1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của văn hóa an toàn người bệnh đến liên quan đến nhân viên chăm sóc tại Khoa Lâm sàng

143 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác động của văn hóa an toàn người bệnh đến hành vi an toàn và tần suất ước đoán xảy ra sự cố/sai sót thuốc, tế ngã liên quan đến nhân viên chăm sóc tại Khoa Lâm sàng Bệnh viện Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh được phân tích chi tiết về nội dung này.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

PHẠM THÚY TRINH

TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH ĐẾN HÀNH VI AN TOÀN VÀ TẦN SUẤT ƯỚC ĐOÁN XẢY RA SỰ CỐ/SAI SÓT THUỐC, TÉ NGÃ LIÊN QUAN ĐẾN NHÂN VIÊN CHĂM SÓC TẠI KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

PHẠM THÚY TRINH

TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH ĐẾN HÀNH VI AN TOÀN VÀ TẦN SUẤT ƯỚC ĐOÁN XẢY RA SỰ CỐ/SAI SÓT THUỐC, TÉ NGÃ LIÊN QUAN ĐẾN NHÂN VIÊN CHĂM SÓC TẠI KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Để thực hiện luận văn “Tác động của văn hóa an toàn người bệnh đến hành vi an toàn và tần suất ước đoán xảy ra sự cố/sai sót thuốc, té ngã liên quan đến nhân viên chăm sóc tại Khoa Lâm sàng bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM” tôi đã tự mình nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề, vận dụng các kiến thức đã học và trao đổi với giảng viên hướng dẫn, đồng nghiệp, bạn bè…

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này trung thực

TP.HCM, ngày 28 tháng 11 năm 2016

Người thực hiện luận văn

PHẠM THÚY TRINH

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1 1

TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1

1.1.Sự cần thiết 1

1.2.Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.4.Phương pháp nghiên cứu 5

1.5.Ý nghĩa của đề tài 6

1.6.Kết cấu của luận văn 7

CHƯƠNG 2 8

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8

2.1.Lý thuyết nền của nghiên cứu 8

2.1.1.Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA 8

2.1.2.Mô hình thuyết hành vi dự định TPB 9

2.2.Tổng quan các nghiên cứu liên quan 11

2.3.Lý thuyết về an toàn người bệnh và các sự cố y khoa không mong muốn 13

2.3.1.Giải thích các thuật ngữ liên quan 13

2.3.2.Phân loại sự cố y khoa 15

2.3.3.Các yếu tố liên quan đến sự cố y khoa 16

2.4.Tần suất sự cố y khoa 17

2.5.Hành vi an toàn người bệnh 20

2.6.Văn hóa an toàn người bệnh 21

Trang 5

2.7.Mối quan hệ giữa VHATNB, hành vi ATNB và tần suất xảy ra sự cố/sai sót

thuốc, té ngã 24

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 28

CHƯƠNG 3 .30

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1.Quy trình nghiên cứu 30

3.2.Thực hiện nghiên cứu 31

3.2.1.Nghiên cứu định tính 31

3.2.1.1.Ý kiến chuyên gia 31

3.2.1.2.Khảo sát thử và thảo luận nhóm 32

3.2.2.Nghiên cứu định lượng 32

3.2.2.1.Thang đo gốc 32

3.2.2.2.Điều chỉnh thang đo 34

3.2.2.3.Xây dựng thang đo 34

3.3.Mẫu nghiên cứu 38

3.4.Phương pháp thu thập dữ liệu 39

3.5.Phương pháp xử lý dữ liệu 40

3.5.1.Làm sạch dữ liệu 40

3.5.2.Kiểm định độ tin cậy của thang đo 41

3.5.3.Phân tích nhân tố khám phá 42

3.5.4.Phân tích tương quan – hồi quy 42

3.5.5.Kiểm định sự khác biệt theo các biến định tính 43

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 44

CHƯƠNG 4 .45

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45

4.1.Đặc điểm mẫu nghiên cứu 45

4.2.Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng phép kiểm Cronbach‟s Alpha 49

4.2.1Thang đo VHATNB 49

4.4.2.Thống kê mô tả báo cáo sự cố/sai sót thuốc, té ngã 63

Trang 6

4.4.3.Thống kê mô tả hành vi ATNB 64

4.4.4.Thống kê mô tả tần suất xảy ra sự cố/sai sót thuốc, té ngã 65

4.5.Phân tích kết quả hồi quy 66

4.6.Kiểm định sự khác biệt các biến định tính 76

4.6.1.Hành vi an toàn giữa nam và nữ 76

4.6.2.Hành vi an toàn giữa việc tham gia và không tham gia lớp tập huấn về ATNB 77

4.6.3.Sự khác biệt hành vi theo độ tuổi 77

4.6.4.Hành vi an toàn theo thời gian công tác tại bệnh viện 78

4.6.5.Hành vi an toàn theo thời gian công tác tại khoa 78

4.6.6.Hành vi an toàn theo trình độ 78

4.6.7.Hành vi an toàn theo khối 78

4.7.Kiểm định các giả thuyết hồi quy 79

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 80

CHƯƠNG 5 .82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 82

5.1.Kết luận 82

5.2.Kiến nghị chính sách 85

5.3.Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nội dung

AHRQ Agency for Healthcare Research and Quality

HSOPSC Hospital Survey on Patient Safety Culture

IOM Institute of Medicine

NCC MERP The National Coordinating Council for Medication Errors

Reporting and Prevention

VHATNB Văn hóa an toàn người bệnh

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Một số khảo sát về tần suất xảy ra các sự cố liên quan đến thuốc 19

Bảng 3.1 Thang đo biến số 34

Bảng 4.1 Đặc tính dân số 45

Bảng 4.2 Số giờ trung bình làm việc mỗi tuần và số người bệnh chăm sóc 46

Bảng 4.3 Đánh giá độ tin cậy của 12 nội dung VHATNB 49

Bảng 4.4 Đánh giá độ tin cậy của thang đo hành vi ATNB 50

Bảng 4.5 Đánh giá tính hội tụ của bộ câu hỏi HSOPSC 51

Bảng 4.6 Kết quả phân tích nhân tố khám phá của thang đo VHATNB 53

Bảng 4.7 Kết quả phân tích nhân tố khám phá của thang đo VHATNB đã hiệu chỉnh 54

Bảng 4.8 Tóm tắt cơ cấu thang đo VHATNB mới 55

Bảng 4.9 Thống kê mô tả 12 nội dung VHATNB 58

Bảng 4.10 Tỉ lệ cá nhân thực hiện báo cáo sự cố/sai sót thuốc, té ngã 63

Bảng 4.11 Điểm trung bình hành vi ATNB 64

Bảng 4.12 Tần suất xảy ra sai sót/sự cố thuốc, té ngã liên quan đến cá nhân theo ước đoán 65

Bảng 4.13 Tác động của 5 nhân tố VHATNB đến hành vi ATNB 67

Bảng 4.14 Tác động biên của VHATNB, đặc điểm dân số học đến tần suất xảy ra sự cố/sai sót thuốc, té ngã 71

Bảng 4.15 Tác động biên của hành vi an toàn, đặc điểm dân số học đến tần suất xảy ra sự cố/sai sót thuốc, té ngã 74

Bảng 4.16 Hệ số phóng đại phương sai biến VHATNB 79

Trang 9

DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ

Hình 2.1 Mô hình TRA 9

Hình 2.2 Mô hình TPB 10

Hình 2.3 Khung phân tích mối quan hệ giữa văn hóa an toàn người bệnh và khả năng xảy ra sự cố/sai sót thuốc, té ngã ban đầu 27

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 30

Biểu đồ 4.1 Thời gian công tác tại bệnh viện và khoa hiện tại 47

Biểu đồ 4.2 Nhân viên phân độ an toàn người bệnh 48

Sơ đồ 4.1 Sơ đồ phân tích song song (Parallel Analysis) 52

Biểu đồ 4.3 Tỉ lệ đáp ứng tích cực VHATNB tại bệnh viện ĐHYD và AHRQ 61

Hình 4.1 Khung phân tích mối quan hệ giữa văn hóa an toàn người bệnh và khả năng xảy ra sự cố/sai sót thuốc, té ngã sau hiệu chỉnh 66

Trang 10

TÓM TẮT

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khám phá mối quan hệ giữa VHATNB

và khả năng xảy ra sự cố/sai sót thuốc, té ngã theo ước đoán tại bệnh viện Đại học

Y dược TP.HCM Nghiên cứu được thực hiện dựa trên nghiên cứu của Wang và cộng sự (2014) và sử dụng bộ công cụ khảo sát HSOPSC của tổ chức AHRQ (2008) đồng thời tham khảo ý kiến của chuyên gia thuộc Phòng Quản lý chất lượng bệnh viện Đại học Y dược hoàn thiện mô hình nghiên cứu Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm điều chỉnh, bổ sung biến quan sát cho các thang đo Trong nghiên cứu định lượng tác giả dùng phần mềm SPSS 13 để phân tích hệ số tin cậy Cronbach‟s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan và hồi quy với số lượng mẫu khaỏ sát 200 nhân viên chăm sóc đang làm việc tại các khoa lâm sàng bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM

Kết quả nghiên cứu cho thấy, thang đo HSOPSC bao gồm 12 thành phần với

42 biến, bao gồm: (1) Làm việc theo ê kíp trong cùng một Khoa, (2) Quan điểm và hành động về an toàn người bệnh của người quản lý, (3) Tính cải tiến liên tục và học tập một cách hệ thống, (4) Hỗ trợ về quản lý cho an toàn người bệnh, (5) Quan điểm tổng quát về an toàn người bệnh, (6) Phản hồi và trao đổi về sai sót/sự cố, (7) Trao đổi cởi mở, (8) Tần suất ghi nhận sai sót/sự cố, (9) Làm việc theo ê kíp giữa các Khoa, (10) Nhân sự, (11) Bàn giao và chuyển bệnh, và cuối cùng là (12) Không trừng phạt khi có sai sót/sự cố và thang đo hành vi an toàn của nhân viên chăm sóc Kết quả cho thấy 12 thành phần đã phân tách và cộng gọp thành 5 thành phần chính tác động lên hành vi an toàn của nhân viên chăm sóc, từ đó ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến khả năng xả ra sự cố/sai sót thuốc, té ngã liên quan đến mỗi cá nhân

Về ý nghĩa thưc tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học khách quan giúp cho các nhà lãnh đạo trong các bệnh viện hiểu rõ hơn về nhân viên đồng thời đưa ra các giải pháp thúc đẩy nhân viên thực hiện hành vi an toàn và tiếp tục duy trì và phát huy vai trò của VHATNB

Trang 11

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

1.1 Sự cần thiết

Các sự cố y khoa không chỉ đơn thuần do lỗi của nhân viên y tế gây ra mà còn

do nhiều nguyên nhân khác Ở các quốc gia phát triển, nơi điều trị thành công và kết quả điều trị cho mỗi người bệnh tùy thuộc vào nhiều yếu tố chứ không chỉ vào năng lực của nhân viên y tế Khi có quá nhiều loại hình nhân viên y tế khác nhau tham gia, rất khó đảm bảo chăm sóc an toàn cho người bệnh trừ khi hệ thống chăm sóc sức khỏe được thiết kế để tạo điều kiện cho thông tin kịp thời, đầy đủ và hiểu biết của mọi cán bộ y tế Trong khi ở các nước đang phát triển, sự kết hợp của vô số yếu

tố không thuận lợi, như tình trạng quá tải bệnh viện, thiếu nhân viên, rào cản thông tin giữa người bệnh với nhân viên y tế và nhà quản lý, môi trường làm việc thiếu tập trung, trang thiết bị y tế không đồng bộ, mức độ an toàn của các phương pháp chẩn đoán…góp phần không đảm bảo an toàn cho chăm sóc người bệnh Điều này đi ngược lại với những vai trò và nhiệm vụ của các tổ chức chăm sóc sức khỏe xem vấn đề an toàn người bệnh là mục tiêu trên hết và trách nhiệm của các tổ chức này phải giúp cho mọi người có được sức khỏe hoặc trở về với sự khỏe mạnh

An toàn người bệnh (ATNB) được xem như trái tim của chất lương chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế (Najjar et al., 2015) Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại những

sự cố y khoa không mong muốn tại các cơ sở y tế gây những hậu quả nặng nề như làm tăng gánh nặng bệnh tật, tăng chí phí điều trị, tăng ngày nằm viện trung bình và nghiêm trọng hơn nữa là để lại những nỗi đau về mặt tình thần vì những mất mát do

sự cố y khoa không mong muốn gây ra Chính những hậu quả này sẽ mang đến hệ lụy không tốt đến uy tín, niềm tin đối với cán bộ y tế và cơ sở cung cấp dịch vụ Tại các bệnh viện Mỹ, hàng năm có khoảng 44.000 – 98.000 người tử vong do các sự cố y khoa không mong muốn, tỉ lệ này cao hơn tử vong do tai nạn giao thông (43.458), ung thư vú (42.297), HIV/AIDS (16.516) Chính vì điều này mà các

Trang 12

chuyên gia y tế Mỹ đã nhận định “Chăm sóc y tế tại Mỹ không an toàn như người dân mong đợi và như hệ thống y tế có thể” (Kohn LT, 1999)

Năm 2010, Shreve và cộng sự báo cáo số liệu tại Mỹ có 6,3 triệu người bệnh tổn thương do dịch vụ chăm sóc y tế, tổng chi phí ước đoán cho những sai sót y khoa này là 19.571 triệu đô la Tình trạng này cũng không mấy khả quan hơn Mỹ tại các quốc gia phát triển như Canada, Anh Tần suất sự cố y khoa được ước đoán tại hai quốc gia này lần lượt là 7,5% (Baker et al., 2004) và 11, 7% (Vincent et al., 2001) Cũng trong thời gian này, tỉ lệ sự cố y khoa được ước đoán tại Jordan là 28%, hầu hết những sự cố này là sự cố liên quan đến thuốc, chẩn đoán sai người bệnh, té ngã, nhiễm trùng do chăm sóc y tế, loét tì đè (Hayajneh et al., 2010)

Năm 2011, một báo cáo của WHO cho thấy các sự cố y khoa không mong muốn tại Utah-Colorado (Mỹ) làm tăng chi phí bình quân cho việc giải quyết một sự cố là 2262US$/người bệnh và tăng 1,9 ngày điều trị/người bệnh Đồng thời WHO cũng báo cáo một nghiên cứu của viện Y học Mỹ cho thấy chi phí tăng 2595$ và thời gian nằm viện tăng 2,2 ngày/người bệnh

Theo thống kê của Famolaro vào năm 2012 Mỹ phải tổn thất 19,5 tỷ USD/năm

và Châu Âu từ 13 đến 24 tỷ Euro/năm trong khi ở Anh người bệnh phải nằm viện dài ngày hơn và tăng phí tổn điều trị lên đến 800 ngàn bảng Anh hàng năm Tổ chức

Y tế thế giới cũng dự báo chắc chắn rằng chúng ta-những nước đang phát triển không tránh khỏi những con số biết nói nêu trên, thậm chí là có thể tỉ lệ này cao hơn hẳn Đây là vấn đề toàn cầu đối với tất cả các cơ sở y tế đều đang liên tục xây dựng nhiều giải pháp để hạn chế tối đa các sự cố y khoa mang lại sự an toàn cho người bệnh trong suốt thời gian lưu trú tại bệnh viện

Tại Việt Nam chưa có một thống kê mô tả cụ thể về sự cố trong y khoa Sự cố

và tai biến luôn thường trực xảy ra mọi lúc, mọi nơi, mọi tình huống, trên mọi thiết

bị, trong mọi quy trình, ở mỗi cá nhân, mỗi cơ sở khám chữa bệnh, có phạm vi quốc gia và quốc tế Nghề y là một nghề đặc biệt, chịu sức ép nặng nề của dư luận xã hội Thái độ hành vi không đúng của người bệnh và người nhà khi không thỏa mãn yêu cầu của họ trong khi điều kiện để đáp ứng không có, người thầy thuốc không thể

Trang 13

thực hiện được Mặc dù người bệnh rất khó chấp nhận những sự cố và sự cố xảy ra tại các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, song sự cố rủi ro trong y khoa là không thể loại

bỏ hoàn toàn

Như vậy, cải thiện ATNB luôn được ưu tiên hàng đầu cho những nhà xây dựng chính sách và nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe (Classen, David C., et al, 2011) và văn hóa an toàn được xem là một nét văn hóa tổ chức Văn hóa an toàn tích cực hướng dẫn hành vi thực tế của các chuyên gia chăm sóc sức khỏe hướng đến an toàn người bệnh như là một ưu tiên hàng đầu (Smits, Marleen, et al, 2011),

và được hình thành từ hành vi, năng lực, nhận thức, thái độ, giá trị của cá nhân và nhóm quyết định sự cam kết, định hình phong cách và trình độ quản lý tổ chức y tế (Mardon, Russell E., et al., 2010) Tổ chức nào có nền văn hóa an toàn thì ở đó thông tin liên lạc được xây dựng trên sự tin tưởng, mọi người nhận thức về tầm quan trọng của an toàn, độ tin cậy và tính hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa (Sorra và Nieva, 2004)

Hiện nay nhiều nước trên thế giới như Bỉ, Nhật, Đài Loan đã sử dụng phương pháp và bộ công cụ của AHRQ phát hành miễn phí và sử dụng cơ sở dữ liệu so sánh của AHRQ cho thấy sự quan tâm này càng lớn của các cơ quan chăm sóc sức khỏe

về lãnh vực VHATNB Tại Thành Phố Hồ Chí Minh, Sở y tế cũng đã có những số liệu khảo sát về VHATNB nhưng hiện chưa có một đề tài nào phân tích sự tác động của VHATNB đến hành vi an toàn và tần suất ước đoán xảy ra sự cố y khoa đặc biệt

là các sự cố/sai sót liên quan đến thuốc, té ngã Trên cơ sở đó, tác giả muốn tiến hành một khảo sát tìm hiểu sự liên hệ giữa các nội dung trên tại bệnh viện Đại học

Y dược để từ đó đề xuất thêm những chính sách an toàn nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận văn là tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa an toàn người bệnh và tần suất xảy ra các sự cố y khoa liên quan đến thuốc và té ngã Việc hiểu rõ hơn mối quan hệ này sẽ giúp các cơ sở y tế xây dựng các chính sách an toàn

Trang 14

phù hợp đặc biệt là để nhân viên y tế hiểu rõ hơn sứ mệnh của từng cá thể trong tổ chức trong việc xây dựng và duy trì tiêu chí an toàn người bệnh nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị

Để thực hiện được mục tiêu tổng quát trên, các mục tiêu cụ thể được đặt ra như sau:

 Tìm hiểu sự đánh giá của đối tượng được khảo sát về văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện Đại học y dược

 Xác định mức độ tác động của các yếu tố thuộc văn hóa an toàn người bệnh đến hành vi an toàn của nhân viên

 Xác định tác động của VHATNB đến tần suất xảy ra các sự cố/sai sót thuốc, té ngã liên quan đến mỗi cá nhân theo ước đoán

 Xác định tác động của hành vi an toàn đến tần suất xảy ra các sự cố/sai sót thuốc, té ngã liên quan đến mỗi cá nhân theo ước đoán

 Xác định tác động của đặc điểm dân số học đến tần suất xảy ra các sự cố/sai sót thuốc, té ngã liên quan đến mỗi cá nhân theo ước đoán

 Kiểm định sự khác nhau giữa các biến giới tính, độ tuổi, thời gian công tác tại bệnh viện, thời gian công tác tại khoa, trình độ học vấn, tham gia tập huấn ATNB

 Gợi ý những chính sách, kiến nghị giúp tỉ lệ xảy ra các sự cố/sai sót thuốc, té ngã ở mức thấp nhất

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là thực trạng VHATNB, mối quan hệ giữa VHATNB và hành vi ATNB của nhân viên chăm sóc tại khoa lâm sàng, tác động của VHATNB, hành vi ATNB, số giờ làm việc trung bình/tuần, số người bệnh trung bình được chăm sóc/nhân viên/ngày đến khả năng xảy ra sự cố/sai sót thuốc, té ngã theo ước đoán

Trang 15

Đối tượng và phạm vi khảo sát là nhân viên y tế đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc

NB đang công tác tại các khoa lâm sàng bệnh viện Đại học Y dược Thành Phố Hồ Chí Minh

Tiêu chuẩn chọn mẫu: chọn tất cả nhân viên y tế đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc

NB đang công tác tại các khoa lâm sàng bệnh viện Đại học Y dược Thành Phố Hồ Chí Minh, nhân viên cơ hữu làm việc tại bệnh viện, đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ: ký hợp đồng làm việc dưới 6 tháng, chưa ký hợp động làm việc, không đồng ý tham gia nghiên cứu

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, tác giả phối hợp nhiều phương pháp trong quá trình thực hiện bao gồm định tính và định lượng trong đó nghiên cứu định lượng là chủ yếu

Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng cách sử dụng bộ câu hỏi HSOPSC của AHRQ Tác giả được sự hỗ trợ của Phòng Quản lý chất lượng bệnh viện trong việc đánh giá các yếu tố trong nội dung bộ câu hỏi HSOPSC có phù hợp với thực tiễn Việt Nam đồng thời phiên dịch bộ câu hỏi HSOPSC từ phiên bản tiếng anh sang tiếng việt

Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng cách thu thập dữ liệu, ý kiến phản hồi của nhân viên về VHATNB tại bệnh viện Sau khi thu thập và xử lý số liệu bằng phần mềm Stata 13, tác giả áp dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích đặc điểm mẫu khảo sát đồng thời cũng xác định tổng quan văn hóa an toàn người bệnh theo cách đánh giá của nhân viên chăm sóc thuộc các khoa lâm sàng

Phương pháp thu thập thông tin sử dụng trong nghiên cứu này là sử dụng bộ câu hỏi đã được soạn từ bộ câu hỏi của tổ chức AHRQ Câu trả lời từ bảng câu hỏi sẽ được sử dụng để làm công cụ thu thập thông tin, dữ liệu cần thiết phục vụ cho phân tích định lượng nói trên Bảng câu hỏi trên giấy gởi đến người khảo sát Nghiên cứu

sử dụng thống kê mô tả phân tích kết quả thu thập được từ mẫu Hệ số Cronbach‟s

Trang 16

Alpha được dùng để lựa chọn và củng cố thành phần của thang đo, phân tích nhân

tố EFA được dùng để xác định các nhân tố ẩn chứa đằng sau các biến số được quan sát Phân tích hồi quy tuyến tính được sử dụng để xác định các nhân tố thực sự có ảnh hưởng đến hành vi ATNB cũng như hệ số của các nhân tố này trong phương trình hồi quy tuyến tính Bên cạnh đó, tác giả sử dụng hồi quy Logistic và Ordered Probit để phân khả năng xảy ra sự cố/sai sót thuốc, té ngã theo ước đoán từ hành vi ATNB, VHATNB, số người bệnh trung bình được chăm sóc/nhân viên/ngày, số giờ làm việc trung bình/tuần Cuối cùng so sánh trung bình của các tổng thể con chia theo đặc điểm khác nhau của tổng thể cho phép suy luận sự giống và khác nhau giữa các tập tổng thể con được quan tâm

1.5 Ý nghĩa của đề tài

Thứ nhất, kết quả nghiên cứu sẽ cho người đọc có được cái nhìn tổng quát về thực trạng VHATNB trong khối nhân viên chăm sóc thuộc các khoa lâm sàng đặc biệt là hành vi báo cáo sự cố/sai sót và tần suất báo cáo Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sẽ so sánh sự khác biệt hành vi ATNB được phân chia theo giới tính, độ tuổi, thời gian công tác tại bệnh viện, thời gian công tác tại khoa, trình độ học vấn, tham gia tập huấn ATNB

Thứ hai, nghiên cứu giúp nhận ra sự ảnh hưởng của những nội dung nào trong VHATNB đến hành vi ATNB, khả năng xảy ra sự cố/sai sót thuốc, té ngã Đây là hai sự cố/sai sót trong bảy sự cố/sai sót y khoa không mong muốn xảy ra thường xuyên trong bệnh viện và rất nhạy cảm đối với công tác chăm sóc người bệnh: sự cố/sai sót thuốc, loét tì đè, té ngã, không vận động thể chất hơn 08 giờ, nhiễm trùng vết mổ, phản ứng khi truyền dịch hoặc truyền máu, và than phiền của người bệnh và người nhà (Aiken et al., 2001; Flynn et al., 2002; Yang et al., 2010)

Thứ ba, tại Việt Nam hiện chưa có khảo sát tìm sự tác động của VHATNB, hành

vi ATNB đến khả năng xảy ra sự cố/thuốc, té ngã Kết quả nghiên cứu có thể làm

cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn về tác động thực tiễn Từ đó ban lãnh đạo các bệnh viện sẽ xây dựng các chiến lược VHATNB mới vượt bậc hơn, toàn diện hơn

Trang 17

nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tỉ lệ sự cố/sai sót thuốc, té ngã ở mức thấp nhất và gần như bằng không để nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của bệnh viện xứng tầm với các bệnh viện trong khu vực

1.6 Kết cấu của luận văn

Tác giả thực hiện đề tài khảo sát bao gồm 5 chương

Chương 1: Tổng quan về để tài

Chương 2: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và kiến nghị chính sách

Trang 18

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Lý thuyết nền của nghiên cứu

2.1.1 Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA

Theo Fishbein (1967), mô hình thuyết hành động hợp lý TRA là mô hình giải thích mối quan hệ giữa ba nhân tố ý định, thái độ và hành vi Fishbein đã phân biệt giữa thái độ đối với một hành động và thái độ đối với hành vi liên quan đến hành động đó, và đã chứng minh được rằng thái độ đối với hành vi là một yếu tố dự đoán hành vi tốt hơn nhiều so với thái độ đối với hành động đó (Fishbein va Ajzen, 1975)

Ý định về hành vi được xem là yếu tố quyết định quan trọng nhất trong mô hình TRA, phần tiếp nối giữa hai nhân tố “thái độ” và “hành vi”, bị tác động trực tiếp bởi hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan Thái độ được định nghĩa là niềm tin cá nhân đối với những tác động hoặc thuộc tính của một sự việc hoặc thực hiện một hành động nào đó, được đo lường bằng cách đánh giá những tác động hoặc thuộc tính đó Một cá nhân có niềm tin tích cực về những tác động hoặc thuộc tính sẽ có thái độ tích cực đối với hành vi, ngược lại, một cá nhân với một niềm tin tiêu cực sẽ

có thái độ tiêu cực; Chuẩn chủ quan được định nghĩa như là niềm tin của một cá nhân vào những quy định, tiêu chuẩn được đặt ra Trên cơ sở niềm tin đó, các cá nhân đồng ý hay phản đối thực hiện hành vi Yếu tố này được đo lường bằng động

cơ thúc đẩy cá nhân thực hiện theo những quy chuẩn đó Một cá nhân được tạo động cơ thực hiện và đáp ứng những mong đợi của những quy chuẩn sẽ thể hiện chuẩn chủ quan tích cực, ngược lại cá nhân đó sẽ thể hiện chuẩn chủ quan tiêu cực khi những quy chuẩn trên cho rằng cá nhân đó không nên thực hiện hành vi, và những cá nhân sẽ thể hiện chuẩn chủ quan trung lập khi ít được tạo đông cơ tuân theo những quy chuẩn

