Trong Tuyên bố Hoà hợpASEAN II Tuyên bố Hoà hợp Bali II được thông qua tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lầnthứ 9 diễn ra tại Bali, Indonesia ngày 7/10/2003 cũng như trong Hiệp định khungASEAN
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hòa chung trong kỷ nguyên phát triển mạnh mẽ của kinh tế thế giới, cộng đồngchung ASEAN luôn hướng tới sự liên kết chặt chẽ về mọi mặt, tự do hóa và đa phươnghóa tạo điều kiện cho các quốc gia thành viên cũng như cả khối cùng phát triển Mộttrong những phương diện luôn được quan tâm hàng đầu đó chính là vấn đề vận tải Trongkhoảng thời gian 10 năm trở lại đây, sự phát triển của ngành vận tải nói chung cũng nhưvận tải hàng không nói riêng đặc biệt đáng quan tâm Cộng đồng chung ASEAN đã và
đang hướng tới hình thành một thị trường hàng không thống nhất (ASEAN single aviation market), mở rộng quyền tự do đi lại, trao đổi và giao nhận hàng hóa cũng như hành khách
giữa các thành viên trong khối nước ASEAN Chính vì xu thế chung này, nhóm quyếtđịnh tìm hiểu về hành trình xây dựng thị trường hàng không thống nhất của ASEAN, từ
đó có một hiểu biết nhất định về chính sách Bầu trời mở (Open Sky policy/agreement) và
cái nhìn khách quan về cơ hội cùng những thách thức mà ngành vận tải hàng không ViệtNam đang phải đối mặt
Mặc dù khi nói đến ngành vận tải hàng không có rất nhiều vấn đề cần được quantâm tuy nhiên giới hạn bài nghiên cứu này sẽ chủ yếu tập trung vào hoạt động vận tảihàng hóa hàng không của ASEAN nói chung và Việt Nam nói chung Từ khi ASEANđưa ra định hướng về một thị trường hàng không thống nhất, trải qua những lần họp bàn
và ký kết đã có không ít nghiên cứu cũng như bàn luận về vấn đề này, thêm vào đó, dohạn chế về thông tin chính thức và số liệu cụ thể cập nhật tới thời điểm hiện tại của Việt
Trang 2Nam các quốc gia thành viên ASEAN, bài nghiên cứu này xin được tập trung vào vấn đềvận tải hàng hóa hàng không
Bài nghiên cứu gồm có ba chương với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển thị trường hàng không ASEAN thống nhấtChương 2: Hoạt động vận tải hàng hóa hàng không của Việt Nam trong hành trình gianhập vào thị trường hàng không ASEAN thống nhất
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển ngành vận tải hàng hóa hàng khôngtrong bối cảnh hiện nay
Trang 3CHƯƠNG I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG HÀNG KHÔNG ASEAN THỐNG NHẤT
I.1 Quá trình xây dựng thị trường hàng không ASEAN thống nhất
Ngành công nghiệp hàng không của ASEAN những năm trở lại đây đã ghi dấu sựtăng trưởng vượt bậc cả về năng lực của các hệ thống hàng không cũng như năng suấtvận tải hành khách và hàng hóa Việc phát triển mạng lưới hàng không đã đóng góp vào
sự tăng trưởng chung của nền kinh tế nói chung, đặc biệt là ngành du lịch nói riêng
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phát triển nhanh chóng và bền vững củangành vận tải nói chung, cũng như mạng lưới vận tải hàng không nói riêng sẽ mở ra một
