Ngành may mặc đã có những bước phát triển đột phá.Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã có uy tín trên thị trường quốc tế, được nhiều khách hàngtrong nước và ngoài nước biết đến như Việt Tiến,
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1 TỔNG QUAN NGÀNH MAY MẶC 2
1.1 Khái niệm ngành 2
1.2 Lịch sử phát triển ngành 3
1.3 Đặc trưng ngành may mặc 3
1.4 Thực trạng ngành may mặc ở Việt Nam 4
2 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG 5
2.1 Quy mô doanh nghiệp 5
2.2 Mức độ tập trung 6
3 HÀNH VI CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY 10
3.1 Hành vi định giá 10
3.2 Hoạt động mua bán liên kết hợp nhất và sáp nhập 10
3.2.1 Khái niệm về mua bán liên kết hợp nhất và sáp nhập 10
3.2.2 Hoạt động hợp nhất và sáp nhập của các DN trong ngành may dệt của Việt Nam 11
3.3 Hoạt động nghiên cứu và phát triển 11
3.4 Hoạt động Marketing 12
4 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 12
4.1 Các chỉ số đo lường 12
4.2 Kết quả tính toán và ý nghĩa 14
Bảng 4: Kết quả tính toán các chỉ số 14
5 RỦI RO TRIỂN VỌNG VÀ KIẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY 16
5.1 Rủi ro 16
5.2 Triển vọng 17
5.3 Kiến nghị đề xuất phát triển ngành dệt may 17
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi chuyển đổi thành công từ nền kinh tế bao cấp bảo hộ sang nền kinh tế thịtrường mở cửa và nhất là đang trên đà tăng trưởng phát triển kinh tế, Việt Nam ta đã vàđang gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể trong hoạt động thương mại quốc tế Cùng vớiquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành may mặc đang chứng tỏ là mộtngành mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân Điều này được thể hiện qua kim ngạch xuấtkhẩu liên tục gia tăng trong những năm gần đây, đóng góp vào nguồn thu ngân sách và tạonguồn thu ngoại tệ đáng kể
Ngành may mặc là một ngành công nghiệp nhẹ có vị trí quan trọng trong cơ cấu sảnxuất của nền kinh tế Ngành đảm bảo hàng hóa tiêu dùng trong nước, thu hút nhiều laođộng đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu không lớn, ít rủi ro tạo điều kiện cho hoạt động mở rộngthương mại quốc tế nên phù hợp với bước đi ban đầu của các nước đang phát triển nhưchúng ta hiện nay
Trên cơ sở những kiến thức đã được học ở bộ môn “Tổ chức ngành” cũng như quaphân tích bộ số liệu về các doanh nghiệp ngành may mặc, chúng em xin chọn “ Phân tíchthị trường ngành may mặc ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu và tiểu luận
Kết cấu bài tiểu luận gồm có 5 phần:
1 Tổng quan ngành may mặc
2 Cấu trúc thị trường ngành may mặc
3 Hành vi các doanh nghiệp ngành may mặc
4 Phân tích hiệu quả ngành may mặc
5 Rủi ro, triển vọng và kiến nghị phát triển ngành dệt may
Vì thời gian hạn chế và kiến thức có hạn cho nên bài tiểu luận có thể còn nhiều thiếusót kính mong sự đóng góp ý kiến xây dựng của quý thầy cô để nhóm có thể hoàn thiện hơncác sản phẩm của mình trong thời gian tới
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Mã ngành 14100: May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú)
- Sản xuất trang phục, nguyên liệu sử dụng có thể là bất kỳ loại nào có thể đượctráng, phủ hoặc cao su hoá
- Sản xuất trang phục bằng da hoặc da tổng hợp bao gồm các phụ kiện bằng dadùng trong các ngành công nghiệp như tạp dề da
- Sản xuất quần áo bảo hộ lao động
- Sản xuất quần áo khoác ngoài từ vải len, vải đan móc hoặc không phải đanmóc cho phụ nữ, nam giới, trẻ em như: áo khoác ngoài, áo jac ket, bộ trang phục, quần,váy
- Sản xuất quần áo lót hoặc quần áo đi ngủ làm từ vải len, vải đan móc, cho namgiới, phụ nữ hoặc trẻ em như: Áo sơ mi, áo chui đầu, quần đùi, quần ngắn bó, bộ pyjama,váy ngủ, áo blu, áo lót, coóc xê
- Sản xuất quần áo cho trẻ em, quần áo bơi, quần áo trượt tuyết;
- Sản xuất các đồ phụ kiện trang phục khác: Tất tay, thắt lưng, caravat, lưới tóc,khăn choàng, mũ, giày dép từ nguyên liệu dệt
Mã ngành 14200: Sản xuất sản phẩm từ da lông thú
Sản xuất các sản phẩm làm từ da lông thú như:
- Trang phục lông thú và phụ trang
- Các phụ kiện làm từ lông da như tấm, miếng lót, mảnh dài…
- Các sản phẩm phụ khác từ da long thú như thảm, đệm, mảnh đánh bóng côngnghiệp
Mã ngành 14300: Sản xuất trang phục dệt kim, đan móc
Trang 4là tự may vá.
