1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu khoa học cấp cơ sở giải pháp tái cấu trúc thị trường chứng khoán việt nam giai đoạn 2015 2020

67 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong giai đoạn này, TTCK và bảo hiểm có một số hạn chế như: khung khổ pháp lý thể chế; hàng hóa trên TTCK và bảo hiểm chưa đa dạng; cơ sở nhà đầu tư không đảm bảo sự tăng trư

Trang 1

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN

1.Vũ Thị Anh – Chủ nhiệm đề tài

Chức vụ: Giảng viên khoa Tài chính Ngân hàng

Học vị: Thạc sĩ

2. Nguyễn Ngọc Anh

Chức vụ: Giảng viên khoa Tài chính Ngân hàng

Học vị: Thạc sĩ

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC BIỂU, BẢNG iv

KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 4

1.1 Tổng quan về Thị trường chứng khoán 4

1.1.1 Khái niệm và bản chất của Thị trường chứng khoán 4

1.1.2 Vị trí và cấu trúc của thị trường chứng khoán 4

1.1.3 Vai trò và chức năng của thị trường chứng khoán 6

1.1.4 Thị trường chứng khoán Việt Nam 8

1.2.Tái cấu trúc thị trường chứng khoán Việt Nam 9

1.2.1 Cơ sở lý luận về tái cấu trúc TTCK Việt Nam 9

1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến tái cấu trúc thị trường chứng khoán 10

1.2.3 Mục tiêu, quan điểm tái cấu trúc thị trường chứng khoán Việt Nam 15

Chương 2: THỰC TRẠNG TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 17

2.1 Thực trạng tái cấu trúc Thị trường chứng khoán Việt Nam 17

2.1.1 Thực trạng tái cấu trúc cơ sở hàng hóa trên thị trường chứng khoán 17

2.1.2 Tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư 20

2.1.3 Tái cấu trúc thị trường trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp 22 2.1.4 Công tác tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán 25

2.1.5 Tái cấu trúc Sở giao dịch chứng khoán và trung tâm lưu ký chứng khoán 27 2.2 Đánh giá việc tái cấu trúc thị trường chứng khoán Việt Nam 30

2.2.1 Kết quả đạt được 30

2.2 2 Một số hạn chế còn tồn tại 41

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế 43

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 46

3.1 Tình hình kinh tế và phương hướng thực hiện tái cấu trúc giai đoạn tới 46 3.1.1 Dự báo tình hình kinh tế và thị trường chứng khoán thời gian tới 46

3.1.2 Về phương hướng, nhiệm vụ thực hiện tái cấu trúc giai đoạn tới 47

3.2 Các giải pháp tái cấu trúc Thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn tới 48

ii

Trang 3

3.2.1 Nhóm giải pháp tăng quy mô, tính thanh khoản và đa dạng hóa cơ sởhàng hóa 483.2.2 Nâng cao năng lực, khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động các tổchức kinh doanh chứng khoán 503.2.3 Tăng cường cơ sở nhà đầu tư và khơi thông dòng vốn nước ngoài 513.2.4 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường chứngkhoán 533.2.5 Hoàn thiện thị trường chứng khoán phái sinh và phát triển các công cụphái sinh 543.2.6 Một số giải pháp cho phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam 563.2.7 Nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác giám sát giao dịch trên TTCK 58KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC BIỂU, BẢNG

Biểu đồ 1.1 Vị trí Thị trường chứng khoán trong thị trường tài chính 4Biểu đồ 2.1 Huy động vốn qua Thị trường chứng khoán 2005 - 2015 30Bảng 2.1 Tình hình hoạt động Thị trường chứng khoán 31Biểu đồ 2.2 Diễn biến các Thị trường chứng khoán Đông Nam Á năm 2015 32Bảng 2.2 Kết quả thực hiện tái cấu trúc các CTCK, CTQLQ năm 2015 39Biểu đồ 2.3 Số NĐTNN được cấp mã giao dịch tại Việt Nam 41

iv

Trang 5

KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

17 TTCKPS Thị trường chứng khoán phái sinh

19 TTLKCK Trung tâm lưu ký chứng khoán

v

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam được thành lập từ tháng 7/2000 Sauhơn 15 năm phát triển và hoạt động, TTCK Việt Nam đã dần trưởng thành và lớnmạnh, trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn cho ngân sách để phục vụ đầu tưphát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh với tổng giá trị vốn huy động qua TTCKước đạt gần 2 triệu tỷ đồng và thu hút khoảng 15 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp nướcngoài Giá trị dư nợ trái phiếu hiện khoảng 22% GDP, mức vốn hóa thị trường cổ phiếuvào khoảng 32% GDP TTCK dần tạo lập được một mô hình, thiết chế TTCK phù hợpvới trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường, từng bước tiếp cận các chuẩn mựcquốc tế, góp phần tích cực tái cơ cấu thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệpnhà nước, thu hút đầu tư nước ngoài và từng bước xã hội hóa hoạt động đầu tư củacông chúng Công tác tái cấu trúc TTCK cũng đang được triển khai một cách kiên định,hướng tới việc mở rộng các sản phẩm mới và thị trường mới

Tuy nhiên, nhìn vào trăm năm phát triển TTCK trên thế giới, TTCK Việt Nammới chỉ đang chập chững tập đi TTCK Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều khiếmkhuyết như tính thanh khoản chưa cao, thị trường dễ bị tác động bởi tin đồn, các dấuhiệu vi phạm pháp luật khá phức tạp, tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư chưa triển khaithực hiện theo đúng tiến độ, năm 2015 vẫn chưa tổ chức được thị trường giao dịchchứng khoán phái sinh Bên cạnh đó, sự hội nhập sâu rộng về mặt kinh tế và tàichính của Việt Nam, với sự thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN và nhiều Hiệpđinh thương mại mà Việt Nam đã và đang ký kết sẽ thông qua sẽ có ảnh hưởng lớntới hoạt động của TTCK Việt Nam Ðiều này đang đặt ra yêu cầu cấp bách cần táicấu trúc TTCK một cách đồng bộ, mạnh mẽ hơn nữa để đáp ứng nhu cầu phát triểnnền kinh tế, tạo nên một thị trường vững chắc và đủ sức hội nhập

Tái cấu trúc TTCK là một hướng đi mà nhiều nước đã từng trải qua sau mỗi thời

kỳ hưng thịnh, suy thoái và việc tái cấu trúc như vậy sẽ tạo ra khả năng tiếp cận đượcvới các thị trường khu vực cũng như quốc tế Đặc biệt sau các cuộc khủng hoảng tàichính, điển hình như khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998 hay khủng hoảngtài chính năm 2007-2008 Đối với Việt nam, từ sau năm 2008 đến nay TTCK Việt Namdiễn biến khá phức tạp và có nhiều tác động bất lợi đối với đời sống kinh tế - xã hộicủa đất nước Thực hiện Nghị quyết trung ương 3 và Nghị quyết kỳ họp thứ 2 – Quốchội Khóa 13 về việc tái cấu trúc nền kinh tế và ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chínhphủ, Bộ Tài chính xây dựng Đề án “Tái cấu trúc TTCK và Doanh nghiệp bảo hiểm”

Đề án bao gồm: tái cấu trúc hàng hóa, tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư, tái cấu trúc hệthống các trung gian tài chính (tổ chức kinh doanh chứng khoán, dịch vụ chứng khoán,ngân hàng lưu ký, ngân hàng giám sát), tái cấu trúc các tổ chức thị trường (Sở Giaodịch Chứng khoán, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán) Việc tái cấu

Trang 7

trúc TTCK Việt Nam theo Đề án “Tái cấu trúc TTCK và Doanh nghiệp bảo hiểm” đãđược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là cơ sở để TTCK phát triển trong thời gian tới.

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, nghiên cứu đề tài “Tái cấu trúc Thị trường chứng khoán Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

2 Tình hình nghiên cứu

Qua tìm hiểu thực tiễn, từ trước đến nay đã có những đề tài nghiên cứu về cáckhía cạnh khác nhau của TTCK, nhưng chưa có công trình nào đề cập toàn diện đếntái cấu trúc TTCK trong điều kiện Việt Nam sẽ có những thời cơ mới, vận hội mớiđồng thời phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn khi thực hiện các cam kết vớiWTO và mở rộng hội nhập Đề tài nghiên cứu sẽ là đề tài phát triển theo hướngnghiên cứu mới độc lập, không trùng lặp với các đề tài công bố

3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Thị trường chứng khoán và tái cấu trúc TTCK - Tập

trung vào thực trạng tái cấu trúc TTCK, từ đó đề ra những giải pháp nhằm tái cấutrúc TTCK một cách hiệu quả hơn trong thời gian tới

Mục đích nghiên cứu:

- Một là, xây dựng hệ thống lý luận làm cơ sở và định hướng cho vấn đề

nghiên cứu thông qua tổng quan về tái cấu trúc TTCK và chỉ rõ những nguyên nhândẫn đến việc tái cấu trúc TTCK

- Hai là, Thực trạng tái cấu trúc TTCK của Việt Nam trong thời gian qua từ đó

nêu ra những kết quả đã đạt được và một số tồn tại cần khắc phục

- Ba là, đưa ra một số kiến nghị và những nhóm giải pháp ứng với những

nhóm mục tiêu cụ thể về tái cấu trúc TTCK trong những năm tới

- Bốn là, nâng cao kiến thức chuyên môn và nâng cao khả năng nghiên cứu

khoa học phục vụ cho việc nghiên cứu, viết giáo trình, tài liệu phục vụ cho công tácgiảng dạy

- Năm là, hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên, khích lệ

tinh thần khả năng tự nghiên cứu của sinh viên nhằm nâng cao nhận thức, tư duy vàchất lượng của sinh viên

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu: Đánh giá Thực trạng tái cấu trúc TTCK ViệtNam, kết quả đạt được cũng như những hạn chế cần khắc phục để đưa ra những giảipháp hợp lý trong giai đoạn tới

5 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài

Lý luận chung về TTCK và tái cấu trúc TTCK Việt Nam như thế nào?

Thực trạng công tác tái cấu trúc TTCK Việt Nam diễn ra như thế nào?

Trang 8

Kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong công tác tái cấu trúcTTCK Việt Nam là gì?

Các giải pháp đẩy mạnh tái cấu trúc TTCK hiệu quả trong thời gian tới ?