kỷ nguyên phát triển mạnh mẽ về kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy cho sự phát triển của cácngành khác trong cộng đồng chung ASEAN; cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEANEconomic Community - AEC) đã đưa ra định hướng chung về việc thành lập thị trườnghàng không thống nhất từ những năm đầu của thế kỷ 21 Trong Tuyên bố Hoà hợpASEAN II (Tuyên bố Hoà hợp Bali II) được thông qua tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lầnthứ 9 diễn ra tại Bali, Indonesia ngày 7/10/2003 cũng như trong Hiệp định khungASEAN về hội nhập các ngành ưu tiên ngày 29 tháng 11 năm 2004 luôn nhấn mạnh rằnghoạt động vận tải hàng không luôn nằm trong số những ngành được ưu tiên hàng đầu.ASEAN hướng tới thị trường hàng không thống nhất vào năm 2015 và tiếp tục thực hiệncác hoạt động hàng không và dịch vụ vận chuyển hàng không nhằm tăng cường hơn nữa
an toàn, an ninh và hiệu quả của bầu trời ASEAN
Để từng bước thực hiện mục tiêu nói trên, tại Hội nghị ATM 12, Nghị định thưsửa đổi Bản ghi nhớ ASEAN năm 2002 về Dịch vụ vận tải hàng hóa hàng không đã được
ký Nghị định thư này là bước thực hiện cơ bản ban đầu tiến tới tự do hóa hoàn toàn dịch
vụ vận tải hàng hóa hàng không
Để đảm bảo kịp thời hạn đề ra trong Lộ trình Hội nhập vận tải Hàng khôngASEAN (RIATS), Hiệp định đa biên ASEAN về vận tải Hàng không và Hiệp định đa
Trang 4biên ASEAN về Tự do hoá hoàn toàn dịch vụ vận tải hàng hóa hàng không được cácnước (trừ Thái Lan) hoàn tất các thủ tục nội bộ và đã ký tại Hội nghị ATM 14 (Manila,Philippines, 11/2008) Sau khi Thái Lan hoàn thành thủ tục nội bộ để ký thì hai Hiệp địnhnày có thể được coi là các nội dung quan trọng nhất về vận tải hàng không trong ASEAN.Hai Hiệp định này sẽ tạo cơ sở cho việc thực hiện “Thị trường hàng không ASEAN thống
nhất” (ASAM) vào năm 2015, đó cũng là nền tảng để ASEAN thông qua các sáng kiến
tăng cường các thỏa thuận bầu trời mở, tiếp cận hàng không với các nước đối thoại nhưTrung Quốc, Ấn Độ và EU…
Theo Lộ trình Hội nhập vận tải Hàng không ASEAN (RIATS), hai nhân tố chủchốt để xây dựng thị trường hàng không thống nhất ASEAN là kinh tế và kỹ thuật Cụthể, xét về mặt kinh tế bao gồm những vấn đề như thâm nhập thị trường, điều kiện vềthuê tàu bay, sở hữu và kiểm soát các hãng hàng không, thuế quan, hoạt động thươngmại, luật cạnh tranh và các chính sách viện trợ, vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, cước phí
sử dụng sân bay, giải quyết tranh chấp và cơ chế tham gia của các đối tác đối thoại Vềmặt kỹ thuật, RIATS đề cập tới các vấn đề: an toàn hàng không, an ninh hàng không vàquản lý lưu thông hàng không
Việc thực hiện chính sách Bầu trời mở ASEAN chính là bước tiến quan trọngtrong việc hội nhập sâu và rộng trên mọi lĩnh vực của ngành vận tải hàng không, từ đóxây dựng thị trường hàng không ASEAN thống nhất thành công Chính sách “Bầu trờimở” với nội dung chính là nhằm thúc đẩy mở cửa thị trường, tạo môi trường tự do kinhdoanh cho các doanh nghiệp vận chuyển hàng không, giảm tối đa sự can thiệp trực tiếpcủa nhà nước vào hoạt động kinh doanh theo hướng cạnh tranh tự do Việc ASEAN thựchiện chính sách tự do hóa vận chuyển hàng không góp phần quan trọng trong việc thúcđẩy giao thương, hợp tác đầu tư, dịch chuyển lao động và du lịch trong ASEAN, tăngcường liên kết hội nhập khu vực và liên kết ASEAN với bên ngoài Tính tới thời điểmhiện tại, các hiệp định khung vận hành chính sách Bầu trời mở ASEAN đã được hoànthiện, bao gồm 3 hiệp định đa biên với nội dung chính như trong bảng dưới đây
