Chỉ số Logistics Performance Index LPI đánh giá năng lực logistics doNgân hàng thế giới công bố cho tới nay là một trong các chỉ số uy tín để đánhgiá về hiệu quả hoạt động logistics của
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1) Lý do chọn đề tài
Logistics đã xuất hiện lâu đời trong lịch sử loài người nhưng phải đến giữathế kỉ 20 mới được nhìn nhận với những bước phát triển và thành tựu mạnh mẽ.Logistics hỗ trợ cho mọi hoạt động của quá trình sản xuất, phân phối, lưu thônghàng hóa Các quốc gia có hoạt động logistics phát triển như Nhật Bản,Singapore, Hong Kong, Mỹ, Trung Quốc,… đã trở thành các trung tâm logisticshàng đầu của thế giới và gặt hái được nhiều thành tựu tăng trưởng kinh tế Hoạtđộng logistics thúc đẩy thương mại phát triển, nâng cao hiệu quả và sức cạnhtranh cho toàn bộ nền kinh tế quốc gia
Chỉ số Logistics Performance Index (LPI) đánh giá năng lực logistics doNgân hàng thế giới công bố cho tới nay là một trong các chỉ số uy tín để đánhgiá về hiệu quả hoạt động logistics của các quốc gia trên thế giới Hơn thế nữa,dựa vào chỉ số này, các quốc gia có thể so sánh tổng quát hiệu quả cũng như đơn
lẻ các tiêu chí, đánh giá tốc độ cải thiện của quốc gia đó theo các giai đoạn, hoặc
so với các quốc gia trong khu vực
Trong khoảng thời gian hơn 10 năm từ năm 2007 tới 2018, chỉ số LPI đã
có tổng cộng 6 lần công bố Chỉ số LPI Việt Nam ghi nhận sự tăng điểm và tăngthứ hạng trong suốt giai đoạn 2007 – 2014; tuy nhiên chỉ số LPI 2016 lần đầutiên chứng kiến sự sụt giảm cả về điểm và thứ hạng Tuy nhiên mới đây vớicông bố của Ngân hàng thế giới về LPI tháng 7năm 2018 đã đánh dấu sự tăngtrợ lại về cả điểm và thứ hạng của Việt Nam đầy mạnh mẽ Trong phạm vi tiểuluận này, nhóm sẽ nghiên cứu sự thay đổi của chỉ số LPI Việt Nam trong nhữngnăm gần đây và so sánh với các nước trong khu vực ASEAN, đưa ra một sốnguyên nhân, từ đó đề xuất kiến nghị để nâng cao điểm, thứ hạng và cải thiệnphát triển hoạt động logistics Việt Nam
2) Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu nguyên nhân của sự thay đổi chỉ số LPI trong năm 2016 – 2018
và các nước trong khu vực ASEAN, tập trung vào việc so sánh các chỉ số vớicác nước trong khu vực và đề xuất kiến nghị nâng cao năng lực logistics củaViệt Nam
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Những vấn đề cơ bản về chỉ số LPI
- Tìm hiểu chi tiết thực trạng chỉ số năng lực logistics của Việt Nam và hệthống hóa các nguyên nhân cho sự thay đổi qua các năm
Trang 2- Tìm hiểu sự thay đổi chỉ số LPI của các nước trong khu vực ASEAN, sosánh và đối chếu với Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp phát triển
3) Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chỉ số LPI của Việt Nam và khu vựcASEAN
- Về thời gian: Giai đoạn 2014 - 2018, tập trung vào 2 năm 2016 – 2018
4) Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, đề tài sử dụng các phươngpháp tổng hợp, so sánh, đối chiếu và phương pháp định tính
5) Đóng góp mới của đề tài
Thứ nhất, tiểu luận kiểm chứng các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi củachỉ số LPI giai đoạn 2014-2016 So sánh đối chiếu với các nước trong khu vựcASEAN để nhìn nhận khái quát
Thứ hai, tiểu luận đề xuất các giải pháp mới nâng cao tốc độ phát triểnngành logistics Việt Nam
6) Kết cấu nội dung
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận gồm 03 chương:
Chương I: Tổng quan về chỉ số năng lực logistics (LPI)
Chương II:Chỉ số năng lực Logistics Việt Nam so với các nước trong khuvực
Chương III: Một số kiến nghị trong phát triển hiệu quả Logistics của ViệtNam
Trang 3NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHỈ SỐ HIỆU QUẢ LPI
1.1 Khái niệm và phân loại
LPI là viết tắt của từ tiếng Anh “Logistics Performance Index”, có nghĩa làchỉ số năng lực quốc gia về Logistics, do Ngân hàng thế giới tiến hành nghiêncứu và công bố trong báo cáo mang tên “Kết nối để cạnh tranh- Ngành logisticstrong nền kinh tế toàn cầu”
LPI là một công cụ đánh giá đa chiều về các hoạt động logistics tập trungđặc biệt vào việc đo lường thuận lợi hóa thương mại và sự thân thiện vận tải củamột quốc gia cụ thể Và bằng cách đó, giúp họ xác định các rào cản chủ yếucũng như chỉ ra các cơ hội và thách thức để các quốc gia có thể phá dỡ và nângcao khả năng logistics của mình
1.2 Vai trò của LPI
- Logistics là công cụ quan trọng liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trịnhư cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho các hoạtđộng kinh tế nhưng trước LPI chưa có chỉ số nào đánh giá năng lực logistics củaquốc gia trong mối quan hệ tương quan với các quốc gia khác trên toàn cầu LPI
