1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận môn logistics thực trạng và đánh giá năng lực ngành logistics việt nam

65 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 475,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc áp dụng hệ thống logistics toàn cầu đã tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất hàng hóa từ khâu đầu vào của nguyên vật liệu cho tới khâu phân phối sản phẩm cuối cùng đến tay kh

Trang 1

L I M Đ U ỜI MỞ ĐẦU Ở ĐẦU ẦU

1 Tính cấp thiết của việc chọn đề tài

Khi mới xuất hiện, logistics chỉ được xem như một phương thức kinh

doanh mới, mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp Cùng với quá trình phát

triển, logistics đã được chuyên môn hóa và trở thành một hoạt động quan trọng

trong giao thương quốc tế Ngày nay, toàn cầu hóa càng mạnh mẽ, càng đòi hỏi

sự phối hợp cao giữa các hoạt động vận tải đường bộ, đường sắt, đường biển,

đường sông, đường hàng không và cả Internet Điều này càng làm cho hệ thống

logistics trở nên phức tạp

Ở Việt Nam, logistics vẫn còn là thuật ngữ khá mới mẻ Hầu hết mọi

người đều cho rằng hoạt động logistics chỉ đơn thuần là hoạt động giao nhận

hàng hóa hay thậm chí chỉ là dịch vụ vận tải Bởi thế mà các công ty từ những

công ty vận tải đường bộ đến các nhà giao nhận, các hàng vận tải hàng không và

bưu điện đều dùng từ “logistics” để mô tả những gì họ đang cung cấp Trong

những năm trở lại đây, nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động logistics

đối với sự phát triển đất nước, Nhà nước ta cũng đã có nhiều quy hoạch, đầu tư

vào cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện phát triển sâu rộng hoạt động logistics Mặc

dù, với những thuận lợi hiện có, nước ta có nhiều tiềm năng để phát triển

logistics trong tương lai nhưng vì “sinh sau đẻ muộn” nên năng lực hệ thống

logistics nước ta còn nhiều yếu kém và hạn chế Để phát triển ngành logistics

một cách toàn diện trong thời gian tới, việc xây dựng một kế hoạch hành động

logistics đang là vấn đề hết sức cấp thiết

Chính vì thế, nhóm đã quyết định chọn đề tài “Thực trạng và đánh giá

năng lực ngành logistics Việt Nam” với mong muốn phân tích chuyên sâu về

những vấn đề của hệ thống logistics Việt Nam và từ đó đánh giá năng lực, tìm ra

những giải pháp để phát triển ngành logistics

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tiểu luận sẽ đi sâu vào tìm hiểu đối tượng nghiên cứu là ngành logistics

Việt Nam đến thời điểm cuối năm 2017

Trang 2

Về mặt nội dung, tiểu luận phân tích thực trạng của ngành logistics trong

nước, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện và thúc đẩy hoạt động của

ngành logistics

Về mặt thời gian, tiểu luận sẽ đề cập đến những nghiên cứu trong khoảng

thời gian từ năm 2007 đến năm 2017 và kiến nghị những giải pháp trong vòng 5

năm tới

3 Phương pháp nghiên cứu

Tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp số liệuPhương pháp so sánh, đối chiều

Phương pháp phân tích SWOT

4 Kết cấu của đề tài

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục,

nội dung của tiểu luận gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về logistics

Chương 2: Thực tiễn phát triển ngành logistics Việt Nam tính đến năm

2017

Chương 3: Một số đề xuất phát triển ngành logistics tại Việt Nam

Trang 3

N I DUNG ỘI DUNG

I C s lý thuy t ơ sở lý thuyết ở lý thuyết ết

I.1 Khái ni m chung v logistics ệm chung về logistics ề logistics

Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về logistics Tùy theo

từng giai đoạn phát triển của nghiên cứu logistics và quan điểm khác nhau của

các nhà nghiên cứu mà những cách định nghĩa khác nhau về logistics được đưa

ra

Theo Christopher (2012), “logistics là quá trình quản trị chiến lược thu

mua, di chuyển và dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm (và dòng

thông tin tương ứng) thông qua các kênh tổ chức và marketing của nó để tối đa

hóa lợi nhuận hiện tại và tương lai thông qua việc hoàn tất các đơn hàng theo

cách hiệu quả nhất vềs mặt chi phí.”

David (2014) cho rằng “hệ thống Logistics (Logistics Network) là một

nhóm các cách tiếp cận được sử dụng để liên kết các nhà cung cấp, nhà sản xuất,

kho, cửa hàng một cách hiệu quả để hàng hóa được sản xuất và phân phối đúng

số lượng, đúng địa điểm và đúng thời điểm nhằm mục đích giảm thiểu chi phí

trên toàn hệ thống đồng thời đáp ứng được yêu cầu về mức độ phục vụ”

Theo quan điểm của Đoàn Thị Hồng Vân (2006), “logistics là quá trình tối

ưu hoá về địa điểm và thời điểm vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm

đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông

qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.”

Như vậy có thể rút ra nhận định rằng logistics là quá trình tối ưu hóa về vị

trí, thời gian, lưu trữ, vận chuyển các nguồn tài nguyên từ điểm đầu của dây

chuyền cung ứng đến tay người tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng

với mức chi phí hợp lý nhất

Trang 4

I.2 Các giai đo n và hình th c phát tri n c a logistics ạn và hình thức phát triển của logistics ức phát triển của logistics ển của logistics ủa logistics

Theo Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (Economic and

Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP), quá trình phát triển

logistics bao gồm ba giai đoạn chính sau:

+ Giai đoạn 1960 – 1970: Phân phối vật chất

Phân phối vật chất là hoạt động phân phối bên ngoài của doanh nghiệp

Các hoạt động này bao gồm: vật tải, phân phối, bảo quản hàng hóa, quản lý tồn

kho, bao bì đóng gói, dãn nhãn, hay còn gọi là logistics đầu ra

+ Giai đoạn 1980 – 1990: Chuỗi logistics

Từ những năm 1980, nhận thức trước đây về logistics đã thay đổi,

logistics được nhìn nhận và quản lý ở cả hai mặt: đầu vào cung ứng vật tư và đầu

ra phân phối sản phẩm nhằm cải thiện hoạt động quản lý và nâng cao hiệu quả

kinh tế Sự kết hợp quản lý logistics này được gọi là chuỗi logistics

+ Giai đoạn 2000 đến nay: Quản trị chuỗi cung ứng

Bước sang giai đoạn hiện nay, logistics được quản lý từ nhà cung cấp tới

nhà sản xuất và tới người tiêu dùng cuối cùng Như vậy, ngoài logistics đầu vào

và logistics đầu ra thì các hoạt động như hệ thống theo dõi, kiểm tra sản phẩm,

lập các chứng từ liên quan nhằm tăng giá trị sản phẩm cũng được bao gồm trong

chuỗi Bên cạnh đó, quản trị chuỗi cung ứng coi trọng việc phát triển mối quan

hệ với các bên liên quan như người giao nhận, kho bãi, người vận tải, người cung

cấp công nghệ thông tin

Tương ứng với ba giai đoạn trên, đến nay logistics đã phát triển và hình

thành năm hình thức hoạt động của các bên tham gia:

 Logistics bên thứ nhất (1PL – First Party Logistics): là hoạt động logistics

do doanh nghiệp sở hữu sản phẩm/hàng hoá tự mình tổ chức và thực hiện

để đáp ứng nhu cầu của bản thân doanh nghiệp

 Logistics bên thứ hai (2PL – Second Party Logistics): là hoạt động

logistics do nhà cung cấp logistics thực hiện cho một/một vài hoạt động

nhỏ trong chuỗi cung ứng để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng

Trang 5

 Logistics bên thứ ba (3PL – Third Party Logistics): là hoạt động logistics

do một doanh nghiệp độc lập thay mặt chủ cửa hàng tổ chức thực hiện và

quản lý các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng

 Logistics bên thứ bốn (4PL – Four Party Logistics): bên cung cấp dịch vụ

tích hợp, gắn kết các nguồn lực tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ

thuật của mình và các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các

giải pháp chuỗi cung ứng

 Logistics bên thứ năm (5PL – Fifth Party Logistics): là các dịch vụ

logistics được cung cấp trên cơ sở thương mại điện tử Các nhà cung cấp

5PL sử dụng các hệ thống quản lý (hệ thống quản lý đơn hàng, hệ thống

quản lý kho hàng và hệ thống quản lý vận tải) tích hợp trong một hệ thống

chung, sử dụng công nghệ thông tin để quản lý các bên trong chuỗi phân

phối

I.3 Đ c đi m c a logistics ặc điểm của logistics ển của logistics ủa logistics

Theo giáo trình Logistics và Vận tải quốc tế (Trường Đại học Ngoại

thương, 2009)1, logistics có một số đặc điểm như sau:

Logistics là một quá trình Điều đó có nghĩa logistics không phải là một

hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, liên quan mật thiết và

tác động qua lại lẫn nhau, được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống qua

các bước : nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm

soát và hoàn thiện Do đó, logistics xuyên suốt mọi giai đoạn, từ giai đoạn đầu

vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng

Logistics liên quan đến tất cả nguồn tài nguyên/các yếu tố đầu vào cần

thiết để tạo ra sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng

Nguồn tài nguyên không chỉ có vật tư, nhân lực, mà còn bao gồm cả dịch vụ,

thông tin, bí quyết công nghệ…

Logistics tồn tại ở cả hai cấp độ: hoạch định và tổ chức Ở cấp độ thứ

nhất, vấn đề đặt ra là phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm hay

dịch vụ… ở đâu ? vào khi nào ? và vận chuyển chúng đi đâu ? Do vậy tại đây

xuất hiện vấn đề vị trí Cấp độ thứ hai quan tâm đến việc làm thế nào để đưa

Trang 6

được nguồn tài nguyên/các yếu tố đầu vào từ điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền

cung ứng

I.4 Vai trò c a logistics ủa logistics

4.1 Đối với hoạt động kinh tế quốc tế

Xu thế tất yếu của thời đại ngày nay là toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới

Sự phát triển sôi động của thị trường toàn cầu đã làm cho giao thương giữa các

quốc gia, các khu vực trên thế giới tăng một cách mạnh mẽ và đương nhiên sẽ

kéo theo những nhu cầu mới về vận tải, kho bãi, các dịch vụ phụ trợ… Vai trò

của logistics vì thế cũng ngày càng trở nên quan trọng

Logistics là công cụ hữu hiệu dùng để liên kết các hoạt động kinh tế quốc

tế, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao Việc áp dụng hệ

thống logistics toàn cầu đã tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất hàng hóa

từ khâu đầu vào của nguyên vật liệu cho tới khâu phân phối sản phẩm cuối cùng

đến tay khách hàng sử dụng, khắc phục được những ảnh hưởng của các yếu tố

không gian, thời gian và chi phí sản xuất cho các hoạt động kinh tế quốc tế, nhờ

đó các hoạt động này luôn được “kết dính” với nhau và được thực hiện một cách

có hệ thống, đạt hiệu quả cao

Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường kinh doanh quốc tế Hệ

thống logistics có tác dụng như một chiếc cầu nối đưa hàng hóa đến các thị

trường mới theo đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra Do đó, với sự hỗ

trợ của hệ thống logistics, quyền lực của nhiều công ty đã vượt ra khỏi biên giới

địa lý của nhiều quốc gia Một mặt, các nhà sản xuất kinh doanh có thể chiếm

lĩnh thị trường cho sản phẩm của mình, mặt khác, thị trường kinh doanh quốc tế

cũng được mở rộng và phát triển

Logistics góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ

trong kinh doanh quốc tế Thực tiễn, mỗi giao dịch trong buôn bán quốc tế

thường phải sử dụng đến nhiều loại giấy tờ, chứng từ rườm rà, làm tiêu tốn rất

nhiều chi phí, ảnh hưởng lớn tới tốc độ và hiệu quả của các hoạt động buôn bán

quốc tế Logistics đã cung cấp các dịch vụ đa dạng trọn gói, không những khắc

phục được những yếu điểm đó mà còn nâng cấp và chuẩn hóa chứng từ cũng như

Trang 7

giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, từ đó nâng cao

hiệu quả buôn bán quốc tế

Ngoài ra, sự phát triển của logistics điện tử (electronic logistics) sẽ tạo ra

cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy tờ, chứng từ

trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng dịch vụ

logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặt không gian

và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa Các quốc gia sẽ

xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và lưu thông

4.2 Đối với nền kinh tế quốc dân

Có thể nói rằng, logistics có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên

lợi thế cạnh tranh cho mỗi quốc gia

Ở mỗi quốc gia, mỗi một vùng địa lý có những đặc điểm về địa hình khác

nhau, nguồn tài nguyên khoáng sản khác nhau và có phương thức lao động, tập

quán khác nhau, do đó cần phải có sự phân bố, sắp xếp các ngành sản xuất, các

khu công nghiệp, các trung tâm kinh tế sao cho phù hợp với những điều kiện

riêng và tổng thể nhằm phát huy được các nguồn lực một cách hiệu quả nhất Hệ

thống logistics đã góp phần vào việc phân bố các ngành sản xuất một cách hợp lý

để đảm bảo sự cân đối và tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Đối với bất cứ nền kinh tế nào, việc lưu thông phân phối hàng hoá, trao

đổi giao lưu thương mại giữa các vùng trong nước với nhau và với nước ngoài

luôn là hoạt động thiết yếu Nếu nó được thông suốt, có hiệu quả, thì sẽ góp phần

to lớn làm cho các ngành sản xuất phát triển; còn nếu bị ngưng trệ thì sẽ tác

động xấu đến toàn bộ sản xuất và đời sống Khi xem xét ở góc độ tổng thể, ta

thấy logistics là mối liên kết kinh tế gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu

thông và phân phối hàng hóa Hoạt động logistics không những làm cho quá trình

lưu thông, phân phối được thông suốt, chuẩn xác và an toàn, mà còn giảm được

chi phí vận tải Nhờ đó hàng hoá được đưa đến thị trường một cách nhanh chóng,

kịp thời Người tiêu dùng có thể mua được hàng hoá một cách thuận tiện, linh

hoạt, thỏa mãn nhu cầu của mình

Hiện nay, ở các nước phát triển như Nhật, Mỹ, chi phí logistics chiếm

10-13% GDP; đối với những nước đang phát triển thì khoảng 15% - 20% GDP, Việt

Trang 8

Nam là 25% GDP, với nước kém phát triển tỷ lệ này có thể lên đến hơn 30%

GDP2 Có thể thấy chi phí logistics chiếm một khoản không nhỏ đối với nền kinh

tế, nó tác động tới và chịu tác động bởi các hoạt động kinh tế khác Một khi

logistics được phát triển sẽ làm giảm chi phí, đảm bảo về thời gian và chất lượng

cho các hoạt động kinh tế khác

Như vậy, logistics là một chuỗi các hoạt động tổng hợp mang tính dây

chuyền, hỗ trợ cho luồng chu chuyển của nhiều giao dịch kinh tế, phân phối hầu

hết các loại hàng hóa và dịch vụ Do đó, nền kinh tế quốc dân chỉ có thể phát

triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền logistics hoạt động liên tục, nhịp

nhàng

4.3 Đối với doanh nghiệp

Ngày nay các doanh nghiệp phải tồn tại trong một môi trường cạnh tranh

khốc liệt, trong môi trường này doanh nghiệp vừa phải tìm kiếm các nguồn lực

để sản xuất và đồng thời tìm kiếm khách hàng tiêu thụ các sản phẩm đã sản xuất

ra Phương tiện liên kết doanh nghiệp với môi trường hoạt động đó chính là hệ

thống logistics

Đối với các doanh nghiệp, logistics là một nhân tố quan trọng bởi nó giúp

giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào cho doanh nghiệp một cách hiệu quả Các kênh

logistics vừa cung cấp nguyên liệu thô cho sản xuất, tạo điều kiện phát triển vận

tải, vừa cung cấp thành phẩm cho hệ thống phân phối vật chất Không những thế,

logistics còn cung cấp sự hỗ trợ trên các điểm chuyển giao quyền sở hữu, nhờ đó

quá trình từ sản xuất đến phân phối hàng hóa, dịch vụ luôn được tối ưu hóa

Việc giảm chi phí logistics luôn được các nhà quản trị đặt lên hàng đầu

trong chương trình giảm tổng chi phí cho doanh nghiệp Đặc biệt là trong thời

gian gần đây khi mà tình hình kinh doanh đã thay đổi với chi phí logistics ngày

càng tăng cao do sự bất ổn trong giá xăng dầu và sự tăng lên trong chi phí an

ninh Vì vậy với việc phát triển hệ thống logistics sẽ giúp các doanh nghiệp nâng

cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, làm cho quá

trình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn, góp phần tăng sức

cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

Trang 9

Ngoài ra, logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là

marketing hỗn hợp (4P – Right Product, Right Price, Proper Promotion, and

Right Place) Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến

đúng nơi cần đến, vào đúng thời điểm thích hợp Sản phẩm/dịch vụ chỉ có thể

làm thỏa mãn khách hàng và có giá trị khi và chỉ khi nó đến được với khách hàng

đúng thời hạn và địa điểm quy định

II.Th c ti n phát tri n ngành Logistics Vi t Nam tính đ n năm 2017 ển của logistics ệm chung về logistics ết

