tích chống độc quyền lại dựa chủ yếu trên cơ sở

lý thuyết chứ không phải là những nghiên cứu mang tính kinh nghiệm Thậm chíngay sau khi mô hình S-C-P đã được thiết lập, trở thành nhận thức thống trị, vẫn

bị các học giả chống độc quyền của Chicago lớn tiếng chỉ trích Mặc dù mô hìnhS-C-P chưa bao giờ bị át hẳn, các nhà kinh tế theo trường phái Chicago đã làm

ra một cuộc cách mạng trong tư duy về chống độc quyền Mặc dù, đến lượtmình, nó lại bị chỉ trích và một số trong các khẩu hiệu giá trị nhất của nó thấyrằng không thể tiếp tục đứng vững cùng với các phân tích của mình, ảnh hưởngcủa trường phái này đến Luật Cạnh tranh vẫn còn lại Ở Hoa Kỳ, uy lực củatrường phái Chicago trong suốt những năm 1970 và 1980 đã dẫn đến một thayđổi trong định hướng áp dụng Luật chống độc quyền và thực sự đã hậu thuẫncho chính sách kinh tế của chính quyền Reagan

Theo quan điểm cơ bản của trường phái Chicago, việc theo đuổi hiệuquả, tức là hiệu quả về mặt phân bổ bởi thị trường, nên là mục tiêu duy nhất củaluật chống độc quyền Trường phái này không ủng hộ tính cảm tính đối với cáccông ty nhỏ, các cửa hàng nhỏ mà đặt trọn niềm tin vào thị trường Sự giốngnhau của người chiến thắng hay người thua cuộc là không phù hợp cho đến khiđạt được hiệu quả Trường phái này cho rằng chỉ có ít rào cản gia nhập tồn tại,rằng các ngành công nghiệp thường hưởng lợi từ tính kinh tế nhờ quy mô và cácdoanh nghiệp đều là những người tối đa hóa lợi nhuận Trường phái Chicago đặtnhiều niềm tin vào khả năng của thị trường có thể sửa chữa và đạt được tínhhiệu quả mà không cần có sự can thiệp từ Chính phủ hay Luật chống độc quyền

Trang 7

- Tính kinh tế theo quy mô

Chính sách công, vai trò của

Hiệu quả:

- Chất lượng sản phẩm, dịch vụ

- Phát triển công nghệ

- Hiệu quả (chất lượng dịch

vụ, tính bền vững ngân sách)

Hình 3: Khung phân tích Cấu trúc - Hành vi - Hiệu quả (SCP)

(Nguồn: Nhóm tổng hợp)

Trang 8

1.2 Các hình thức liên kết kinh tế của doanh nghiệp

Liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp có nhiều hình thức và ở nhiềumức độ khác nhau Căn cứ vào quá trình sản xuất hay cung cấp dịch vụ, cóliên kết dọc, liên kết ngang và liên kết hỗn hợp

Liên kết dọc là mô hình liên kết các công ty hoạt động trong cùng một

chuỗi giá trị ngành, hình thức liên kết của hai hay nhiều chủ thể tham giavào quá trình sản xuất theo hướng hoàn thiện của sản phẩm hay dịch vụ.Nghĩa là, các nhà cung cấp liên kết với tổ chức và các khách hàng Thôngthường, thực hiện liên kết dọc giúp các doanh nghiệp tăng cường khả năngnghiên cứu và đổi mới sản phẩm và tiết kiệm chi phí sản xuất

Liên kết ngang lại là liên kết của những doanh nghiệp hay tổ chức có

cùng vị trí với nhau trong chuỗi cung ứng Chẳng hạn, liên kết của nhữngnhà cung cấp nguyên phụ liệu may với nhau, của những doanh nghiệp mayxuất khẩu với nhau, liên kết của những doanh nghiệp phân phối hàng may ởthị trường nước ngoài Mục đích của liên kết ngang thường là hoặc tìm kiếm

sự hợp tác của những tổ chức có cùng chức năng để tăng cường công tácnghiên cứu và phát triển sản phẩm hay dịch vụ hoặc thực hiện những hoạtđộng nhằm tăng cường khả năng bán hàng của các doanh nghiệp

