1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận môn logistics nâng cao tính khách quan của chỉ số năng lực logistics (LPI)

22 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Cơ sở hạ tầng infrastructure: Những cơ sở hạ tầng liên quan đến chấtlượng thương mại và vận tải cảng, đường sắt, đường bộ, công nghệ thôngtin Vận chuyển quốc tế shipments internationa

Trang 1

Được các nhà hoạch định không ngừng tin tưởng và đánh giá cao, việc sửdụng LPI đã góp phần nâng cao đáng kể quan hệ giữa các nhà hoạch định chínhsách và khu vực đầu tư tư nhân khi họ xác định được những mối ưu tiên hàngđầu của mình trong việc phát triển giao thương quốc gia Tuy nhiên, việc cảithiện và tăng tính cạnh tranh của các hoạt động logistics giữa các quốc gia vàvùng lãnh thổ trên thế giới không đơn thuần chỉ là sự tăng cường nhận thức Một

sự đánh giá sâu sắc và toàn diện về năng lực thương mại và vận tải có liên quanđến những chính sách và kế hoạch hành động như thay đổi quy định và thuế củamột quốc gia, hay đầu tư cơ sở hạ tầng vào những hạng mục cụ thể… luôn đòihỏi những phương pháp phân tích khác nhau Chỉ số LPI, sử dụng kết hợp cùngcác nguồn lực quốc gia khác,có thể tăng cường những cuộc thảo luận về các yêu

tố thúc đẩy quá trình logistics cũng như tìm ra các khu vực có sự cản trở hiệusuất công việc

Tuy nhiên, một bài kiểm tra với các yếu tố đo lường sử dụng cùng một hệthống câu hỏi và bảng biểu không được thiết kế dành riêng cho từng quốc gia

mà chung nhau cho nhiều khu vực, thi thoảng, lại không thể hiện được tínhkhách quan riêng rẽ cho từng lãnh thổ Bài tiểu luận này nhằm trình bày nhữngnhân tố nền tảng để đánh giá một cách định tính về chỉ số năng lực logistics củacác quốc gia trên toàn thế giới Bài tiểu luận gồm 3 phần như sau:

- Phần 1: Tổng quan và cách đo lường LPI

- Phần 2: Báo cáo của World Bank về LPI và tính khách quan của LPI đốivới một số quốc gia trên thế giới

- Phần 3: Một số giải pháp giúp đo lường LPI trở nên khách quan và thực tếhơn

Trang 2

I TỔNG QUAN VÀ CÁCH ĐO LƯỜNG CHỈ SỐ NĂNG LỰC

LOGISTICS – LPI

I.1 Định nghĩa:

LPI – Logistics Performance Index là một công cụ đánh giá đa chiều vềcác hoạt động logistics tập trung đặc biệt vào việc đo lường thuận lợi hóathương mại và sự thân thiện vận tải của một quốc gia cụ thể Và bằngcách đó, giúp họ xác định các rào cản chủ yếu cũng như chỉ ra các cơ hội

và thách thức để các quốc gia có thể phá dỡ và nâng cao khả nănglogistics của mình

I.2 Vai trò của LPI:

Ngân hàng thế giới xây dựng chỉ số LPI nhằm mục đích tập trung nghiêncứu về vấn đề có tầm quan trọng toàn cầu, và từ đó cung cấp một nền tảngcho đối thoại giữa chính phủ, tổ chức xã hội và các doanh nghiệp

LPI có ảnh hưởng tới tất cả các quốc gia, từ đang phát triển cho tới pháttriển Trong đó, việc phát triển Logistics có đôi khi, là điều kiện sống còncủa một nước và thậm chí cả những nước giàu có Những quốc gia có chỉ

số LPI lớn hơn dự đoán thường là những nước đầu tư nhiều cho phát triển

cơ sở hạ tầng và cải tiến công nghệ

LPI cao sẽ ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư quốc gia Các doanh nghiệptrong bối cảnh toàn cầu hóa đặc biệt chú trọng tới chi phí hiệu quả trongchuỗi cung ứng của mình nhằm tăng lợi thế cạnh tranh Do đó, các nước

có chỉ số LPI cao sẽ thu hút được các công ty quốc tế Có thể lý giải nhưsau: Chi phí của chuỗi cung ứng chịu ảnh hưởng rất lớn từ khả năng dựđoán và độ tin cậy của chuỗi cung ứng đó và nó cũng chiếm một phần lớntrong chi phí sản xuất Do vậy, các doanh nghiệp rất cân nhắc khi chọncông ty Logistics cho hàng hóa của mình Các nước phát triển có chỉ sốLPI cao thường có những chi phí như: đất đai, cảng, kho bãi,… chi phínhân công, nguồn nguyên liệu cao hơn hẳn các nước đang phát triển, tuynhiên các nước phát triển lại có lợi thế bền vững trong hiệu quả và độ tin