- 1967 -1990: Thời kì xây dựng hòa bình và hợp tác toàn diện với các nước xã hộichủ nghĩa Ngành dệt may Việt Nam phát triển nhanh chóng về năng lực sản xuất Cácdoanh nghiệp may mặc nhà nước được thành lập Các sản phẩm may sẵn phục vụ nhu cầutrong nước và cung cấp cho các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu theo các chỉ tiêu đã địnhsẵn Nhìn chung, thời kì này chỉ là một bước đệm để may sẵn xâm nhập hẳn vào đời sống
- 1991-1999: Thời kì Việt Nam bắt đầu mở cửa kinh tế, sản xuất kinh doanh theo
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Ngành may sẵn bắt đầu hội nhập nhanhchóng, các sản phẩm không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà đã bắt đầu xuất khẩu sangcác thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật, Canada Trong giai đoạn này, doanh nghiệp dệtmay Việt Nam Vinatex được thành lập (4/1995) Doanh nghiệp may mặc lớn nhất lúc bấygiờ, bao gồm 60 doanh nghiệp thành viên Quyết định thành lập Vinatex nằm trong chiếnlược phát triển dệt may Việt Nam trong đó có may mặc các sản phẩm may mặc bắt đầukhẳng định vị thế trên các thi trường lớn
- 1999 đến nay: Quá trình hội nhập sâu rộng Việt Nam vào thị trường quốc tế,chúng ta tham gia khu vực mậu dịch tự do các nước ASEAN, các diễn đàn hợp tác kinh tếkhu vực và thế giới Đặc biệt 11/2016, Việt Nam gia nhập WTO, thị trường thế giới hoàntoàn mở rộng với Việt Nam Đồng thời thị trường nước ta cũng hợp tác để thu hút cácdoanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư Ngành may mặc đã có những bước phát triển đột phá.Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã có uy tín trên thị trường quốc tế, được nhiều khách hàngtrong nước và ngoài nước biết đến như Việt Tiến, Nhà Bè, Phương Đông, Sài Gòn,…
1.2 Đặc trưng ngành may mặc
Hiện nay may mặc không chỉ đóng vai trò quan trọng trong đời sống của con người
mà còn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước May mặc là ngành cónăng lực cạnh tranh cao trong quá trình hội nhập thương mại quốc tế, là ngành xuất khẩuchủ lực của ngành công nghiệp Việt Nam trong những năm qua Kim ngạch xuất khẩu maymặc tăng lên qua hàng năm Bên cạnh đó, khả năng cạnh tranh và hội nhập của ngành maymặc Việt Nam đã phát triển mạnh, hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của các thị trường lớnnhư Mỹ, EU, Nhật… và hướng tới một số thị trường tiềm năng như Trung Quốc, HànQuốc, Angola, New Zealand, Ấn Độ, Nga…
Đây cũng là ngành có nhu cầu lao động cao, do đó ngành dễ dàng giải quyết và thuhút việc làm cho người lao động kể cả lao động xuất phát từ nông thôn, từ đó góp phần ổnđịnh và thúc đẩy tiến bộ xã hội, cải thiện quan hệ sản xuất, bảo đảm và tiến tới phân phốicông bằng hơn về thu nhập, đồng thời bảo đảm ngày càng nhiều công ăn việc làm cho xãhội, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tăng thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn
Trang 51.3 Thực trạng ngành may mặc ở Việt Nam
Về chủng loại sản phẩm của ngành may mặc Việt Nam, các loại sản phẩm may mặckhá đa đạng bao gồm: hàng may mặc cho trẻ sơ sinh, quần áo nam nữ trẻ em, áo sơ mi cácloại, váy, túi cặp sách, hàng may chất liệu bông… Trong đó có những mặt hàng cao cấp đã