ra đời đã góp phần đo lường và thống kê hiệu quả logistics
- Chỉ số LPI nhằm mục đích tập trung nghiên cứu về vấn đề có tầm quantrọng toàn cầu, và từ đó cung cấp một nền tảng cho đối thoại giữa chính phủ, tổchức xã hội và các doanh nghiệp
- Từ lần đầu tiên công bố vào năm 2007, LPI trở thành chủ đề quan trọng
để tăng cường cuộc đối thoại quốc gia và quốc tế về những vấn đề còn tồn tạitrong ngành logistics- là thành tố quan trọng đối với khả năng cạnh tranh
- LPI cao sẽ ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư quốc gia Các doanh nghiệptrong bối cảnh toàn cầu hóa đặc biệt chú trọng tới chi phí hiệu quả trong chuỗicung ứng của mình nhằm tăng lợi thế cạnh tranh Do đó, các nước có chỉ số LPIcao sẽ thu hút được các công ty quốc tế Có thể lý giải như sau: Chi phí củachuỗi cung ứng chịu ảnh hưởng rất lớn từ khả năng dự đoán và độ tin cậy củachuỗi cung ứng đó và nó cũng chiếm một phần lớn trong chi phí sản xuất Dovậy, các doanh nghiệp rất cân nhắc khi chọn công ty Logistics cho hàng hóa củamình Các nước phát triển có chỉ số LPI cao thường có những chi phí như: đấtđai, cảng, kho bãi,… chi phí nhân công, nguồn nguyên liệu cao hơn hẳn cácnước đang phát triển, tuy nhiên các nước phát triển lại có lợi thế bền vững tronghiệu quả và độ tin cậy của chuỗi cung ứng, các nước có chi phí cao nhưng hiệusuất cao thì tốt hơn các nước có chi phí thấp nhưng hiệu suất cũng thấp nốt Do
Trang 4đó, chi phí trung bình tại các nước có LPI cao lại thấp hơn so với các nước cóchỉ số LPI thấp.
- LPI giúp cho các quốc gia biết được vị trí cua mình trong khả năng vềlogistics và quản lý chuỗi cung ứng Từ đó, giúp họ khắc phục được những yếuđiểm của mình từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Các quốc gia có hệthống logistics phát triển sẽ thu hút nhiều FDI hơn Thương mại và FDI lànhững kênh trọng điểm cho việc chuyển giao kinh nghiệm
1.3 Các tiêu chí đánh giá
Việc đo lường hiệu quả logistics quốc gia hiện nay được Ngân hàng Thếgiới thực hiện thông qua chỉ số LPI (Logistics Performance Idex) LPI đượcđánh giá qua 6 tiêu chí gồm:
Cơ sở hạ tầng (infrastructure): Những cơ sở hạ tầng liên quan đến chấtlượng thương mại và vận tải (cảng, đường sắt, đường bộ, công nghệ thông tin)
Vận chuyển quốc tế (shipments international): Mức độ dễ dàng khi thuxếp cho các chuyến hàng với giá cạnh tranh
Năng lực logistics (competence logistics): Năng lực và chất lượng củacác dịch vụ logistics (VD: Điều hành vận tải, môi giới hải quan…)
Theo dõi và giám sát (Tracking & tracing): Khả năng theo dõi và giámsát lô hàng
Sự đúng lịch (timeliness): Sự đúng lịch của các lô hàng tại điểm đếnHải quan (custom): Hiệu quả của quá trình thông quan (tốc độ, tính đơngiản, tính có thể dự liệu trước của thủ tục)
Việc tính toán các chỉ số được thực hiện thông qua khảo sát các doanhnghiệp cung ứng dịch vụ logistics theo thang điểm từ 1 đến 5 với mức độ 1 làkém nhất và 5 là tốt nhất Chỉ số LPI tổng thể cho một quốc gia được tính bằngcách tính trung bình trọng số của 6 chỉ số thành phần WB so sánh và xếp hạngtrình độ phát triển logistics của một quốc gia bằng cách phân chia LPI ra thành 4nhóm các quốc gia như sau: Nhóm 1 gồm các quốc gia có LPI từ 1 - 2,48; nhóm2: Các quốc gia có LPI từ 2,48 đến 2,75; nhóm 3: Quốc gia có LPI từ 2,75 đến3,23 và nhóm 4 là các quốc gia có LPI trên 3,23
Đối tượng tham gia trả lời
Chỉ số năng lực logistics (Logistics Performance Index – LPI) được đánhgiá dựa trên kết quả bản khảo sát trực tuyến từ những chuyên gia logistics đến từcác công ty chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hóa đi khắp thế giới - những công
ty vận chuyển đa quốc gia và những nhà cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanhchính yếu
Vị trí (nơi ở và làm việc) của những người tham gia đánh giá năng lựclogistics phản ánh vài trò ngày càng quan trọng của các vấn đề thuận lợi hóa
Trang 5thương mại ở các nước đang phát triển: có tới 45% người trả lời đến từ các quốcgia có thu nhập trung bình, 10% đến từ các quốc gia thu nhập thấp, phần còn lạiđến từ các nền kinh tế có thu nhập cao Chỉ số LPI cũng bao gồm sự đánh giácủa các công ty lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở lĩnh vực logistics Nhữngcông ty lớn chiếm khoảng 45% phản hồi, bao gồm các công ty giao nhận đaquốc gia (34%) và những công ty cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanh toản cầu(11%), 55% cỏn lại là từ các công ty giao nhận vừa và nhỏ.