Trang 3

cậy của chuỗi cung ứng, các nước có chi phí cao nhưng hiệu suất cao thìtốt hơn các nước có chi phí thấp nhưng hiệu suất cũng thấp nốt Do đó,chi phí trung bình tại các nước có LPI cao lại thấp hơn so với các nước cóchỉ số LPI thấp.

Ngoài ra, LPI giúp cho các quốc gia biết được vị trí cua mình trongkhả năng về logistics và quản lý chuỗi cung ứng Từ đó, giúp họ khắcphục được những yếu điểm của mình từ đó nâng cao năng lực cạnh tranhquốc gia Các quốc gia có hệ thống logistics phát triển sẽ thu hút nhiềuFDI hơn Thương mại và FDI là những kênh trọng điểm cho việc chuyểngiao kinh nghiệm

Logistics lạc hậu có thể gây cản trở cho tiếp cận các công nghệ và

bí quyết khiến cho tốc độ tăng trưởng trong sản xuất thấp Do vậy, cần cómột hệ thống Logistics tốt trên con đường hội nhập quốc tế cũng như thuhút vốn đầu tư nước ngoài đối với các nước đang phát triển Ví dụ, mặc

dù Singapore chỉ là một đảo quốc nhỏ, không có nhiều tài nguyên khoángsản, lại có chi phí về đất đai, nhân công rất cao, nhu cầu thị trường vôcùng nhỏ hẹp Tuy nhiên, chính phủ Singapore đã đầu tư rất nhiều để cảithiện Singapore trong phát triển lĩnh vực công nghiệp để Singapore trởthành trung tâm phân phối khu vực và trung tâm Logistics toàn ầu, với tốc

độ phát triển rất nhanh trong vòng thập kỉ vừa qua Vì vậy, một số công tyquyết định tiến hành sản xuất tại Singapore và phân phối các sản phẩmtrong khu vực vì bị hấp dẫn bởi điều kiện trung tâm vận tải hiệu quả vàđáng tin cậy của nước này

I.3 Cách đo lường LPI

I.3.1 Các tiêu chí đánh giá:

Việc đo lường hiệu quả logistics quốc gia hiện nay được Ngân hàng Thếgiới thực hiện thông qua chỉ số LPI (Logistics Performance Idex) LPI đượcđánh giá qua 6 tiêu chí gồm:

Trang 4

 Cơ sở hạ tầng (infrastructure): Những cơ sở hạ tầng liên quan đến chấtlượng thương mại và vận tải (cảng, đường sắt, đường bộ, công nghệ thôngtin)

 Vận chuyển quốc tế (shipments international): Mức độ dễ dàng khi thuxếp cho các chuyến hàng với giá cạnh tranh

 Năng lực logistics (competence logistics): Năng lực và chất lượng của cácdịch vụ logistics (VD: Điều hành vận tải, môi giới hải quan…)

 Theo dõi và giám sát (Tracking & tracing): Khả năng theo dõi và giám sát

lô hàng

 Sự đúng lịch (timeliness): Sự đúng lịch của các lô hàng tại điểm đến

 Hải quan (custom): Hiệu quả của quá trình thông quan (tốc độ, tính đơngiản, tính có thể dự liệu trước của thủ tục)

Việc tính toán các chỉ số được thực hiện thông qua khảo sát các doanhnghiệp cung ứng dịch vụ logistics theo thang điểm từ 1 đến 5 với mức độ 1 làkém nhất và 5 là tốt nhất Chỉ số LPI tổng thể cho một quốc gia được tính bằngcách tính trung bình trọng số của 6 chỉ số thành phần WB so sánh và xếp hạngtrình độ phát triển logistics của một quốc gia bằng cách phân chia LPI ra thành 4nhóm các quốc gia như sau: Nhóm 1 gồm các quốc gia có LPI từ 1 - 2,48; nhóm2: Các quốc gia có LPI từ 2,48 đến 2,75; nhóm 3: Quốc gia có LPI từ 2,75 đến3,23 và nhóm 4 là các quốc gia có LPI trên 3,23