II.1 Th c tr ng năng l c Logistics t i Vi t Nam ạn và hình thức phát triển của logistics ạn và hình thức phát triển của logistics ệm chung về logistics

Năng lực logistics của Việt Nam được đánh giá dựa trên 4 biến số chiến

lược được ghi nhận là những cấu phần chủ yếu của hệ thống logistics quốc gia,

đó là: Cơ sở hạ tầng, hệ thống pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp cung cấp dịch

vụ logistics, và người sử dụng dịch vụ logistics Thực trạng về năng lực logistics

ở Việt Nam trong từng cấu phần được phản ánh dưới đây

II.1.1 Đi u ki n c s h t ng ề logistics ệm chung về logistics ơ sở lý thuyết ở lý thuyết ạn và hình thức phát triển của logistics ầng

Nhìn chung, có thể quan sát thấy rằng về cả cơ sở hạ tầng và dịch vụ, mỗi

hình thức về giao thông của Việt Nam phải chịu những hạn chế về năng lực nhất

định Tuy nhiên giữa các hình thức có những sự khác nhau quan trọng phản ánh

cấp độ chúng đóng góp vào sự phát triển của hệ thống logistics quốc gia và thị

trường logistics Tỷ lệ vận tải hàng hóa của các hình thức giao thông khác nhau

trên tổng số các hoạt động vận tải hàng hóa ở Việt Nam được phản ánh ở bảng

Trang 10

Nguồn: Dựa vào dữ liệu của Tổng cục Thống kê.

Bảng trên cho thấy vai trò của vận tải hàng hóa đường bộ ở Việt Nam

ngày càng quan trọng Dù đường sắt chạy dọc đất nước từ Bắc đến Nam nhưng

lượng hàng vận chuyển bằng đường sắt nhỏ và có xu thế giảm dần qua các năm

Tỷ lệ vận tải hàng hóa đường biển có xu hướng tăng trở lại trong những năm gần

đây trong khi vận tải thủy nội địa đang giảm dần Tỷ lệ vận tải hàng không chỉ

chiếm tỷ lệ rất nhỏ và hầu như không “suy suyển” gì qua các năm Tuy nhiên,

vấn đề ở đây chính là thiếu sự kết nối giữa các phương thức vận tải (ta thường

gọi là hành lang đa phương thức) kể cả cơ sở hạ tầng lẫn phát triển dịch vụ

Từ những năm 2009, 2010, rất nhiều đề án về “Chiến lược phát triển giao

thông vận tải” kéo dài 10 năm, 20 năm đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt,

tầm quan trọng của logistics tới sản xuất, xuất khẩu và kinh tế nói chung cũng

được nhấn mạnh hơn trước rất nhiều Thế nhưng, trong những năm vừa qua, vị trí

và sự quan trọng của logistics vẫn còn khá mờ nhạt, chưa tương xứng với vai trò

“mũi nhọn” của nó

1.1.1 Vận tải biển

Về cảng biển:

Hầu hết cảng biển của nước ta được xây dựng trước năm 1939, tính đến

năm 2017 cả nước có 44 càng biển Tổng số bến cảng là 254 bến cảng với

59,4km dài cầu cảng, tổng công suất thiết kế khoảng 500 triệu tấn/năm

Các cảng biển ở Việt Nam được phân loại thành ba cấp:

 Loại I (14 cảng): Là cảng biển có vai trò đặc biệt quan trọng với quy mô

lớn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc liên vùng

 Loại II (17 cảng): Là cảng biển có vai trò quan trọng với quy mô trung

bình phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của vùng hoặc địa phương

 Loại III (13 cảng): Là cảng chuyên dụng gần khu vực giàn khoan dầu trên

biển phục vụ dầu thô

Ngoài ra vào ngày 24/12/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết

định số 2190/QĐ-TTg về phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt

Trang 11

Nam đến năm 2020, định hướng đến 2030 Theo đó, hệ thống cảng biển Việt

Nam được phát triển theo vùng lãnh thổ, gồm 6 nhóm:

 Nhóm 1: Nhóm cảng biển phía Bắc từ Quảng Ninh đến Ninh Bình

 Nhóm 2: Nhóm cảng biển Bắc Trung Bộ từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh

 Nhóm 3: Nhóm cảng biển Trung Trung Bộ từ Quảng Bình đến

Quảng Ngãi

 Nhóm 4: Nhóm cảng biển Nam Trung Bộ từ Bình Định đến Bình Thuận

 Nhóm 5: Nhóm cảng biển Đông Nam Bộ (bao gồm cả Côn Đảo và trên

sông Soài Rạp thuộc Long An, Tiền Giang)

 Nhóm 6: Nhóm cảng biển đồng bằng sông Cửu Long (bao gồm cả

Phú Quốc và các đảo Tây Nam)

Về khả năng tiếp nhận tàu biển:

 Nhiều bến cảng tổng hợp, container của các cảng biển: Quảng Ninh; Hải

Phòng; Nghi Sơn - Thanh Hóa; Vũng Áng; Đà Nẵng; Dung Quất - Quảng

Ngãi; Quy Nhơn; Thành phố Hồ Chí Minh có khả năng tiếp nhận tàu

trọng tải 30.000DWT và lớn hơn đến 85.000 DWT giảm tải

 Đối với bến cảng chuyên dùng Vũng Áng của Formosa có khả năng tiếp

nhận tàu hàng rời đến 200.000 DWT; Bến nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân

được thiết kế cho tàu 150.000 DWT

 Hiện nay, cảng biển Hải Phòng đang đầu tư xây dựng bến cảng cửa ngõ

Quốc tế tại Lạch Huyện, dự kiến cuối năm 2017 sẽ đưa vào khai thác 2

bến khởi động với chiều dài 750 m, tiếp nhận tàu trọng tải đến 100.000

DWT;

 Khu vực Cái Mép tiếp nhận tàu trọng tải 80.000-100.000 DWT (thực tế

bến CMIT đã tiếp nhận thành công tàu trọng tải 198.000 DWT) Thời gian

qua do thiếu hàng hóa nên các bến container tại khu vực phải hoạt động

cầm chừng hoặc ngừng khai thác Cục Hàng hải Việt Nam đã đề xuất các

cơ quan có thẩm quyền ban hành mức giá tối thiểu dịch vụ xếp dỡ tại khu

vực Cái Mép - Thị Vải Việc áp dụng biện pháp giá tối thiểu đã có tác

động tích cực tới tình hình tài chính của doanh nghiệp cảng giúp doanh

Trang 12

nghiệp cảng ổn định sản xuất kinh doanh qua đó giải quyết việc làm và ổn

định thu nhập cho lao động khu vực này, tăng thu ngân sách địa phương

Trong những năm gần đây, tuy có nhiều cố gắng trong xây dựng mới cũng

như nâng cấp, hiện đại hóa số cảng biển có sẵn, nhưng kết cấu hạ tầng

của hệ thống cảng biển Việt Nam vẫn còn yếu kém về quản lý khai thác và lạc

hậu về khoa học-công nghệ so với các quốc gia tiên tiến trong ASEAN và trong

khu vực Trước hết là năng suất xếp dỡ thấp, chỉ đạt khoảng từ 45-50% mức tiên

tiến của thế giới (3000T - 4000T trên/m chiều dài cầu bến và 15 -20 TEUs/cẩu/

giờ đối với xếp dỡ container) Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn chưa có một cảng