Một việc cũng không kém phần quan trọng là phải nhấn mạnh sự tham giacủa những thành viên có kiến thức và thâm niên của các công ty trên trong việcđánh giá môi trường logistics ở các quốc gia khác nhau Kết quả khảo sát từ cácnhà điều hành cấp cao chiếm 35%, giám đốc khu vực hoặc quốc gia chiếm 25%
và quản lý phòng ban chiếm 24% Hơn nữa, nhóm chuyên gia này tham gia trựctiếp vào hoạt động hàng ngày, không chỉ ở trụ sở chính của công ty mà còn ởvăn phòng ở các nước: gần 39% người trả lời ở văn phòng chi nhánh ở các nước,35% ở trụ sở chính của vùng hoặc công ty, 11% câu trả lời từ những nhân sự ởvăn phòng chi nhánh địa phương, 14% ở các công ty độc lập Phần lớn người trảlời (54%) có công việc chính là tham gia vào việc cung cấp tất cả hoặc phần lớndịch vụ logistics Những việc này có thể bao gồm lưu kho, phân phối, đưa ra cácgiải pháp logistics cho khách hàng, dịch vụ chuyển phát nhanh, vận chuyển hàngrời hoặc hàng đóng thành kiện, và vận chuyển hàng nguyên công hoặc hàng lẻhoặc vận chuyển bằng xe móoc Ngược lại, 27% phản hồi đến từ những công tyđặt nền tảng kinh doanh của họ dựa trên một dịch vụ mà họ mạnh nhất như: vậnchuyển hàng bằng container hoặc xe moóc (15%) và cung cấp giải pháp logisticscho khách hàng (12%)
Cấu trúc câu hỏi
Phần 1: Thông tin cơ bản của người trả lời
Gồm 8 câu, người trả lời được yêu cầu cung cấp một vài thông tin cơ bản
về công việc của mình Các thông tin đó bao gồm: vị trí trong công ty, công việcchính, loại hình công ty, loại hình dịch vụ chính của công ty, quốc gia đang làmviệc Những thông tin này sẽ được dùng để thống kê người trả lời
Phần 2: Xây dựng chỉ số LPI quốc tế
Phần tiếp theo cùa bàn khảo sát LPI (câu 9-15) cung cấp thông tin dùng đểxây dựng chỉ số LPI quốc tế Mỗi người trả lời khảo sát được yêu cầu đánh giátám thị trường nước ngoài theo sáu khía canh cốt lõi của năng lực logistics Támthị trường này được chọn dựa vào những thị trường xuất nhập khẩu quan trọngcủa quốc gia mà người trả lời đang ở (hoặc làm việc) và lựa chọn ngẫu nhiên,các quốc gia láng giềng tạo nên một phần cầu lục địa nối quốc gia được đất liềnbao bọc với thị trường quốc tế
Trang 6Phần 3: Xây dựng chỉ số LPI nội địa
Phần thứ ba của bản khảo sát LPI là chỉ số LPI nội địa trong đó nhữngngười trả lời sẽ cung cấp những thông tin chi tiết về chất lượng của môi trườnglogistics ở quốc gia họ đang làm việc Từ câu hỏi 16 đến 21 của bản khảo sátLPI, những người trả lời chọn một trong năm mục, với sự sắp xếp theo năng lựctăng dần Ví dụ ở câu hòi số 16, họ có thể miêu tả cảng phí ở quốc gia của họ
“rất cao”, “cao”, “trung bình”, “thấp”, “rất thấp” Giống như trong LPI quốc tế,những tùy chọn trên được mã hóa từ 1 đến 5 Với một vài ngoại lệ, câu hỏi 22-
35 yêu cầu người trả lời cung cấp thông tin về số lượng của những khía cạnhriêng biệt cùa chuỗi cung ứng quốc tế ở quốc gia của họ Họ có thể chọn từ một
bộ câu trả lời trong một danh sách thả xuống trong mỗi câu hoặc điền số vàonhững ô trống
Trang 7CHƯƠNG II CHỈ SỐ HIỆU QUẢ LOGISTICS CỦA VIỆT NAM SO VỚI CÁC NƯỚC ASEAN
2.1 Chỉ số năng lực Logistics của Việt Nam những năm gần đây 2.1.1 Từ năm 2014 – 2016
Năm 2014, chỉ số LPI của Việt Nam tăng lên ở 5/6 điểm thành phần so vớinăm trước và đạt 3,15 điểm, trong đó tiêu chí “Hạ tầng” và “Dịch vụ Logistics”tăng mạnh nhất, lần lượt tăng 0,43 và 0,41 điểm; do đó thứ hạng của Việt Namtăng cao 5 bậc (xếp thứ 48/166 quốc gia)
Nhưng đến năm 2016, lần đầu tiên ghi nhận sự sụt giảm của LPI Việt Nam:điểm LPI đạt 2,98, giảm 0,17 điểm so với năm 2014; xếp hạng 64/160, tụt 16bậc so với năm 2014
Hình 1: Chỉ số LPI của Việt Nam 2014 - 2016
(Nguồn:World Bank (2014,2016): Connecting to compete: Trade logistics
in the Global)
Hình 1 là biểu đồ so sánh 6 thành phần chỉ số LPI của 2 năm 2014 và 2016;cho thấy trong 6 thành phần của chỉ số LPI, có đến 5 trong 6 thành phần LPI
2016 bị giảm điểm so với 2014; trong đó điểm của 2 thành phần “Hạ tầng” và
“Theo dõi hàng hóa” giảm sâu nhất, lần lượt giảm 0,41 và 0,35 điểm; 3 thànhphần “Hải quan”, “Gửi hàng quốc tế”, “Dịch vụ Logistics” giảm nhẹ Chỉ cómột thành phần duy nhất “Thời gian giao nhận hàng” của năm 2016 tăng khôngđáng kể 0,01 điểm so với năm 2014