Việc đo lường hiệu logistics quốc gia thông qua chỉ số LPI hiện nay đượcNgân hàng thế giới thực hiện hai năm một lần Là một khảo sát được thực hiệnđồng loạt để tiến hành so sánh trên 160 quốc gia, LPI không chỉ đưa ra chochúng ta một bảng thông tin bậc nhất những chỉ số logistics tổng thể của mộtquốc gia, mà đồng thời còn cung cấp một chỉ dẫn rộng rãi về các lĩnh vực có liênquan đến giao thương thế giới Tuy nhiên, LPI chưa bao giờ là một công cụ chẩnđoán Do đó, nó cần có các công cụ khác để thực hiện những chức năng kể trên

Trang 5

Cũng như 2007, LPI 2010 cũng cho thấy những quốc gia có thu nhập caođứng ở vị trí hàng đầu trong bảng xếp hạng Hầu hết những quốc gia này đượcxem là chủ chốt trong lĩnh vực logistics, giữ vị trí quan trọng trong hàng loạtchuỗi cung ứng địa phương và toàn cầu Bảng kết quả phản ánh sự cởi mởi củanhững quốc gia này với thương mại quốc tế và đầu tư như là một phần của chiếnlược phát triển kinh tế thành công Ngược lại, 10 quốc gia xếp hạng thấp nhấthầu hết đều thuộc nhóm quốc gia có thu nhập thấp hay trung bình- thấp, hầu hếtđều thuộc châu Phi Làm thế nào điểm số và xếp hạng LPI có liên quan đến nănglực logistics, sử dụng những thông tin cụ thể bổ sung trong cuộc khảo sát, có thểđưa ra ý tưởng về mối liên kết trung bình giữa LPI và năng lực của quốc gia đótrong từng lĩnh vực cụ thể Ví dụ, LPI thấp hơn 1 điểm, giữa 2.5 và 3.5, có nghĩa

là phải mất thêm 2 đến 4 ngày trong việc vận chuyển hàng hóa nhập khẩu/ xuấtkhẩu từ cảng đến kho hàng của công ty Điều này cũng có nghĩa là tỉ lệ kiểm travật lí cao hơn 25% Sự phân bố của điểm số LPI cho thấy 4 loại môi trườnglogictics, được giới thiệu trong ấn bản 2007 “ Kết nối để cạnh tranh: logicticskhông thân thiện, logictics kiềm hãm sự phát triển quốc gia, chẳng hạn nhưnhững quốc gia kém phát triển nhất, thể hiện một phần, những quốc gia có thu

Trang 6

nhập thấp và trung bình; thể hiện nhất quán, quốc gia có năng lực logistics tốthơn những quốc gia trong cùng nhóm thu nhập; logictics thân thiện, thể hiện tốtđối với những quốc gia có thu nhập cao

I.3.2 Đối tượng trả lời

Chỉ số năng lực logistics (Logistics Performance Index – LPI) được đánhgiá dựa trên kết quả bản khảo sát trực tuyến từ những chuyên gia logistics đến từcác công ty chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hóa đi khắp thế giới - những công

ty vận chuyển đa quốc gia và những nhà cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanhchính yếu Gần 1000 chuyên gia logistics đến từ các công ty logistics quốc tế ở

130 quốc gia tham gia trong cuộc khảo sát năm 2009, tăng 25% so với năm2007

Trang 7

Vị trí (nơi ở và làm việc) của những người tham gia đánh giá năng lựclogistics phản ánh vài trò ngày càng quan trọng của các vấn đề thuận lợi hóathương mại ở các nước đang phát triển: có tới 45% người trả lời đến từ các quốcgia có thu nhập trung bình, 10% đến từ các quốc gia thu nhập thấp, phần còn lạiđến từ các nền kinh tế có thu nhập cao Chỉ số LPI cũng bao gồm sự đánh giácủa các công ty lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở lĩnh vực logistics Nhữngcông ty lớn chiếm khoảng 45% phản hồi, bao gồm các công ty giao nhận đaquốc gia (34%) và những công ty cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanh toản cầu(11%), 55% cỏn lại là từ các công ty giao nhận vừa và nhỏ