Trang 5Chính sách Bầu trời mở ASEAN
Vận tải hàng hóa
MAFLAFS
Hiệp định đa biên ASEAN về Tự do hóa hoàn toàn dịch vụ vận tải hàng hóa hàng không (ASEAN Multilateral Agreement on the Full Liberalisation of Air Freight Services)Hiệp định đa biên về Tự do hóa hoàn toàn dịch vụ vận tải hành khách hàng không (ASEAN Multilateral Agreement for the Full Liberalisation of Air Passenger Services)MAFLPAS
Tự do thương quyền thứ 3, 4, 5 đối với dịch vụ vận tải hàng hóa quốc tế
Tự do thương quyền thứ 3, 4, 5 đối với dịch vụ hành khách theo lịch trình từ/đến bất cứ điểm nào là sân bay quốc tế thuộc hoặc giữa các vùng của ASEAN và giữa thủ đô của các nước
Trang 6Chính sách yêu cầu từng quốc gia thành viên ASEAN mở cửa hoàn toàn sân bayquốc tế cho các quốc gia thành viên ASEAN khác Chính sách chưa thể gỡ bỏ hạn chếthương quyền thứ 7 và sẽ được đưa vào đàm phán trong tương lai Về mảng vận tải hàngkhông, các hãng hàng không được chỉ định của mỗi bên ký kết được phép thực hiện cácchuyến bay vận chuyển hàng hóa lên đến 250 tấn mỗi tuần mỗi chiều, không bị giới hạn
về tần suất và loại tàu bay từ lãnh thổ của bên ký kết tới lãnh thổ của các bên ký kết khác
và ngược lại
Để thực hiện chính sách “Bầu trời mở ASEAN”, lộ trình hội nhập vận tải hàngkhông được thiết lập để đặt ra các mục tiêu và lộ trình để các nước ASEAN thực hiện kýkết và áp dụng các hiệp định khung ASEAN Tới nay, toàn bộ hiệp định khung bao gồm
3 hiệp định đa biên như đã nêu ở hình 1 đã được hoàn tất ký kết Cụ thể, năm 2009 Hiệpđịnh đa biên ASEAN về vận tải hàng không (Multilateral Agreement of Air Services –MAAS) đạt được thống nhất về thương quyền thứ 3,4,5 giữa 10 thủ đô các nước thànhviên ASEAN Cùng trong thời điểm đó, Hiệp định đa biên ASEAN về tự do hóa hoàntoàn Dịch vụ Vận tải Hàng hóa Hàng không (MAFLAFS) cũng được ký tháng 5/2009, cóhiệu lực vào tháng 10/2009 Năm 2010, Hiệp định đa biên ASEAN về Tự do hóa hoàntoàn dịch vụ Vận tải hàng hóa Hàng không (MAFLPAS) thông qua thương quyền thứ3,4,5 giữa 72 cảng hàng không, sân bay quốc tế giữa các nước ASEAN có hiệu lực đầutiên giữa 5 nước ký kết là Việt Nam, Thái Lan, Singapore, Myanmar và Malaysia (được
ký tại Hà Nội ATM 16 tháng 12/2010)
Việc đàm phán tự do hóa dịch vụ vận tải hàng không được tiến hành trong khuônkhổ Nhóm công tác vận tải Hàng không (ATWG) Tại Hội nghị ATM 12 (Băng Cốc,Thái Lan, 2/2007), các Bộ trưởng đã ký Nghị định thư thực hiện Gói cam kết thứ nămDịch vụ vận tải hàng không trong Hiệp định khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS), với cáccam kết trong các lĩnh vực bao gồm: dịch vụ thuê, cho thuê tàu bay có kèm tổ lái vàkhông kèm tổ lái Gần đây, ASEAN đã mở rộng tự do hóa trong lĩnh vực dịch vụ sửachữa và bảo dưỡng tàu bay; bán và tiếp thị vận tải hàng không và dịch vụ đặt giữ chỗ quamáy tính Trong các vòng đàm phán tới, các nước ASEAN có thể sẽ đưa thêm một số lĩnh
Trang 7vực mới, bao gồm dịch vụ giao nhận hàng hoá bằng đường hàng không, nhằm mở rộng tự
do hoá dịch vụ vận tải hàng không ASEAN Việt Nam đã tích cực tham gia và chủ độngđưa ra các bản chào trong đàm phán, với nội dung đảm bảo tính cân đối giữa việc thểhiện sự tích cực trong đàm phán với việc đảm bảo lợi ích của các doanh nghiệp vậnchuyển hàng không trong nước