Trang 19

Hình 2.1 Mô hình TRA

Nguồn tác giả

2.1.2 Mô hình thuyết hành vi dự định TPB

Nhược điểm của thuyết hành động hợp lý TRA là không thể giải thích các hành

vi ngoài sự chi phối của ý chí Vì vậy, Ajzen (1991) đã bổ sung vào mô hình TRA yếu tố “kiểm soát hành vi cảm nhận” dựa vào ý tưởng xác định cùng lúc cả hai yếu

tố động cơ (ý định) và khả năng (kiểm soát hành vi) để giải thích cho những yếu tố ngoài sự kiểm soát của cá nhân nhưng cũng tác động đến ý định và hành vi Mô hình này được gọi là mô hình thuyết hành vi dự định TPB Yếu tố kiểm soát nhận thức được xác định bởi yếu tố niềm tin kiểm soát liên quan đến sự xuất hiện hay vắng mặt của những điều kiện thuận lợi và rào cản đối với việc thực hiện hành vi, được đo lường bằng sức mạnh nhận thức hoặc tác động của từng yếu tố kiểm soát

hỗ trợ hoặc cản trở hành vi Yếu tố kiểm soát nhận thức là một yếu tố quyết định độc lập đối với ý định hành vi, và thái độ là yếu tố quyết định độc lập đối với hành

vi và chuẩn chủ quan Khi hai biến thái độ và chuẩn chủ quan không đổi, việc nhận thức của cá nhân sự dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi sẽ ảnh hưởng đến ý định hành vi Trọng số tương đối của ba yếu tố thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát nhận thức trong việc xác định ý định nên thay đổi cho nhiều hành vi và dân số khác nhau Theo Ajzen (2002), một số nghiên cứu đã đo lường yếu tố kiểm soát nhận thức bằng cách đo lường niềm tin kiểm soát và sức mạnh của nhận thức, khác với hầu hết những nghiên cứu khác đo lường trực tiếp yếu tố “kiểm soát nhận thức”

Mô hình giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó Các xu hướng hành vi được giả sử bao gồm

Trang 20

các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi, và được định nghĩa như là mức độ

nổ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó

Thái độ đối với hành vi được định nghĩa như là sự đánh giá toàn diện về hành vi của bản thân, có nghĩa là mức độ thực hiện hành vi có giá trị tiêu cực hoặc tích cực Thái độ được xác định bằng niềm tin vào hành vi với những kết quả và đặc tính khác nhau sẽ có hành vi khác nhau Chuẩn chủ quan là nhận thức của cá nhân về hành vi đặc biệt bị ảnh hưởng bởi sự phán đoán của những người quan trọng Thành phần kiểm soát hành vi nhận thức phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi Ajzen đề nghị rằng nhân tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi, và nếu cá nhân cảm nhận chính xác về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi

Hình 2.2 Mô hình TPB

Nguồn vi-du-dinh-theory-of-planned-behavior-tpb.html

http://luanvanaz.com/thuyet-hanh-Mô hình TPB có một số hạn chế trong việc dự đoán hành vi (Werner, 2004) Các hạn chế đầu tiên là yếu tố quyết định ý định không giới hạn thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi cảm nhận (Ajzen, 1991) Có thể có các yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi Dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu cho thấy rằng chỉ có 40% sự

Trang 21

biến động của hành vi có thể được giải thích bằng cách sử dụng TPB (Ajzen, 1991; Werner, 2004) Hạn chế thứ hai là có thể có một khoảng cách đáng kể thời gian giữa các đánh giá về ý định hành vi và hành vi thực tế được đánh giá (Werner, 2004) Trong khoảng thời gian, các ý định của một cá nhân có thể thay đổi Hạn chế thứ ba

là TPB là mô hình tiên đoán rằng dự đoán hành động của một cá nhân dựa trên các tiêu chí nhất định Tuy nhiên, cá nhân không luôn luôn hành xử như dự đoán bởi những tiêu chí (Werner, 2004)

Lý thuyết về hành động hợp lý thể hiện sự phối hợp các thành phần của thái độ trong một cấu trúc được thiết kế để dự đoán và giải thích tốt hơn về hành vi của nhân viên y tế dựa trên hai khái niệm: thái độ của nhân viên y tế đối với việc thực hiện nội dung an toàn người bệnh và các chuẩn chủ quan của đối tượng khảo sát

Mô hình này bị giới hạn khi dự báo sự thực hiện các hành vi mà con người không kiểm soát được Trong trường hợp này, các yếu tố về thái độ đối với hành vi thực hiện và các chuẩn mực chủ quan của người đó không đủ giải thích hành động của

họ Ajzen đã hoàn thiện mô hình bằng cách đưa thêm yếu tố sự kiểm soát hành vi nhận thức vào mô hình Trong tâm lý học, thuyết hành vi dự định là một lý thuyết liên kết giữa niềm tin và hành vi Ajzen đã đề xuất khái niệm này để cải thiện sức mạnh tiên đoán của mô hình thuyết hành động hợp lý bao gồm kiểm soát hành vi nhận thức Đây là thuyết giải thích hành vi con người Nó được áp dụng trong các nghiên cứu về mối quan hệ giữa niềm tin, thái độ, hành vi ý định, và hành vi trong nhiều lĩnh vực như quảng cáo, quan hệ công chúng, chiến dịch quảng cáo và chăm sóc sức khỏe Lý thuyết hành vi dự định cho rằng thái độ hướng về hành vi, chuẩn chủ quan, và kiểm soát hành vi nhận thức, tất cả những điều này tác động đến cá nhân định hình nên ý định thực hiện hành vi Ý định được mô tả là mức độ động lực

và sẵn lòng của mỗi cá nhân thực hiện hành vi cụ thể như mong muốn

2.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan

Mô hình thuyết hành vi dự định được áp dụng trong các nghiên cứu về mối quan

hệ giữa niềm tin, thái độ, hành vi ý định, và hành vi trong nhiều lĩnh vực như quảng

Trang 22

cáo, quan hệ công chúng, chiến dịch quảng cáo và chăm sóc sức khỏe Javadi, Marzieh, et al (2013) đã ứng dụng mô hình TPB trong việc thực hiện khảo sát 124 điều dưỡng có kinh nghiệm làm việc từ 02 năm trở lên đang làm việc tại các bệnh viện Isfahan (4 bệnh viện công, 4 bệnh viện tư) Kết quả cho thấy niềm tin vào chuẩn chủ quan có sự ảnh hưởng nhiều nhất đến ý định của điều dưỡng hướng đến việc thực hiện hành vi an toàn người bệnh Tại Seoul, Nam Hàn, một khảo sát tương

tự với sự tham gia của 111 điều dưỡng tại các bệnh viện của trường đại học cho thấy điểm trung bình của hành vi an toàn người bệnh là 4,21 + 0,63 (thang đo 5 điểm), những biến số của mô hình TPB giải thích được 49,9% sự thay đổi trong hành vi an toàn người bệnh Ngoài ra, khảo sát còn cho thấy ý định và chuẩn chủ quan là là những yếu tố dự đoán hành vi an toàn người bệnh của điều dưỡng có ý nghĩa thống kê nhất, và thái độ cũng giữ vai trò quyết định hành vi an toàn người bệnh của điều dưỡng (Park, Sunhee, và Taewha Lee, 2013) Đến năm 2015, Gagnon

và cộng sự cũng áp dụng mô hình TPB để phân tích hành vi của điều dưỡng trong thực hành lâm sàng phòng ngừa Kết quả, mô hình này đã giải thích được 50,3% sự khác biệt ý định của điều dưỡng trong việc sử dụng kim tiêm có chức năng lọc khi chuẩn bị thuốc chứa trong ống thủy tinh Như vậy, mô hình TPB được áp dụng thành công để hiểu được những hành vi chuyên nghiệp trong chăm sóc sức khỏe và những ý định trong những bối cảnh khác nhau (Godin và cộng sự, 2008)

Văn hóa an toàn người bệnh đã được khảo sát ở nhiều quốc gia và Việt Nam được công nhận là quốc gia thứ 61 khảo sát về văn hóa an toàn người bệnh – một chủ đề được AHRQ xem là chủ đề ưu tiên khi xây dựng chính sách y tế chất lượng

và hiệu quả Một cuộc khảo sát được thực hiện tại 7 bệnh viện ở quận của Quảng Châu, Trung Quốc, kết quả cho thấy có 23,6% đến 89,7% trả lời tích cực đối với 12 nội dung HSOPSC, có khoảng 47,8% đến 75,6% điều dưỡng ước tính sự cố y khoa

đã xảy ra vào năm trước đó, đặc biệt yếu tố tần suất báo cáo sự cố có tác động đến

sự xuất hiện của những sự cố có liên quan đến thuốc (OR = 0,699) Như vậy, việc cải thiện văn hóa an toàn người bệnh có quan hệ mật thiết đến việc giảm xảy ra các

sự cố y khoa (Wang, 2013) Tiếp đến, một điều tra được thực hiện tại những bệnh

Trang 23

viện Palestine cho thấy tỉ lệ xảy ra sự cố y khoa kết hợp với văn hóa an toàn người bệnh từ 38% (Khoa Phẫu thuật) đến 56% (Khoa Sản) Kết quả điều tra cũng khẳng định rằng nhận thức của nhân viên về an toàn người bệnh có liên quan đến tỉ lệ an toàn và những yếu tố “giao tiếp, làm việc theo đội” có mối liên hệ chặt chẽ đến tỉ lệ xảy ra các sự cố y khoa trong khi yếu tố “ nhân sự, tần suất báo cáo sự cố” có mối tương quan ít hơn đến tỉ lệ xảy ra các sự cố y khoa