Một việc cũng không kém phần quan trọng là phải nhấn mạnh sự tham giacủa những thành viên có kiến thức và thâm niên của các công ty trên trong việcđánh giá môi trường logistics ở các quốc gia khác nhau Kết quả khảo sát từ cácnhà điều hành cấp cao chiếm 35%, giám đốc khu vực hoặc quốc gia chiếm 25%

và quản lý phòng ban chiếm 24% Hơn nữa, nhóm chuyên gia này tham gia trựctiếp vào hoạt động hàng ngày, không chỉ ở trụ sở chính của công ty mà còn ởvăn phòng ở các nước: gần 39% người trả lời ở văn phòng chi nhánh ở các nước,35% ở trụ sở chính của vùng hoặc công ty, 11% câu trả lời từ những nhân sự ởvăn phòng chi nhánh địa phương, 14% ở các công ty độc lập Phần lớn người trảlời (54%) có công việc chính là tham gia vào việc cung cấp tất cả hoặc phần lớndịch vụ logistics Những việc này có thể bao gồm lưu kho, phân phối, đưa ra các

Trang 8

giải pháp logistics cho khách hàng, dịch vụ chuyển phát nhanh, vận chuyển hàngrời hoặc hàng đóng thành kiện, và vận chuyển hàng nguyên công hoặc hàng lẻhoặc vận chuyển bằng xe móoc Ngược lại, 27% phản hồi đến từ những công tyđặt nền tảng kinh doanh của họ dựa trên một dịch vụ mà họ mạnh nhất như: vậnchuyển hàng bằng container hoặc xe moóc (15%) và cung cấp giải pháp logisticscho khách hàng (12%)

Trang 9

I.3.3 Cấu trúc bảng câu hỏi

Phần 1: Thông tin cơ bản của người trả lời

Gồm 8 câu, người trả lời được yêu cầu cung cấp một vài thông tin cơ bản

về công việc của mình Các thông tin đó bao gồm: vị trí trong công ty, công việcchính, loại hình công ty, loại hình dịch vụ chính của công ty, quốc gia đang làmviệc Những thông tin này sẽ được dùng để thống kê người trả lời

Phần 2: Xây dựng chỉ số LPI quốc tế

Phần tiếp theo cùa bàn khảo sát LPI (câu 9-15) cung cấp thông tin dùng đểxây dựng chỉ số LPI quốc tế Mỗi người trả lời khảo sát được yêu cầu đánh giátám thị trường nước ngoài theo sáu khía canh cốt lõi của năng lực logistics Támthị trường này được chọn dựa vào những thị trường xuất nhập khẩu quan trọngcủa quốc gia mà người trả lời đang ở (hoặc làm việc) và lựa chọn ngẫu nhiên,các quốc gia láng giềng tạo nên một phần cầu lục địa nối quốc gia được đất liềnbao bọc với thị trường quốc tế

Phần 3: Xây dựng chỉ số LPI nội địa

Phần thứ ba của bản khảo sát LPI là chỉ số LPI nội địa trong đó nhữngngười trả lời sẽ cung cấp những thông tin chi tiết về chất lượng của môi trườnglogistics ở quốc gia họ đang làm việc Từ câu hỏi 16 đến 21 của bản khảo sátLPI, những người trả lời chọn một trong năm mục, với sự sắp xếp theo năng lựctăng dần Ví dụ ở câu hòi số 16, họ có thể miêu tả cảng phí ở quốc gia của họ

“rất cao”, “cao”, “trung bình”, “thấp”, “rất thấp” Giống như trong LPI quốc tế,những tùy chọn trên được mã hóa từ 1 đến 5 Với một vài ngoại lệ, câu hỏi 22-

35 yêu cầu người trả lời cung cấp thông tin về số lượng của những khía cạnhriêng biệt cùa chuỗi cung ứng quốc tế ở quốc gia của họ Họ có thể chọn từ một

bộ câu trả lời trong một danh sách thả xuống trong mỗi câu hoặc điền số vàonhững ô trống