Dịch vụ Hỗ trợ vận tải hàng không, một trong các yếu tố của AFAS với yêu cầuphải được tự do hóa vào năm 2010, hiện đang được đàm phán trong khuôn khổ “Đàmphán lĩnh vực vận tải hàng không ASEAN (ATSN)” Các nước đã thống nhất rằng khithực hiện Lộ trình Tự do hoá dịch vụ hỗ trợ vận tải hàng không này, hai hay nhiều nướcthành viên ASEAN đã sẵn sàng có thể đàm phán, hoàn thiện và ký thỏa thuận thực hiệntheo công thức “ASEAN - X” trên cơ sở song phương, đa phương hay tiểu vùng Cácnước thành viên ASEAN khác có thể tham gia thực hiện khi đã sẵn sàng
I.2 Lộ trình áp dụng chính sách Bầu trời mở ASEAN trên phương diện kinh
tế
Theo Lộ trình Hội nhập vận tải Hàng không ASEAN (RIATS), hai nhân tố chủchốt để xây dựng thị trường hàng không thống nhất ASEAN là kinh tế và kỹ thuật Dướiđây là bản tóm tắt lộ trình hội nhập vận tải hàng không ASEAN trên phương diện kinh tế:
Thâm nhập
thị trường
Phê chuẩn và thi hành Hiệp định đa biên ASEAN về tự
do hóa hoàn toàn Dịch vụ Vận tải Hàng hóa Hàngkhông (MAFLAFS) và các Nghị định thư 1 và 2 sớmnhất có thể Thời hạn thi hành hai nghị định thư này đãđược nhất trí tại Hội nghị bộ trưởng giao thông vận tảikhu vực ngày 31/12/2008
2008
Phê chuẩn và thi hành Hiệp định đa biên về dịch vụhàng không (MAAS) và các Nghị định thư từ 1 đến 6càng sớm càng tốt Thời hạn thi hành hiệp định này đã
Nghị định thư
1 – 5: 2008Nghị định thư
Trang 8được nhất trí tại Hội nghị bộ trưởng giao thông vận tảingày 31/12/2008 đối với nghị định thư từ 1 đến 5 vàngày 31/12/2010 đối với nghị định thư 6.
6: 2010
Ký kết Hiệp định đa biên về Tự do hóa hoàn toàn dịch
vụ vận tải hành khách hàng không (MAFLPAS) vàonăm 2010, phê chuẩn và thi hành Hiệp định cùng cácNghị định thư số 1 và 2 Thời hạn thi hành hiệp địnhnày đã được nhất trí tại Hội nghị bộ trưởng giao thôngvận tải ngày 30/6/2010 đối với nghị định thư từ 1 vàngày 30/6/2013 đối với nghị định thư 2
Nghị định thư1: 2010Nghị định thư2: 2013
Tổng kết và xem xét lại quá trình thi hành các Hiệpđịnh đa biên đã ký kết và họp bàn về khả năng tự dohóa hơn nữa việc thâm nhập thị trường
2015
Thảo luận sâu hơn về vấn đề sở hữu và kiểm soát cáchãng hàng không của nước thành viên ASEAN, baogồm vấn đề “Hãng vận tải cộng đồng ASEAN”
(ASEAN Community Carrier)
Trang 9Bao gồm Thỏa thuận về vận tải hàng không với TrungQuốc tính tới năm 2010, với Ấn Độ, Hàn Quốc và cácđối tác đối thoại tiềm năng khác không muộn hơn năm2015
do hoá vận tải hàng không Thu hẹp khoảng cách phát triển đồng thời đảm bảo sự thamgia bền vững của các hàng hàng không của các nước như CLMV là một công việc rất khókhăn mà các nhà làm công tác hoạch định chính sách vận tải hàng không cần giải quyết
Trang 10Việt Nam đã và đang thể hiện vai trò tích cực trong thực hiện chính sách “Bầu trờimở”, trước hết là trong tiểu vùng CLMV và sau nữa là trong khu vực ASEAN Trongkhuôn khổ hợp tác hàng không tiểu vùng CLMV, Việt Nam đã chủ động đề xuất và Hiệpđịnh CLMV về vận tải hàng không đã được ký vào năm 2004, tạo thuận lợi vận tải hàngkhông trong khuôn khổ tiểu vùng CLMV, là tiền đề cho phát triển chính sách tự do hóabầu trời trong ASEAN.