Một khảo sát được thực hiện với sự tham gia của 233 điều dưỡng tại hai bệnh viện Thụy Sĩ, kết quả cho thấy sự ước đoán của điều dưỡng và báo cáo sự cố té ngã tương quan có ý nghĩa thống kê, bao gồm cả té ngã có chấn thương (r = 0,685; p = 0,014) và té ngã không chấn thương (r = 0,630, p = 0,028) (Cina-Tschumi et al, 2009)

2.3 Lý thuyết về an toàn người bệnh và các sự cố y khoa không mong muốn 2.3.1 Giải thích các thuật ngữ liên quan

Theo Emanuel và cộng sự (2008), “An toàn người bệnh được định nghĩa như là môn học trong ngành y tế, áp dụng các phương pháp của khoa học an toàn nhằm hướng tới mục tiêu đạt được một hệ thống cung ứng chăm sóc sức khỏe đáng tin cậy An toàn người bệnh cũng là một thuộc tính của các hệ thống y tế; nó giúp giảm thiểu tần suất và tác động của biến cố bất lợi, tăng tối đa khả năng hồi phục sau biến

cố bất lợi” Tác giả cũng đưa ra một mô hình an toàn người bệnh đơn giản Mô hình này chia hệ thống y tế thành bốn lĩnh vực chính: (1) những người làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe; (2) những người được chăm sóc sức khỏe hoặc có quyền lợi từ sự hiện diện của hệ thống y tế; (3) cơ sở hạ tầng của các hệ thống can thiệp điều trị; (4) phương pháp để nhận phản hồi và cải thiện thường xuyên

Theo Reason (1990), “Một sai sót (error) được định nghĩa là một hành động được lên kế hoạch trước không diễn ra như dự định (nghĩa là sai sót trong khâu thực hiện) hoặc việc sử dụng một kế hoạch sai lầm với mong muốn đạt được mục tiêu nào đó (nghĩa là sai sót trong khâu lên kế hoạch)”

Trang 24

Theo WHO (2011), sự cố không mong muốn là tác hại liên quan đến quản lý y tế (khác với biến chứng do bệnh) bao gồm các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, chăm sóc,

sử dụng trang thiết bị y tế để cung cấp dịch vụ y tế Sự cố y khoa có thể phòng ngừa

và không thể phòng ngừa Một cách định nghĩa khác theo Bộ sức khỏe và dịch vụ con người của Mỹ, sự cố không mong muốn gây hại cho người bệnh do hậu quả của chăm sóc y tế hoặc trong y tế Để đo lường sự cố y khoa các nhà nghiên cứu y học của Mỹ dựa vào 3 nhóm tiêu chí (1) Các sự cố thuộc danh sách các sự cố nghiêm trọng; (2) Các tình trạng/vấn đề sức khỏe người bệnh mắc phải trong bệnh viện; (3)

Sự cố dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng cho người bệnh bao gồm: kéo dài ngày điều trị, để lại tổn thương vĩnh viễn, phải can thiệp cấp cứu và chết người

Theo NCC MERP, “những sai sót liên quan đến thuốc là những sự cố có thể phòng ngừa được mà có thể gây ra hoặc dẫn đến việc sử dụng thuốc không phù hợp, hoặc gây tổn hại người bệnh trong khi thuốc được sự kiểm soát của nhân viên y tế, người bệnh, người thân Những sự cố này có thể liên quan đến hành nghề, những sản phẩm chăm sóc sức khỏe, quy trình, hệ thống bao gồm cả việc kê đơn, giao nhận, ghi nhãn sản phẩm, bao bì, danh pháp, phân phát, phân phối, quản lý, hướng dẫn, giám sát và sử dụng" Những sự cố/sai sót thuốc được phân thành nhiều loại như sự đào thải thuốc, thực hiện thuốc không đúng thời gian, sai liều thuốc, thực hiện 2 liều thuốc cùng một thời điểm, thuốc của người bệnh này phát cho người bệnh khác, sai tốc độ truyền (Cheragi et al, 2014)

Té ngã và những chấn thương liên quan có nhiều định nghĩa khác nhau Té ngã được thúc đẩy bởi những yếu tố bên trong hoặc bên ngoài Những yếu tố bên trong thường có nguồn gốc từ sinh lý, yếu tố bên ngoài thường liên quan đến môi trường

và những yếu tố nguy hiểm Phân biệt được hai yếu tố này có thể giúp cho nhân viên y tế có thể xác định những chiến lược phòng ngừa té ngã phù hợp Theo Tinetti, Speechley, và Ginter (1988), té ngã của những người bệnh có tuổi (không điều trị nội trú) là sự cố mà người bệnh ngã xuống sàn đất hoặc mức thấp hơn một cách vô ý, không xuất phát từ một yếu tố bên trong (ví dụ là đột quỵ) hoặc yếu tố quá nguy hiểm Một định nghĩa khác liên quan đến yếu tố sinh lý bệnh, té ngã do

Trang 25

ngất xỉu hoặc đột quỵ, người bệnh có thể trúng vào những vật thể cứng nguy hiểm như ghế, cầu thang (Nevitt, 1991) Té ngã xảy ra ở những người bệnh nhập viện điều trị trở thành một mối nguy cơ phổ biến và nghiêm trọng đối với vấn đề an toàn người bệnh (Oliver et al., 2010 ; Cameron et al., 2010)

2.3.2 Phân loại sự cố y khoa

Trong môi trường y tế, sự cố y khoa luôn tiềm ẩn ở nhiều khía cạnh khác nhau và trở thành một thách thức hàng đầu trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe an toàn cho người bệnh Theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia, hiện nay có nhiều cách phân loại sự cố y khoa khác nhau tùy thuộc vào bản chất của nó Sự cố y khoa có thể hiện diện trong từng thao tác chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, trong quá trình sử dụng trang thiết bị dụng cụ y tế, thậm chí là yếu tố chủ quan của con người

Theo NCC MERP Index (2001), phân loại sự cố y khoa theo mức độ nguy hại đối với người bệnh được chia thành hai mức độ: (1) không nguy hại cho người bệnh bao gồm (A) sự cố xảy ra có thể tạo ra lỗi/sai sót, (B) sự cố đã xảy ra nhưng chưa thực hiện trên người bệnh, (C) sự cố đã xảy ra trên người bệnh nhưng không gây hại, (D) sự cố đã xảy ra trên người bệnh đòi hỏi phải theo dõi; (2) nguy hại cho người bệnh bao gồm (E) sự cố xảy ra trên người bệnh gây tổn hại sức khỏe tạm thời hoặc kéo dài ngày nằm viện, (F) sự cố xảy ra trên người bệnh ảnh hưởng tới sức khỏe hoặc kéo dài ngày nằm viện, (G) sự cố xảy ra trên người bệnh dẫn đến tàn tật vĩnh viễn, (H) sự cố xảy ra trên người bệnh phải can thiệp để cứu sống người bệnh, (I) sự cố xảy ra trên người bệnh gây tử vong

Theo Hiệp hội An toàn người bệnh Thế giới phân loại sự cố y khoa theo tính chất chuyên môn bao gồm 06 nhóm: (1) do nhầm tên người bệnh; (2) do thông tin bàn giao giữa nhân viên y tế không đầy đủ; (3) do nhầm lẫn liên quan tới phẫu thuật (nhầm vị trí, nhầm phương pháp, sai sót trong gây mê; (4) do sai sót trong sử dụng thuốc (có thể gặp trong kê đơn, cấp phát thuốc, pha chế thuốc, sử dụng thuốc và

Trang 26

theo dõi sau dùng thuốc); (5) do nhiễm trùng bệnh viện và (6) do người bệnh bị té ngã khi đang điều trị tại các cơ sở y tế

Theo NQF (2006) , phân loại sự cố dựa vào mức nghiêm trọng mà các cơ sở y tế phải báo cáo : (1) sự cố do phẫu thuật thủ thuật (phẫu thuật nhầm vị trí trên người bệnh, phẫu thuật nhầm người bệnh, phẫu thuật sai phương pháp trên người bệnh, sót gạc dụng cụ, tử vong trong hoặc sau khi phẫu thuật thường quy) ; (2) sự cố do môi trường (bị sốc do điện, bị bỏng trong khi điều trị tại bệnh viện, cháy nổ oxy, bình

ga, hóa chất độc hại…) ; (3) sự cố liên quan đến chăm sóc (dùng nhầm thuốc (sự cố liên quan 5 đúng), nhầm nhóm máu hoặc sản phẩm của máu, sản phụ chuyển dạ hoặc chấn thương đối với sản phụ có nguy cơ thấp, người bệnh bị ngã trong thời gian nằm viện, loét do tỳ đè giai đoạn 3-4 và xuất hiện trong khi nằm viện, thụ tinh nhân tạo nhầm tinh trùng hoặc nhầm trứng, không chỉ định xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh dẫn đến xử lý không kịp thời, hạ đường huyết, vàng da ở trẻ trong 28 ngày đầu, tai biến do tiêm hoặc chọc dò tủy sống ; (4) sự cố liên quan đến quản lý người bệnh (giao nhầm trẻ sơ sinh, người bệnh gặp sự cố y khoa ở ngoài cơ sở y tế, người bệnh chết do tự tử, tự sát hoặc tự gây hại), (5) sự cố liên quan đến thuốc và thiết bị (sử dụng thuốc bị nhiễm khuẩn, thiết bị và chất sinh học, sử dụng các thiết bị hỏng/thiếu chính xác trong điều trị và chăm sóc, đặt thiết bị gây tắc mạch do không khí) ; (6) sự cố liên quan tới tội phạm (do thầy thuốc, nhân viên y tế chỉ định gây sai phạm, bắt cóc người bệnh, lạm dụng tình dục đối với người bệnh trong cơ sổ y tế)