Nguyên nhân chính của sự sụt giảm này do công tác quy hoạch tổng thểchưa có Nước ta chưa có các trung tâm logistics, cảng cạn, cảng biển, cảngsông để thuận tiện cho việc phát triển logictics Hơn nữa, việc quản lý chồng
Trang 8chéo, đã không tạo thuận lợi về hạ tầng cho các dòng chảy của hàng hóa Nếuquy hoạch tốt, dòng chảy hàng hóa sẽ theo một hoạch định tối ưu và ngượclại Trong giai đoạn này có một số thời điểm chuỗi cung ứng và hoạt động vậntải gặp khó khăn, có thể là nội sinh như vụ gây rối tại Bình Dương, Đồng Naivào tháng 5-2014, hay ngoại sinh như ảnh hưởng từ hiện tượng kẹt cảng trênquy mô toàn cầu, dẫn đến một số cảng ở thành phố Hồ Chí Minh và cảng CáiMép bị ùn tắc trong quí 3-2014 Những sự cố không mong muốn này đã ảnhhưởng đến hoạt động của chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp tại Việt Nam,qua đó tác động tiêu cực đến chỉ số LPI của Việt Nam.
2.1.2 Từ năm 2016 – 2018
Xếp hạng LPI của Việt Nam năm 2016: đứng thứ 64, với điểm số là 2.98Năm 2018: Ngân hàng thế giới (WB) công bố Báo cáo điều tra về Chỉ sốhoạt động logistics (LPI), Việt Nam được xếp hạng 39/160 nước điều tra, tăng
25 bậc so với xếp hạng 64 năm 2016
Tất cả các chỉ số đánh giá LPI 2018 đều tăng vượt bậc, trong đó có mứctăng cao nhất là năng lực chất lượng dịch vụ (xếp hạng 33, tăng 29 bậc), và khảnăng theo dõi, truy suất hàng hoá (xếp hạng 34, tăng 41 bậc) Việt Nam có thứhạng đứng đầu trong các thị trường mới nổi và xếp hạng cao nhất trong nhómcác nước có thu nhập trung bình thấp
Các nước có thu nhập trung bình thấp: Indonesia, Ấn Độ, Philippines,Ukraina, Ai Cập, Parkistan
Hình 2: Chỉ số LPI của Việt Nam 2016 - 2018
(Nguồn:World Bank (2016,2018): Connecting to compete: Trade logistics
in the Global)
Trang 9Năm 2016 là 2.98 điểm, ví dụ thông quan tăng từ 2,75 điểm lên 2,95điểm, nhờ những nỗ lực trong việc đơn giản hóa các thủ tục hải quan và ứngdụng công nghệ thông tin trong quá trình thông quan.
Kết cấu hạ tầng tăng từ 2,7 lên 3,01 điểm với sự cải thiện nổi bật của hệthống đường bộ, cảng biển (trong khi hệ thống hạ tầng đường sắt, đường thủynội địa và sân bay cần có những bứt phá hơn nữa)
Điểm số của nhóm năng lực và chất lượng dịch vụ logistics được cải thiện
rõ nét từ 2,88 điểm lên 3,40 điểm, đứng thứ 2 về mức cải thiện điểm số trongnhóm các chỉ số thành phần của LPI, sau nhóm khả năng truy xuất nguồn gốc lôhàng (với mức tăng mạnh từ 2,84 lên 3,45 điểm)
Điều này phản ánh thực trạng về cải thiện năng lực của doanh nghiệp thôngqua ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực logistics, với tỷ lệ từ 15-20%vào năm 2015-2016 đã tăng lên 40-50% vào 2017-2018 (theo khảo sát của Hiệphội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam VLA)
2.2 So sánh chỉ số năng lực của Việt Nam với các nước trong khu vực năm 2018
Theo bảng thống kê, Việt Nam đứng vị trí thứ 4 trong bảng chỉ số năng lực
về cơ sở hạ tầng năm 2018 Có thể thấy đây là một vị trí khá cao trong khu vựcAsean do sự cải thiện nổi bật của hệ thống đường bộ, cảng biển Việt Nam đang
Trang 10có nhiều dự án lớn nhằm phát triển cơ sở hạ tầng bao gồm các tuyến đường caotốc, hệ thống tàu điện và trạm năng lượng, mở ra nhiều cơ hội lớn cho thị trường
cơ sở hạ tầng Năm 2017 các doanh nghiệp đường sắt Việt Nam đã có nhữngbước tiến đáng ghi nhận trong việc khai thông các tuyến đường sắt vận chuyểnhàng hóa giữa Việt Nam với Trung Quốc Với dịch vụ này, các hành lang vận tảiqua Lào Cai và Lạng Sơn đã có thể được khai thác cho hàng chuyển tải, quácảnh vào khu vực phía Nam Trung Quốc thuận lợi hơn, góp phần nâng cao vaitrò của Hải Phòng như một cảng cửa ngõ trung chuyển quốc tế và vươn tới cácnước Châu Âu Sau nhiều nỗ lực, ngày 25/11/ 2017, ngành Đường sắt TrungQuốc và Đường sắt Việt Nam đã tổ chức đón đoàn tàu chuyên container đầu tiênkết nối giữa hai quốc gia tại ga Đồng Đăng - Lạng Sơn Với thời gian vậnchuyển container bằng đường sắt rút ngắn còn 4 ngày thay vì 14 ngày bằngđường biển, cước phí vận chuyển rẻ hơn 1 nửa so với đường bộ Mới đây, tuyếnđường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông đi vào hoạt động Việt Nam cũng camkết hoàn tất các tuyến đường sắt đến Lào và Cambodia vào năm 2020 Hay việc