Tuy vậy, khoảng cách về phát triển kinh tế nói chung và sự chênh lệch về trình độphát triển hàng không nói riêng của các quốc gia thành viên ASEAN là khó khăn lớn nhất
mà ASEAN phải đối mặt khi xây dựng thị trường hàng không thống nhất ASEAN Đâycũng là trở ngại của ASEAN trong việc thực hiện chương trình hành động giao thông vậntải ASEAN 2005-2010
CHƯƠNG II HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI HÀNG HÓA HÀNG KHÔNG VIỆT NAM TRONG HÀNH TRÌNH GIA NHẬP VÀO THỊ TRƯỜNG HÀNG KHÔNG ASEAN THỐNG NHẤT
II.1 Hoạt động vận tải hàng hóa hàng không Việt Nam trong quá trình gia
nhập vào thị trường hàng không ASEAN thống nhất
II.1.1 Quá trình chuẩn bị của Việt Nam và các hãng hàng không trong nước trước
hành trình gia nhập vào thị trường hàng không ASEAN thống nhất
Về mảng dịch vụ vận tải hàng hóa hàng không, Việt Nam đã hoàn tất ký kết vàongày 22.12.2009 hiệp định đa biên ASEAN về tự do hóa hoàn toàn dịch vụ vận tải hànghóa hàng không cùng với Singapore, Thái Lan và Myanmar
Đến năm 2013, khi thực hiện bầu trời mở ASEAN, ba hiệp định đa biên về tự dohóa hoàn toàn dịch vụ vận tải hàng hóa và dịch vụ vận tải hành khách đã được ký kết, đikèm là các Nghị định thư thực hiện để tự do hóa thương quyền giữa bất kỳ thành phố cósân bay quốc tế nào trong ASEAN Cho đến năm 2016, Việt Nam cùng với Singapore,
Trang 11Thái Lan, Brunei, Malaysia và Campuchia đã phê duyệt hoàn toàn ba hiệp định và cácNghị định thư thực hiện.