có chỗ đứng trên thị trường trong trong và ngoài nước như: áo sơ mi cao cấp, áo Jacket…Những sản phẩm này đã được khẳng định trên thị trường các nước khó tính như: Anh, NhậtBản, Mỹ…
Tuy vậy, các doanh nghiệp Việt nam chưa đáp ứng được yêu cầu của hàng may mặcnhư: mốt, mẫu mã, đường nét… của thị trường xuất khẩu Công tác thiết kế đã được đầu tưnhưng ngành vẫn chủ yếu sử dụng mẫu mã thiết kế của đối tác nước ngoài Điều đó làmquá trình sản xuất của các doanh nghiệp may mặc nước ta phụ thuộc vào các đối tác đặthàng
Về vấn đề bán sản phẩm may mặc, các doanh nghiệp Việt Nam có qui mô nhỏ, chưaxây dựng cho mình hệ thống bán hàng có hiệu quả Đầu tư cho quảng cáo phát triển cònthấp Nên sản lượng tiêu thụ còn thấp Vì bộ phận thiết kế chưa nhanh nhạy, nếu có tínhsáng tạo thì đó cũng chỉ là ngẫu hứng chứ chưa tập trung vào nhu cầu của thị trường Vìvậy sản phẩm của các doanh nghiệp hay bị lạc mốt, không hợp thời trang Các doanhnghiệp chỉ quan tâm đến doanh số mà không hề quan tâm đến việc đưa ra những xu hướngthời trang để thu hút khách hàng Công ty lớn như Việt Tiến cũng chỉ có một số mặt hàngchính như: quần âu, vest, áo sơ mi các loạiTheo các chủ sạp bán hàng: nếu lấy mặt hàngTrung Quốc giá rẻ đem bán thì thu lợi được khoảng 40%, còn nếu lấy mặt hàng cao cấp thìlợi nhuận thu được khoảng 60% Vì vậy một số công ty thời trang mở các cửa hàng trên cảnước không còn chú trọng đến sản xuất mà sang tận Trung Quốc để đặt hàng hoặc đặt hàngtại các doanh nghiệp ở đây sau đó về gắn nhãn hiệu của công ty mình rồi đem bán thu lãi(Nguồn VIB forum, cập nhật ngày 31/8/2008)
Về việc xuất khẩu hàng may mặc, hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đang thựchiện hình hai hình thức xuất khẩu: gia công ủy thác CMT (cắt (cut) - may (make) - hoànthiện (trim)) và hình thức xuất khẩu FOB (free on board) Trong đó hình thức gia công ủythác chiếm 70% còn lại là hình thức FOB Các doanh nghiệp sản xuất CMT nhận đơn đặthàng và nguyên vật liệu, các vật liệu phụ trợ sau đó lại xuất khẩu trở lại cho các doanhnghiệp đó Vì vậy lợi nhuận các doanh nghiệp thu được là thấp Còn hình thức xuất khẩuFOB thì các doanh nghiệp tự tìm nguồn nguyên vật liệu và tự thiết kế sản phẩm, sản xuấtsau đó cũng cấp cho các doanh nghiệp cần nguồn hàng Nó làm các doanh nghiệp chủ động
và tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp sản xuất và đương nhiên các doanh nghiệpnày sẽ thu lợi nhuận lớn hơn
Năm 2017 không có nhiều thuận lợi, nhưng vẫn tăng trưởng trên 10% so với năm
2016 Dự báo, năm 2018 tăng trưởng 10 – 12% so với năm 2017, đạt 34,4 – 35 tỷ USD;ngành dệt may có thể tiếp tục là ngành thu ngoại tệ nhiều thứ hai về cho Việt Nam Đây là
nỗ lực đáng ghi nhận của ngành dệt may trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới vẫn bất ổn
và tình hình dệt may thế giới không khả quan Bởi, các quốc gia nhập khẩu dệt may chính
là Mỹ, EU, Nhật Bản đều có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu dệt may thấp hoặc suy giảmtrong 6 tháng đầu năm 2017
Trang 6Xuất khẩu hàng may mặc sang các nước ASEAN đang rất thuận lợi, nhờ sức cạnhtranh cao và tận dụng hiệu quả những lợi ích từ việc tham gia cộng đồng kinh tế ASEANmang lại Xuất khẩu sang thị trường này năm 2017 ước đạt 860 triệu USD, tăng 26% so vớinăm 2016 Dự báo, năm 2018 tiếp tục tăng trưởng mạnh.