mở đường cao tốc chạy thẳng từ Hà Nội – Hải Phòng cũng góp phần xây dựng
hệ thống đường bộ phục vụ cho hoạt động logistics trong nước thuận tiện hơn
Dự án cầu Bạch Đằng nối từ thành phố Hạ Long đến Hải Phòng sắp tới cũng đivào hoạt động rụt ngắn khoảng cách giữa hai thành phố cũng giúp hoạt động vậnchuyển dễ dàng và nhanh chóng hơn Ngoài ra Việt Nam đã ký hiệp định hợptác với Cambodia và Thái Lan, cho phép các nước này tiếp cận cảng Cái Mép -Thị Vải Về hàng không, Việt Nam đã xây dựng 30 cảng hàng không mới và bổsung thêm các chuyến bay đến 16 lãnh thổ Tiêu biểu trong việc phát triển vậntải hàng không là việc Chính phủ phê duyệt xây dựng sân bay quốc tế LongThành vào đầu năm 2018
GIÁ TRỊ (TRIỆU USD)
CHỦ ĐẦU TƯ
GIAI ĐOẠ N
TÌNH TRẠNG
1
Đường cao tốc Mỹ
Phước - Tân Văn 196.6
Becamex IDCCorporation
Trang 11Nghi Sơn
5 Cao tốc Hà Nội - Văn
CTCPXDThành Nam
2009 2012
-Khởi côngT6/2009
6 Cao tốc Đà Nẵng
CTĐT&PT caotốc VN VEC
2018
2012-Thông xeT6/2018
7 Cầu Nhật Tân, gói 3 423
CT XD IHI,Mitsubishi NA
Hợp đồngtrao tặng
8 Cầu Trần Thị Lý –
Cấp phépT1/2009
9 Cao Tốc 1A (Ngọc Hồi
Lên kếhoạch
Hình 4: Thống kê các dự án cao tốc đang xây dựng tại Việt Nam tính đến cuối năm 2017
thuộc
Nhà khai thác
Tổng vốn đầu tư (triệu USD)
Năm hoạt động
Công suất (TEU)
Trang 12Thị Vải + Hoa Sen
Hình 5: Các dự án đầu tư cảng biển lớn tại Việt Nam
Ngoài ra, Việt nam tiến hành kết nối hành lang Đông Tây nhằm phát triểnvận tải qua các nước ASEAN tại các tuyến đường và đầu mối quan trọng nhưđèo Hải vân, Quốc lộ 9, cảng Tiên Sa, Đà Nẵng và ký hiệp định giao thươngbiển cảng với các nước như Myanmar, Lào, Thái Lan
Tuy nhiên, dù đứng vị trí thứ tư trong các nước trên, nhìn vào thực trạng tạinước ta, có thể thấy cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động logistics vẫn còn nhiềuhạn chế và bất cập Điển hình trong hệ thống hạ tầng đường thủy nội địa và sânbay cần có những bứt phá hơn nữa
Tuyến đường sắt không đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế hiện nay
vì nó chỉ đảm nhận một phần trăm tổng lượng hàng vận chuyển và không phải làphương tiện vận tải được các doanh nghiệp ưa chuộng Hệ thống đường sắt củaViệt Nam có tổng chiều dài 2.653 km, trong khi chỉ có 6,67% đạt tiêu chuẩnquốc tế Điều này giải thích tại sao phần lớn hàng hóa trên tuyến Bắc – Namhiện đang vận chuyển bằng xe tải
Về vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, Việt Nam có nhiều cảng biểnnhưng số lượng cảng biển nước sâu có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải trên30.000 DWT là khiêm tốn, chỉ chiếm 9,2% tổng cầu Hơn nữa các cảng biển ởViệt Nam hoạt động một cách nhỏ lẻ, với mật đồ dày khiến cho việc khai thắccảng biển không đạt hiệu quá tối đa
So với nước Singapore đứng đầu trong khu vực, Singapore xử lý khá tốtviệc vận chuyển bằng đường sắt Ngày 11/4/2018, Singapore đã thông qua đạoluật quy định việc xây dựng, bảo trì, vận hành và điều tiết đường sắt xuyên biêngiới giữa Singapore và Malaysia theo các thỏa thuận đường sắt song phương, vàthực hiện các sửa đổi liên quan và hậu quả đối với một số hành vi khác
Cơ sở hạ tầng đường sắt và tài sản đường sắt cho đường sắt xuyên biên giớiphải được xây dựng và duy trì trong khu vực đường sắt được hiển thị và theo kếhoạch và bản đồ được lập
Trước khi xây dựng bất kỳ cơ sở hạ tầng đường sắt hoặc đường sắt nào chotuyến đường sắt xuyên biên giới bắt đầu, LTA phải lập kế hoạch và bản đồ đểchuẩn bị chi tiết như vậy và đánh dấu và xác nhận như vậy trên bản đồSingapore (được gọi trong Đạo luật này khu vực đường sắt)
Xếp thứ hai trên bảng xếp hạng là Malaysia Malaysia có được chỉ số caonhư vậy do họ đẩy mạnh hoạt động logistics tại khu Khu Công nghiệp Tự doBayan Lepas Khu Công nghiệp Tự do Bayan Lepas Giai đoạn IV, với diện tích
Trang 1370.000 foot vuông chỉ cách Sân bay Quốc tế Penang 10 phút và cách CầuPenang 10 phút, nối hòn đảo với đất liền Malaysia.