Ngay từ khi chính sách “Bầu trời mở ASEAN” xây dựng lộ trình, Việt Nam đã rấttích cực tham gia đóng góp ý kiến Trong việc áp dụng chính sách, Việt Nam đã thể hiệnnhững động thái tích cực
Về kết nối thể chế, Việt Nam là một trong số các nước đầu tiên hoàn tất việc kýkết và phê duyệt tất cả các Hiệp định khung ASEAN và các Nghị định thư thực hiện vềtạo thuận lợi vận tải đã ký kết trong ASEAN cũng như các thỏa thuận hợp tác vận tảihàng không theo đúng lộ trình hội nhập vận tải hàng không, thực hiện chính sách “Bầutrời mở ASEAN”
Đến nay, Việt Nam đã gỡ bỏ hạn chế thương quyền 3,4,5 giữa các sân bay quốc tếcủa Việt Nam với các nước ASEAN khác Ngoài ra, Việt Nam cũng có chính sáchkhuyến khích hàng không các nước ASEAN tăng cường mở rộng đường bay đến các sânbay thứ cấp của Việt Nam như Phú Bài, Liên Khương, Phú Quốc thông qua các chínhsách hỗ trợ giảm giá, phí tại các cảng hàng không này
Về mảng vận tải hàng hóa, các hãng hàng không được chỉ định của mỗi bên ký kếtđược phép thực hiện các chuyến bay vận chuyển hàng hóa lên đến 250 tấn mỗi tuần mỗichiều, không bị giới hạn về tần suất và loại máy bay từ lãnh thổ của bên ký kết tới lãnhthổ của các bên ký kết khác và ngược lại
II.1.1.1 Công tác chuẩn bị của Việt Nam
Việc thực hiện cam kết của Việt Nam không riêng lẻ trong hội nhập nội khốiASEAN mà diễn ra trong khuôn khổ Quy hoạch phát triển giao thông vận tải hàng khôngcủa Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướngChính phủ phê duyệt Một trong các nội dung quan trọng của Quyết định này là việc thựchiện tự do hóa vận tải hàng không (bao gồm cả thương quyền 5 trong ASEAN) để đếnnăm 2020 xây dựng được mạng đường bay Đông Nam Á bao gồm:
Trang 12(i) Mạng đường bay trong tiểu vùng Việt Nam - Lào - Campuchia - Myanmar; (ii) Tăng cường tần suất khai thác cao trên các đường bay từ TP Hồ Chí Minh/Hà
Nội đi Bangkok, Kuala Lumpur, Singapore; mở đường bay từ Đà Nẵng đến cácđiểm này;
(iii) Khuyến khích mở các đường bay quốc tế trực tiếp giữa Hải Phòng, Huế, Nha
Trang, Cần Thơ, Phú Quốc với các nước trong khu vực
II.1.1.2 Công tác chuẩn bị của các hãng hàng không Việt Nam
Các hãng hàng không Việt Nam đã rất nhanh nhạy trong việc nắm bắt cơ hội từviệc mở cửa bầu trời ASEAN Từ hai năm nay các hãng đã bắt đầu chuẩn bị các kế hoạch
để tham gia vào sân chơi này
Đầu tiên là Vietnam Airlines đã chuẩn bị cho sự kiện này bằng việc nâng cấp tổngthể chất lượng dịch vụ mặt đất và trên không theo tiêu chuẩn quốc tế từ mức 3 sao lên 4sao Hãng đã thực hiện kế hoạch này bằng việc đầu tư đội máy bay hiện đại Trong đó,hãng sẽ thay thế toàn bộ đội tàu bay thân rộng với 33 chiếc, trong đó có 19 chiếc Boeing
787 Dreamliner và 14 chiếc Airbus A350-900XWB (bao gồm cả mua và thuê), đượcchuyển giao dần trong vòng hơn ba năm, từ giữa 2015 đến đầu năm 2019 Những loạimáy bay mới này sẽ cho phép hành khách được truy cập Wi-Fi trên máy bay Đây là điểmkhác biệt giữa dịch vụ của Vietnam Airline với các hãng còn lại của Việt Nam
VietJet Air cũng chuẩn bị rất kỹ những kế hoạch để có đủ khả năng cạnh tranh vớicác hãng hàng không trong khu vực khi tham gia vào sân chơi bầu trời mở ASEAN Đạidiện của VietJet Air tiết lộ, để cạnh tranh sòng phẳng với các hãng hàng không mạnhtrong khu vực, hãng đã chú trọng vào ba nội dung trọng tâm là công tác nhân sự, đội tàubay và tăng cường năng lực quản trị vận hành bên cạnh khả năng tài chính
Đối với công tác nhân sự, VietJet Air đã đầu tư trung tâm đào tạo, trang bị cơ sởvật chất đạt tiêu chuẩn quốc tế để đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập của học viên Về
Trang 13đầu tư đội bay, bên cạnh hợp đồng thuê mua 100 tàu bay với Airbus đã ký vào năm 2014,tại triển lãm hàng không Quốc tế Paris Airshow 2015 vừa qua VietJet Air đã ký tiếp hợpđồng bổ sung đặt mua thêm sáu máy bay A321.