Năm 2018, ngành dệt may đặt mục tiêu xuất khẩu đạt 33,5 tỷ USD; tập trung đầu tưtái cơ cấu nội bộ ngành, áp dụng công nghệ tiên tiến để tự cân đối dần các khâu, nâng caonăng suất, chất lượng sản phẩm; chuyển dịch sản xuất theo vùng lãnh thổ; tăng cường hợptác, liên doanh, liên kết giữa doanh nghiệp dệt may trong nước với nhau, doanh nghiệptrong nước với đầu tư nước ngoài; khai thác thị trường truyền thống song song khai thác thịtrường mới; đẩy mạnh hàng FOB, ODM…
2 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG
Cấu trúc thị trường là một thuật ngữ miêu tả hành vi của người bán và người muatrên thị trường Các nhà kinh tế căn cứ vào mức độ cạnh tranh hay mức độ độc quyền đểphân chia thành nhiều loại thị trường khác nhau
Cấu trúc thị trường được xác định bằng các loại chủ thể tham gia, mua và bán trênthị trường, thị phần của các doanh nghiệp tham gia thị trường Số lượng các doanh nghiệptham gia sẽ là cơ sở để xác định mức độ cạnh tranh, tiềm năng cũng như xu hướng pháttriển trên thị trường Thị phần của các doanh nghiệp cho phép đánh giá sơ bộ sức mạnh,mức độ chiếm lĩnh của doanh nghiệp đó trên các lĩnh vực liên quan
2.1 Quy mô doanh nghiệp
Hiện nay trên thị trường Việt Nam có rất nhiều doanh nghiệp dưới cả hình thức tưnhân, nhà nước, hoặc nhà nước kết hợp với tư nhân sản xuất sản phẩm may mặc, nhưngmột số công ty may mặc lớn đóng góp chủ yếu vào kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc củaViệt Nam đó là: Vinatex, Việt Tiến, May 10, nhà Bè, Phong Phú, May Đức Giang Và một
số doanh nghiệp may tư nhân nhỏ lẻ: May mặc An Thắng, Mỹ Anh, May Huy Trinh,…
Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) vẫn là doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vựcmay mặc hiện nay Hiện tại Vinatex đang dẫn đầu với giá trị vốn hóa lên đến 5500 tỷ đồng,đồng thời cũng đứng đầu về quy mô vốn chủ sở hữu, đạt 7,594 tỷ đồng tính đến ngày31/12/2016 và tổng tài sản đạt 19,794 tỷ đồng Các nhóm doanh nghiệp thuộc Vinatex(công ty mẹ) như May 10, Việt Tiến, Phong phú có quy mô vốn hóa và tổng tài sản rất lớn.Vinatex sở hữu hệ thống phân phối rộng lớn với hơn 50 siêu thị Vinatex trên 26 tỉnh thành,
hệ thống siêu thị có quy mô rộng lớn và tập đoàn Dệt may Việt Nam đang đặt mục tiêuchiếm lĩnh thị trường nội địa
Trang 7Biểu đồ 1: Thị phần hàng may mặc tại thị trường Việt Nam
30.00%
30.00%
40.00%
Hàng ngoại nhập Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Các nhà may tư nhân nhỏ lẻ
Nguồn: Theo Vinatex
Nhìn vào thị phần ngành may mặc của Việt Nam, sản phẩm sản xuất trong nước chỉchiếm 70% tổng mức tiêu dùng tại thị trường nội địa, 30% còn lại là của nước ngoài, trong
đó phần lớn là hàng may mặc nhập khẩu từ Trung Quốc
2.2 Mức độ tập trung
Ngành may mặc Việt Nam có mức độ tập trung thấp Điều này được thể hiện qua sốlượng doanh nghiệp trên thị trường (có hơn 8000 doanh nghiệp) Mức độ cạnh tranh trongngành rất cao, tổng các doanh nghiệp may lớn trong nước mới chỉ chiếm 40% thị trườngnội địa Bên cạnh đó rào cản về ngành lại thấp, không yêu cầu cao về vốn và trình độ côngnghệ, chi phí đào tạo lao động lại thấp Nên việc gia nhập ngành khá là dễ dàng