nước sâu đúng nghĩa, các cảng biển Việt Nam hiện tại chỉ có thể tiếp nhận tàu

container cỡ 1.600 TEUs, toàn bộ container Việt Nam đi châu Âu, châu Mỹ đều

phải trung chuyển qua Singapore hoặc Hồng Kông, làm tăng chi phí vận chuyển

thêm hơn 100 - 250 USD/TEU, đồng thời kéo dài thời gian vận chuyển từ 3 - 4

ngày

Đánh giá tổng quát cho thấy tuy số lượng bến cảng có nhiều và được phân

bổ đều từ Bắc vào Nam, nhưng hiệu quả sử dụng và khai thác rất thấp Nguyên

do là đầu tư dàn trải, địa phương mắc “hội chứng cảng nước sâu” trong khi hàng

hóa ít, điều kiện tự nhiên không cho phép Thứ hai là do quy hoạch hệ

thống cảng biển thiếu tầm nhìn xa, dự báo chưa chính xác, nặng về đối phó với

tăng trưởng cục bộ, nên không thể thiết lập được mạng lưới giao thông quốc gia

đồng bộ và hợp lý có nối kết chặt chẽ với hệ thống cảng biển Điều này đã làm

suy yếu năng lực thông qua ở các cảng vốn là đo thị lớn đang chịu sức ép dân số

tăng trưởng nhanh, cũng như hạ tầng giao thông xuống cấp nghiêm trọng Đặc

biệt là thiếu cảng nước sâu theo đúng nghĩa để tiếp nhận tàu cỡ 80 000 DWT trở

lên hay tàu container khoảng 6000 TEUs và chưa có cảng trung chuyển quốc tế

để ngành vận tải biển vươn ra toàn cầu Việt Nam cũng đang bỏ lỡ cơ hội nắm

logistics là lĩnh vực trọng yếu của dịch vụ hàng hải được hình thành trong quá

trình phát triển hệ thống cảng biển, nay đã lên từ 8 đến 10 tỷ USD/năm, phần lớn

nằm trong tay những tập đoàn hàng hải quốc tế hoạt động tại Việt Nam

Về tàu biển:

Trang 13

Tính đến tháng 6/2013, đội tàu vận tải biển Việt Nam có 1.788 tàu các

loại, với tổng dung tích 4,3 triệu GT và tổng trọng tải khoảng 6,9 triệu DWT,

đứng thứ 5/10 nước Asean Ngoài ra, Việt Nam còn sở hữu 80 tàu mang cờ quốc

tịch nước ngoài với tổng trọng tải 1,1 triệu DWT, chiếm khoảng 15% tổng trọng

tải đội tàu Trọng tải bình quân của tàu Việt Nam tương đối thấp, chỉ 3.960

DWT/tàu đứng thứ 9/10 nước Asean, tàu có trọng tải dưới 5 vạn DWT chiếm gần

80%, tàu từ 5-15 vạn chiếm khoảng 17%, tàu trên 15 vạn có 2 tàu chỉ chiếm

3,3% Về chủ tàu có khoảng 600 chủ tàu thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó

chỉ có 33 chủ tàu lớn sở hữu đội tàu có tổng trọng tải trên 10.000 DWT, còn lại là

đội tàu nhỏ thuộc các thành phần kinh tế tư nhân, nhỏ lẻ tại các địa phương Hải

Phòng, Thanh Hóa, Thái Bình, Cần Thơ Trong số 33 chủ tàu lớn có đến 25 chủ

tàu thuộc 4 tập đoàn kinh tế lớn: Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines),

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro-VietNam), Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam

(Petrolimex)

Đội tàu biển Việt Nam đang trong tình trạng dư thừa tàu có trọng tải nhỏ,

tàu chở hàng tổng hợp trong khi lại thiếu các tàu có trọng tải lớn chạy tuyến quốc

tế và các tàu chuyên dụng chở xi măng rời, hóa chất, khí hóa lỏng Với cơ cấu

đội tàu như vậy nên đội tàu trong nước mới chỉ đảm nhận được khoảng 10-12%

thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu, trong đó thị phần vận tải hàng khô

tổng hợp chiếm 12%, hàng container chiếm 8%, hàng lỏng chiếm 8% Thị trường

xuất nhập khẩu của đội tàu Việt Nam chủ yếu là các nước Trung Quốc, Đông

Nam Á, châu Á, một số tàu biển đã xuất đi các nước Đông Âu nhưng với số

lượng rất ít Một số chủ tàu của Việt Nam có tàu lớn như Công ty VTB Container

Vinalines, Công ty Vận tải Biển Đông, Công ty CP Gemadept, Công ty CP Vận

tải biển Việt Nam, đã có tàu đi các tuyến châu Âu, Bắc Mỹ nhưng chủ yếu là tàu

hàng khô, tàu container chủ yếu là vận tải feeder gom hàng cho tàu mẹ trong khu

vực Singapore, Hongkong, còn các thị trường lớn khác như châu Mỹ là do các

hãng tàu nước ngoài đảm nhận

Tính đến thời điểm hiện nay, đội tàu container của Việt Nam có 26 tàu với

tổng trọng tải 230.000 DWT và 06 tàu mang cờ quốc tịch nước ngoài thuộc sở

hữu Việt Nam, hoàn toàn đủ năng lực vận tải container nội địa thay thế toàn bộ

Trang 14

tàu mang cờ quốc tịch nước ngoài thuộc sở hữu nước ngoài được cấp phép vận

tải nội địa trước đó Năm 2012, Cục HHVN đã trình Bộ GTVT phương án thay

thế tàu nước ngoài vận tải container nội địa bằng tàu Việt Nam, theo đó kể từ

ngày 01/4/2013, Bộ GTVT đã ngừng cấp phép cho tàu mang cờ quốc tịch nước

ngoài thuộc sở hữu nước ngoài vận tải nội địa, chỉ gia hạn cấp phép cho hãng tàu

thực hiện việc gom hoặc phân phối hàng hóa xuất nhập khẩu cho tàu mẹ của

hãng tại khu vực Cái Mép - Thị Vải Sau thời gian thực hiện chính sách trên, thị

phần vận tải container nội địa của đội tàu biển Việt Nam đã tăng nhanh chóng,

năm 2010 chỉ đạt 58% thì đến năm 2013 đã đạt 80%, nếu tính cả 06 tàu mang cờ

quốc tịch nước ngoài thuộc sở hữu Việt Nam vận tải nội địa thì thị phần vận tải

đã đạt 90-95%, hệ số sử dụng tàu đã tăng lên trung bình từ 80-90% so với

50-60% trước đây Các doanh nghiệp đều nhận định rằng hiệu quả kinh doanh đã

tăng lên khoảng 10% so với cùng kỳ năm 2012, đặc biệt một số tàu container

trong các năm trước chủ tàu cho neo đậu dài ngày vì khan hiếm nguồn hàng vận

tải, đến nay đã được đưa trở lại khai thác nội địa

1.1.2 Vận tải thủy nội địa

So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có mật độ sông

kênh lớn nhất, được UNESCO xếp vào tốp 10 nước có mạng lưới sông lớn nhất

thế giới Việt Nam có hệ thống đường thủy nội địa rất phong phú bao gồm 2.306

con sông, kênh lớn nhỏ, mật độ bình quân là 0,127 km/km2, chiều dài tổng số

khoảng 220.000 km, trong đó có thể đưa vào khai thác sử dụng khoảng 42.000

km tập trung chủ yếu ở hai vùng đồng bằng sông Hồng (miền Bắc) và đồng bằng

sông Cửu Long (miền Nam) Các tuyến chính nối các cảng biển với các vùng nội

địa bao gồm: tuyến Hải Phòng – Hà Nội, Nam Định – Việt Trì ở miền Bắc; Sài

Gòn – Rạch Giá, Hà Tiên, Sài Gòn – Cần Thơ – Cà Mau ở miền Nam Hệ thống

đường thủy nước ta có sự kết nối với các nước láng giềng Trung Quốc,

Campuchia, Lào và Thái Lan rất thuận lợi cho việc giao thương và phát triển

Giao thông đường thủy, nhất là khu vực đồng bằng sông Cửu Long (với hệ thống

sông Tiền, sông Hậu) và khu vực đồng bằng sông Hồng (với tuyến sông Thao)