Hình thức liên kết hỗn hợp nghĩa là kết hợp giữa liên kết dọc và liên

kết ngang, là loại tập đoàn liên kết các DN hoạt động trong nhiều ngành,nghề và lĩnh vực có hoặc không có mối quan hệ về công nghệ nhưng có mốiquan hệ chặt chẽ về tài chính Nhìn chung, các doanh nghiệp cho dù là thựchiện hình thức liên kết dọc hay ngang thì đều hướng đến mục tiêu chung làhiệu quả hoạt động cao hơn

1.3 Các chỉ số đo lường mức độ tập trung thị trường

Việc xác định mức độ tập trung của thị trường dù không trực tiếp phảnánh cạnh tranh trên thị trường nhưng có thể giúp đưa ra đánh giá sơ

Trang 9

bộ xem độ tập trung kinh tế có làm nảy sinh lo ngại về mặt cạnh tranhkhông Các chỉ số cơ bản để đánh giá mức độ tập trung của thị trường gồm:thị phần, tỷ lệ tập trung hoá (chỉ số CRm – Concentration Ratio) và chỉ sốHerfindahl - Hirschmann Index (HHI).

✓ Tỷ lệ tập trung hoá (CRm)

Đây là chỉ số được sử dụng nhiều khi đo lường tập trung hóa củangành, được xác định bằng tỉ lệ sản lượng của r doanh nghiệp lớn nhất trongngành với r là một số tùy ý

Đôi khi tỉ lệ tập trung còn đo lường bằng doanh thu, số nhân

công…, xu hướng hiện nay thường đo lường bằng doanh thu Công thức:

=

=1

= ∑ =1Trong đó: m là số công ty lớn nhất trong ngành

(thông thường m = 4)

qi là doanh thu của công tythứ i Q là doanh thu củatoàn ngành

Si là thị phần của doanh nghiệp thứ i

Tỉ lệ tập trung hóa CRm nằm trong khoảng [0,1], tỉ lệ này càng tiệmcận với giá trị 1 thì tỉ lệ tập trung hóa càng cao Tỉ lệ tập trung hóa CR chỉtính đến các doanh nghiệp hàng đầu mà không tính đến các doanh nghiệpkhác trong ngành Để khắc phục điều này, các doanh nghiệp còn có thể sửdụng chỉ số Hirschman – Herfindahl để tính toán mức độ tập trung ngành

Trang 10

✓ Chỉ số HHI (Hirschman – Herfindahl Index)

Chỉ số HHI (hoặc Chỉ số Herfindahl) được sử dụng để đo lường quy

mô của doanh nghiệp trong mối tương quan với ngành và là một chỉ báo vềmức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành và thường được tínhbằng tổng bình phương thị phần của các doanh nghiệp và có giá trị từ 0 đến10.000 Công thức:

= 10.000 × ∑ 2

=1Trong đó: n là số doanh nghiệp trong ngành

wi là thị thần của doanh nghiệp trong ngành

Tổng quan ngành xây dựng công trình đường bộ (mã ngành: 42102)

1.4 Giới thiệu chung

Theo quyết định số 337/QĐ-BKH ngày 10/4/2007 về việc ban hànhquy định nội dung hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam, ngành Xây dựngcông trình đường bộ (mã ngành 42102) được xếp vào nhóm công trình giaothông, là những công trình công cộng phục vụ giao lưu kinh tế, đi lại củangười dân trên bộ, gồm:

✓ Các công việc bề mặt trên đường phố, đường bộ, cao tốc, cầu cống:rải nhựa đường, sơn đường và các loại sơn khác, lắp đặt các dấuhiệu giao thông và các loại tương tự, xây cầu, bao gồm cầu chođường cao tốc

✓ Xây dựng đường cao tốc, đường ô tô, đường phố, các loại đường khác và đường cho người đi bộ

✓ Xây dựng đường ống

✓ Xây dựng đường sắt và đường ngầm

✓ Xây dựng đường băng máy bay

Trang 11

Loại trừ: Xây dựng, sơn đường sắt, lắp đặt các đường chắn và biển báogiao thông đường sắt được phân vào nhóm 42101: Xây dựng công trìnhđường sắt.