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duyvật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho nghiên cứu, kết hợp phương pháp phântích và tổng hợp, phương pháp so sánh, để làm rõ các nội dung khoa học và thựctiễn của vấn đề nghiên cứu Ngoài ra phương pháp thống kê, kinh nghiệm và dự báocũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu

7 Dự kiến những đóng góp mới của đề tài

So với tình hình nghiên cứu hiện nay như đã nói ở trên thì đề tài có thể cóđược một số đóng góp như sau:

Thứ nhất, tiếp cận một cách khoa học và thực tiễn về tình hình tái cấu trúcTTCK Việt Nam

Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng tái cấu trúc TTCK Việt Nam trong giaiđoạn từ 2012 -2015

Thứ ba, phân tích những kết quả đạt được cũng như những hạn chế tái cấu trúcTTCK Việt Namg, từ đó đề xuất giải pháp tái cấu trúc TTCK Việt Nam trongnhững năm tới

Trang 9

Chương 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

1.1 Tổng quan về Thị trường chứng khoán

1.1.1 Khái niệm và bản chất của Thị trường chứng khoán

Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hoặc bút toán ghi sổ, nó làbằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sảnhoặc phần vốn của tổ chức phát hành

Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện

cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiệnchức năng của thị trường tài chính là nguồn cung ứng vốn trung và dài hạn cho nềnkinh tế TTCK là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoándài hạn như: các trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉquỹ đầu tư, công cụ phái sinh, hợp đồng tương lai, quyền chọn, bảo chứng phiếu,chứng quyền Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người muamua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trườngthứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơcấp

Như vậy, xét về mặt hình thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động traođổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắmgiữ chứng khoán Bản chất của TTCK là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung

và cầu của vốn đầu tư mà ở đó giá cả của chứng khoán, chứa đựng thông tin về chiphí vốn hay giá cả của vốn đầu tư

1.1.2 Vị trí và cấu trúc của thị trường chứng khoán

1.1.2.1 Vị trí của thị trường chứng khoán trong thị trường tài chính

Vị trí của thị TTCK trong hệ thống thị trường tài chính có thể biểu thị khái quát qua sơ đồ sau:

Biểu đồ 1.1 Vị trí thị trường chứng khoán trong thị trường tài chính

Trang 10

Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính Vị trí củaTTCK trong thị trường tài chính thể hiện:

Thị trường chứng khoán là hình ảnh đặc trưng của thị trường vốn

Thị trường chứng khoán là hạt nhân trung tâm của thị trường tài chính, nơidiễn ra quá trình phát hành, mua bán các công cụ nợ và các công cụ vốn (các công

cụ sở hữu)

1.1.2.2 Cấu trúc của thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản phẩmtài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng có kỳ hạn trên 1 năm).Sau đây là một số cách phân loại TTCK cơ bản

a Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn

Thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứcấp

Thị trường sơ cấp: Là thị trường phát hành các chứng khoán hay là nơi muabán chứng khoán đầu tiên Tại thị trường này, giá cả các chứng khoán là giá pháthành Việc mua bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn của nhà pháthành Thông qua việc phát hành chứng khoán, Chính phủ có thêm nguồn thu để tàitrợ cho các dự án đầu tư hoặc chi tiêu dùng cho chính phủ ,các doanh nghiệp huyđộng vốn trên thị trường nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư

Thị trường thứ cấp: Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đãđược phát hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứngkhoán đã phát hành Chứng khoán sau khi đã phát hành trên thị trường sơ cấp sẽđược mua đi bán lại trên thị trường thứ cấp Hoạt động mua bán thường xuyên trênthị trường thứ cấp đã tạo ra cơ hội cho các nhà đầu tư liên tục mua ban chứng khoán

để tìm kiếm lợi nhuận do chênh lệch giá

b Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường

Thị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung (SGDCK) vàphi tập trung (thị trường OTC)

SGDCK là thị trường giao dịch chứng khoán được thực hiện tại một địa điểmtập trung Các chứng khoán được niêm yết giao dịch tại SGDCK thông thường làchứng khoán của các công ty lớn, có danh tiếng, đã trải qua nhiều thử thách trên thịtrường và đáp ứng được các yêu cầu, tiêu chuẩn niêm yết do SGDCK đặt ra.SGDCK được tổ chức và quản lý một cách chặt chẽ bởi UBCKNN, các giao dịchchịu sự điều tiết của luật chứng khoán và TTCK

Thị trường chứng khoán phi tập trung là thị trường không có trung tâm giaodịch tập trung, đó là một mạng lưới các nhà môi giới và tự doanh chứng khoán mua

Trang 11

bán với nhau và với các nhà đầu tư, các hoạt động giao dịch của TTCK phi tậptrung được diễn ra tại các quầy (sàn giao dịch) của các ngân hàng và CTCK thôngqua điện thoại hay máy vi tính diện rộng TTCK phi tập trung chịu sự quản lý của

Sở giao dịch và Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

c. Căn cứ vào phương thức giao dịch

Bao gồm thị trường giao ngay và thị trường giao nhận có kỳ hạn

Thị trường giao ngay: là thị trường mua bán chứng khoán theo giá của ngàygiao dịch Mọi việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán diễn ra trong ngày giaodịch hoặc trong thời gian thanh toán bù trừ theo quy định

Thị trường giao nhận có kỳ hạn: là thị trường ở đó có việc ký hợp đồng giaodịch mua bán chứng khoán diễn ra tại một khoảng thời gian nhất định

d Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường

Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường: thịtrường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán pháisinh, thị trường chứng chỉ quỹ

Thị trường cổ phiếu: Là thị trường phát hành và mua đi bán lại các cổ phiếu đãđược phát hành Hoạt động của thị trường cổ phiếu chứa đựng cả hai linh vực đầu

tư chứng khoán và kinh doanh chứng khoán

Thị trường trái phiếu: Thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua báncác trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty,trái phiếu đô thị và TPCP

Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: Thị trường các chứng khoánphái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác như:quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn

Thị trường chứng chỉ quỹ: Đây là thị trường mua đi bán lại các loại chứng chỉquỹ Thị trường chứng chỉ quỹ có các đặc điểm:

Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại chứng chỉ quỹ do các CTQLQđầu tư phát hành

Nhà đầu tư nắm giữ chứng chỉ quỹ là người ủy thác cho CTQLQ thực hiệnhoạt động đầu tư tập thể theo điều lệ của quỹ

Tùy theo đặc điểm của từng loại quỹ đầu tư mà nhà đầu tư nắm giữ chứng chỉquỹ có thể thu hồi vốn trực tiếp từ quỹ hoặc phải đem bán chứng chỉ quỹ cho cácnhà đầu tư khác trên thị trường chứng chỉ quỹ

1.1.3 Vai trò và chức năng của thị trường chứng khoán

Thứ nhất, TTCK với việc tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu

phát triển kinh tế

Trang 12

Yếu tố thông tin và yếu tố cạnh tranh trên thị trường sẽ đảm bảo cho việc phânphối vốn một cách có hiệu quả Thị trường tài chính là nơi tiên phong áp dụng côngnghệ mới và nhạy cảm với môi trường thường xuyên thay đổi Thực tế trên TTCK,tất cả các thông tin được cập nhật và được chuyển tải tới tất cả các nhà đầu tư, nhờ

đó, họ có thể phân tích và định giá cho các chứng khoán Chỉ những công ty có hiệuquả bền vững mới có thể nhận được vốn với chi phí rẻ trên thị trường TTCK tạomột sự cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường tài chính, điều này buộc các ngânhàng thương mại và các tổ chức tài chính phải quan tâm tới hoạt động của chính họ

và làm giảm chi phí tài chính

Việc huy động vốn trên TTCK có thể làm tăng vốn tự có của các công ty vàgiúp họ tránh các khoản vay có chi phí cao cũng như sự kiểm soát chặt chẽ của cácngân hàng thương mại TTCK khuyến khích tính cạnh tranh của các công ty trên thịtrường Sự tồn tại của TTCK cũng là yếu tố quyết định để thu hút vốn đầu tư nướcngoài Đây chính là các yếu tố đảm bảo cho sự phân bổ có hiệu quả các nguồn lựctrong một quốc gia cũng như trong phạm vi quốc tế

Thứ hai, TTCK góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn, thông qua việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra công chúng, giải toả

sự tập trung quyền lực kinh tế của các tập đoàn, song vẫn tập trung vốn cho pháttriển kinh tế Việc tăng cường tầng lớp trung lưu trong xã hội, tăng cường sự giámsát của xã hội đối với quá trình phân phối đã giúp nhiều nước tiến xa hơn tới một xãhội công bằng và dân chủ Việc giải toả tập trung quyền lực kinh tế cũng tạo điềukiện cạnh tranh công bằng hơn, qua đó tạo hiệu quả và tăng trưởng kinh tế

Thứ ba, TTCK tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý doanh

nghiệp Khi quy mô của doanh nghiệp tăng lên, môi trường kinh doanh trở nên phứctạp hơn, nhu cầu về quản lý chuyên trách cũng tăng theo TTCK tạo điều kiện choviệc tiết kiệm vốn và chất xám, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình cổ phần hoáDNNN Cơ chế thông tin hoàn hảo tạo khả năng giám chặt chẽ của TTCK đã làmgiảm tác động của các tiêu cực trong quản lý, tạo điều kiện kết hợp hài hoà giữa lợiích của chủ sở hữu, nhà quản lý và những người làm công

Thứ tư, hiệu quả của quốc tế hoá TTCK Việc mở cửa TTCK làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế Điều này cho phép các công ty có thể

huy động nguồn vốn rẻ hơn, tăng cường đầu tư từ nguồn tiết kiệm bên ngoài, đồngthời tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế và mở rộng các cơ hội kinh doanh củacác công ty trong nước

Thứ năm, TTCK tạo cơ hội cho Chính phủ huy động các nguồn tài chính mà

không tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các công cụ cho việc thực hiện chínhsách tài chính tiền tệ của Chính phủ

Trang 13

Thứ sáu, TTCK cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh doanh trong

tương lai Việc thay đổi giá chứng khoán có xu hướng đi trước chu kỳ kinh doanhcho phép Chính phủ cũng như các công ty đánh giá kế hoạch đầu tư cũng như việcphân bổ các nguồn lực của họ TTCK cũng tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế

1.1.4 Thị trường chứng khoán Việt Nam

Trước yêu cầu về đổi mới và phát triển kinh tế phù hợp với các điều kiện kinh

tế chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở thamkhảo và chọn lọc các mô hình kinh tế trên thế giới, Việt Nam đã quyết đinh thànhlập TTCK Việt Nam với những đặc thù riêng biệt: thành lập 2 trung tâm giao dịchchứng khoán ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, sau khi thị trường phát triển thìchuyển sang thành SGDCK

Ngày 6/11/1993, Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 207/QĐ-TCCBthành lập Ban Nghiên cứu xây dựng và phát triển thị trường vốn thuộc NHNN vớinhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng đề án và chuẩn bị các điều kiện để thành lập TTCKtheo bước đi thích hợp

Ngày 10/07/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định48/1998/NĐ-CP về Chứng khoán và TTCK cùng với Quyết định thành lập 02TTDGCK tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

Giai đoạn 2000-2005 là những bước đi đầu tiên cho sự phát triển của TTCKViệt Nam Ngày 20/7/2000, Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ ChíMinh chính thức khai trương với chức năng chủ yếu là tổ chức giao dịch cổ phiếu,trái phiếu đủ điều kiện niêm yết giao dịch Để khuyến khích thu hút các tổ chức kinhdoanh dịch vụ chứng khoán tham gia TTCK trong giai đoạn đầu, Thủ tướng Chínhphủ đã ban hành Quyết định 39/2000/QĐ-TTg ngày 27/3/2000 ưu đãi thuế đối vớihoạt động kinh doanh chứng khoán, các nhà đầu tư cá nhân được miễn thuế giaodịch chứng khoán… Bên cạnh đó nhằm giảm thiểu các hành vi gây bất ổn thịtrường, Chính phủ ban hành Nghị định 22/2000/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK để đảm bảo mục tiêu vận hành thịtrường Công khai – Công bằng – Minh bạch

Từ 20012003, để phát triển TTCK phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế

-xã hội, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 163/2003/QĐ-TTg ngày5/8/2003 phê duyệt Chiến lược Phát triển TTCK đến năm 2010 Ngày 28/11/2003,Chính phủ ban hành Nghị định số 144/2003/NĐ –CP về chứng khoán và TTCKthay thế cho Nghị định số 48/1998/NĐ-CP Nghị định 144 hiện thực hóa các quyđịnh về hoạt động của TTCK nhằm tạo điều kiện để phát triển một TTCK vận hànhtheo chuẩn mực của nền kinh tế thị trường Để tiếp tục hoàn thiện công tác quản lýnhà nước trong lĩnh vực chứng khoán, ngày 19/2/2004, Chính phủ ban hành Nghịđịnh số 66/2004/NĐ-CP chuyển UBCKNN trực thuộc Bộ Tài chính

Trang 14

Sau khi trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đi vào hoạtđộng được 3 năm, Chính phủ đã chỉ đạo UBCKNN sớm xây dựng trung tâm giaodịch chứng khoán Hà Nội Trên tinh thần đó, Bộ Tài chính (UBCKNN) đã triểnkhai rất tích cực về các vấn đề cơ sở vật chất, nhân sự con người và hệ thống Nhờvậy, trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đã chính thức được ra đời vào ngày8/3/2005 Nhằm từng bước kiện toàn và hoàn thiện cấu trúc hạ tầng của TTCK, Thủtướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 189/2005/QĐ-TTg về việc thành lậpTTLKCK.