2.3.3 Các yếu tố liên quan đến sự cố y khoa

Con người có thể gây ra những sai sót không chủ định do thiếu tập trung khi thực hiện các công việc thường quy thường liên quan tới các thói quen công việc; do quên; do tình cảnh của người hành nghề; do kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp hạn chế, áp dụng các quy trình chuyên môn không phù hợp, hoặc sai sót do cố ý cắt xén làm tắt các quy trình chuyên môn (chưa tuân thủ vệ sinh tay, mang găng tay…);

vi phạm đạo đức nghề nghiệp, lợi ích người bệnh không được đặt lên hàng đầu

Trang 27

Môi trường y tế có những đặc điểm chuyên môn y tế bất định như tính chất bệnh diễn biến và thay đổi; người bệnh trải qua những can thiệp phẫu thuật, thủ thuật, đưa thuốc, hóa chất vào cơ thể đều tiềm ẩn những rủi ro bất khả kháng Vì vậy, cần nhận thức không phải sự cố y khoa nào cũng do nhân viên y tế thiếu trách nhiệm và thiếu y đức Sự phát triển của y học giúp phát hiện sớm bệnh tật và mang lại hạnh phúc cho hàng triệu người Tuy nhiên, y học cũng còn những mặt hạn chế riêng mà đôi khi những hạn chế này gây ra những sự cố y khoa nghiêm trọng

Bên cạnh đó, môi trường làm việc trong các cơ sở y tế đầy áp lực vì phải đối diện thường xuyên và liên tục tình trạng quá tải, ca kíp làm việc lại trái với sinh lý bình thường, nhân viên y tế vừa phải đối diện với sự thay đổi phức tạp của bệnh lý, vừa phải đối diện với những phản ứng tiêu cực của người nhà đôi khi dẫn đến những

hành vi bạo lực gây ảnh hưởng trầm trọng đến tinh thần nhân viên y tế

Cuối cùng là những yếu tố liên quan đến chính sách, quản lý và điều hành như thông tin người bệnh chưa được theo dõi liên tục do dịch vụ khám chữa bệnh phức tạp, nhiều cá nhân tham gia trong khi sự hợp tác theo dõi người bệnh chưa tốt; cơ chế tài chính tự chủ cũng mang đến những rủi ro tiềm ẩn do việc giảm chi phí đầu vào, từ đó dẫn đến việc hạn chế tối đa việc tuyển dụng nguồn nhân lực mới cung cấp dịch vụ chăm sóc cho người bệnh, giảm sử dụng vật tư, hàng tiêu hao y tế và cân nhắc khả năng chi trả của người bệnh khi cho các chỉ định điều trị; thiếu nhân lực y tế là tình trạng chung của hầu hết các cơ sở y tế nên phải bố trí nhân lực không bảo đảm chăm sóc người bệnh như trực 24/24, bố trí bác sĩ trực theo khối dẫn đến bác sĩ không đáp ứng tốt được yêu cầu chuyên môn chuyên khoa (ví dụ, bác sĩ chuyên khoa mắt trực khối ngoại khám sản v.v.)

Trang 28

Một khảo sát được thực hiện trên 4031 người bệnh nhập viện tại hai bệnh viện thuộc Boston cho thấy một tỷ lệ xảy ra sự cố y khoa liên quan đến thuốc là 6,5% người bệnh nhập viện (11,5/1000 ngày-người bệnh), trong đó 28% được đánh giá là

có thể phòng ngừa được (Bates và cộng sự, 1995) Trong số những sự cố y khoa liên quan đến thuốc, 1% sự cố dẫn đến chết người không thể phòng ngừa được, 12%

sự cố đe dọa tính mạng, 30% sự cố nghiêm trọng, 57% sự cố có ý nghĩa quan trọng Trong số sự cố đe dọa tính mạng và nghiêm trọng, có khoảng 42 % sự cố được đánh giá là có thể phòng ngừa được Một khảo sát tương tự được điều tra tại Bệnh viện LDS, thành phố Salt Lake, Utah tìm thấy rằng 2227 trong số 91574 người bệnh trãi nghiệm với sự cố liên quan đến thuốc trong thời gian nằm viện với tỉ lệ là 2,43% người bệnh nhập viện trong đó 50% có thể phòng ngừa được (Classen và cộng sự, 1997) Tại một bệnh viện đại học khác thuộc Boston, 617 mẫu khảo sát về sự cố y khoa liên quan đến thuốc được thực hiện có 166 trường hợp có thể phòng ngừa được (Jha và cộng sự, 1998) và tỷ lệ xảy ra các sự cố y khoa liên quan đến thuốc là 21/1000 người bệnh – ngày Đến năm 2001, Senst và cộng sự đã phân tích tần suất xảy ra sự cố y khoa bằng cách phân tích số liệu thu thập được từ mạng y tế học thuật của 4 bệnh viện, tỷ lệ xảy ra sự cố y khoa được ước tính là 4,2 % số người bệnh nhập viện với 15% sự cố là có thể phòng ngừa được Năm 2005, Nebeker và cộng sự xác định tần suất xảy ra sự cố liên quan đến thuốc là 52 % người bệnh nhập viện, 70/1000 người bệnh – ngày, 27% sự cố liên quan đến thuốc là có thể phòng ngừa được, 9% có gây hại nghiêm trọng, 22% cần có sự can thiệp và theo dõi Số

liệu trên trình bày một cách tổng quát trong bảng 2.1

Trang 29

Bảng 2.1 Một số khảo sát về tần suất xảy ra các sự cố liên quan đến thuốc Tác giả Năm ADE/100

lượt nhập viện

ADE/1000 ngày-người bệnh

Tỷ lệ (%) ADE có thể phòng ngừa được

Số mẫu khảo sát ADE

Té ngã bất ngờ là sự cố thường gặp nhất trong những sự cố bất ngờ xảy ra trong bệnh viện được báo cáo chiếm 2% thời gian nằm viện Tỉ lệ té ngã ở bệnh viện Mỹ dao động từ 3,3 đến 11,5 trên 1000 ngày-người bệnh Tỉ lệ té ngã thay đổi theo từng đơn vị Ví dụ, khoa ngoại Thần kinh và nội Thần kinh sẽ có tỉ lệ người bệnh té ngã cao trong bệnh viện trong khi phòng mổ và khoa Hồi sức tích cực có tỉ lệ té ngã thấp hơn các khoa khác Những yếu tố khác từ người bệnh có liên quan đến tỉ lệ té ngã là tuổi, tình trạng tinh thần, mức độ trầm trọng của bệnh, sử dụng các dụng cụ

Trang 30

hỗ trợ đi lại cũng làm cho tỉ lệ này có sự khác biệt giữa các khoa Khoảng 25% người bệnh nhập viện té ngã dẫn dến chấn thương, 2% trong số đó có gãy xương Một khảo sát khác được thực hiện trong khoảng thời gian 27 tháng với sự tham gia của 6.100 khoa tại các bệnh viện ở Mỹ cho thấy có 3954 khoa (58,9%) báo cáo có tồn tại sự cố người bệnh té ngã, tỷ lệ người bệnh té ngã cho tất cả khoa này là 3,59/1000 ngày-người bệnh, khoa Nội là 4,06/1000 ngày-người bệnh, khoa Ngoại là 2,78/1000 ngày-người bệnh, Khoa Tổng hợp là 3,66/1000 ngày-người bệnh Đặc biệt, tỷ lệ té ngã dẫn đến chấn thương tại tất cả các khoa là 0,93/1000 ngày-người bệnh, khoa Nội là 1,09/1000 ngày-người bệnh, khoa Ngoại là 0,66/1000 ngày-người bệnh, Khoa Tổng hợp là 0,95/1000 ngày-người bệnh (Bouldin, ErinD và cộng sự, 2013)

2.5 Hành vi an toàn người bệnh

Hành vi an toàn người bệnh tập trung phân tích những hành động mà nhân viên

y tế thực hiện, sử dụng tính khoa học của hành vi để mang lại hành vi an toàn cho người bệnh như mong muốn (điều chỉnh chiều cao giường bệnh phù hợp, xử lý kiêm tiêm đúng quy cách, sử dụng trang thiết bị y tế một cách an toàn) trở thành một thói quen giúp tỉ lệ xảy ra các tai nạn, sự cố ở mức tối thiểu Judy Agnew và Gail Snyder (2008) đã đặt ra vấn đề tại sao hành vi mong muốn xảy ra hoặc không xảy ra Hai tác giả cho rằng mục tiêu của hành vi an toàn tạo ra một thói quen an toàn, giảm thiểu và loại bỏ đi những thương tổn một cách lý tưởng Một điều đáng lưu ý khi thực hiện hành vi an toàn là đòi hỏi sự tham gia của tất cả các cấp độ của nhân viên trong tổ chức, sự tập trung vào những điều kiện độc hại, và kiểm tra sự ảnh hưởng của các hệ thống đến sự an toàn