Kho lưu hàng nhiều người dùng mới này mang lại hiệu quả chi phí và tínhlinh hoạt thông qua thiết kế bố cục được tối ưu hóa và cơ sở hạ tầng được cảithiện để phục vụ khách hàng Sự kết hợp giữa các không gian lưu kho hàng hóakiểm soát nhiệt độ và môi trường xung quanh, không gian văn phòng thuận lợi
và hiện đại cho khách hàng tại nhà máy, thiết bị xử lý vật liệu tiên tiến, hệ thốngquản lý kho RF tiên tiến và Hải quantại chỗ để tạo điều kiện giải phóng mộtlượng hàng lớn vào giờ cao điểm Đây cũng là một trung tâm tích hợp sẽ quản lýhậu cần hợp đồng và quản lý vận chuyển hàng hóa của CEVA Logistics, mộttrong những công ty quản lý chuỗi cung ứng lớn nhất thế giới cho Malaysiacũng như các giải pháp chuỗi cung ứng toàn cầu cho các nhóm tháp hỗ trợ kháchhàng 24 × 7 lớn nhất trên toàn cầu
CEVA vẫn đang tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực logistics tại Malaysia với kếhoạch hiện đại hóa và tích hợp để phát triển các dịch vụ 4PLs, 5PLs Với vị tríchiến lược ở phần phía bắc của Malaysia, cùng với trung tâm hàng hóa hàngkhông tại sân bay Bayan Lepas, trung tâm logistics tích hợp này cung cấp một
hệ thống các dịch vụ kho vận với lợi ích lớn hơn cho khách hàng
Ngoài ra, việc áp dụng các công nghệ mới sẽ tốn kém trong giai đoạn đầu,nhưng khi lợi tức đầu tư trở nên hấp dẫn hơn, nó sẽ trở nên thiết yếu cho việcduy trì năng lực cạnh tranh của công ty logistics Thậm chí sẽ là các công nghệđược thiết kế riêng cho một cơ sở logistics và tạo nên đặc tính riêng của cơ sở
đó, nhưng vẫn có khả năng tích hợp vào một hệ thống lớn thông qua công nghệđồng bộ hóa và Internet vạn vật
Về lâu dài, những chiếc xe tải không người lái chở container vận chuyển vàthậm chí cả những chiếc tàu có nhiều kích cỡ không cần con người mà chỉ làmột chương trình máy tính
Do vậy, Malaysia đã nhận thấy rõ xu hướng này và đang phát triển ý tưởng
về cách tích hợp công nghệ robot và tự động hóa vào lĩnh vực logistsics và cáclĩnh vực liên quan một cách đồng bộ
Thái Lan cũng có chỉ số cao hơn Việt Nam do Hội đồng lập pháp quốc giaThái Lan (NLA) đã thông qua việc sửa đổi Đạo luật tàu biển Thái Lan nhằmthúc đẩy tính bền vững của ngành thủy sản và hiệu quả quản lý ngành vận tảibiển và Với địa hình bằng phẳng, vận tải đường bộ vẫn chiếm ưu thế tại TháiLan Những năm gần đây, nước này còn đạt nhiều bước tiến trong vận tải đường
bộ xuyên biên giới, một mặt thúc đẩy thương mại và du lịch, mặt khác giúp cáccông ty Thái Lan tăng năng lực cạnh tranh và vươn ra khu vực
Trang 14Bốn nước còn lại có chỉ số thấp hơn Việt Nam do chưa tận dụng hiệu quả
và cơ sở hạ tầng vẫn còn yếu kém Vì vậy, họ đề xuất đưa ra rất nhiều phương
án cải thiện tình hình để logistics đạt được hiêu quả cao hơn Chính phủMyanmar đang nỗ lực để tổ chức và phát triển một hệ thống giao thông vận tải
và logistics tại Myanmar do giao thương giữa nước này và các đối tác toàn cầuđược dự báo sẽ tăng lên Để tối ưu hóa hiệu quả vận chuyển hàng hóa và tối đahóa đầu tư vào lĩnh vực này, một chiến lược phát triển hành lang logistics sẽđược thực hiện Các hành lang này sẽ bao gồm Hành lang Hậu cần Bắc-Nam nốiYangon đến Trung Quốc, hành lang hậu cần Đông Nam nối Myanmar với TháiLan, Hành lang Logistics xuyên Myanmar liên kết Kyaukphyu ở bang Rakhinevới Tachileik ở bang Shan, Myanmar - Ấn Độ Logistics Hành lang, cũng nhưHành lang Logistics sông chính và Hành lang Logistics biển ven biển
nghiệp nội địa vì lần lượt nhảy vào thị trường Việt Nam theo hình thức hợp tác
Trang 15với các doanh nghiệp trong nước nhưng nhờ tiềm lực tài chính cùng năng lựchoạt động chuyên nghiệp, những tên tuổi lớn đã chiếm lĩnh hơn 95% thịphần dịch vụ chuyển phát nhanh trong nước Trong đó DHL cùng FedEx đãcùng nhau dẫn đầu lần lượt 40% và 35% thị phần cả nước trong cả dịch vụ vậnchuyển nội tỉnh và quốc tế.
Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể chen chân vào các dịch
vụ chuyển hàng quốc tế mà chỉ có thể tìm kiếm cơ hội tại các dịch vụ nhỏ trongnước Vốn đã phát triển tốt trên thị trường quốc tế, các doanh nghiệp nước ngoàicũng đang bắt đầu thâm nhập để cạnh tranh mảng chuyển phát nội điạ với cácdoanh nghiệp trong nước, gây nên nhiều khó khăn và sức ép cạnh tranh lớn đếncác công ty chuyển phát nhanh đang cố tồn tại trên thị trường
Việt Nam cần phải học tập một số cách thức chuyển hàng quốc tế của một
số nước có chỉ số chuyển hàng cao trong khu vực
Ngành công nghiệp giao nhận, vận tải hàng hóa Malaysia có tính cạnhtranh cao, do mức độ phân mảnh lớn trên thị trường Mặc dù có sự phân mảnh,thị trường phần lớn bị ràng buộc bởi các yêu cầu pháp lý đối với việc thành lập
và hoạt động Ví dụ, việc cấp giấy phép của Cục Hải quan Hoàng gia Malaysia
là bắt buộc để hoạt động trong các dịch vụ này ở Malaysia
Singapore là một cửa ngõ (hub) rất quan trọng cho vận tải hàng không vàđường biển Nước này đang đầu tư mở rộng các cảng của mình và Nhà ga 5 sânbay Changi
Các công ty Logistics Thái Lan, cũng đang đẩy mạnh các dịch vụ vận tảixuyên biên giới Ví dụ, hãng Nippon Express đã bắt đầu cung cấp dịch vụ vậntải tổng hợp giữa Bangkok và Hà Nội theo lịch trình cố định từ năm 2017
Sự phát triển của Hành lang Kinh tế phía Đông (EEC) dự kiến sẽ tạo ra mộtnhu cầu rất lớn về dịch vụ logistics ở Thái Lan Nước này đã phê duyệt khoảnđầu tư 45 tỷ USD cho EEC, dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2021 EEC trải dài13.285 km2 trên ba tỉnh Chachoengsao, Chonburi và Rayong ở miền Đông TháiLan
Thị trường Logistics Indonesia hiện đang trong giai đoạn tăng trưởng với
sự hiện diện của nhiều tổ chức vận chuyển hàng hóa quốc tế, các nhà cung cấpdịch vụ chuyển phát nhanh, trong đó chủ yếu là vận chuyển đường bộ Vận tải
đa phương thức cũng có nhiều cơ hội phát triển, nhất là trên một lãnh thổ có sựđan xen nhiều loại địa hình
Hiện tại, có hơn 155 nhà cung cấp dịch vụ logistics (vận tải, kho bãi, giaonhận) tại Indonesia, Thị trường chuỗi ung ứng lạnh ở Indonesia khá tập trung,với thịp hần chủ yếu thuộc về các công ty lớn như PT Diamond Cold Storage,
Trang 16Maersk Line, Wahana và GAC Thị trường 3PL tại Indonesia dự kiến sẽ tăngtrưởng với tốc độ CAGR trong 5 năm là 14,0% trong thời gian tới Jakarta đónggóp tỷ trọng doanh thu cao nhất là 38,0% tại thị trường kho bãi Indonesia trongnăm 2016 do các khu công nghiệp nằm ở thành phố lớn nhất Jakarta.