đang hội tụ nhiều điều kiện tốt để phát triển vận tải quá cảnh bằng đường thủy

Trang 15

Hiện tại, trên cả nước có 45 tuyến đường thủy nội địa quốc gia với tổng chiều dài

khoảng 7.075 km (miền Bắc có 17 tuyến, miền Nam có 18 tuyến, miền Trung có

10 tuyến) Đây là những tuyến vận tải huyết mạch kết nối các trung tâm kinh tế,

khu công nghiệp lớn của khu vực và cả nước Việc phân cấp quản l chi tiết từng

tuyến theo Thông tư số 46/2016/TT-BGTVT ngày 29/12/2016 của Bộ Giao

thông vận tải

Hệ thống báo hiệu trên tuyến bao gồm: 12.539 cột báo hiệu, 18.458 biển

báo hiệu, 3.070 phao báo hiệu, 9.153 đèn báo hiệu

Hệ thống cầu bắc qua tuyến: Hiện tại có 251/532 cầu và công trình vượt

sông nằm trên các tuyến đường thủy nội địa quốc gia có tĩnh không thông thuyền

thấp hơn thông số kỹ thuật theo cấp quy hoạch đã được phê duyệt

Hoạt động của vận tải thủy những năm gần đây phát triển khá nhanh, với

đủ các thành phần kinh tế tham gia, trong đó kinh tế ngoài quốc doanh chiếm thị

phần vận tải với tỷ lệ cao, nhưng hầu hết các doanh nghiệp này có quy mô nhỏ,

hoạt động tự phát, không theo quy hoạch, định hướng chung, chưa có sự gắn kết

với nhau trong sản xuất, thậm chí còn cạnh tranh thiếu lành mạnh

Mặc dù, tiềm năng của vận tải thuỷ nội địa là to lớn, trong những năm

qua, sản lượng vận tải luôn giữ mức trung bình 8-9%/năm, nhưng hiệu quả khai

thác vẫn chưa đạt yêu cầu

1.1.3 Vận tải đường bộ

Giao thông đường bộ hiện chiếm hơn 70% tổng khối lượng hàng hóa nội

địa, là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng quốc gia và có tính xã hội

hóa cao Hạ tầng giao thông đường bộ đã được cải thiện rõ rệt trong năm vừa

qua, cả nước có tổng số 13 tuyến đường cao tốc, 146 tuyến đừng quốc lộ chính

với tổng chiều dài là 23.816 km, trong đó chủ yếu là đường bê tông nhựa Ngoài

ra còn có 998 tuyến đường tỉnh với tổng chiều dài là 27.176 km, 8680 tuyến

đường huyện (57.294 km), 61.402 tuyến đường xã, 23.495 tuyến đường đô thị,

168.888 tuyến đường giao thông nông thôn Đường chuyên dùng cũng có 2.476

tuyến với tổng chiều dài là 2.476 km

Trang 16

Bảng 2 Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ

TT Loại

đường

Tổng số tuyến

Tổng chiều dài (Km)

Phân loại theo kết cấu mặt đường (Km)

Bê tông

xi măng BTXM

Bê tông nhựa BTN

Đá dăm LN

Cấp phối Đất

Loại khác

2 Quốc lộ

146(tuyếnchính)

đô thị 23.495 27.910 5.480 30.598 5.519 2.109 1.497 1747

Nguồn: Bộ Giao thông vận tải (2017)

Trong thời gian qua, nhận thức được tầm quan trọng của giao thông đường

bộ, Nhà nước cũng đã không ngừng nâng cấp hệ thống đường bộ khắpcả nước,

xây mới nhiều tuyến đường từ nguồn vốn ODA, và kêu gọi các thành phần kinh

tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực này Về cơ bản chúng ta đã hoàn thành việc cải

tạo, nâng cấp hệ thống quốc lộ chính, gồm: Trục dọc Bắc – Nam; hệ thống quốc

lộ hướng tâm; hệ thống đường vành đai biên giới phía Bắc, Tây Nguyên và Tây

Trang 17

Nam Bộ; các tuyến quốc lộ nối đến các cửa khẩu quốc tế; các vùng kinh tế trọng

điểm ; nhiều hệ thống đường cao tốc đang được triển khai xây dựng

Tuy nhiên, hầu hết các tuyến đường của chúng ta vẫn chưa đạt tiêu chuẩn

kỹ thuật như độ nghiêng, độ bám dính mặt đường, độ phẵng, tầm nhìn , vòng

xuyến qua cầu chui Gia lâm là một ví dụ điển hình Hệ thống đèn tín hiệu cảnh

báo chỉ dẫn không được thiết kế thi công đồng bộ Đây cũng là nguyên nhân làm

ùn tắc giao thông ở các tuyến đường giao nhau Ngoài ra, các trục đường bộ

không được thiết kế đúng tiêu chuẩn để có thể kết hợp tốt các phương thức vận

tải Chẳng hạn, các quốc lộ chỉ được thiết kế cho xe có tải trọng không quá 30 tấn

lưu thông, tức là không tính đến việc vận chuyển container vì theo tiêu chuẩn

quốc tế, trọng lượng một container 40 feet đầy hàng đã lên đến 34,5 tấn Đã thế

vấn đề chở quá tải lại thường xuyên diễn ra ở nhiều nơi, làm cho đường sá bị

xuống cấp nhanh chóng

Bên cạnh đó, những vấn đề xoay quanh những trạm thu phí BOT trong

những năm gần đây cũng gây ra ít nhiều khó khăn cho việc vận chuyển hàng hóa

bằng đường bộ

Một vấn đề nữa cũng đang đặt ra là trong kết cấu hạ tầng giao thông kết

nối hậu phương của các cảng biển, đường bộ vẫn chiếm chủ yếu nhưng chất

lượng của đường vào các cảng như cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn đã xuống

cấp nghiêm trọng, vẫn chưa được cải tạo Một số cảng mới như Tân Cảng – Cái

Mép còn chưa có đường vào cảng gây khó khăn cho việc vận chuyển hàng hóa,

giảm năng suất hoạt động logistics

Nhìn chung, hệ thống đường bộ Việt Nam còn nhiều yếu kém, số lượng

đường sá không nhiều, việc chở quá tải thường xuyên diễn ra, khả năng bảo trì và

phát triển còn thấp, gây khó khăn cho việc lưu thông và giảm năng lực của ngành

logistics

1.1.4 Vận tải đường sắt

Mạng lưới Đường sắt Việt Nam với tổng chiều dài 2.600 km nối liền các

khu dân cư, trung tâm văn hoá nông nghiệp và công nghiệp trừ khu vực đồng

bằng sông Cửu Long Đường sắt Việt Nam nối liền với đường sắt Trung Quốc

qua hai hướng:

Trang 18

 Với Vân Nam Trung Quốc qua tỉnh Lào Cai

 Với Quảng Tây Trung Quốc qua tỉnh Lạng Sơn

Đường sắt Việt Nam cũng có tiềm năng nối liền với mạng lưới Đường sắt

Campuchia, Thái Lan và Malaysia để đến Singapore và tuyến đường sắt của Lào

khi được phát triển

Đường sắt Việt Nam đang sử dụng ba loại khổ đuờng, đó là loại đuờng

1.000 mm, đuờng tiêu chuẩn (1.435 mm) và đuờng lồng (chung cả 1.435 mm và

1.000 mm) Chiều dài của các đuờng chính tuyến của mạng lưới đường sắt Việt

Nam cùng với khổ đuờng được trình bày trong bảng sau

Bảng 3 Chiều dài của các đuờng chính tuyến của mạng lưới đường sắt Việt Nam

Trang 19

Bảng 4 Chiều dài của các loại đuờng

(Nguồn: Bộ Giao thông Vận tải)