Một bước đi quan trọng khác để đón bầu trời mở ASEAN của VietJet Air là góp49% vốn với Kan Air của Thái Lan để thành lập liên doanh Thai VietJet Air vào năm
2013 Hãng này được khai thác cả các chuyến bay nội địa và quốc tế từ sân baySuvarnabhumi (Bangkok) và mới đây cũng đã mở đường bay từ Bangkok đến Cần Thơcủa Việt Nam
Không ngồi yên nhìn các đối thủ cạnh tranh chuẩn bị cho bầu trời mở ASEAN,Jetstar Pacific cũng sẽ chuyển đổi sang khai thác hoàn toàn bằng dòng máy bay AirbusA320/A321, trẻ hóa đội bay, tăng máy bay, mở các đường bay quốc tế trong khu vực, đàotạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
II.1.2 Sự phát triển của vận tải hàng hóa hàng không Việt Nam từ khi tham gia
thực hiện chính sách “Bầu trời mở ASEAN”
Trong những năm gần đây, kể từ khi thực hiện chính sách “bầu trời mở” thị trườngvận tải hàng hóa qua đường hàng không của Việt Nam có những bước phát triển rõ rệt
Bảng 1 Khối lượng hàng hoá vận chuyển phân theo ngành vận tải đường hàng không Đơn vị: Nghìn tấn
Trang 14Qua bảng trên ta thấy, khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường hàng không từnăm 2010-2011 tăng 10,2 nghìn tấn, nhưng 2 năm tiếp theo lại giảm xuống còn 183,7nghìn tấn vào năm 2013 Sự dao động tiêu cực này là do sự cạnh tranh cao giữa các hãnghàng không trong nước với nước ngoài mà các hãng hàng không trong nước chưa có biệnpháp nâng cao năng lực phục vụ của mình
Từ năm 2013, khi thực hiện bầu trời mở ASEAN, ba hiệp định đa biên về tự dohóa hoàn toàn dịch vụ vận tải hàng hóa đã được ký kết, đi kèm là các Nghị định thư thựchiện để tự do hóa thương quyền giữa bất kỳ thành phố có sân bay quốc tế nào trongASEAN, Việt Nam và bản thân các hãng hàng không đã nhận định, mở cửa bầu trời khuvực ASEAN là cơ hội để phát triển Việt Nam và các hãng hàng không đã có những bướcchuẩn bị về công tác nhân sự, bổ sung đội tàu bay và tăng cường năng lực quản trị vậnhành bên cạnh khả năng tài chính Do đó, giai đoạn từ năm 2013-2016, vận tải hàng hóaqua đường hàng không đã có những bước tiến rõ rệt Đặc biệt, từ năm 2015- 2016, tỉ lệtăng khối lượng hàng hoá vận chuyển phân theo ngành vận tải đường hàng không gấp 1,6lần so với tỉ lệ tăng từ năm 2014-2015 Các hãng hàng không Việt Nam đã rất nhanhnhạy trong việc nắm bắt cơ hội từ việc mở cửa bầu trời ASEAN
II.2 Cơ hội và thách thức đối với vận tải hàng hóa hàng không Việt Nam trong
khi gia nhập vào thị trường hàng không ASEAN thống nhất
II.2.1 Cơ hội
Thúc đẩy mở cửa thị trường, phát triển thương mại
Kể từ 2016, các hãng hàng không của 10 quốc gia ASEAN sẽ cùng khai thác, sửdụng chung 1 bầu trời (Bầu trời mở ASEAN) - nghĩa là tất cả các hãng hàng không trongkhu vực Đông Nam Á có thể tự do hóa vận tải, cạnh tranh hạ tầng khai thác, cạnh tranhgiá vé và chất lượng dịch vụ
Theo ông Võ Huy Cường, Cục phó Cục Hàng không Việt Nam, trước đây, tronglĩnh vực hàng không, các quốc gia cùng ký một hiệp định mang tính điều tiết Điều này
có nghĩa là Nhà nước can thiệp trực tiếp vào việc cho phép số lượng đường bay, số lượng