Giai đoạn 2006-2010 đánh dấu sự kết hợp phát triển TTCK theo chiều rộng vàchiều sâu Trong giai đoạn này, các tiêu chuẩn của thị trường từng bước được nângcao trên các mặt niêm yết, phát hành, công bố thông tin, quản trị công ty Các Trungtâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội được chuyển đổi môhình hoạt động thành SGDCK thành phố Hồ Chí Minh và SGDCK Hà Nội Năm

2009, thị trường TPCP chuyên biệt và thị trường giao dịch chứng khoán các CTĐCchưa niêm yết (UPCoM) chính thức đi vào hoạt động, bước đầu góp phần phân địnhcác khu vực thị trường giữa các SGDCK Hà Nội và SGDCK TP Hồ Chí Minh, gópphần tăng cung hàng hóa và tăng tính thanh khoản cho TTCK, thu hẹp thị trường tự

và phát triển sản phẩm mới

1.2.Tái cấu trúc thị trường chứng khoán Việt Nam

1.2.1 Cơ sở lý luận về tái cấu trúc TTCK Việt Nam

Thị trường chứng khoán Việt Nam được hình thành từ năm 2000, trong giaiđoạn 2000 – 2011, TTCK có sự tăng trưởng vượt bậc về quy mô trong bối cảnh nềnkinh tế có sự phát triển Tuy nhiên, trong giai đoạn này, TTCK và bảo hiểm có một

số hạn chế như: khung khổ pháp lý thể chế; hàng hóa trên TTCK và bảo hiểm chưa

đa dạng; cơ sở nhà đầu tư không đảm bảo sự tăng trưởng bền vững; tổ chức kinhdoanh chứng khoán, doanh nghiệp bảo hiểm có sự gia tăng về số lượng nhưng chấtlượng hoạt động và năng lực tài chính yếu kém…Để khắc phục những hạn chế củaTTCK và thị trường bảo hiểm trong giai đoạn 2000 - 2011, ngày 06/12/2012, Thủtướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1826/QĐ-TTg phê duyệt Đề án“tái cấutrúc TTCK và doanh nghiệp bảo hiểm”, nhằm tái cấu trúc toàn diện và từng bướcnâng cao vai trò, vị trí của các thị trường này, phấn đấu đến năm 2020 đưa thị

Trang 15

trường này trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ đạo của nền kinh tế Theođó“Tái cấu trúc TTCK là một quá trình thay đổi theo hướng thu hẹp số lượng cácCTCK, phát triển nhà đầu tư tổ chức, tái cấu trúc các SGDCK nhằm đáp ứng yêucầu về vốn dài hạn cho nền kinh tế, củng cố hệ thống thị trường có sự quản lý củaNhà nước, bảo đảm quản trị rủi ro, an toàn hệ thống tài chính”

Công tác tái cấu trúc TTCK được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước(UBCKNN), Bộ Tài chính thực hiện song hành cùng với việc tiếp tục, duy trì sựphát triển của thị trường này Có nghĩa là, đồng thời vừa tái cấu trúc, lành mạnh hóahoạt động của thị trường, vừa tiếp tục triển khai, phát triển các sản phẩm trên thịtrường nhằm hỗ trợ và thúc đẩy nhanh hơn công tác tái cấu trúc

Thực tế, thì việc tái cấu trúc TTCK đã được Bộ Tài chính, UBCKNN nhìnnhận từ ngay sau khủng hoảng tài chính năm 2008 và đã được chủ động tổ chứcthực hiện ngay từ năm 2010, đặc biệt là đối với các TCKDCK với sự ra đời củaThông tư số 226/2010/TT-BTC quy định về các chỉ tiêu an toàn tài chính đối vớicác TCKDCK và Quyết định số 62/QĐ-BTC ngày 10/1/2012 của Bộ Tài chính vềviệc phê duyệt Đề án tái cấu trúc các CTCK Đề án Tái cấu trúc TTCK đã được Thủtướng Chính phủ phê duyệt với các mục tiêu chung đối với tái cấu trúc cácTCKDCK đó là cơ cấu lại hệ thống các TCKDCK phù hợp với nhu cầu, đặc điểm

và quy mô phát triển của thị trường; củng cố hoạt động, nâng cao năng lực tài chính,quản trị công ty, quản trị rủi ro tại các tổ chức này theo thông lệ quốc tế

Tái cấu trúc TTCK nhằm tạo ra một hệ thống thị trường mà trong đó tất cả cácloại chứng khoán đều có nơi giao dịch và việc giao dịch được diễn ra công khai,công bằng, minh bạch với sự giám sát có hiệu quả của Nhà nước Cụ thể, sẽ cónhiều thị trường, với nhiều sản phẩm như: thị trường cổ phiếu, trái phiếu, thị trườngphái sinh Các dạng hàng hóa cũng sẽ hợp thức hóa một cách đa dạng hơn: ngoài cổphiếu, trái phiếu, còn có hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai, quỹ đầu tư Việc tái cấu trúc TTCK nhằm đáp ứng yêu cầu về vốn dài hạn cho nền kinh tế, củng

cố hệ thống thị trường có sự quản lý của Nhà nước trong đó có thị trường vốn,TTCK và các dịch vụ tài chính Tái cấu trúc TTCK nhằm khắc phục những hạn chếyếu kém của thị trường nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của TTCK tăng cườngthu hút đầu tư, luân chuyển vốn và đảm bảo quản trị rủi ro, an toàn hệ thống tàichính

1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến tái cấu trúc thị trường chứng khoán

1.2.2.1 Đáp ứng yêu cầu vốn nguồn vốn trung dài hạn cho nền kinh tế

Tái cấu trúc TTCK là một hướng đi mà nhiều nước đã từng trải qua sau mỗithời kỳ hưng thịnh, suy thoái và việc tái cấu trúc như vậy sẽ tạo ra khả năng tiếp cậnđược với các thị trường khu vực cũng như quốc tế Đặc biệt trong giai đoạn hiệnnay, thị trường tài chính quốc tế đã có sự biến đổi nhanh trong cấu trúc thị trường

Trang 16

cũng như hoạt động nghiệp vụ và tiêu chí an toàn tài chính đòi hỏi TTCK Việt Namcần phải có bước đi thích hợp Thực tế cho thấy, so với các hình thức huy động vốn

để phục vụ sản xuất kinh doanh như vay ngân hàng, sử dụng vốn của đối tác, kháchhàng, huy động từ nguồn tự có, nội bộ trong doanh nghiệp thì việc phát hành cổphiếu và trái phiếu để huy động vốn chi phí vẫn rẻ và hiệu quả nhất Nguồn vốn này

đủ sức phục vụ cho các kế hoạch đầu tư lâu dài Hiện nay, trong hầu hết nền kinh tế,các hoạt động của TTCK đóng vai trò là chất xúc tác quan trọng cho việc phát triểncủa các hoạt động kinh tế Theo nhận định của các chuyên gia, việc tái cấu trúc lạiTTCK nhằm đáp ứng yêu cầu về vốn dài hạn cho nền kinh tế, củng cố hệ thống thịtrường có sự quản lý của Nhà nước trong đó có thị trường vốn, TTCK, thị trườngbảo hiểm và các dịch vụ tài chính

Thị trường chứng khoán là một định chế tài chính bậc cao, là một bộ phậnquan trọng của thị trường tài chính, đóng vai trò lớn trong việc huy động vốn, điềuchỉnh, điều hòa các nguồn vốn trong xã hội, là hỗ trợ đắc lực cho hệ thống ngânhàng trong việc kiềm chế lạm phát và hạn chế tăng trưởng tín dụng Trong nhữngnăm hoạt động, TTCK Việt Nam đã khai thác được rất nhiều nguồn vốn trong vàngoài nước đầu tư vào Việt Nam Từ đó, giúp tận dụng được nguồn tiền nhàn rỗi,tạo đà cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả TTCK hỗ trợ tái cấu trúc nềnkinh tế, đặc biệt là tái cấu trúc DNNN TTCK là nơi giúp DNNN chuyển thànhcông ty cổ phần, huy động vốn, chuyển từ vốn Nhà nước sang vốn của cổ đông Bêncạnh đó, TTCK là nơi lan tỏa quy định, cơ chế về minh bạch, công bố thông tin,quản trị doanh nghiệp, về cơ chế giải trình cho DNNN

Tuy nhiên từ sau năm 2008, TTCK Việt Nam diễn biến khá phức tạp và cónhiều tác động bất lợi đối với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Thị trườngđang có những dấu hiệu mất cân bằng một cách rõ ràng Các chỉ số liên tục tìm đáymới, niềm tin nhà đầu tư giảm sút, dòng tiền đổ vào cũng ngày càng cạn kiệt, giá trị

cổ phiếu suy giảm nghiêm trọng Dođó, nếu không thực hiện tái cấu trúc triệt để (trong

đó mấu chốt là tái cấu trúc hoạt động tài chính) thì các CTCK - trụ cột chính của TTCK sẽkhông thể trụ vững và thực hiện được vai trò, vị trí và nhiệm vụ được giao

Tái cấu trúc TTCK Việt Nam được coi là một điều kiện quan trọng để thựchiện có hiệu qủa việc tái cấu trúc trong những lĩnh vực khác Tái cấu trúc TTCK lànhằm thực hiện chủ trương chung của Đảng và Nhà nước về tái cấu trúc nền kinh tế.Đây cũng là nhiệm vụ hết sức cấp bách để đáp ứng yêu cầu về vốn dài hạn cho nềnkinh tế, củng cố hệ thống thị trường có sự quản lý của Nhà nước, bảo đảm quản trịrủi ro, an toàn hệ thống tài chính

Trang 17

1.2.2.2 Khắc phục những hạn chế, yếu kém của thị trường

Tái cấu trúc TTCK nhằm khắc phục những hạn chế yếu kém của thị trườngnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của TTCK tăng cường thu hút đầu tư, luânchuyển vốn và đảm bảo quản trị rủi ro, an toàn hệ thống tài chính

Sau các cuộc khủng hoảng tài chính, điển hình như khủng hoảng tài chínhchâu Á năm 1997-1998 hay khủng hoảng tài chính gần đây năm 2007-2008, cácquốc gia chịu ảnh hưởng đều thực hiện việc tái cấu trúc hệ thống tài chính, với quy

mô và mức độ khác nhau Nhìn chung, việc tái cấu trúc hệ thống tài chính ở cácquốc gia đó tập trung vào chủ yếu vào hai nội dung là thể chế quản lý, giám sát hệthống tài chính và hệ thống các trung gian tài chính Đối với TTCK Việt Nam đượchình thành từ năm 2000, trong giai đoạn 2000 – 2011, TTCK có sự tăng trưởngvượt bậc về quy mô trong bối cảnh nền kinh tế có sự phát triển Tuy nhiên, từ saunăm 2008 đến nay TTCK Việt Nam diễn biến khá phức tạp và có nhiều tác động bấtlợi đối với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước TTCK có một số hạn chế như:khung khổ pháp lý thể chế; hàng hóa trên TTCK và bảo hiểm chưa đa dạng; cơ sởnhà đầu tư không đảm bảo sự tăng trưởng bền vững; TCKDCK có sự gia tăng về sốlượng nhưng chất lượng hoạt động và năng lực tài chính yếu kém…Cụ thể:

- Về hàng hoá của thị trường:

Mặc dù mức vốn hoá thị trường tăng nhanh nhưng nhìn chung quy mô thịtrường Việt Nam vẫn còn quá nhỏ so với các nước Số lượng chứng khoán nhiềunhưng chất lượng còn thấp, sản phẩm thị trường chưa đa dạng, chưa đáp ứng đượcyêu cầu của các nhà đầu tư Đa số các CTNY, đăng ký giao dịch là những công tyvừa và nhỏ, sản phẩm thị trường còn nghèo nàn, ngoài cổ phiếu và một số loạiTPDN, chứng chỉ quỹ, chưa có các sản phẩm phái sinh và các công cụ đầu tư khác,

vì vậy hàng hoá thị trường còn khiếm khuyết, chưa có công cụ phòng ngừa rủi ro

Hệ thống văn bản điều chỉnh hoạt động thị trường cần được tiếp tục điều chỉnh.Tính minh bạch của TTCK thông qua CBTT của CTNY đã từng bước được nângcao tuy nhiên nội dung chất lượng và thời hạn CBTT chưa đáp ứng được yêu cầucủa công tác quản lý và cung cấp thông tin cho thị trường

Khung pháp luật tài chính của Việt Nam vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng vàmâu thuẫn về lợi ích Việc thiếu những hệ thống thông tin hiện đại khiến cho cácnhà quản lý khó đưa ra những phân tích có tính quyết định và giám sát thị trườngmột cách hợp lý Hệ thống cơ sở hạ tầng đặc biệt là hệ thống CBTT của các sàngiao dịch chứng khoán, CTCK cho thấy có bất cập trước sự phát triển quá nhanhcủa thị trường đòi hỏi cần phải có sự đầu tư nâng cấp hệ thống Sự ra đời ồ ạt củacác CTCK, CTQLQ tiềm ẩn nguy cơ đổ vỡ của những công ty không đủ nội lực đểtồn tại

Trang 18

- Về cơ sở các nhà đầu tư:

Cơ sở nhà đầu tư chưa vững chắc do thiếu vắng nhà đầu tư có tổ chức làm nềntảng Số lượng các nhà đầu tư tham gia TTCK nhiều song chủ yếu là các nhà đầu tư

cá nhân, các nhà đầu tư có tổ chức chỉ chiếm 4% số lượng tài khoản giao dịch vàtập trung vào các tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư Các loại hìnhcông ty đầu tư chứng khoán, quỹ mở, quỹ hưu trí tự nguyện… chưa được phát triển.Các tổ chức tín dụng tham gia vào lĩnh vực chứng khoán với các hình thứckhác nhau như: đầu tư vào trái phiếu, góp vốn thành lập CTCK, CTQLQ và uỷ thácđầu tư Sự liên kết giữa tổ chức tín dụng với TTCK là cần thiết, tuy nhiên cũng córủi ro tiềm ẩn Mặt khác, do lạm phát và lãi suất ngân hàng cao, làm cho đầu tưchứng khoán trở nên không cạnh tranh làm cho khả năng thu hút vốn đầu tư trên thịtrường đã bị hạn chế rất nhiều

- Về các tổ chức kinh doanh chứng khoán:

Các CTCK đã bước đầu phát huy vai trò là tổ chức trung gian trên TTCK giúpcho việc dẫn vốn và luân chuyển vốn trong nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư trong nước

và nước ngoài: lượng nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán liên tục tăngtrưởng qua các năm Năm 2009 có trên 800 nghìn tài khoản, năm 2010 có trên 1 triệutài khoản và năm 2013 có trên 1,3 triệu tài khoản Tuy nhiên, bên cạnh đó là nhiều mặtchưa được như số lượng các tổ chức tăng nhanh, không bảo đảm hiệu quả hoạt động:

Sự hình thành nhanh các CTCK dẫn đến việc cạnh tranh hết sức gay gắt, đặc biệt làcạnh tranh về thị phần môi giới (hơn 70% thị phần giao dịch tập trung vào 23 CTCK vàchỉ có chưa đến 30% thị phần giao dịch do 80 CTCK còn lại nắm giữ)

So với các quốc gia trong khu vực, số lượng các tổ chức trung gian như vậy làkhá nhiều so với quy mô như TTCK Việt Nam Việc ra đời trong một khoảng thờigian ngắn một số lượng lớn các CTCK có thể lý giải được trong thời kỳ thị trườngmới phát triển Điều này cũng xảy ra tương tự ở một số thị trường trong khu vực.Tuy nhiên, khi thị trường bước vào giai đoạn thoái trào trung hạn, sự đổ vỡ của cácCTCK là không tránh khỏi

Năng lực của các TCKDCK còn nhiều hạn chế về nghiệp vụ, nhân sự, cơ sở vậtchất, đặc biệt tiềm lực tài chính chưa lớn Các TCKDCK nhiều nhưng quy mô và nănglực tài chính thấp, không đảm bảo hiệu quả hoạt động, tiềm ẩn rủi ro hệ thống TTCK

và các tổ chức tài chính như CTCK, CTQLQ vẫn còn những hạn chế tồn tại như sốlượng chứng khoán nhiều nhưng chất lượng còn thấp, sản phẩm thị trường chưa đadạng, chưa đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư Đối với trái phiếu, số lượng mã tráiphiếu được niêm yết là khá lớn nhưng khối lượng mỗi mã lại nhỏ, đây là rào cản lớncho việc tăng cường thanh khoản cho thị trường Đa số các CTNY, đăng ký giao dịch

là những công ty vừa và nhỏ, trong số 710 CTNY/ đăng ký giao dịch chỉ có 368 công

ty (khoảng 50%) có vốn điều lệ trên 100 tỷ đồng, chất lượng CTNY chưa

Trang 19

cao, đặc biệt là quản trị công ty và tính công khai minh bạch Sản phẩm thị trườngcòn nghèo nàn, ngoài cổ phiếu và một số loại TPDN, chứng chỉ quỹ, chưa có cácsản phẩm phái sinh và các công cụ đầu tư khác, vì vậy hàng hoá thị trường cònkhiếm khuyết, chưa có công cụ phòng ngừa rủi ro Đặc biệt có một số CTCK có hạnchế về năng lực nghiệp vụ, kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro dẫn đến tình trạngkhông hiệu quả (đặc biệt là hoạt động tự doanh) dẫn đến tình trạng thua lỗ.

Các CTQLQ hoạt động không đồng đều, ngoại trừ các CTQLQ thuộc tổ chứctín dụng, công ty bảo hiểm, các CTQLQ khác rất khó khăn trong việc huy độngvốn, chủ yếu chỉ quản lý danh mục đầu tư ngắn hạn, năng lực hoạt động của cáccông ty còn hạn chế, kết quả hoạt động quản lý tài sản, đầu tư cho khách hàng đạtthấp, chưa chuyên nghiệp Theo đánh giá phân loại các CTQLQ theo theo tiêu chí

an toàn tài chính, có 04 CTQLQ không đạt yêu cầu về an toàn tài chính và thua lỗtrên 50% vốn điều lệ, ngoài ra, có 23/47 CTQLQ bị thua lỗ Hiệu quả hoạt động củacác CTQLQ là không đồng đều 65% các CTQLQ có vốn góp của các ngân hàng,doanh nghiệp bảo hiểm có lãi lũy kế kể từ khi thành lập Trong số các công ty cònlại, chỉ có 28% công ty là có khả năng tạo lợi nhuận

- Về thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ

Thị trường Trái phiếu được coi là tiềm năng nhưng chưa phát triển đúng mức,chưa thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư, chưa có thị trường giao dịch riêng choTPDN Nếu tính theo tiêu chí tổng dư nợ trên GDP thì quy mô thị trường vẫn còn thấp

so với một số quốc gia có trình độ phát triển hơn như Thái Lan, Malaysia…

Sản phẩm trên TTTP chủ yếu được chia thành 2 loại là TPCP (bao gồm cả tráiphiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương) và TPDN Vớivai trò là kênh huy động vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế, tỷ lệ giữa TPCP và TPDNthường không chênh lệch quá nhiều tại các quốc gia có thị trường tài chính phát triển.Nhưng tại Việt Nam thì tỷ lệ này có mức chênh lệch khá rõ ràng, phản ánh sự chi phốithị trường đến từ phân khúc TPCP Thị trường trái phiếu chuyên biệt đã được thành lập

và hoạt động tại SGDCK Hà Nội, song chủ yếu là TPCP

- Về tổ chức thị trường:

Thị trường giao dịch chứng khoán phát triển không ổn định, có thời kỳ pháttriển nóng như năm 2007 với giá trị giao dịch bình quân đạt 1086 tỷ đồng/phiên.Tuy nhiên, có thời kỳ (đặc biệt là năm 2011) giá trị giao dịch giảm thấp, có thờiđểm chỉ đạt 600 tỷ đồng/phiên; chỉ số giá chứng khoán cuối năm 2011 giảm 24% sovới năm 2010 Việc duy trì hoạt động của 2 SGDCK đã góp phần phát triển TTCKtrong thời gian qua, tuy nhiên điều này cũng làm cho TTCK bị chia cắt

Việc gia nhập WTO mang lại cho Việt Nam nhiều lợi ích song cũng tạo nênnhững thách thức và khó khăn mới Việc doanh nghiệp lên sàn ồ ạt tạo ra nhiều cơhội cho các quỹ đầu tư và NĐTNN hơn là các CTCK và nhà đầu tư trong nước Khả

Trang 20

năng cung cấp thông tin của TTCK còn quá hạn chế: website, báo chí… còn nhiềubản không có tiếng Anh Bất cập về kiến thức quản lý và điều hành CTCK cũng làmột khó khăn lớn Đội ngũ lãnh đạo các công ty hiện nay phần lớn xuất thân từngành kế toán, tài chính, ngân hàng nội địa chưa từng trải qua cọ sát với TTCKquốc tế, kinh nghiệm kinh doanh, tập quán quốc tế, phần lớn vẫn còn hạn chế vềngoại ngữ để có thể giao tiếp trực tiếp với các đối tác quốc tế.

Cơ sở hạ tầng kém phát triển: Thiếu vắng hệ thống đấu giá cạnh tranh, hệthống giao dịch thị trường sẵn sàng cung cấp các thông tin về giá và khối lượngtheo thời gian thực, thiếu vắng hệ thống thanh toán bù trừ tiên tiến, hệ thống địnhmức tín nhiệm…

Các quy định và công cụ giám sát tại TTCK Việt Nam còn quá sơ sài, thủ công,nên đôi khi UBCKNN phát hiện thị trường có vấn đề nhưng cũng không đủ công cụ

để khẳng định hành vi vi phạm Việc kiểm soát hành vi giao dịch nội gián rất khókhăn, do đối tượng có thông tin nội gián thường không trực tiếp thực hiện giao dịchtrục lợi mà chia sẻ cho bên thứ 3 để trục lợi

1.2.3 Mục tiêu, quan điểm tái cấu trúc thị trường chứng khoán Việt Nam

1.2.3.1 Mục tiêu tái cấu trúc thị trường chứng khoán Việt nam

Thứ nhất, Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm chứng khoán và

bảo hiểm; nâng cao chất lượng quản trị công ty, quản trị rủi ro tại các tổ chức pháthành; công khai, minh bạch các hoạt động trên thị trường chứng khoán

Thứ hai, Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán, doanh

nghiệp bảo hiểm phù hợp với nhu cầu, đặc điểm và quy mô phát triển của thịtrường; củng cố hoạt động, nâng cao năng lực tài chính, quản trị công ty, quản trịrủi ro tại các tổ chức này theo thông lệ quốc tế

Thứ ba, Tập trung phát triển nhà đầu tư tổ chức, khuyến khích nhà đầu tư cá

nhân; thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trung và dài hạn, đồng thời tăngcường công tác giám sát và có biện pháp phù hợp, kịp thời để chủ động đối phó vớibiến động của dòng vốn đầu tư nước ngoài này

Thứ tư, Tái cấu trúc tổ chức thị trường theo hướng chuyên biệt hóa các sản

phẩm và dịch vụ cung cấp với cơ cấu quản trị điều hành thống nhất, minh bạch,chuyên nghiệp bảo đảm thị trường hoạt động lành mạnh, ổn định, vững chắc trong

sự quản lý giám sát chặt chẽ của nhà nước

1.2.3.2 Quan điểm chỉ đạo tái cấu trúc thị trường chứng khoán ở Việt Nam Một là, tái cấu trúc thị trường chứng khoán phải dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn

và thông lệ quốc tế tốt nhất, phù hợp với điều kiện thực tế và kế hoạch tái cơ cấu cảnền kinh tế, hệ thống tài chính ngân hàng nói chung

Hai là, việc tái cấu trúc TTCK phải thực hiện một cách đồng bộ, toàn diện, ở

tất cả các mặt, bao gồm tái cấu trúc hàng hóa sản phẩm dịch vụ, tái cấu trúc cơ sở

Trang 21

nhà đầu tư, tái cấu trúc hệ thống tổ chức kinh doanh chứng khoán và tái cấu trúc tổchức quản lý, vận hành thị trường.