Việc vận chuyển container bằng đường sắt còn hạn chế vì sự kém hiệu quả

của vận tải đường sắt Cụ thể là, đường sắt không chỉ kém linh động, thời gian

trung chuyển dài, hơn thế nữa, trong tổng 5000 toa thì chỉ có 500 toa phẳng để

chuyển chở container và chỉ có vài nhà ga có thiết bị bốc dỡ container, và chủ

yếu chỉ thực hiện trên 2 tuyến: Hải Phòng-Yên Viên-Việt Trì-Lào Cai và

Bắc-Nam Nguyên nhân chính khiến cho đường sắt Việt Nam chậm phát triển là do

thiếu vốn đầu tư Những năm gần đây, việc đầu tư cho đường sắt vẫn quá nhỏ

giọt, không tạo ra được sự bứt phá cần thiết để phát triển Hiện số vốn Nhà nước

cấp cho cho ĐSVN chỉ bằng 4,1% toàn ngành giao thông vận tải và bằng 6,9%

so với đường bộ Cũng chính vì vậy một số dự án đường sắt tiềm năng như:

Tuyến Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long – Cái Lân, Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng,

Đồng Văn - Hà Nội, Biên Hòa – Vũng Tàu, Dĩ An - Lộc Ninh và các tuyến

đường sắt đô thị tại Hà Nội và TPHCM vẫn chưa thể đi vào hoạt động

Trong xu thế vận tải của cả nước tăng nhanh, thị phần vận tải đường sắt

trong nhiều năm qua vẫn chỉ ở mức khiêm tốn, chỉ tăng theo thời vụ ngắn Trong

khi các loại hình vận tải khác ngày càng hấp dẫn hơn Trong bối cảnh này, không

ít người đã lo ngại đến sự “khủng hoảng” của đường sắt khi mà hàng loạt đường

cao tốc mới đã đang và sẽ đi vào hoạt động cùng với sự xuất hiện của nhiều hãng

hàng không tư nhân giá rẻ

1.1.5 Vận tải hàng không

Hiện tại cả nước đang có 21 cảng hàng không đang khai thác, cụ thể gồm:

Trang 20

 8 cảng hàng không quốc tế: Nội Bài, Cát Bi, Đà Nẵng, Cam Ranh,

Phú Bài, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ, Phú Quốc

 13 cảng hàng không nội địa: Điện Biên, Đồng Hới, Vinh, Phù Cát,

Tuy Hòa, Pleiku, Chu Lai, Liên Khương, Buôn Ma Thuột, Cà Mau,Rạch Giá, Côn Đảo, Thọ Xuân

Trong số các cảng hàng không trên, chỉ có 4 cảng hàng không có nhà ga

hàng hóa riêng biệt Các cảng hàng không còn lại không có nhà ga hàng hóa, toàn

Cấp sân bay

Công suất nhà ga hành khách (triệu HK/năm)

Công suất nhà ga hàng hóa (tấn/năm)

Nguồn: Bộ Giao thông vận tải (2017)

Hiện nay mới chỉ có các cảng hàng không lớn như Nội Bài, Tân Sơn Nhất

là có các trung tâm logistics phục vụ xử lý hàng không Tại Nội Bài, các trung

tâm logistics như ACVS, ALS đảm nhiệm xử lý phần lớn khối lượng hàng hóa

xuất khẩu, nhập khẩu qua đường hàng không với chủng loại hàng hóa khá đa

dạng

Nhờ ở vị trí thuận lợi và kinh tế phát triển ổn định nên theo Hiệp hội Vận

tải hàng không quốc tế (IATA), trong giai đoạn 2013-2017, Việt Nam xếp thứ 7

trong số những thị trường phát triển nhanh nhất thế giới với tốc độ tăng vận

chuyển hàng hóa quốc tế đạt 6,6% Tuy nhiên vận chuyển nội địa vẫn chiếm ưu

thế Năm 2016, trong 1,4 triệu tấn tổng hàng hóa vận chuyển bằng máy bay thì

hàng hóa vận chuyển trong nước chiếm gần 1 triệu tấn

Trang 21

Theo Cục hàng không dân dụng, trong những năm qua, thị trường HK

Việt Nam có sự tăng trưởng mạnh là bởi Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách

khuyến khích các hãng HK tăng cường khai thác các chuyến bay đi và đến các

sân bay trong nước, cơ sở hạ tầng tại các cảng HK được đầu tư và nâng cấp

Tuy nhiên, tình trạng quá tải đang diễn ra thường xuyên ở hệ thống cảng

HK nước ta, đặc biệt là các cảng HK quốc tế, khả năng tiếp nhận hành khách, và

chất lượng dịch vụ thấp, máy bay các tuyến nội địa của Việt Nam thường xuyên

bị trễ giờ Phương tiện chở hàng (máy bay) cho việc vận chuyển vào mùa cao

điểm không đủ Chỉ có sân bay Tân Sơn Nhất là đón được các máy bay chở hàng

quốc tế Các sân bay quốc tế như Tân Sơn Nhất, Nội Bài, Đà Nẵng vẫn chưa có

nhà ga hàng hóa, và khu vực họat động cho đại lý logistics thực hiện gom hàng

và khai quan như các nước trong khu vực

Mặt khác, dù đã được chú trọng đầu tư nâng cấp nhưng các sân bay trong

nước vẫn thiếu các thiết bị phù hợp để bốc dỡ hàng hóa, thiếu sự đầu tư các kho

bãi mới trong khu vực gần các sân bay Còn các kho bãi hiện tại trên cả nước lại

không phù hợp với hàng hóa bốc dỡ nhanh, trong đó có nhiều kho bãi đã được

khai thác hơn 30 năm qua, sức chứa có hạn và không đáp ứng được các tiêu

chuẩn quốc tế Chưa kể đến tình trạng thiếu điện và dịch vụ hỗ trợ giao tiếp

thông tin (viễn thông) xảy ra thường xuyên

Nhìn chung, kết cấu hạ tầng của Việt Nam còn nhiều hạn chế, khiến cho

năng lực logistics còn yếu kém, chưa phát huy được hết tiềm năng cũng như công

suất

II.1.2 Đi u ki n v c s pháp lý ề logistics ệm chung về logistics ề logistics ơ sở lý thuyết ở lý thuyết

Việt Nam, là một đất nước có hệ thống chính trị ổn định nhất trong khu vực

và trên thế giới, là một nước chỉ có duy nhất một Đảng Chính trị lãnh đạo, khủng

hoảng chính trị gần như là không có Đây quả thực là một môi trường lý tưởng để

hoạt động logistics phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, đến hiện nay, nước ta vẫn

chưa có một cơ quan chuyên nghiệp đảm trách việc phát triển logistics Hiện nay,

Bộ Giao Thông và Bộ Công Thương là những cơ quan phụ trách chính các hoạt

động logistics Vì thế, tình trạng chồng chéo về quyền hạn logistics giữa các bộ

ban ngành với nhau là không tránh khỏi

Trang 22

Cùng với đó, có rất nhiều khung pháp lý về hoạt động logistics ở Việt Nam

đã được ký kết và đưa ra Mặc dù vậy, ở nước ta vẫn chưa có luật cho riêng hoạt

động logistics mà chỉ đưa ra khái niệm “dịch vụ logistics” trong Luật Thương

Mại Việt Nam năm 2005 và Nghị định 140/2007/NĐ-CP (05/09/2007) Với mỗi

hình thức vận tải nằm trong chuỗi logistics lại có riêng một khung pháp lý như:

Luật Hàng hải năm 2005, Luật Hàng không dân dụng năm 2006, Nghị định

87/2009/NĐ-CP về vận tải đa phương thức, Luật đường thuỷ nội địa năm 2004,

Luật đường bộ năm 2001 và Luật đường sắt năm 2005

Tuy nhiên, các luật và quy định về logistics ở Việt Nam vẫn chưa có sự

đồng bộ, còn nhiều bất cập gây khó khăn, ách tắc cho hoạt động logistics nói

riêng và cho hoạt động sản xuất, thương mại, xuất nhập khẩu nói chung Ngày

càng dễ thấy rằng các quy định và khái niệm về dịch vụ logistics (như Luật

Thương mại năm 2005, nghị định 140/2007/NĐ-CP) không còn phù hợp với tình

hình mới và xu thế phát triển, không tạo được thuận lợi cho các nhà cung cấp

dịch vụ logistics và không thúc đẩy được thị trường dịch vụ logistics (3PL hay

thậm chí 4PL) phát triển

Tính hiệu quả của hoạt động logistics được thể hiện qua tính hiệu quả của

việc phối hợp thực hiện các thủ tục liên quan, trong đó việc phối hợp thực hiện

thủ tục hải quan là hết sức quan trọng Trong khuôn khổ của Diễn đàn Logistics

Việt Nam năm 2017, ông Phạm Minh Đức, chuyên gia kinh tế của Ngân hàng thế

giới cho biết việc tuân thủ thủ tục hành chính trước và tại cửa khẩu Việt Nam

chiếm 76% tổng thời gian nhập khẩu và do Hải Quan cùng các cơ quan kiểm tra

chuyên ngành chịu trách nhiệm Tại Việt Nam, số quy tắc khiến chi phí thương

mại tăng cao là 1807 quy tắc, cao gấp 2 lần so với Lào và 3 lần so với

Campuchia

Các hiệp định quốc tế như Hiệp định khung ASEAN về vận tải đa phương

thức, hiệp định về vận tải xuyên biên giới giữa các nước Tiểu vùng sông Mê

Kông mở rộng (CBTA) mà Việt Nam đã ký kết với mục tiêu làm giảm hoặc xóa

bỏ các rào cản thương mại, dù sao ít nhiều cũng có ảnh hưởng tích cực đến hoạt

động logistics Việt Nam Cũng phải thừa nhận rằng, Chính phủ Việt Nam đã có

những chủ trương, đường lối tạo tiền đề giúp ngành Logistics phát triển, có thể

Trang 23

kể đến như Nghị quyết về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, chủ trương

ưu tiên hội nhập logistics trong khu vực; nhiều quyết định về quy hoạch cảng

biển, giao thông vận tải đường bộ, vận tải biển, vận tải hàng không, đường sắt

đến 2020 và tầm nhìn 2030; sửa đổi và bổ sung Nghị định về vận tải đa phương

thức (NĐ 87/2009/CP), cải cách thủ tục hành chính đặc biệt trong ngành thuế, hải

quan (Đề án 30), thông quan điện tử dù kết quả đạt được chưa khả quan nhưng

cũng là "cú hích" cho ngành logistics Việt Nam

Thực trạng phát triển hoạt động logistics tại Việt Nam còn nhiều bất cập Vì

thế, sẽ chẳng quá lời nếu nói rằng ngành logistics đang phải trông chờ vào những

quy định luật pháp, những hiệp định song phương và đa phương, những hành

lang pháp lý cần thiết để đảm bảo cho lộ trình hoạt động logistics và nâng cao

chất lượng cho các doanh nghiệp Việt Nam

II.1.3 Doanh nghi p cung c p d ch v Logistics: ệm chung về logistics ấp dịch vụ Logistics: ịch vụ Logistics: ụ Logistics:

1.3.1 Phân loại doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Logistics tại Việt Nam:

Theo loại hình doanh nghiệp:

Trước đây, vào giai đoạn năm 2014, đa số dịch vụ logistics tại Việt Nam

do các công ty giao nhận vận tải thực hiện Ở Việt Nam có khoảng 800 – 900

công ty giao nhận hoạt động chính thức với 18% là công ty Nhà nước, 70% là

công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân, 10% là

các đơn vị giao nhận chưa có giấy phép, và 2% là công ty có vốn đầu tư nước

ngoài Hiện tại, tính đến năm 2017, theo thống kê, tổng số doanh nghiệp hoạt

động trong lĩnh vực logistics theo khảo sát của VLA là khoảng hơn 3000 doanh

nghiệp, trong đó 20% là công ty Nhà nước, 70% là công ty Trách nhiệm hữu hạn

và 10% là doanh nghiệp tư nhân

Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc

tế, các doanh nghiệp đang càng ngày càng chú trọng vào việc nâng cao chuyên

môn nghiệp vụ, với mục tiêu cung cấp đầy đủ hơn các dịch vụ đáp ứng nhu cầu

khách hàng, thậm chí là dịch vụ “door to door”

Hiện nay, các doanh nghiệp logistics đa quốc gia lớn nhất trên thế giới

như DHL, FedEx, Maersk, UPS đều đang hoạt động tại Việt Nam, với tỷ trọng

Trang 24

đáng kể trên thị trường dịch vụ logistics toàn quốc Bằng kinh nghiệm hoạt động

lâu đời, các doanh nghiệp đã hoàn thiện dây chuyền logistics có thể cung cấp các

dịch vụ ở cấp độ 3PL, 4PL và cả 5PL

Theo địa bàn phân bố:

Theo thống kê số lượng doanh nghiệp và tỷ trọng doanh nghiệp logistics

phân bố theo vùng miền, miền Nam chiếm khoảng 60% số doanh nghiệp, theo

sau là miền Bắc Cụ thể hơn, chiếm tỷ trọng lớn nhất về số lượng doanh nghiệp

logistics là Thành phố Hồ Chí Minh với 54%, tiếp theo là Hà Nội với 18% Ở vị

trí thứ ba là Hải Phòng, nơi có hệ thống cảng biển tương đối phát triển, kết nối

giao thông khu vực phía Bắc

Theo lĩnh vực kinh doanh:

Ngành dịch vụ logistics Việt Nam hiện nay có thể được phân loại như sau:

- Các doanh nghiệp khai thác vận tải (đường bộ, đường biển, hàng không)

- Các doanh nghiệp khai thác kho bãi bốc dỡ và dịch vụ logistics

- Các doanh nghiệp khai thác cơ sở hạ tầng tại các điểm nút (cangrm sân

bay, ga, )

- Các doanh nghiệp giao nhận hàng hóa dịch vụ chuyển phát nhanh, ddaij

lý vận tải, đại lý tàu biển, đại lý làm thủ tục hải quan, doanh nghiệp 3PL và các

doanh nghiệp khác

1.3.2 Các loại hình dịch vụ logistics đang cung cấp tại Việt Nam:

Tại Việt Nam, dịch vụ logistics có một số loại hình cơ bản, chủ yếu liên

quan đến hàng hóa gia công và xuất nhập khẩu

Quản lý chuỗi cung ứng (Supply Chain Management)

Quản lý chuỗi cung ứng là dịch vụ cốt lõi của một nhà cung cấp dịch vụ

logistics, gồm các hoạt động: lập kế hoạch, thực hiên và quản trị dòng chảy hàng

hóa và thông tin từ nơi đặt hàng, thông qua sản xuất, vận chuyển, kho bãi, phân

phối đến tay khách hàng cuối cùng Dịch vụ này thường gồm các bước sau:

- Nhận booking từ các doanh nghiệp, nhà máy sản xuất hàng hóa

Trang 25

- Lập kế hoạch đóng và vận chuyển hàng hóa: nhà cung cấp dịch vụ

logistics lên kế hoạch đóng hàng phù hợp, gửi thông tin đến cho khách hàng và

yêu cầu khách hàng cung cấp hướng dẫn gửi hàng

- Tiến hành nhận và đóng hàng thực tế tại kho: nhận hàng để nhập vào

kho, đóng hàng và giao ra cảng, hoàn thiện thủ tục hải quan

- Phát hành chứng từ vận tải cần thiết

- Dịch vụ thu kiểm và chuyển chứng từ thương mại: tiến hành thu chứng

từ thương mại, kiểm tra, sắp xếp rồi gửi đến cho người mua làm thủ tục nhận

hàng

- Quản lý đơn hàng

Dịch vụ giao nhận vận tải và gom hàng (Forwarding and Groupage)

- Dịch vụ giao nhận:

+ Dịch vụ vận tải trọn gói: giúp khách hàng chỉ cần liên lạc kí hợp đồng

với một đối tác duy nhất thay vì phải cử nhân viên giám sát từng công đoạn

+ Giao nhận hàng hải/hàng không

+ Dịch vụ NVOCC (Non-vessel Operating of Common Carrier)

- Dịch vụ gom hàng:

+ Dịch vụ gom hàng lẻ (Consolidation): nhà cung cấp dịch vụ logistics

nhận hàng từ nhiều chủ hàng khác nhau, gom lại rồi đóng hàng và đưa đến cảng

trung chuyển

+ Gom hàng nhanh tại kho (Cross – Docking): đưa hàng hóa đến kho đa

năng, phân loại, chuẩn bị và chuyển thẳng đến cửa hàng

Dịch vụ kho bãi – phân phối (Warehousing and Distribution)

- Dịch vụ kho bãi: là những dịch vụ lưu kho và giám sát hàng hóa như

nhận hàng, kiểm hàng, xếp hàng vào kho, xử lý hàng hư hỏng, quét mã vạch,

- Dịch vụ phân phối (Deconsolidation)

Dịch vụ hàng không

Đây là dịch vụ dành cho hàng hóa cao cấp, có giá trị lớn, hàng cần vận

chuyển gấp và hàng tươi sống

Trang 26

Các dịch vụ đặc thù tạo giá trị gia tăng:

- Vận chuyển đường bộ bằng xe tải

- Làm thủ tục hải quan

- Mua bảo hiểm cho hàng hóa

- Hướng dẫn làm chứng từ cần thiết

- Cung cấp container treo: dịch vụ đặc thù cho hàng may mặc cao cấp đòi

hỏi quy trình đóng hàng đặc biệt

- Dịch vụ quản lý dữ liệu và cung cấp dữ liệu đầu cuối cho khách hàng

- Dịch vụ theo dõi hành trình hàng hóa

- Dịch vụ thông tin khách hàng

1.3.3 Tình hình quy mô vốn và năng lực hoạt động của các doanh nghiệp

thực hiện dịch vụ logistics:

Quy mô vốn:

Theo số liệu từ Tổng cục thống kê, số lượng doanh nghiệp logistics có quy

mô về vốn lớn từ 50 tỷ đồng trở lên còn rất hạn chế, chiếm khoảng ,68% trong

năm 2015 Chiếm tỷ trọng cao nhất qua các năm chủ yếu lại là các doanh nghiệp

có số vốn tương đối nhỏ (1 tỷ đến dưới 5 tỷ đồng) Có những doanh nghiệp với

Từ 1 tỷđếndưới 5tỷ

Từ 5

tỷ đếndưới

10 tỷ

Từ 10

tỷ đếndưới

50 tỷ

Từ 50

tỷ đếndưới

200 tỷ

Từ

200 tỷđếndưới

500 tỷ

Từ500tỷtrởlên

Tổngcộng

Trang 27

201

(Nguồn: VLA)

Bảng 7 Quy mô vốn của các doanh nghiệp Logistics Việt Nam

Các doanh nghiệp có giá trị vốn hóa lớn trong ngành như GMD, PVT,

DVP, VSC và TMS, trong đó có DVP là VSC chủ yếu hoạt động khai thác cảng,

PVT và TMS lần lượt là hai doanh nghiệp vận tải và dịch vụ giao nhận Còn

GMD là một công ty lớn trong ngành có hoạt động bao phủ cả 3 mảng khai thác

cảng, vận tải và dịch vụ logistics

Năng lực hoạt động:

Trang 28

Tại Việt Nam, có 88% doanh nghiệp logistics là doanh nghiệp trong nước,

10% là các doanh nghiệp liên doanh và 2% là các doanh nghiệp 100% vốn nước

ngoài Phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp logistics bao trùm cả thị trường

quốc tế với 84% số doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam có phạm vi hoạt

động cả trong và ngoài nước và có 16% doanh nghiệp chỉ hoạt động trong nước

Một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực hoạt động của các doanh

nghiệp cung cấp dịch vụ logistics là dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh của

Số

DN

Tổng mức lãi (tỷ đồng)

Bình quân (triệu đồng)

Số DN

Tổng mức lỗ (tỷ đồng)

Bình quân (triệu đồng/DN )

Số DN lãi

Số DN lỗ

(Nguồn : Tổng Cục thống kê)

Từ bảng số liệu có thể thấy, tỷ lệ các doanh nghiệp kinh doanh có lãi đã

tăng theo các năm, tuy nhiên mức độ tăng đang chậm lại trong những năm gần

đây

* Đối với doanh nghiệp khai thác cảng:

Trang 29

Trong các doanh nghiệp hoạt động trong mảng khai thác cảng, GMD là

doanh nghiệp có doanh thu thuần cao nhất Cụ thể doanh thu của riêng mảng khai

thác cảng tại GMD năm 2014 đạt 1,101 tỷ đồng, tăng 48,7 % so với cùng kỳ, nhờ

có sự khai thác cảng Nam Hải Đình Vũ với công suất gấp đôi cảng Nam Hải tại

Hải Phòng Các doanh nghiệp khai thác cảng khác tại khu vực Hải Phòng như

VSC, DV, HAH cũng có mức tăng trưởng doanh thu từ 10 – 30% do chủ động

thuê các cầu cảng khác trong trường hợp quá tải Chỉ suy nhất có doanh nghiệp

DXP có doanh thu sụt giảm so với cùng kỳ vị trí của cảng nằm sâu bên cho trong

không thuận lợi cho tàu

Bảng 9 Doanh thu của doanh nghiệp Logistics Việt Nam mảng khai thác cảng

* Đối với doanh nghiệp vận tải:

Doanh nghiệp PVT thể hiện sự vượt trội so với các doanh nghiệp còn lại,

gấp 2,5 lần so với VOS là doanh nghiệp đứng thứ 2, do PVT có đội tàu khai thác

lớn và lượng hàng vận chuyển dầu cao và ổn định hơn so với vận tải hàng rời,

hàng container Đối với VTO, doanh thu từ mảng vận tải chỉ khoảng 850- 930 tỷ

đồng do đội tàu có tải trọng thấp Cac doanh nghiệp còn lại là VNA, VFC và TJC

có doanh thu thấp do quy mô đội tàu nhỏ

Bảng 10 Doanh thu của doanh nghiệp Logistics Việt Nam mảng vận tải

Trang 30

Một chỉ tiêu khác cũng góp phần đánh giá năng lực logistics của các

doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics là các lĩnh vực mà công ty hoạt động

Trong các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics tại Việt Nam, GMD và STG

hiện là doanh nghiệp sở hữu hệ thống kho bãi lớn nhất (GMD có 40,000 m2 kho

ngoại quan và 120,000 m2 ICD, còn STG có 230,000 m2 kho hàng và 100,000

m2 ICD) Tuy nhiên, một số doanh nghiệp như VNL, VNF, HMH, chỉ sở hữu

hệ thống kho bãi vừa đủ phục vụ mảng kinh doanh chính

Bảng 11 Dịch vụ Logistics do doanh nghiệp Logistics Việt Nam cung cấp

Giao

nhận

Kh o

IC D

Trung tâm phân phối

Đại lý hãng vận tải

Vận tải đa

phương thức

Thu gom hàng lẻ

Siêu trường siêu trọng

Trong khi đó, các công ty logistics nước ngoài hiện đang hoạt động tại thị

trường Việt Nam phần lớn là các công ty hàng đầu trong lĩnh vực này trên thế

Trang 31

giới, với quy mô lớn và cung cấp dịch vụ tích hợp, đầy đủ các loại hình dịch vụ

cho khách hàng

Trang 32

Bảng 12 Dịch vụ Logistics cung cấp bởi doanh nghiệp Logistics nước ngoài

Logistics đầu vào

Kh

o bãi

Quản lý hàng tồn kho

Lấy hàng / đóng

gói và lắp ráp

Quản lý trung tâm phân phối

Marketing /

Dịch vụ khách hàng

Dịch vụ tại nguồn

Giao hàng

thẳn g tới kho APL

Ngoài ra, các công ty cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài cũng rất chú

trọng phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics có chất lượng cao với

mục tiêu phát triển bền vững

II.1.4 Doanh nghi p s d ng d ch v logistics: ệm chung về logistics ử dụng dịch vụ logistics: ụ Logistics: ịch vụ Logistics: ụ Logistics:

Trên thị trường Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng

dịch vụ logistics chủ yếu là các công ty đa quốc gia và các nhà đầu tư nước ngoài

tại Việt Nam Đó là những công ty lớn, đã nhận thức được lợi ích và tầm quan

trọng của việc quản lý chuỗi cung ứng một cách hiệu quả và tác dụng của việc

Ngày đăng: 03/09/2020, 08:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w