Hành vi an toàn người bệnh kết quả của một quá trình thực hiện những hoạt động cũng như quản lý các nội dung liên quan đến an toàn người bệnh Hành vi an toàn người bệnh bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau từ những tác động tâm lý (nhận thức về an toàn người bệnh và hiểu ý nghĩa nội dung an toàn người bệnh) đến những tác động vật chất (mang dụng cụ bảo hộ và tham dự những hoạt động an toàn

Trang 31

người bệnh) (Firth‐Cozens, 2001; Flin, 2007; Miligan, 2007; Jiang et al., 2010) Văn hóa tổ chức như môi trường an toàn và tinh thần an toàn, những yếu tố môi trường làm việc như số lượng nhân sự và sự hỗ trợ của quản lý, những yếu tố đội nhóm như làm việc theo đội và sự giám sát, những yếu tố cá nhân nhân sự như sự

cả tin và tự tin thái quá là những yếu tố ảnh hưởng đến thực hành lâm sàng (Vincent

et al, 1998) Có nhiều nghiên cứu cho thấy kết quả nhận thức về văn hóa an toàn người bệnh ảnh hưởng đến kết quả an toàn người bệnh (hành vi an toàn và không an toàn) Văn hóa an toàn người bệnh nghèo nàn sẽ làm giảm sự tham gia thực hành những hành vi an toàn, làm gia tăng những sự cố không mong muốn (Griffin and Neal, 2000; Lund and AarØ, 2004; Flin, 2007) Trong khảo sát này, tác giả tin rằng nhận thức về văn hóa an toàn người bệnh là tiền đề của hành vi an toàn người bệnh,

từ đó ảnh hưởng đến tần suất xảy ra các sự cố y khoa

Theo Griffin và Neal (2000), có hai dạng hành vi an toàn: sự tuân thủ thực hiện

và tham gia thực hiện Sự tuân thủ thực hiện nội dung an toàn người bệnh đó là hành vi liên quan đến những hoạt động cốt lõi mà mỗi cá nhân cần thực hiện để duy trì sự an toàn môi trường làm việc (việc thực hiện những quy trình công việc đã được chuẩn hóa, nhận ra những nguy cơ và sự cố y khoa, hiểu tầm quan trọng của việc báo cáo sự cố) Sự tham gia thực hiện nội dung an toàn người bệnh là những hành động giúp phát triển tổ chức hỗ trợ nội dung an toàn người bệnh (sẵn lòng tình nguyện tham gia những hoạt động an toàn, nhận thức được lỗi và sự trừng phạt, hình thành trong tư tưởng văn hóa an toàn người bệnh và những nguyên tắc của báo cáo sự cố)

2.6 Văn hóa an toàn người bệnh

Văn hóa an toàn người bệnh được xem như một thành phần của văn hóa tổ chức

có liên quan đặc biệt đến những giá trị và niềm tin về an toàn người bệnh (Feng et

al, 2008) Kizer (1998) định nghĩa văn hóa an toàn người bệnh như “những niềm tin và giá trị được chia sẽ về hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe với tiêu chí an toàn người bệnh” Mustard (2002) định nghĩa văn hóa an toàn người bệnh

Trang 32

như là “một sản phẩm của kiến thức xã hội, những cách suy nghĩ và hành động được chia sẽ và làm việc để đáp ứng mục tiêu quan trọng nhất là an toàn người bệnh” Theo Nieva và Sorra (2003) định nghĩa văn hóa an toàn người bệnh là “thực hiện một yếu tố định hình hướng dẫn nhiều hành vi linh hoạt của những chuyên gia chăm sóc sức khỏe hướng đến việc xem an toàn người bệnh là một trong những ưu tiên hàng đầu”

Văn hóa an toàn người bệnh mô tả nhận thức cá nhân về giá trị an toàn trong môi trường làm việc được thể hiện qua thái độ và hành vi làm việc của cá nhân đó Văn hóa an toàn người bệnh cho thấy sự tác động đáng kể lên kết quả an toàn bao gồm hành vi an toàn người bệnh, sự thỏa mãn công việc, và khả năng lãnh đạo (Zohar, 1980; Nieva and Sorra, 2003; Sexton et al., 2006)

Theo Hiệp hội chăm sóc y tế và an toàn của Vương quốc Anh, văn hóa an toàn người bệnh được hiểu là những sản phẩm từ những giá trị, thái độ, nhận thức về khả năng của cá nhân và nhóm, và là phong cách và khả năng cam kết thực hiện hành

xử nhất định trong quản lý an toàn và sức khỏe của một tổ chức Tổ chức có văn hóa an toàn tích cực đặc trưng bằng sự giao tiếp dựa trên lòng tin lẫn nhau, mọi người cùng nhận thức được sự quan trọng của an toàn và tin tưởng vào tính hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa

Trong một đề nghiên cứu của Sammer và Christine , văn hóa an toàn người bệnh được cấu thành từ bảy yếu tố bao gồm (1) lãnh đạo thừa nhận môi trường y tế tiềm ẩn nhiều nguy cơ cao và tìm mọi cách để gắn kết tầm nhìn, sứ mệnh, năng lực nhân viên, nguồn tài chính và nhân lực từ tất cả các khoa/phòng trong mọi hoạt động của bệnh viện; (2) các hoạt động trong bệnh viện được tổ chức làm việc theo đội/nhóm một cách hiệu quả; (3) thực hành chăm sóc và điều trị dựa vào chứng cứ, những phác đồ điều trị, những quy trình chăm sóc là tiêu chuẩn để nhân viên thực hiện đạt độ tin cậy cao; (4) tất cả mọi người được quyền nói và chỉ ra những nguy

cơ sai sót của khoa/phòng hoặc có những sáng kiến cải tiến liên quan đến việc nâng cao nhiệm vụ an toàn người bệnh; (5) bệnh viện phải học hỏi từ những sai sót, luôn

Trang 33

tìm kiếm những cơ hội để cải tiến; (6) đảm bảo công bằng, xây dựng nền văn hóa xem xét lỗi hệ thống trước khi kết luận đó là lỗi của cá nhân; (7) và cuối cùng đó là tiêu chí lấy người bệnh làm trung tâm là nguyên tắc mà tất cả các tổ chức y tế thực hiện xuyên suốt trong mọi hoạt động

Cơ quan chất lượng và nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ đã xây dựng bộ công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh có tên gọi Hospital Survey on Patient Safety Culture (HSOPSC) Bộ câu hỏi này được sử dụng ở nhiều quốc gia và được thực hiện trong nhiều nghiên cứu khảo sát văn hóa an toàn người bệnh (Singer, 2007) HSOPSC bao gồm 42 câu hỏi đánh giá 12 lĩnh vực như sau:

(1) Làm việc theo ê kíp trong cùng một khoa: Nhân viên hỗ trợ lẫn nhau, tôn trọng nhau, phối hợp làm việc cùng nhau như một đội

(2) Quan điểm và hành động về an toàn người bệnh của người quản lý: Các khoa/phòng hợp tác và phối hợp với nhau để cung cấp dịch vụ tốt nhất cho người bệnh

(3) Tính cải tiến liên tục và học tập một cách hệ thống: Có những thay đổi tích cực, hiệu quả sau các sai sót/sự cố

(4) Hỗ trợ về quản lý cho an toàn người bệnh: Quản lý bệnh viện chuẩn bị một môi trường làm việc thúc đẩy an toàn người bệnh, đồng thời cho thấy rằng ATNB là

ưu tiên hàng đầu

(5) Quan điểm tổng quát về an toàn người bệnh: Hệ thống và quy trình chuyên

về việc phòng ngừa xảy ra các sai sót/sự cố

(6) Phản hồi và trao đổi về sai sót/sự cố: Nhân viên được thông tin về những sai sót/sự cố, đưa ra những phản hồi về những thay đổi được thực hiện và thảo luận cách để phòng ngừa các sai sót/sự cố

(7) Trao đổi cởi mở: Nhân viên tự do lên tiếng khi họ nhìn thấy một điều gì đó

có thể ảnh hưởng tiêu cực đến người bệnh, và cảm thấy thoải mái khi đặt câu hỏi cho những người có quyền nhiều hơn

Trang 34

(8) Tần suất ghi nhận sai sót/sự cố: Các loại sai lầm sau đây được báo cáo bao gồm sự cố/sai sót được phát hiện và sửa chữa trước khi ảnh hưởng đến người bệnh, sai lầm không có khả năng gây hại cho người bệnh, sai lầm có thể gây hại cho người bệnh nhưng không

(9) Làm việc theo ê kíp giữa các khoa: Các khoa trong bệnh viện hợp tác và phối hợp với nhau để cung cấp dịch vụ chăm sóc tốt nhất cho người bệnh

(10) Nhân sự: Có đủ nhân viên để xử lý khối lượng công việc và thời gian làm việc phù hợp để cung cấp dịch vụ chăm sóc người bệnh tốt nhất

(11) Bàn giao và chuyển bệnh: Những thông tin quan trọng trong chăm sóc người bệnh được bàn giao đầy đủ giữa các khoa và trong việc thay đỏi ca trực (12) Không trừng phạt khi có sai sót/sự cố: Nhân viên cảm thấy các sai sót/sự cố liên quan đến họ cũng như việc thực hiện báo cáo sẽ không gây tác động tiêu cực lên họ và không được lưu giữ trong hồ sơ cá nhân