Ba là, việc tái cấu trúc TTCK được thực hiện một cách chủ động, có lộ trình

cụ thể, có bước đi thận trọng, chắc chắn, không làm xáo trộn hoạt động của thịtrường chứng khoán cũng như các hoạt động kinh tế xã hội của đất nước, hạn chếtác động tới các hoạt động kinh doanh và đầu tư trên TTCK đảm bảo quyền và lợiích hợp pháp của công chúng đầu tư, khách hàng và sự an toàn của cả hệ thống; tiếtgiảm chi phí xã hội

Bốn là, các hoạt động tái cấu trúc phải thực hiện theo đúng quy định pháp luật.

Trường hợp các quy định pháp luật chưa đầy đủ, rõ ràng cần bổ sung, sửa đổi (chủyếu là Nghị định, Thông tư) để có căn cứ pháp lý thực hiện Các hoạt động tái cấutrúc thực hiện theo nguyên tắc thị trường, doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm vàphải tuân thủ các quy định pháp luật, cơ quan quản lý nhà nước chỉ thực hiện vai tròchỉ đạo, giám sát, không làm thay doanh nghiệp;

Năm là, chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế, từng bước tiếp cận với

các chuẩn mực chung và thông lệ quốc tế, nâng cao khả năng cạnh tranh, khả năngchống đỡ rủi ro, thu hẹp về khoảng cách phát triển với các quốc gia trong khu vực

Trang 22

Ch ương 2: THỰC TR ẠNG TÁI C ẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 2.1 Thực trạng tái cấu trúc Thị trường chứng khoán Việt Nam

2.1.1 Thực trạng tái cấu trúc cơ sở hàng hóa trên thị trường chứng khoán

Năm 2012-2013 chứng kiến những bước đầu tiên của lộ trình tái cơ cấu: Tiêuchuẩn phát hành niêm yết được nâng cao theo nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày20/7/2012 (tại SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh, tăng mức vốn điều lệ niêm yết tốithiểu từ 80 tỷ đồng lên 120 tỷ đồng; và từ 10 tỷ đồng lên 30 tỷ đồng tại SGDCK HàNội; bổ sung yêu cầu không có lỗ lũy kế và chỉ tiêu lãi trên vốn chủ sở hữu (ROE) phảitối thiểu 5% ) Trên cơ sở đó, Bộ Tài Chính đã ban hành các văn bản pháp lý để nângcao tính công khai minh bạch của thị trường, tăng cường quản trị công ty và từng bướctiếp cận chuẩn mực quốc tế Đồng thời trên cớ sở chấp thuận của UBCKNN, cácSGDCK đã ban hành các quy chế về niêm yết theo các tiêu chí cao hơn Yêu cầu khithay đổi phương án sử dụng vốn phải CBTT để cổ đông giám sát và phải đưa ra cuộchọp tại Đại hội đồng cổ đông gần nhất UBCKNN đã trình Bộ Tài chính ban hànhThông tư hướng dẫn về niêm yết chứng khoán cũng là cơ sở quan trọng để sắp xếp lại

và nâng cao chất lượng niêm yết Các yêu cầu về CBTT và quản trị công ty cũng ngàycàng được nâng cao theo hướng tiếp cận thông lệ quốc tế Thông tư 52/2012/TT-BTC

về hướng dẫn CBTT trên TTCK đã mở rộng đối tượng, phạm vi công bố; báo cáo tàichính 6 tháng bắt buộc phải được soát xét bởi công ty kiểm toán và nhiều nội dung phảiCBTT bất thường như hoạt động mua cổ phiếu quỹ… Thông tư 121/2012/TT-BTChướng dẫn về quản trị công ty áp dụng cho các CTĐC được ký ban hành ngày26/7/2012, từng bước tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, áp dụng với cả các CTĐC và yêucầu chặt chẽ hơn đối với CTĐC quy mô lớn

Ngày 29/5/2013, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 73/2013/TT-BTChướng dẫn chi tiết một số điều về niêm yết chứng khoán tại Nghị định số58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sốđiều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứngkhoán, đồng thời quy định các nội dung về công bố thông tin, quản trị công ty theohướng nâng cao tính công khai, minh bạch của thị trường và từng bước tiếp cận cácchuẩn mực quốc tế Đồng thời Bộ Tài chính cũng đã ban hành thông tư hướng dẫn

về việc niêm yết của công ty cổ phần hình thành sau quá trình hợp nhất, sáp nhậpnhằm tạo thuận lợi cho quá trình tái cấu trúc các CTNY, cụ thể: Thông tư số217/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 hướng dẫn thực hiện xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK; Văn bản hợp nhất số 09/VBHN-BTCngày 23/10/2013 quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với tổchức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính; Thông tư số91/2013/TT-BTC ngày 28/06/2013 hướng dẫn đăng ký thành lập, tổ chức và hoạt

Trang 23

động Văn phòng đại diện tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài, chi nhánhCTQLQ nước ngoài tại Việt Nam; Thông tư số 87/2013/TT-BTC ngày 28/06/2013Hướng dẫn giao dịch điện tử trên TTCK…

Năm 2014, công tác tái cấu trúc thị trường có bước phát triển tích cực, chuẩn

bị nền tảng quan trọng cho việc phát triển TTCK theo chiều sâu, đặc biệt là phátTTCKPS, gắn CPH với niêm yết Cụ thể, ngày 11/3/2014, Thủ tướng Chính phủ đã

ký ban hành Quyết định số 366/QĐ-TTg v/v phê duyệt đề án xây dựng và phát triểnTTCKPS Việt Nam Đây là một bước đi quan trọng nhằm từng bước hoàn chỉnh cấutrúc TTCK theo Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Đề ánđặt ra mục tiêu xây dựng TTCKPS là bước kế tiếp nhằm hoàn chỉnh cấu trúcTTCK, hỗ trợ sự phát triển bền vững các TTCK cơ sở (thị trường cổ phiếu, thịtrường trái phiếu), góp phần thúc đẩy sự phát triển và tăng cường vai trò của TTCKtrong thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung, đưa TTCK trở thànhkênh huy động vốn an toàn, dài hạn phục vụ cho tăng trưởng kinh tế

Công tác CPH đã được đẩy mạnh, với việc Chính phủ đã ban hành các vănbản tháo gỡ khó khăn về cơ chế, chính sách CPH tại Nghị quyết 15/NQ-CP ngày6/3/2014 và Quyết định 51/2014/QĐ-TTg ngày 15/9/2014 Quyết định 51 đã đánhdấu một bước tiến lớn của tiến trình CPH DNNN ở Việt Nam với nhiều cơ chế,chính sách và giải pháp mang tính đột phá như lần đầu tiên cho phép DNNN đượcthoái vốn dưới mệnh giá và giá trị sổ sách – vốn được xem là một trong những điểmnghẽn trong quá trình CPH DNNN trong suốt nhiều năm qua Các doanh nghiệpCPH sau ngày 01/11/2014 phải có kế hoạch tham gia giao dịch tập trung trên thịtrường đăng ký giao dịch (UPCoM)/niêm yết trong vòng 90 ngày/01 năm kể từngày có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Đối với các doanh nghiệp CPH trướcthời điểm Quyết định 51 có hiệu lực thì phải có kế hoạch tham gia giao dịch tậptrung trong vòng 01 năm kể từ ngày 01/11/2014

Theo đó, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản pháp lý quy định rõ tiêu chuẩnphát hành, niêm yết theo trong đó các nội dung quy định về CBTT, quản trị công tytheo hướng nâng cao tính công khai, minh bạch của thị trường và từng bước tiếp cậncác chuẩn mực quốc tế Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư hướng dẫn vềviệc niêm yết của công ty cổ phần hình thành sau quá trình hợp nhất, sáp nhập nhằmtạo thuận lợi cho quá trình tái cấu trúc các CTNY Thông tư số 09/2014/TT-BTC ngày16/01/2014 quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí bán đấu giá cổphần và các loại chứng khoán theo quy định của Luật chứng khoán Từ đầu năm 2014,

Bộ Tài chính, UBCKNN đã tiến hành các hoạt động xúc tiến đầu tư tại các thị trườnglớn tại châu Á, châu Âu và dự kiến sẽ tiếp tục tổ chức tại Mỹ Việc triển khai các bước

đi này nhằm để đáp ứng các tiêu chuẩn nâng hạng

Trang 24

cho TTCK Việt Nam từ hạng cận biên (Frontier Market) lên thành thị trường mớinổi (Emerging-Market) của chỉ số MSCI.

Trong năm 2015, chất lượng hàng hóa trên TTCK tiếp tục nâng cao với sự cảithiện về tính minh bạch và chất lượng quản trị công ty Cụ thể, Bộ Tài chính đã banhành Thông tư số 155/2015/TT-BTC thay thế Thông tư số 52 hướng dẫn hoạt độngCBTT trên TTCK Theo đó, Thông tư 155 đã mở rộng đối tượng phải CBTT, quyđịnh CTĐC phải CBTT liên quan đến phát triển bền vững và thông tin về tỷ lệ sởhữu nước ngoài đáp ứng yêu cầu mới của Nghị định 60/2015/NĐ-CP Bên cạnh đó,

dự thảo Thông tư 121 hướng dẫn về quản trị công ty và việc thành lập Viện quản trịcông ty đang được đồng thời triển khai theo hướng tiếp cận dần với thông lệ quốc tế

và Luật Doanh nghiệp mới, nhằm tăng cường việc đảm bảo quyền lợi cho các cổđông nhỏ Thông tư số 01/2015/TT-BTC ngày 05/01/2015 thay thế Quyết định108/2008/QĐ-BTC về Quy chế Tổ chức và quản lý giao dịch chứng khoán CTĐCchưa niêm yết tại SGDCK Hà Nội Việc bắt buộc tất cả các CTĐC hình thành trướcngày 1/1/2016 mà chưa niêm yết trên SGDCK phải thực hiện đăng ký giao dịch trên

hệ thống UPCoM là một quy định rất mới, sẽ giúp tăng lượng hàng hóa cho thịtrường và hỗ trợ CPH

Cũng trong năm 2015, nguồn cung hàng hóa đã được tăng lên với các cơ chế, giảipháp gắn cổ phần hóa với đăng ký giao dịch và niêm yết trên TTCK Nghị định 60/NĐ-

CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58/2012/NĐ-CP gắn công tác CPH vớiđăng ký giao dịch và niêm yết trên TTCK đã được ban hành Đồng thời, triển khai cácgiải pháp về tuyên truyền, hướng dẫn, giám sát đôn đốc và phát triển thị trường có tổchức, qua đó thúc đẩy nhiều DNNN CPH quy mô lớn lên niêm yết, đăng ký giao dịchtrên TTCK; đặc biệt, số công ty đăng ký giao dịch qua UPCoM tăng 40% Ngoài ra,Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 41/2015/QĐ-TTg về việc bán cổ phần theo

lô Trên cơ sở đó, UBCKNN đã ban hành quy chế bán đấu giá theo lô tại Quyết định số999/QĐ-UBCK ngày 19/11/2015 quy định về việc bán công khai cổ phần của đại diệnchủ sở hữu nhà nước tại công ty cổ phần cho các nhà đầu tư có sự cạnh tranh về giá vàmỗi nhà đầu tư phải mua toàn bộ số cổ phần chào bán theo lô Với cơ chế bán trọn lô

có sự tham gia của Hội đồng thẩm định năng lực nhà đầu tư, Quy chế được ban hành sẽ

hỗ trợ tích cực cho công tác thoái vốn trên TTCK trong thời gian tới, đồng thời gópphần cải thiện quản trị công ty trong các doanh nghiệp

Cùng với đó, cơ quan quản lý đã tích cực phát triển các sản phẩm mới Cụ thể là,công tác hoàn thiện khung pháp lý và các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật, xây dựng cácsản phẩm cho TTCKPS đã được gấp rút triển khai để sớm đưa vào vận hành trong năm

2016 Ngày 5/5/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số

42/2015/NĐ-CP (Nghị định 42) về chứng khoán phái sinh và TTCKPS, tạo cơ sở pháp lý quan trọng

để chuẩn bị đưa TTCKPS vào hoạt động từ cuối năm 2016,

Trang 25

Thông tư hướng dẫn Nghị định 42 cũng đã được Bộ Tài chính ký ban hành (Thông

tư số 11/2016/TT-BTC ngày 19/1/2016 của Bộ Tài chính) TTCKPS đi vào hoạtđộng trong thời gian tới sẽ giúp hoàn thiện cấu trúc của TTCK, tạo độ sâu choTTCK, tạo phương tiện phòng ngừa rủi ro cho nhà đầu tư, đồng thời đa dạng hóacông cụ giao dịch trên TTCK

2.1.2 Tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư

Trong thời gian qua, để phát triển cơ sở các nhà đầu tư, các cơ quan có thẩmquyền đã triển khai các giải pháp:

- Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý cho phép hình thành các loại hình quỹ

đầu tư chứng khoán Liên quan tới nội dung này, trong năm 2011-2012, Bộ Tàichính ban hành Thông tư 183/2011/TT-BTC hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ

mở đã làm phát sinh yêu cầu thay đổi và tái cấu trúc mô hình hoạt động của các quỹđầu tư chứng khoán tại Việt Nam, cụ thể là xu hướng giải thể các quỹ đóng, quỹthành viên và thay thế vào đó là sự thành lập các quỹ mở Theo kinh nghiệm quốc

tế, quỹ mở là sản phẩm nền tảng của một TTCK phát triển, được thiết kế nhằm kếtnối TTCK với các thị trường khác, như bảo hiểm (sản phẩm liên kết), tiền tệ (quỹthị trường tiền tệ), hệ thống an sinh xã hội (quỹ hưu trí), hay kết nối với các khu vựcsản phẩm khác như quỹ hoán đổi danh mục (ETF), quỹ mở đầu tư trái phiếu Ngoài ra, quỹ mở với tính thanh khoản cao, chi phí thấp sẽ hấp dẫn nhà đầu tư hơn

so với quỹ đóng, quỹ thành viên Ngoài Thông tư 183/2011/TT-BTC, để đa dạnghóa và phát triển sản phẩm ngành quỹ, giúp ngành quỹ có đầy đủ các sản phẩm mới

và hiện đại theo thông lệ quốc tế, Bộ Tài chính đã ban hành một số thông tư về cácsản phẩm mới như: Thông tư số 227/2012/TT-BTC hướng dẫn thành lập và hoạtđộng của Công ty đầu tư chứng khoán; Thông tư số 228/2012/TT-BTC hướng dẫnthành lập và quản lý quỹ bất động sản; Thông tư số 229/2012/TT-BTC hướng dẫnthành lập và quản lý quỹ hoán đổi danh mục (ETF) Các văn bản này là cơ sở quantrọng nhằm đa dạng hóa các sản phẩm quỹ đầu tư tập thể, đáp ứng nhu cầu của cộngđồng nhà đầu tư, qua đó từng bước xây dựng và phát triển hệ thống nhà đầu tư tổchức chuyên nghiệp trên TTCK Việt Nam

Năm 2014, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số TTg ngày 20/1/2014 phê duyệt Đề án phát triển chương trình hưu trí tự nguyện,trong đó đã giao Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ ngành triển khai xâydựng Nghị định về quỹ hưu trí tự nguyện theo mô hình ủy thác Trong năm 2014TTCK Việt Nam đón nhận hình thức quỹ hoán đổi danh mục (ETF) nội đầu tiên với

144/QĐ-sự ra đời của Quỹ E1VFMVN30 ngày 4/7/2014, mô phỏng chỉ số HSX30 Quỹ đãchính thức giao dịch chứng chỉ tại sàn HSX ngày 6/10/2014 với quy mô ban đầu

202 tỷ đồng Ngày 14/10/2014, quỹ ETF thứ hai mô phỏng chỉ số HNX30 cũng

Trang 26

đã được cấp phép chào bán chứng chỉ ra công chúng Thị trường đã có thêm sự lựachọn cho dòng vốn đầu tư dài hạn ưa thích chiến lược đầu tư thụ động NĐTNNcũng có cơ hội gián tiếp đầu tư vào các cổ phiếu đã hết room thông qua hình thứcquỹ này.

Thứ hai, tiết giảm thủ tục hành chính, tạo sự tiện lợi cho hoạt động giao dịch

của NĐTNN và mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán theo cam kết WTO Về nộidung này, Bộ Tài chính cũng đã ban hành Thông tư số 213/2012/TT-BTC ngày06/12/2012 hướng dẫn hoạt động của NĐTNN trên TTCK Việt Nam và Thông tư số91/2013/TT-BTC ngày 28/6/2013 hướng dẫn đăng ký thành lập, tổ chức và hoạtđộng văn phòng đại diện tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài, chi nhánhCTQLQ nước ngoài tại Việt Nam Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đã đề xuất cấp cóthẩm quyền quyết định xem xét việc tăng tỷ lệ sở hữu của các NĐTNN Thông tư số87/2013/TT-BTC ngày 28/06/2013 Hướng dẫn giao dịch điện tử trên TTCK

Năm 2014, UBCKNN đã hoàn thành và đưa vào sử dụng các hệ thống cơ sở

dữ liệu tập trung về các đối tượng quản lý như: CTCK, CTQLQ và quỹ đầu tư,người hành nghề chứng khoán, NĐTNN… nhằm phục vụ cho công tác quản lýgiám sát của UBCKNN Các hệ thống này bước đầu hình thành cơ sở dữ liệu vàđược quản lý tập trung tại UBCKNN, được cập nhật thường xuyên, đóng vai trò là

cơ sở để lập nên các chính sách, quyết định của cơ quan quản lý đối với hoạt độngcủa TTCK và góp phần cải cách thủ tục hành chính

Ngày 26/6/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số60/2015/NĐ-CP (Nghị định 60) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềucủa Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán.Một trong những nội dung quan trọng của Nghị định 60 là cho phép NĐTNN được đầu

tư không hạn chế vào các CTĐC không thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện, vàoTPCP, trái phiếu doanh nghiệp… Quy định này được đánh giá là bước đột phá trongchính sách thu hút vốn ĐTNN của Việt Nam Việc chính thức mở “room” cho NĐTNN

kể từ ngày 1/9/2015 về trung và dài hạn sẽ có những tác động tích cực đến nền kinh tế,môi trường kinh doanh, thị trường vốn, doanh nghiệp và nhà đầu tư

Ngày 18/8/2015, Bộ Tài chính cũng đã ban hành Thông tư số BTC (Thông tư 123) hướng dẫn hoạt động ĐTNN trên TTCK Việt Nam với nhiềunội dung cải cách tạo thuận lợi cho NĐTNN cũng như hướng dẫn chi tiết trình tự,thủ tục, hồ sơ trong việc nâng tỷ lệ sở hữu của NĐTNN theo quy định tại Nghị định

123/2015/TT-60 Bên cạnh đó, hệ thống nghiệp vụ cấp mã số giao dịch trực tuyến cho NĐTNNtheo quy định tại Thông tư 123 do TTLKCK xây dựng cũng đã được hoàn thiện.Cùng với việc hoàn thiện hệ thống, TTLKCK cũng ban hành Quy chế đăng ký

Trang 27

mã số giao dịch chứng khoán của NĐTNN, qua đó, sớm đưa hệ thống vào vậnhành, góp phần đơn giản hóa thủ tục tham gia TTCK Việt Nam cho NĐTNN.

Tiếp đó, ngày 21/12, Bộ Tài chính chính thức ban hành Thông tư số203/2015/TT-BTC thay thế cho Thông tư 74/2011/TT-BTC ngày 1/6/2011 về hướngdẫn giao dịch trên TTCK Thông tư 203 cho phép nhà đầu tư được phép đặt lệnh vừamua vừa bán trong từng lần khớp lệnh liên tục (nhưng không được phép đợt khớp lệnhđịnh kỳ xác định giá đóng/mở cửa), bỏ quy định nhà đầu tư chỉ được sử dụng 1 tàikhoản để thực hiện giao dịch ngược chiều cùng một loại chứng khoán Thông tư chophép các nhà đầu tư có thể thực hiện lệnh giao dịch khi có bảo lãnh thanh toán củangân hàng lưu ký Đặc biệt, Thông tư mới tạo cơ sở pháp lý cho phép các thị trườngtriển khai các giao dịch bán chứng khoán chờ về, giao dịch trong ngày

Thứ ba, nghiên cứu rà soát lại các chính sách thuế, phí, lệ phí nhằm khuyến

khích thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước; triển khai đồng bộ với việc cải thiệntình hình thu, chi ngân sách Thông tư số 02/2013/TT-BTC ngày 08/01/2013 Sửađổi, bổ sung Thông tư 27/2012/TT-BTC ngày 26/10/2010 quy định mức thu, chế độthu nộp, quản lý và sử dụng phí hoạt động chứng khoán áp dụng tại SGDCK vàTTLKCK Riêng đối với các sản phẩm quỹ hưu trí thì cơ chế ưu đãi, khuyến khíchcũng đã được đưa vào quy định tại Luật thuế thu nhập cá nhân số 26/2012/QH13ngày 3/12/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân vàLuật thuế thu nhập doanh nghiệp số 32/2013/QH13 ngày 19/6/2013 sửa đổi, bổsung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Năm 2014, Bộ Tài Chínhban hành Thông tư số 09/2014/TT-BTC ngày 16/01/2014 quy định mức thu, chế độthu, nộp, quản lý và sử dụng phí bán đấu giá cổ phần và các loại chứng khoán theoquy định của Luật chứng khoán Thông tư số 67/2014/TT-BTC ngày 21/05/2014quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vựcchứng khoán áp dụng tại UBCKNN Quyết định số 714/QĐ-UBCK ngày22/09/2014 của UBCKNN hướng dẫn thực hiện Thông tư số 67/2014/TT-BTC ngày21/05/2014 về Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý

và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực chứng khoán áp dụng tại UBCKNN