1.5 Thực trạng phát triển

Các công trình đường bộ hiện tại của nước ta còn chiếm tỉ lệ nhỏ so vớiphần diện tích sinh sống, chỉ khoảng 1,5% Trong khi đó, tiêu chuẩn ở cácnước tiên tiến khác là từ 10-15%, như vậy các công trình đường bộ chiếmmột tỉ lệ rất nhỏ và nhu cầu bức thiết hiện nay là phải nâng diện tích dànhcho các công trình (đặc biệt là hệ thống giao thông) để đáp ứng nhu cầu thựctế

Thực tế, Việt Nam là nước đang phát triển, đang trong giai đoạn đầucủa công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, cần phải có sự pháttriển về nhu cầu giao thông cho người dân một cách dễ dàng, thuận tiện, đápứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá đến mọi vùng miền, đảm bảo chất lượngvới khối lượng vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ là 51.272,4 triệu tấn(2015) Thực tế ngành công trình xây dựng công trình đường bộ nói riêng vàtoàn ngành xây dựng nói chung vẫn giữ tốc độ tăng trưởng ngành cao tronggiai đoạn 2000 – 2009, tốc độ tăng trưởng ngành đạt 9,6%/năm và giai đoạn

2010 – 2013 đạt 4,6%/năm

Những năm qua, Việt Nam có nhiều chính sách, dự án tạo điều kiệncho các doanh nghiệp trong ngành phát triển như nâng cao đội ngũ quản lýxây dựng, cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi, huy độngnguồn lực để các doanh nghiệp tổ chức đấu thầu cạnh tranh lành mạnh.Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng được nâng cao đáng kể, tiêubiểu như có doanh nghiệp nhận thầu xây dựng công trình cao thứ 10 thế giới– COTECCONS Đặc biệt, trong ngành xây dựng công trình đường bộ, hệthống hạ tầng giao thông đường bộ được chú trọng hơn cả Theo báo cáođiều chỉnh quy hoạch và phát triển GTVT đường bộ đến 2020, hiện trạngthực tế là:

Trang 12

Bảng 1: Tổng chiều dài đường bộ nước ta năm 2011

Nguồn: Báo cáo Điều chỉnh quy hoạch phát triển GTVT đường bộ đến

năm 2020 và định hướng đến năm 2030

Qua đó, mạng lưới giao thông đường bộ của nước ta rộng khắp và ngaycàng được cải thiện Quan trọng nhất là sự phát triển hệ thống đường cao tốc, đãnâng tầng phát triển của ngành lên một tầm cao mới Mạng lưới giao thông dày đặc

và rộng khắp tạo thị trường xây dựng tương đối lớn cho doanh nghiệp trong ngànhxây dựng công trình đường bộ Để có được những thành tựu đó, cơ cấu vốn huyđộng cơ cấu vốn cho sự phát triển đã được huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau,

và được đầu tư vào các nhóm ngành:

Trang 13

Bảng 2: Vốn đầu vào ngành Đường bộ so với các ngành khác (2011)

27.646)