Trang 10

II BÁO CÁO CỦA WORLD BANK VỀ NĂNG LỰC LOGISTICS

VÀ SO SÁNH TÍNH KHÁCH QUAN CỦA CHỈ SỐ LPI

II.1 Báo cáo của World Bank về năng lực logistics thế giới

Thị trường logistics đạt trung bình khoảng 8 nghìn tỷ USD/năm trong hainăm gần đây, tương đương khoảng 11% GDP thế giới Năm 2017, giá trị thịtrường ước đạt khoảng 9 nghìn tỷ USD, trong đó 4 công ty lớn nhất thế giới làCeva Logistics, DHL, FedEx, và UPS chiếm 15% tổng doanh thu toàn cầu Sựtăng trưởng nhanh chóng của thương mại điện tử và ngành công nghiệp tự độnghóa là những yếu tố chính thúc đẩy thị trường logistics toàn cầu trong năm 2017.Các lĩnh vực sử dụng dịch vụ logistics trên quy mô lớn trên toàn cầu bao gồm:bán lẻ, vận tải, sản xuất, truyền thông, giải trí, ngân hàng và tài chính, viễnthông và hoạt động của chính phủ (các tiện ích công cộng) Xu hướng logisticstrở thành sự liên kết chéo giữa các ngành công nghiệp đã hình thành trongnhững năm gần đây, đặt ra yêu cầu thay đổi trong nội tại ngành logistics để thíchứng với những thay đổi trong các ngành mà nó phục vụ Đây là động lực thúcđẩy sự đổi mới của lĩnh vực logistics; đồng thời cũng là thách thức lớn trong bốicảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn khó lường Nhìn chung, lĩnh vực logisticsthế giới sẽ chuyển dịch trọng tâm về các thị trường đang phát triển tại châu Á.Đầu tư vào công nghệ và con người là sẽ yếu tố quyết định sự phát triển của lĩnhvực logistics trong tương lai

Trong một sự so sánh về các tiêu chí khác với các quốc gia Đông Nam Ánhư Singapore, Malaysia, Thái Lan – các nước có ngành logistics phát triển thìngành logistics VN vẫn còn rất nhiều thách thức cần phải khắc phục, ví dụ nhưđối với tiêu chí chất lượng vận chuyển của VN đang chỉ có 76% trong khi đóMalaysia 97%, Singapore 93%, Thái Lan 83% Trong báo cáo của ngân hàng thếgiới về tỷ lệ phần trăm người trả lời với mức độ cao đến rất cao về phí và lệ phícủa logistics tại VN đã cho thấy, VN đang có mức lệ phí cảng biển khá thấp28,6% trong khi 100% ở Nhật Bản, 41,2% ở Trung Quốc và 42,9% ở Singapore

Trang 11

Phí lưu kho, phí trung chuyển hàng hóa và phí đại lý cũng được coi là ưu thế lớnkhi số lượng người trả lời cao ít hơn 2 lần so với các nước như Singapore hayNhật Bản Tuy nhiên, cước đường bộ và đường sắt VN lại cao hơn 1,5 lần so vớicác nước trong khu vực châu Á Nguyên nhân chính có thể chỉ ra là do phíđường bộ của VN đang ở mức cao và ngày càng tăng mạnh, các tuyến đườngmới đều có mức phí cao hơn so với trước kia Những nghiên cứu về tỷ lệ mứcphí vận tải trên tổng mức giá trị, giá thành hàng hóa cho thấy, nếu ở Trung Quốcchỉ có khoảng 13%, các nước khác trung bình cũng chỉ 11% thì VN lại lên đến30% trong khi theo khảo sát tỷ lệ người trả lời về năng lực chất lượng dịch vụđường bộ thì VN có 28,6% người trả lời ở mức độ cao, còn Trung quốc cũngtương đồng ở mức 28,3% Từ đó chỉ ra, VN cần phải có các cơ chế chính sáchhiệu quả hơn để mang lại chất lượng dịch vụ tốt hơn đến các doanh nghiệp vàngười dân

Ngoài ra, tính minh bạch của các cơ quan khác tại biên giới cũng là mộthạn chế ở VN, trong khi tại Singapore và Hàn Quốc, tỉ lệ này là 100%, các nướckhác như Trung quốc, Nhật Bản và Thái Lan là khoảng 50% thì ở VN chỉ có28% Việc cung cấp đầy đủ thông tin về các thay đổi thủ tục pháp lý, thủ tục hảiquan nhanh cho các doanh nghiệp thương mại với mức tuân thủ cao thậm chícòn kém hơn 2 - 3 lần các nước Trung Quốc, Thái Lan và khoảng 5 - 6 lần NhậtBản và Hàn Quốc

Ngày đăng: 03/09/2020, 08:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w