Ngoài ra, Bộ đã triển khai đồng loạt các giải pháp thu hút vốn NĐTNN và trongnước Theo đó đã nâng tỷ lệ sở hữu của NĐTNN tại các CTĐC; tiết giảm thủ tục hànhchính và triển khai cấp mã số trực tuyến cho NĐTNN; Ngày 1/1/2016, UBCKNNchính thức triển khai rút ngắn chu kỳ thanh toán trong giao dịch chứng khoán từ T+3xuống T+2 và các biện pháp kỹ thuật khác nhằm thúc đẩy thanh khoản trên thị trườngthứ cấp, đã tạo dấu ấn tốt hơn cho TTCK Việt Nam trên trường quốc tế

2.1.3 Tái cấu trúc thị trường trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp

Thị trường TPCP giữ một vai trò quan trọng trên TTCK, là kênh huy động vốnhiệu quả cho ngân sách nhà nước và là kênh đầu tư an toàn, hấp dẫn các định chế tài

Trang 28

chính Nhằm tái cấu trúc TTTP, trong năm 2013, Bộ Tài chính đã phê duyệt Lộtrình phát triển TTTP đến năm 2020 tại Quyết định số 261/QĐ-BTC, trong đó đềxuất các giải pháp và kế hoạch triển khai cụ thể nhằm thúc đẩy TTTP bao gồm: tiếptục đẩy mạnh và đa dạng hóa TPCP có kỳ hạn từ 10 năm trở lên; củng cố hệ thốngnhà đầu tư; hoàn thiện cơ chế và hệ thống giao dịch TPCP; xây dựng và phát triển

hệ thống các nhà tạo lập thị trường Đến nay thị trường đã có nhiều bước tiến dài cả

về chất và lượng

Kỳ hạn phát hành TPCP được đa dạng hóa thông qua việc: Từ tháng 3/2013,SGDCK Hà Nội đã ban hành quy định và xây dựng đường cong lãi suất chuẩn choTPCP, nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng một đường cong lãi suất chuẩn cho TTTPViệt Nam và cơ sở để các thành viên có thể định giá giá trị danh mục đầu tư Thựchiện phát hành đều đặn (hàng tháng) trái phiếu kỳ hạn 10 năm để xây dựng và duytrì đường cong lãi suất chuẩn; thực hiện phát hành trái phiếu kỳ hạn 15 năm theophương thức bảo lãnh phát hành; hình thành các nhà tạo lập thị trường Các quyđịnh về giao dịch trên TTTP đã được ban hành Đặc biệt, trong tháng 6/2013,KBNN đã phát hành thành công trái phiếu kỳ hạn 15 năm theo phương thức bảolãnh Từ năm 2014 đến nay, trái phiếu 10 năm và 15 năm được phát hành định kỳthường xuyên, nhiều phiên trong tháng, theo phương thức đấu thầu điện tử, với quy

mô phát hành ngày càng tăng Bên cạnh đó, Trên cơ sở Thông tư 234/2012/TT-BTChướng dẫn quản lý giao dịch TPCP, UBCKNN đã ban hành Quyết định 160/QĐ-UBCK quy định chào mua, chào bán trên thị trường TPCP Từ ngày 18/3/2013, hệthống giao dịch TPCP phiên bản 2 và hệ thống Đường cong lợi suất TPCP chínhthức vận hành Đây là cơ sở quan trọng để hoàn thiện thị trường nợ và tạo tiêuchuẩn cho cả thị trường cổ phiếu Song song với cải cách phát hành, KBNN triểnkhai các chương trình hoán đổi trái phiếu Các đợt hoán đổi được thực hiện côngkhai, minh bạch, đúng quy trình quy định tại Thông tư số 150/2011/TT-BTC ngày15/11/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn hoán đổi TPCP

Quyết định số 160/QĐ-UBCK ngày 15 tháng 3 năm 2013 về chào mua chàobán trên thị trường TPCP là các văn bản đã tạo nền tảng và củng cố mối liên kếtgiữa thị trường sơ cấp và thứ cấp, nâng cao chất lượng thông tin, tạo điểm thamchiếu về lãi suất và hình thành Đường cong lợi suất trên thị trường TPCP Đã chínhthức vận hành hệ thống giao dịch TPCP phiên bản 2 (đây là hệ thống hiện đại tíchhợp các hoạt động đấu thầu, giao dịch tín phiếu, trái phiếu và công bố thông tin, tạođược sự liên thông giữa đấu thầu với giao dịch công cụ nợ ngắn hạn và dài hạn) và

hệ thống Đường cong lợi suất TPCP, về cơ bản hệ thống hoạt động ổn định, khôngghi nhận lỗi phát sinh, thành viên đã tham gia chào mua, chào bán trên cả hai hệthống (Giao dịch và Đường cong lợi suất) Đây là cơ sở quan trọng để hoàn thiện thịtrường nợ và tạo tiêu chuẩn cho cả thị trường cổ phiếu Hệ thống đấu thầu điện tử

Trang 29

đã được triển khai, qua đó cho phép điện tử hóa toàn bộ quá trình từ khi bắt đầu tớikhi hoàn tất phiên đấu thầu, kết nối đồng bộ với tổ chức phát hành, thị trường giaodịch và các thành viên đấu thầu, qua đó góp phần nhanh chóng đưa trái phiếu pháthành vào giao dịch trên thị trường thứ cấp.

Năm 2014, thực hiện dự án nâng cấp hệ thống giao dịch trực tuyến TPCP BTS); Xây dựng công cụ tính toán Bond Index; Triển khai đề án kết nối hệ thốnggiao dịch TPCP với hệ thống của Bloomber

(e-Ngày 20/11/2014, NHNN Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 36/2014/TT-NHNN (Thông tư 36), có hiệu lực từ ngày 01/02/2015 quy định về các giới hạn,

tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngânhàng nước ngoài, trong đó các quy định sẽ khắt khe hơn bắt buộc các TCTD phảituân thủ Trong đó có một số nội dung được giới phân tích nhấn mạnh với tác dụnglàm minh bạch dòng tiền chảy vào chứng khoán và tháo gỡ vướng mắc trong việc

xử lý các vấn đề về sở hữu chéo Thông điệp từ Thông tư 36 sửa đổi đã và đang hòanhịp với hoạt động tái cấu trúc hệ thống tài chính, trong đó cơ cấu nguồn vốn và đadạng hóa các nguồn vốn tài trợ vốn được ưu tiến hơn cả Cụ thể: nguồn vốn ngắnhạn “trả về” ngân hàng; nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn thì “trả về” thị trường cổ

phiếu và thị trường TPDN Theo đó, thúc đẩy thị trường TPDN phát triển.

Ngoài ra, Trong tháng 11/2014, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 78 trong

đó có quy định từ năm 2015 sẽ không phát hành trái phiếu kỳ hạn dưới 5 năm Điềunày được dự báo sẽ có tác động không nhỏ tới dòng tiền vào thị trường TPCP.Với mục tiêu mở rộng phạm vi hoạt động giao dịch của thị trường TPCP thôngqua việc thiết lập cơ chế trao đổi thông tin hai chiều, trực tuyến giữa hệ thống tráiphiếu của Sở và hệ thống thế giới, ngày 23/9/2014, SGDCK Hà Nội đã khai trương

hệ thống giao dịch TPCP phiên bản 3 kết nối với hệ thống của Bloomberg, và ngày26/6/2015, Sở đưa vào triển khai cổng thông tin giao dịch điện tử trên nền Internetcho nhà đầu tư

Năm 2015 Bộ Tài chính sửa đổi quy định về CBTT theo hướng phù hợp vớithông lệ quốc tế và yêu cầu các CTĐC/CTNY cung cấp các thông tin bằng tiếngAnh Đồng thời, tái cấu trúc TTTP theo hướng thúc đẩy hoán đổi từ kỳ hạn ngắnsang kỳ hạn dài đối với trái phiếu KBNN và TPCP bảo lãnh; Triển khai tổ chứcđánh giá và hoàn chỉnh cơ chế hệ thống, phát hành, giao dịch, giám sát sản phẩmETF và nghiên cứu các giải pháp nhằm tăng thanh khoản cho quỹ ETF và quỹ mở;Hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng cơ sở hạ tầng cho TTCKPS Năm 2015, cơchế chính sách đã được bổ sung hướng dẫn phát hành TPCP, TPCP bảo lãnh, tráiphiếu chính quyền địa phương Các đơn vị vận hành thị trường TPCP đã rút ngắnthời gian từ phát hành lên niêm yết, giao dịch Trong đó, TPCP do KBNN phát

Trang 30

hành đạt gần 4.650 tỷ đồng/mã, phần lớn đạt tiêu chí về quy mô và thanh khoản,giúp hình thành hệ thống mã trái phiếu chuẩn (benchmark) và góp phần hỗ trợ xâydựng đường cong lợi suất tham chiếu cho thị trường Tiếp đến, ngày 5/1/2015, HNXcông bố Bộ chỉ số TPCP Việt Nam, nhằm giúp các nhà đầu tư, đặc biệt là NĐTNNđánh giá được mức độ hấp dẫn của thị trường trái phiếu Việt Nam và là nguồnthông tin giúp các nhà đầu tư so sánh hiệu quả đầu tư của các quỹ Quyết tâm xâydựng hệ thống các quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ hưu trí bổ sung, thiếtlập tổ chức định mức tín nhiệm; cải cách thủ tục hành chính, xây dựng hệ thống cấp

mã số online cho NĐTNN; cho phép NĐTNN được đầu tư không hạn chế vào tráiphiếu (bao gồm TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyềnđịa phương, TPDN)

Ngoài ra, các công cụ giao dịch mới trên cả thị trường sơ cấp, thị trường thứcấp giao ngay, kỳ hạn và thị trường phái sinh như Zero Coupon Bond, bộ sản phẩmRepo (gồm Sell/buy back Repo, Borrowing-Lending Repo, Cross currency Repo)

đã được đưa vào nghiên cứu và có các báo cáo trước thị trường, nhận được sự quantâm lớn của các thành viên thị trường cũng như công chúng đầu tư

2.1.4 Công tác tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán

Tái cấu trúc tổ chức kinh doanh chứng khoán trên TTCK Việt Nam bao gồmtái cấu trúc CTCK và tái cấu trúc CTQLQ và ngân hàng giám sát Trong thời gianqua, cơ quan có thẩm quyền đã ban hành đồng bộ các văn bản hỗ trợ tái cấu trúc cácTCKDCK, cụ thể:

Về hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm tạo cơ sở pháp lý và đẩy nhanh việc táicấu trúc các TCKDCK: Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 210/2012/TT-BTCngày 30/11/2012 về tổ chức và hoạt động của TCKDCK theo hướng kiểm soát chặtchẽ vấn đề rủi ro, đầu tư bất động sản, vấn đề liên thông vốn với ngân hàng, vấn đềtách bạch tài khoản; kiểm soát việc ủy thác vốn, bổ sung thêm quy định về chuẩn bịcác thủ tục rút giấy phép hoạt động nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý công tyyếu kém Thông tư 212/2012/TT-BTC ngày 05/12/2012 hướng dẫn thành lập vàhoạt động CTQLQ; Thông tư 210/2014/TT-BTC ngày 30/12/2014 hướng dẫn chế