2 Ngành Hàng hải 11.278 (vốn vay nước ngoài 3.962) 7,73

5 Ngành Đường sông 1.648 (vốn vay nước ngoài 259) 1,13

Nguồn: Đánh giá cơ cấu vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ

Chất lượng một số công trình xây dựng còn thấp; tình trạng thấtthoát, lãng phí, chậm tiến độ thi công, nợ đọng trong xây dựng cơ bản vẫncòn là vấn đề gây nhiều bức xúc; việc rà soát, sửa đổi, bổ sung một số địnhmức kinh tế - kỹ thuật trong lĩnh vực xây dựng còn chậm, chưa đáp ứng vớiyêu cầu thực tiễn Điều này cho thấy tính cấp thiết về nhu cầu của việc pháttriển ngành Mặc dù trong nhiều năm đầu tư như vậy và với nguồn vốn lớnsong hiện nay công trình đường bộ vẫn còn thiếu nhiều, cần mở rộng, pháttriển mới, nâng cấp và sửa chữa thì mới đáp ứng được nhu cầu phát triểngiao thông cho đất nước

Bên cạnh đó, vốn đầu tư cho công tác bảo trì đường quốc lộ (QL) luôn thiếu trầm trọng, chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu Năm 2013, kinh

Trang 14

phí cấp cho công tác bảo trì QL chỉ là 4.187 tỷ đồng/nhu cầu là 11.063 tỷđồng, đạt 38% (không bao gồm các khoản chi liên quan khác như: xử lýtrạm thu phí; trả nợ các dự án vay vốn đầu tư theo văn bản 3170/KTN củaThủ tướng chính phủ, mua trạm cân di động…) Năm 2014, kinh phí cấpcho công tác bảo trì cũng chỉ được 4.640 tỷ đồng/nhu cầu là 12.360 tỷ đồng,đạt 38% Với nguồn vốn hạn hẹp như vậy nên công tác bảo trì đường bộthiếu sự chủ động: Hỏng đâu sửa đấy, không thực hiện sửa chữa theo quyđịnh về sửa chữa định kì để đảm bảo ngăn chặn sự xuống cấp của công trình(trong tổng số 19.100km QL, có: 9.937 km quá hạn sửa chữa lớn 8 năm và2.577 km đến hạn sửa chữa vừa 4 năm).

Hình 4: Tổng số lao động ngành xây dựng 2007–2015 (Đơn vị: nghìn người)

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

Lao động ngành xây dựng công trình đường bộ cũng gặp vấn đềtương tự ngành lao động của toàn ngành xây dựng Năm 2007 số lượng laođộng là 2.371,9 nghìn người đến năm 2015 con số này đã lên tới 3.431,8nghìn lao động toàn ngành Số lượng lao động đang ngày càng tăng nhưng

Trang 15

chất lượng lao động thì còn kém phát triển.

Chúng ta đã và đang phát triển được hệ thống công trình đường bộ khálớn và rộng khắp và đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Tuy nhiên, trướcthực tế đòi hỏi của đất nước, công trình đường bộ cần pháp triển mạnh hơn rấtnhiều mới có thể đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 16

CHƯƠNG II: CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG NGÀNH XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM

Trang 17

18

Trang 18

2 Phân tích cấu trúc thị trường ngành xây dựng công trình đường bộ

2.2 Quy mô doanh nghiệp

Sau khi nhập file, nhóm nhận thấy doanh nghiệp trong ngành xây dựng

chiếm một số lượng tương đối Theo số liệu năm 2011 có đến 4264 số doanh nghiệp

ngành xây dựng công trình đường bộ (mã ngành 42102) Đến nay, cùng với sự phát

triển của kinh tế xã hội và sự bùng nổ của startup có thể khẳng định con số này đã

và đang tăng lên

Ta có thể thấy doanh nghiệp trong ngành xây dựng công trình đường bộ

phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ Một số doanh nghiệp lớn đầu ngành phải

kể đến như là Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 – CIENCO1,

Tổng công ty cổ phần XNK và xây dựng Việt Nam, Tổng Công ty xây dựng

Sông Đà, Tổng Công ty xây dựng Thăng Long,

2.3 Mức độ tập trung của ngành

2.3.1 Tính toán các chỉ số đo lường mức độ tập trung của thị trường

❖ Tính tỷ lệ tập trungBước 1: Sắp xếp công ty theo doanh thu thuần bằng lệnh “gsort kqkd4”,