Trang 8Dù là những doanh nghiệp lớn nhưng tỷ lệ tập trung hóa vẫn còn thấp Thị phần 5doanh nghiệp cộng vào còn chưa được ở mức 1/3 thị trường Quy mô thị trường may mặcViệt Nam theo Vinatex ước tính vào khoảng 4,5 tỷ USD mỗi năm Doanh thu hàng năm củanăm doanh nghiệp kể trên tương đối cao, ví dụ như Vinatex doanh thu dao động từ 40 đến
50 nghìn tỷ Việt Nam đồng, nhưng trong đó thu được từ xuất khẩu khoảng hơn 60% Qua
đó cho thấy doanh nghiệp trong nước đang phải cạnh tranh khốc liệt với hàng hóa đượcnhập khẩu và đang dần bị mất thị phần vào tay những thương hiệu thời trang nước ngoàinổi tiếng điển hình như Zara, H&M, Mango,…
Chỉ số HHI
Chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) được sử dụng đề nhận biết mức độ cạnh tranhcủa thị trường là hoàn hảo hay độc quyền cao HHI xác định bằng tổng bình phương thịphần của mỗi doanh nghiệp trong toàn hệ thống
Công thức: HHI=∑
i=1
n
Si2
Trong đó: + Si: Thị phần doanh nghiệp thứ i
+ n: Số lương doanh nghiệp tham gia thị trường
Bảng 2: Kết quả tính chỉ số HHI qua các năm
Nhìn vào HHI của 5 doanh nghiệp may mặc lớn tại Việt Nam ta thấy chỉ số nàyluôn nhỏ hơn 1000, thể hiện mức độ tập trung ngành thấp và thị trường có tính tập trungcao Kết quả này không có gì ngạc nhiên đối với một thị trường có hơn 8000 doanh nghiệp,còn chưa kể các mặt hàng nhập khẩu từ nước ngoài Hơn nữa chỉ số HHI ngày càng giảm,các doanh nghiệp lớn đang dần bị mất dần thị phần vào tay các nhà may nhỏ lẻ và thươnghiệu nước ngoài
Dự báo mức độ cạnh tranh trong ngành
Mức độ cạnh tranh sẽ tương đối cao do phần lớn các doanh nghiệp hiện nay chủ yếunhận gia công từ đơn đặt hàng của nước ngoài, sản xuất cắt may và hoàn thiện đơn giản,các doanh nghiệp đều có thể làm được công việc tương tự như nhau, đặc trưng của sảnphẩm tương đối giống nhau Do rào cản gia nhập ngành không cao, quá nhiều doanh nghiệptrong ngành khiến cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt Các công ty có quy mô nhỏ sẽphải chịu áp lực cạnh tranh khốc liệt hơn Ngoài ra các doanh nghiệp dệt may Việt Namcòn chịu cạnh tranh từ các công ty đang phát triển khác không chỉ trên thị trường may mặcxuất khẩu mà cả tại thị trường trong nước do dần dần Việt Nam không có lợi thế về chi phínhân công nữa
2.3 Rào cản gia nhập ngành
Trang 9Bảng 3: Bảng phân tích các rào cản gia nhaaph ngành may mặc
bình
Cao Nhận định
so với các ngành công nghiệp khác vàkhông yêu cầu đầu tư lớn về công nghệhiện đại, vì vậy mà rào cản về công nghệ
và vốn không quá cao Việc mở một nhàmáy sản xuất hàng may mặc ở Việt Namkhông quá khó Về cơ bản đầu tư cho máymay, thùa, khuyết,… và đào tạo công nhân
ở mức trung bình thấp không mất nhiều chiphí
Chi phí chuyển đổi
từ nhà cung cấp này
sang nhà cung cấp
khác
x Do sản xuất hàng may mặc chỉ ở công đoạn
với yêu cầu không phức tạp, các sản phẩmkhông có sự cá biệt hóa cao, các doanhnghiệp trong ngành không có sự khác biệtvượt trội
Sự tiếp cận đến các
kênh phân phối
x Đối với thị trường trong nước: dễ dàng để
mở cửa hàng kinh doanh cũng như tiếp cậncác nhà bán lẻ phân phối sản phẩm