là khoảng hơn 3000 doanh nghiệp trong đó 20% là công ty nhà nước, 70% làcông ty Trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân là 10% (theo khảo sátcủa VLA) Trước đây, các doanh nghiệp trong nước chủ yếu làm đại lý hoặcđảm nhận từng công đoạn trong chuỗi dịch vụ logistics cho các nhà cung cấpdịch vụ logistics quốc tế như giao nhận (đại lý trong và ngoài nước), vận tải,dịch vụ kho bãi, xếp dỡ Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào
Trang 17thương mại quốc tế, các doanh nghiêp đang ngày càng nâng cao chuyên mônnghiệp vụ nhằm cung cấp đầy đủ hơn các dịch vụ, thậm chí là dịch vụ “door todoor“ để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Hiện nay, những doanh nghiệplogistics đa quốc gia lớn nhất thế giới hầu hết đang hoạt động tại Việt Nam vớicác tên tuổi nổi tiếng như DHL, FedEx, UPS, Maersk Logistics, APL Logistics,Schenker, Nippon Express, KWE, CJ Logistics, KMTC Logistics, Log Win, chiếm tỷ trọng đáng kể trên thị trường dịch vụ logistics của đất nước Nhờ kinhnghiệm hoạt động lâu đời nên các doanh nghiệp này đã hoàn thiện dây chuyềnlogistics có thể cung cấp các dịch vụ ở cấp độ 3PL và 4PL thậm chí là 5PL
Giao
nhận
Kh o
IC D
Trung tâm phân phối
Đại lý hãng vận tải
Vận tải đa phương thức
Thu gom hàng lẻ
Siêu trường siêu trọng
Kh
o bãi
Quả
n
lý hàng
tồn kho
Lấy hàng đóng gói
và lắp ráp
Quản lý trung tâm phân phối
Mar Dịch
vụ khách hàng
Dịch
vụ tại nguồn
Giao hàng thẳn
g tới kho
Trang 18Hình 9: Dịch vụ Logistics do doanh nghiệp Logistics nước ngoài cung cấp
Tuy nhiên vẫn phải nhìn nhận một cách thực tế rằng các doanh nghiệplogistics Việt Nam hoạt động còn manh mún, thiếu kinh nghiệm và chuyênnghiệp, chỉ cung cấp dịch vụ cơ bản, cạnh tranh về giá là chủ yếu, ít giá trị giatăng nên chỉ gia công lại cho các công ty 3PL, 4PL (Fourth Party Logistics)nước ngoài
Các doanh nghiệp VN, đa phần đều là đại lý, công ty vận tải với quy mô rấtnhỏ từ 1-5 chiếc xe tải, hay đại lý môi giới, công ty cho thuê kho bãi (tức đạt ởcấp độ 2PL - một chuỗi những người cung cấp dịch vụ cho hoạt động đơn lẻ chochuỗi hoạt động logistics nhằm đáp ứng nhu cầu của chủ hàng nhưng chưa tíchhợp với hoạt động logistics) Mặt khác, ở cấp độ này, các công ty có dịch vụ chothuê kho bãi ở Việt Nam chưa thực sự chuyên nghiệp trong hoạt động cho thuêkho bãi mà chỉ đơn thuần hoạt động như “chủ nhà, chủ đất cho thuê”
Chỉ có một số ít doanh nghiệp logistics ở Việt Nam đạt cấp độ 3PL - cấp độ
có thực lực và làm đúng chức năng cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba haylogistics theo hợp đồng Theo đó, công ty logistics thay mặt cho chủ hàng quản
lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận như gửi hàng, thực hiệnthủ tục xuất khẩu, cung cấp chứng từ giao nhận-vận tải và vận chuyển nội địahoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan hàng hóa và đưahàng đến điểm đúng quy định…
Chỉ số năng lực logistics của Singapore tăng không đáng kể từ 4.09 tănglên 4.10 Tuy nhiên nhìn nhận khách quan năng lực logistics của Singaporetrước giờ luôn ở cao nên việc tăng trưởng mạnh mẽ là điều không thể Và mặcdù chỉ tăng 0.01 điểm nhưng chỉ số năng lực logistics của Singapore lại tăng 2bậc đừng thứ 3 thế giới Hiện có 25 nhà cung cấp dịch vụ 3PL hàng đầu thế giới
Trang 19và 17 LSP hoạt động tại Singapore, nổi bật là DB Schender quản lý 11.000 nhânviên, DHL có 30.000 nhân viên Điều này khiến cho năng lực dịch vụ logisticscủa Singapore đang phát triển ổn định và có được vị thế cao trên trường quốc tế
Cũng tương tự như Việt Nam chi số năng lực logistics của Thái Lan cũngtăng trường do có sự tham gia của các doanh nghiệp logistics hàng đầu thế giớinhư DHL giữ vị trí hàng đầu trong thị trường logistics Thái Lan, với chỗ đứngvững chắc trong vận chuyển hàng không và đường biển và chuyên môn của họtrong các dịch vụ 3PL Các công ty lớn khác như CEVA, DB Schenker,Khuehne + Nagel, Damco, NYK Line và Toll, chiếm lĩnh thị trường trong cácphân khúc cụ thể Ví dụ, DB Schenker thống trị ngành công nghiệp hậu cần hợpđồng của Thái Lan, trong khi trong phân khúc vận tải đường bộ, nhóm NYK làmột công ty chủ lực và quan trọng Bên cạnh đó ở Thái Lan xu hướng phát triểnlogistics chiều ngược (inverse logistics- là logistics phục vụ việc trả lại hàng, thuhồi hàng từ phía người mua trở lại cho người bán) đang được đẩy mạnh do sựphát triển của thương mại điện tử, đặc biệt là B2C và chính sách vận chuyển vàtrả hàng miễn phí của mua hàng trực tuyến
Nhìn chung chỉ số năng lực logistics của các quốc gia khu vực ASEANtăng do sự xâm nhập của các tập đoàn logistics lớn trên thế giới khi họ nhận rathị trường logistics đầy tiền năng của khu vực ASEAN
2.2.4 Tracking & tracing
Quốc gia Tracking & tracing 2016 Tracking & tracing 2018