độ kế toán áp dụng cho CTCK, tạo hành lang pháp lý để CTCK tiếp cận dần vớiviệc xác định giá trị hợp lý của các khoản đầu tư nhằm phản ánh đúng thực trạng tàichính của công ty Bên cạnh đó, UBCKNN cũng tích cực hướng dẫn, tạo điều kiệncho các CTCK thực hiện hợp nhất, sáp nhập nhằm tăng cường năng lực tài chínhcho các công ty Nhằm hoàn thiện các quy định về an toàn tài chính, theo hướng rútngắn thời gian khắc phục nhằm giảm bớt số lượng các định chế trung gian Bộ Tàichính đã ban hành 2 Thông tư, Thông tư số 226/2010/TT-BTC và Thông tư số165/2012/TT-BTC ngày 9/10/2012 sửa đổi, bổ sung Thông tư 226/2010/TT-BTCtheo hướng củng cố các biện pháp xử lý đối với các TCKDCK không bảo đảm an

Trang 31

toàn tài chính (02 Thông tư này sau đó đã được hợp nhất tại Thông tư số91/2013/TT-BTC ngày 28/6/2013) Bộ Tài chính sửa Thông tư số 52/2012/TT-BTC

về CBTT, trong đó yêu cầu các CTCK thực hiện soát xét, kiểm toán báo cáo tỷ lệ antoàn tài chính vào thời điểm 30/6 và 31/12 hàng năm và thực hiện CBTT công khaitheo quy định Đồng thời, yêu cầu các CTCK thực hiện chế độ CBTT như CTĐC,CTNY Từ đó, nâng cao hơn một bước tính công khai trong hoạt động của CTCK.Qua đó giúp thị trường cũng tự đánh giá, phân loại các CTCK Ngoài ra, Bộ Tàichính cũng đã ban hành Thông tư số 146/2014/TT-BTC ngày 6/10/2014 về cơ chếtài chính áp dụng đối với các TCKDCK; Ngày 21/3/2016, Bộ Tài chính ban hànhVăn bản hợp nhất Thông tư hướng dẫn về việc thành lập và quản lý Quỹ mở số 06/VBHN-BTC

Năm 2015 Cơ chế chính sách ngày càng hoàn thiện tạo lập được cơ sở pháp lýtương đối đầy đủ cho TTCK nói chung và khối CTCK nói riêng Cụ thể: Bộ Tàichính đã ban hành Thông tư số 197/2015/TT-BTC ngày 3/12/2015 quy định vềhành nghề chứng khoán thay thế Quyết định số 15/2008/QĐ-BTC ngày 27/3/2008

và Thông tư số 147/2012/TT-BTC ngày 10/9/2012 về việc ban hành quy chế hànhnghề chứng khoán Bên cạnh đó, UBCKNN đã thúc đẩy công tác tái cấu trúc cácCTCK, thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để xử lý các CTCK không đápứng chỉ tiêu an toàn tài chính, từng bước thu hẹp số lượng CTCK

Về hoàn thiện hệ thống quản lý, giám sát dựa trên rủi ro nhằm tăng cường khảnăng, hiệu quả quản lý nhà nước, giám sát đối với các TCKDCK này theo tiêuchuẩn quốc tế Liên quan đến công tác này, Bộ Tài chính (UBCKNN) đã ban hànhcác quy chế quản lý, giám sát theo bộ tiêu chí CAMEL (Quyết định 428/QĐ-UBCKngày 11/7/2013 về việc ban hành Quy chế hướng dẫn thiết lập, vận hành hệ thốngquản trị rủi ro cho CTQLQ và công ty đầu tư chứng khoán riêng lẻ tự quản lý;Quyết định 427/QĐ-UBCK ngày 11/7/2013 về việc ban hành Quy chế hướng dẫnđánh giá, xếp loại CTQLQ; Quyết định số 617/QĐ-UBCK ngày 9/10/2013 về việcban hành Quy chế hướng dẫn xếp loại CTCK theo chuẩn CAMEL phân loại CTCKnhằm thực hiện giám sát, kiểm tra hoạt động của CTCK Đây thực chất là hệ thốngcác tiêu chí kỹ thuật nhằm cảnh báo trước rủi ro trong hoạt động của các CTCK,CTQLQ Kết quả giám sát sẽ làm cơ sở cho việc thanh tra, kiểm tra hoạt động các

tổ chức này Bộ Tài chính (UBCKNN) cũng đã ban hành quy chế hướng dẫn cácTCKDCK cách thức thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro như Quyết định

số 105/QĐ-UBCK ngày 26/02/2013 về việc ban hành kèm theo Quy chế hướng dẫnviệc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro cho CTCK và Quyết định số 428/QĐ-UBCK ngày 11/7/2013 về việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi rocho CTCK, CTQLQ Quyết định 247/QĐ-UBCK ngày 06/5/2013 về việc ban hành

sổ tay nghiệp vụ hướng dẫn quản lý, giám sát hoạt động của CTQLQ và quỹ

Trang 32

đầu tư chứng khoán Bên cạnh đó, năm 2014 UBCKNN đã hoàn thành và đưa vào

sử dụng các hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung về các đối tượng quản lý như: CTCK,CTQLQ và quỹ đầu tư, người hành nghề chứng khoán, NĐTNN… nhằm phục vụcho công tác quản lý giám sát của UBCKNN Các hệ thống này bước đầu hìnhthành cơ sở dữ liệu và được quản lý tập trung tại UBCKNN, được cập nhật thườngxuyên, đóng vai trò là cơ sở để lập nên các chính sách, quyết định của cơ quan quản

lý đối với hoạt động của TTCK và góp phần cải cách thủ tục hành chính

Về mở cửa thị trường theo cam kết WTO, cho phép hình thành TCKDCK100% vốn nước ngoài theo cam kết WTO nhằm tăng sức cạnh tranh trên TTCK Vềnội dung này, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 91/2013/TT-BTC Năm 2015

mở cửa cho các TCKDCK nước ngoài tham gia TTCK Việt Nam với tỷ lệ sở hữulên đến 100% theo đúng cam kết quốc tế Đối với các quỹ đầu tư chứng khoán,Ngày 06/10/2014 Bộ Tài Chính ban hành Thông tư 146/2014/TT-BTC hướng dẫnchế độ tài chính đối với các CTCK, CTQLQ, chi nhánh CTQLQ nước ngoài đượccấp giấy phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam

2.1.5 Tái cấu trúc Sở giao dịch chứng khoán và trung tâm lưu ký chứng khoán

Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 ban hành kèmtheo Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 đề ra mục tiêu tái cấu trúc thịtrường giao dịch theo hướng cả nước chỉ có một SGDCK và từng bước CPHSGDCK để đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động, thuận tiện trong nâng cao nănglực quản trị và thu hút vốn từ các thành viên thị trường Bên cạnh đó là quyết định

số 56/QĐ-UBCK ngày 31/01/2013 về việc ban hành quy chế chuyển quyền sở hữuchứng khoán của CTĐC đã đăng ký tại TTLKCK Việt Nam nhưng không niêm yết,đăng ký giao dịch trên SGDCK

Theo đó, Năm 2014 UBCKNN đã hoàn thiện Đề án hợp nhất 2 SGDCK theo ýkiến các bộ ngành và dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong năm 2015.Bên cạnh đó, ban hành lộ trình phát triển TTTP đến năm 2020; Thực hiện dự án nângcấp hệ thống giao dịch trực tuyến TPCP (e-BTS); Xây dựng công cụ tính toán BondIndex; Triển khai đề án kết nối hệ thống giao dịch TPCP với hệ thống của Bloomberg.Ngoài ra, xây dựng Đề án Trung tâm thanh toán bù trừ theo mô hình đối tác trung tâm;Hoàn thiện hệ thống và quy trình vay và cho vay chứng khoán phục vụ cho việc thanhtoán, bù trừ các sản phẩm phái sinh; Hoàn chỉnh các công việc liên quan đến mô hìnhcung cấp dịch vụ cho vay chứng khoán (SBL), sản phẩm phái sinh, ETF

Về đổi mới về cơ chế giao dịch, tạo thanh khoản cho TTCK Ngày 18/12/2015,

TTLKCK ban hành quy chế hoạt động bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoánmới Theo đó, ngày thanh toán giao dịch cổ phiếu, chứng chỉ quỹ là ngày làm việc thứ

2 sau ngày giao dịch (T+2) Ngày thanh toán giao dịch trái phiếu là

Trang 33

ngày làm việc liền kề sau ngày giao dịch (T+1) Ngày 1/1/2016, UBCKNN chínhthức triển khai rút ngắn chu kỳ thanh toán trong giao dịch chứng khoán từ T+3xuống T+2 và các biện pháp kỹ thuật khác nhằm thúc đẩy thanh khoản trên thịtrường thứ cấp, đã tạo dấu ấn tốt hơn cho TTCK Việt Nam trên trường quốc tế Việcbắt buộc tất cả các CTĐC hình thành trước ngày 1/1/2016 mà chưa niêm yết trênSGDCK phải thực hiện đăng ký giao dịch trên hệ thống UPCoM là một quy định rấtmới, sẽ giúp tăng lượng hàng hóa cho thị trường và hỗ trợ CPH.

Ngày 19/9/2014, Tổng Giám đốc TTLKCK đã ký Quyết định số 111/QĐ-VSD

về việc ban hành Quy chế tổ chức hoạt động vay và cho vay chứng khoán Hoạtđộng vay và cho vay chứng khoán quy định tại Quy chế này nhằm thực hiện: i) Hỗtrợ thanh toán giao dịch chứng khoán trong trường hợp thành viên lưu ký củaTTLKCK do sửa lỗi dẫn đến tạm thời thiếu hụt chứng khoán để thanh toán, hoặc; ii)

Hỗ trợ thành viên lập quỹ ETF có đủ chứng khoán để góp vốn và thực hiện giaodịch hoán đổi danh mục với quỹ ETF theo quy định Ngoài ra, việc xây dựng hệthống vay và cho vay chứng khoán (SBL) tập trung tại TTLKCK sẽ giúp cho cácthành viên thị trường dễ dàng tiếp cận thông tin và thực hiện các giao dịch vay, chovay chứng khoán một cách chính thống nhằm đảm bảo lợi ích, giảm chi phí cho cácbên tham gia, qua đó sẽ hạn chế hoạt động cho vay ngầm cũng như đáp ứng nhu cầuquản lý thị trường của cơ quan quản lý

Đối với hoạt động phát hành chứng khoán: Song song với việc soát xét, thẩm

định hồ sơ, Vụ Pháp chế đã kết hợp xem xét và tham mưu cho Lãnh đạo Ủy ban kịpthời chấn chỉnh công tác quản trị doanh nghiệp của tổ chức phát hành theo quy địnhtại Thông tư 204/2012/TT-BTC ngày 19/11/2012 của Bộ Tài chính về việc hướngdẫn hồ sơ, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng Thông tư số 193/2013/TT-BTC ngày 16/12/2013 hướng dẫn công tác giám sát tuân thủ của UBCKNN đối vớihoạt động trong lĩnh vực chứng khoán của SGDCK, TTLKCK Bên cạnh đó, năm

2013 thị trường đã có chế tài cho việc chậm đưa cổ phiếu đã chào bán công khai lênsàn tập trung với việc ban hành Nghị định số 108/2013/NĐ-CP ngày 23/9/2013 cóhiệu lực từ 15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứngkhoán và TTCK, trong đó bổ sung hành vi vi phạm cam kết đưa chứng khoán chàobán vào giao dịch trên thị trường có tổ chức trong thời hạn 01 năm kể từ ngày kếtthúc đợt chào bán Nhằm Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của cácCTCK: Thực hiện Quyết định số 189/QĐ-UBCK ngày 27/02/2015 của Chủ tịchUBCKNN về Chương trình hành động của UBCKNN, Chiến lược phát triển TTCKđến năm 2020, Đề án tái cấu trúc TTCK và doanh nghiệp bảo hiểm, Đề án quản lývốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, Đề án xây dựng và phát triển TTCKPS Việt Nam

đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và Đề án tái cấu trúc các CTCK đã được

Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của

Ngày đăng: 03/09/2020, 07:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w