Đối với thị trường nước ngoài: cần phảiphân phối qua các nhà bán lẻ hoặc qua cácnhãn hàng nổi tiếng khác ở nước ngoài.Doanh nghiệp mới vào ngành chưa có kinhnghiệm và mối quan hệ lâu năm với đôi tácnước ngoài nên việc xuất khẩu là hạn chế.Lợi thế theo quy mô x Lợi thế theo quy mô thể hiện việc giảm chi
phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm khisản lượng đầu ra tăng Bởi vì đầu tư tài sản
cố định không quá lớn cho một nhà máymay mặc, lợi thế kinh tế theo quy môkhông cao
Đánh giá chung x Nhìn chung, rào cản gia nhập ngành được
đánh giá ở mức độ thấp Yếu cầu về vốnkhông cao, khả năng tạo sản phẩm khácbiệt là tương đối thấp Tuy nhiên các doanhnghiệp hoạt động trong ngành đang nắm
Trang 10giữ lợi thế nhất định của riêng mình và phảicạnh tranh khốc liệt vì quá nhiều doanhnghiệp trong ngành.
2.4 Cầu và điều kiện thị trường
2.4.1 Cầu và điều kiện thị trường trong nước
Thị phần may mặc sản xuất trong nước chiếm khoảng 70% tổng mức tiêu thụ tại thịtrường nội địa, 30% còn lại là của nước ngoài Thực tế sản phẩm may bình dân của ViệtNam sản xuất chất lượng tốt nhưng còn hạn chế trong chiếm lĩnh thị trường nội địa do từtrước đến nay chủ yếu tập trung cho xuất khẩu Bên cạnh đó triển vọng phát triển thị trườngmay mặc ở nông thôn là rất lớn nhưng việc triển khai tại khu vực này còn nhiều khó khăn
do nhu cầu tiêu dùng chưa cao, các kênh phân phối giao hàng thường nợ đọng vốn, nênlượng vốn lưu động cần rất lớn
Thị trường bán lẻ trong nước rất phân tán Các nhà bán lẻ quy mô nhỏ chiếm 86%tổng thị phần bán lẻ vào năm 2010 Các sản phẩm được bán ra khá đa dạng từ các sản phẩmgiá thành rất rẻ được sản xuất trong nước hoặc được nhập khẩu từ Trung Quốc đến nhữngcửa hàng và nhà thiết kế đắt tiền Ngoài ra các cửa hàng kinh doanh hàng xách tay từ Châu
Âu, Mỹ, Thái Lan ngày càng phổ biến Theo nghiên cứu mới đây của Niesel cho biết cóđến 90% người tiêu dùng được hỏi ở thành phố Hồ Chí Minh, và 83% người tiêu dùng ở HàNội cho biết họ chắc chắn sẽ mua hàng Việt Nam nhiều hơn Vì vậy mà xu hướng ngườiViệt Nam tiêu dùng hàng Việt Nam đang tăng lên Lý do khiến hàng Việt Nam ngày càngđược sử dụng rộng rãi là vì giá cả hợp lý, tính đa dạng, dịch vụ khuyến mại, bảo hành tốt vàquan trọng đó là giảm mối lo ngại về an toàn sức khỏe của sản phẩm may mặc đang tràn lantrên thị trường hiện nay
2.4.2 Cầu và điều kiện thị trường nước ngoài
Sản lượng mà các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc lớn của Việt Nam phần lớn
là đem đi xuất khẩu Các thị trường EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ là 3 thị trường xuất khẩu chínhcủa Việt Nam
ASEAN là thị trường vừa gần, vừa lớn của Việt Nam, cùng trong một cộng đồng kinh tếAEC với rất nhiều cơ hội hợp tác về thương mại Xuất khẩu sang ASEAN sẽ tiếp tục tăngtrưởng ổn định nhờ được hưởng ưu đãi thuế quan với tổng số trên 99% dòng thuế củaASEAN 6 là 0% theo Hiệp định ATIGA Đây là thời điểm để các doanh nghiệp linh hoạt,nhạy bén, sớm nhận diện và nắm bắt những lợi ích tiềm năng từ AEC để thúc đẩy khả năngtăng quy mô kinh tế không chỉ khối thị trường này mà còn với các thị trường khác; trong đó