từ đó tìm ra 4 doanh nghiệp có doanh thu lớn nhất toàn ngành

Bước 2: Dùng lệnh “gen dt4 = sum(kqkd4) if macs == 3037 | macs == 29

| macs == 186 | macs == 191” để tính tổng doanh thu của top 4 công ty có

doanh thu lớn nhất

Bước 3: Dùng lệnh tạo biến “gen dt_sector = sum(kqkd4)” để tiến hành

tính tổng doanh thu toàn ngành, ta được kết quả:

Bảng 3: Top 4 doanh nghiệp doanh thu lớn nhất ngành xây dựng công

Ngày đăng: 03/09/2020, 08:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tổng chiều dài đường bộ nước ta năm 2011 - Tiểu luận tổ chức ngành phân tích ngành vận tải hàng hóa bằng đường bộ ở việt nam năm 2011
Bảng 1 Tổng chiều dài đường bộ nước ta năm 2011 (Trang 12)
Bảng 2: Vốn đầu vào ngành Đường bộ so với các ngành khác (2011) - Tiểu luận tổ chức ngành phân tích ngành vận tải hàng hóa bằng đường bộ ở việt nam năm 2011
Bảng 2 Vốn đầu vào ngành Đường bộ so với các ngành khác (2011) (Trang 13)
Hình 4: Tổng số lao động ngành xây dựng 2007–2015 (Đơn vị: nghìn người) - Tiểu luận tổ chức ngành phân tích ngành vận tải hàng hóa bằng đường bộ ở việt nam năm 2011
Hình 4 Tổng số lao động ngành xây dựng 2007–2015 (Đơn vị: nghìn người) (Trang 14)
lhdn loại hình doanh nghiệp - Tiểu luận tổ chức ngành phân tích ngành vận tải hàng hóa bằng đường bộ ở việt nam năm 2011
lhdn loại hình doanh nghiệp (Trang 17)
Bảng 3: Top 4 doanh nghiệp doanh thu lớn nhất ngành xây dựng công trình đường bộ năm 2011 - Tiểu luận tổ chức ngành phân tích ngành vận tải hàng hóa bằng đường bộ ở việt nam năm 2011
Bảng 3 Top 4 doanh nghiệp doanh thu lớn nhất ngành xây dựng công trình đường bộ năm 2011 (Trang 18)
Bảng 4: Các chỉ số đo lường mức độ tập trung của thị trường - Tiểu luận tổ chức ngành phân tích ngành vận tải hàng hóa bằng đường bộ ở việt nam năm 2011
Bảng 4 Các chỉ số đo lường mức độ tập trung của thị trường (Trang 19)
Bảng 5: Chi phí nghiên cứu khoa học công nghệ và lao động năm 2011 - Tiểu luận tổ chức ngành phân tích ngành vận tải hàng hóa bằng đường bộ ở việt nam năm 2011
Bảng 5 Chi phí nghiên cứu khoa học công nghệ và lao động năm 2011 (Trang 20)
Bảng 6: Xếp hạng chất lượng cơ sở hạ tầng tại Việt Nam - Tiểu luận tổ chức ngành phân tích ngành vận tải hàng hóa bằng đường bộ ở việt nam năm 2011
Bảng 6 Xếp hạng chất lượng cơ sở hạ tầng tại Việt Nam (Trang 22)
Bảng 4.2: Chỉ tiêu khả năng sinh lợi của một số doanh nghiệp có doanh thu cao nhất và toàn ngành xây dựng công trình đường bộ năm 2011 - Tiểu luận tổ chức ngành phân tích ngành vận tải hàng hóa bằng đường bộ ở việt nam năm 2011
Bảng 4.2 Chỉ tiêu khả năng sinh lợi của một số doanh nghiệp có doanh thu cao nhất và toàn ngành xây dựng công trình đường bộ năm 2011 (Trang 31)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w