có các thị trường ASEAN đã ký các Hiệp định Thương mại Tự do như Trung Quốc, HànQuốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand
Nếu so sánh tương quan với các đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam như TrungQuốc, Ấn Độ, Bangladesh, Indonesia, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất Cụthể, theo Bản đồ thông tin thương mại (Trade Map) trong 6 tháng đầu năm 2017, so vớicùng kỳ, xuất khẩu dệt may của Trung Quốc giảm hơn 5%, Bangladesh giảm 3,5%,Indonesia giảm 5%, riêng Ấn Độ tăng 5%
Trang 11Với thị trường Mỹ, trong 11 tháng năm 2017, xuất khẩu nhóm hàng dệt may sang
Mỹ đạt 11,15 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm ngoái Dự báo, xuất khẩu năm 2018tăng 10%, ước đạt 12,5 tỷ USD
Hàng may mặc của Việt Nam vẫn có lợi thế cạnh tranh tại thị trường Mỹ, dù Mỹ khôngtham gia TPP, do có ưu điểm về chất lượng, giá cả và cam kết giao hàng Tốc độ tăngtrưởng xuất khẩu hàng dệt may từ Việt Nam sang Mỹ tiếp tục vượt qua các đối thủ cạnhtranh, thậm chí khi không được hưởng lợi từ bất kỳ chương trình ưu đãi thương mại hayHiệp định Thương mại tự do nào
Một trong những khó khăn đối với ngành dệt may hiện nay là trước tiên do tháchthức từ bên ngoài Trung Quốc được coi là đối thủ cạnh tranh nặng ký với quy mô sản xuấtlớn, giá thành thấp, nhất là về nguồn lực, Trung Quốc giành lợi thế theo quy mô Trước xuthế hội nhập, việc tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu là mục tiêu lớn
3 HÀNH VI CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY
3.1 Hành vi định giá
Cách thức định giá chung cho các sản phẩm thường dựa vào chỉ số Lerner (L) nhằm
đo lường sự chênh lệch về giá (P) và chi phí cận biên(MC)
Ta có công thức xác định như sau: L= P−MC P Suy ra P= 1−L MC
Từ công thức trên ta thấy để định giá cho sản phẩm thì nhà sản xuất cần phải dựavào chi phí cận biên và tỷ lệ thuận với markup factor (1−L1 ) Tuy nhiên, nếu chỉ nhắc đếnchi phí cận biên thì thật khó đánh giá được giá thực sự mà nhà sản xuất đã phải chịu vì chưatính cả chi phí chìm
Giá trị tài sản cố định của ngành dệt may rất nhỏ, một doanh nghiệp may cỡ vừavốn cũng chỉ xấp xỉ 100-200 tỷ Giá trị vô hình của các thương hiệu thì chúng ta chưa cóphương pháp chính xác để xác định nó
Tại thị trường trong nước, các doanh nghiệp dệt may phải thường xuyên đối diệnvới nạn hàng nhái, hàng giả Tại thị trường nước ngoài, các sản phẩm dệt may Việt Namđang bị cạnh tranh gay gắt bởi các hàng rào thương mại với các chính sách bảo hộ hàng nộiđịa của nhiều quốc gia Chính sự bất ổn đó mà các doanh nghiệp cũng đã phải tốn khoảnchi phí ngầm để đảm hộ cho sản phẩm của mình được sản xuất và tiêu thụ không chỉ thịtrường trong nước và cả nước ngoài
3.2 Hoạt động mua bán liên kết hợp nhất và sáp nhập
3.2.1 Khái niệm về mua bán liên kết hợp nhất và sáp nhập
a) Hợp nhất doanh nghiệp
Hợp nhất doanh nghiệp là hai hay một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị hợpnhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyểntoàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấmdứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất
b) Sáp nhập doanh nghiệp