2.7 Mối quan hệ giữa VHATNB, hành vi ATNB và tần suất ước đoán xảy ra

sự cố/sai sót thuốc, té ngã

VHATNB mô tả nhận thức của cá nhân về giá trị an toàn trong môi trường làm việc, từ đó phản ánh thái độ và hành vi làm việc của cá nhân đó Nhiều tác giả (Zohar, 1980; Nieva và Sorra, 2003; Sexton et al., 2006) đã chứng minh được rằng văn hóa an toàn người bệnh có tác động đáng kể đến kết quả an toàn bao gồm hành

vi an toàn người bệnh, sự thỏa mãn trong công việc, và sự lãnh đạo Trong khảo sát này, tác giả muốn tìm hiểu hành vi an toàn người bệnh của nhân viên y tế thông qua những nội dung liên quan đến văn hóa an toàn người bệnh, và kết quả của việc thực hiện hành vi được thể hiện thông qua tần suất xảy ra các sự cố y khoa (các sự cố liên quan đến thuốc, sự cố té ngã của người bệnh)

Mô hình thuyết hành vi dự định của Aijen được được xem là cơ sở để cải thiện văn hóa an toàn hiệu quả và hướng nhân viên đến sự thay đổi văn hóa dựa trên sự công bằng, hợp lý, trách nhiệm Trong mô hình, Ajzen (2011) cho rằng ý định là

Trang 35

yếu tố quan trọng tác động đến cá nhân thực hiện hành vi Ý định được xem như là

sự sẵn lòng và động lực của cá nhân để thực hiện một hành vi cụ thể mong muốn Như vậy, một cá nhân nhận thức để thực hiện những hành vi khác nhau dưới sự ảnh hưởng của ý định bao gồm sự kết hợp của 3 thành phần: (1) thái độ đối với hành vi, (2) chuẩn chủ quan, (3) kiểm soát hành vi nhận thức

Trong nhiều nghiên cứu đã cho thấy việc tăng kiến thức chưa thể thay đổi được thái độ và hiệu chỉnh được hành vi nếu như không có sự hỗ trợ phù hợp (Aijen và cộng sự, 2011) Ngoài ra, Aijen còn cho rằng phải đánh giá kiến thức hiện tại và bằng cách nào để nhân viên tận dụng kiến thức hiện có để thúc đẩy lựa chọn hành

vi Có rất nhiều lý do tại sao những sai sót/sự cố không được báo cáo như thái độ nhân viên đối với việc chỉ trích, quá tải công việc tăng, sự sợ hãi đối việc kiện tụng

là những rào cản chính đối việc thực hiện báo cáo sai sót/sự cố (Grant và cộng sự, 2006; Martowirono và cộng sự, 2012) Hệ thống báo cáo phức tạp, thiếu những hành động của tổ chức trong việc khắc phục những lỗi lầm liên quan đến an toàn người bệnh Thiếu sự quyết đoán cũng khiến cho nhân viên điều dưỡng không đủ khả năng nói ra một cách hiệu quả, hơn nữa những mong muốn của họ là duy trì những mối quan hệ với đồng nghiệp và tránh những xung đột tồn tại (Garon, 2012) Nhân viên sẵn lòng nói ra và báo cáo sai sót/sự cố được xem như là những yếu tố cốt lõi trong việc duy trì văn hóa an toàn người bệnh (Marx, 2001)

Chuẩn chủ quan là yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi Yếu

tố này được xem như là áp lực của những đồng nghiệp thực hiện hay không thực hiện một hành động cụ thể Văn hóa an toàn ở khoa được thúc đẩy bởi chuẩn chủ quan được hình thành từ những người lãnh đạo chính thức và không chính thức hoặc người có ảnh hưởng (Aijen, 1991) Trong nghiên cứu này tác giả muốn đánh giá chuẩn chủ quan của nhân viên y tế thông qua việc đo lường sự sợ hãi đối với những phê bình từ người khác mà theo Latimer và Ginis (2005) cho rằng không có

sự tác động ý nghĩa của chuẩn chủ quan đến những người có nỗi sợ ít hơn về điểm

số đánh giá tiêu cực

Trang 36

Yếu tố cuối cùng tác động đến hành vi an toàn người bệnh là kiểm soát hành vi nhận thức, yếu tố này dựa vào nhận thức của cá nhân về mức độ khó khăn khi thực hiện những hành vi mong muốn bao gồm những rào cản và trở ngại (Aijen, 1991) Theo mô hình TPB, sự tự nguyện của nhân viên kết hợp với những nguyên tắc văn hóa an toàn trong thực hành hàng ngày được dự đoán bời những yếu tố thúc đẩy kiểm soát hành vi nhận thực và ý định hành vi Giả thuyết này hỗ trợ hiệu quả việc quản lý những khảo sát văn hóa an toàn để dự đoán hành vi của nhân viên liên quan đến báo cáo sai sót/sự cố, làm việc đội nhóm và trao đổi cởi mở

Như vậy, với 12 nội dung VHATNB đã bao hàm 03 khía cạnh được đề cập đến trong mô hình TPB, tác giả phân tích sự tác động của 12 nội dung này tác động trực tiếp đến hành vi an toàn cũng như tác động đến khả năng xảy ra sự cố/sai sót thuốc,

té ngã theo ước đoán Do đó, mô hình TPB giữ vai trò quan trọng trong việc phân tích hành vi cá nhân, điều này phù hợp với mục tiêu phân tích của tác giả

Dựa vào những phân tích đã nêu, tác giả đã áp dụng mô hình TPB xây dựng mô hình như hình 2.2 Bên cạnh đó, tác giả xây dựng một số giả thuyết sau: (H1) Tác động tích cực của 12 nội dung văn hóa ATNB đến hành vi ATNB; (H2) Sự tương quan của hành vi ATNB và khả năng xảy ra sự cố/sai sót thuốc và té ngã theo ước đoán; (H3) Sự tương quan của VHATNB và khả năng xảy ra sự cố/sai sót thuốc và

té ngã theo ước đoán; (H4) Sự khác biệt hành vi an toàn theo đặc điểm dân số học

Trang 37

Hình 2.3 Khung phân tích mối quan hệ giữa VHATNB và khả năng xảy ra sự

cố/sai sót thuốc, té ngã ban đầu

Nguồn tác giả

Trang 38

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Trong chương 2, tác giả đã giải thích mô hình cơ sở lý thuyết của nghiên cứu là

áp dụng mô hình TPB của Ajzen để giải thích cho việc thay đổi hành vi dưới sự tác động của thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi nhận thức và ý định Mô hình này đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực trong đó bao gồm cả lĩnh vực y tế chăm sóc sức khỏe Những biến số trong mô hình TPB giải thích được 49,9% sự thay đổi trong hành vi an toàn người bệnh, và nhiều báo cáo khác cũng tìm được sự khác biệt

có ý nghĩa thông kê khi giải thích việc thực hiện hành vi an toàn người bệnh của điều dưỡng Bên cạnh đó, VHATNB đã được khảo sát ở nhiều quốc gia và Việt Nam được công nhận là quốc gia thứ 61 khảo sát về VHATNB – một chủ đề được AHRQ xem là chủ đề ưu tiên khi xây dựng chính sách y tế chất lượng và hiệu quả,

bộ câu hỏi VHATNB (HSOPSC) được dịch sang tiếng việt – ngôn ngữ thứ 31 được công nhận trên thế giới HSOPSC bao gồm 42 câu hỏi đánh giá 12 lĩnh vực như sau: (1) Làm việc theo ê kíp trong cùng một Khoa, (2) Quan điểm và hành động về an toàn người bệnh của người quản lý, (3) Tính cải tiến liên tục và học tập một cách hệ thống, (4) Hỗ trợ về quản lý cho an toàn người bệnh, (5) Quan điểm tổng quát về an toàn người bệnh, (6) Phản hồi và trao đổi về sai sót/sự cố, (7) Trao đổi cởi mở, (8) Tần suất ghi nhận sai sót/sự cố, (9) Làm việc theo ê kíp giữa các Khoa, (10) Nhân

sự, (11) Bàn giao và chuyển bệnh, và cuối cùng là (12) Không trừng phạt khi có sai sót/sự cố Mặt khác, tác giả cũng đề cập đến 03 cách phân loại sự cố y khoa theo mức độ nguy hại đối với người bệnh (nguy hại và không nguy hại), theo tính chất chuyên môn (06 nhóm), và phân loại sự cố dựa vào mức nghiêm trọng mà các cơ sở

y tế phải báo cáo (06 nhóm) Một nội dung khác mà tác giả đề cập đó là các yếu tố liên quan đến sự cố y khoa như con người, tính chất môi trường y tế, môi trường làm việc, các chính sách thông tin, quản lý và điều hành Những yếu tố này giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng an toàn trong chăm sóc y tế Có nhiều cách phân loại sự cố y khoa tùy theo cách tiếp cận Trong khảo sát này, tác giả chỉ khảo sát 2 sự cố y khoa thường xảy ra trong các cơ sở y tế và được xem là khá nhạy cảm trong chăm sóc của điều dưỡng bao gồm (1) những sự cố/sai sót liên quan đến

Trang 39

thuốc, (2) người bệnh té ngã Trên cơ sở mô hình TPB, những nội dung thuộc VHATNB và hành vi ATNB, tác giả đã đề ra khung phân tích ban đầu để giải thích mối quan hệ giữa VHATNB và khả năng xảy ra sự cố/sai sót thuốc, người bệnh té ngã theo ước đoán tại bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM

Trang 40

CHƯƠNG 3

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Quy trình nghiên cứu

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu

Viết báo cáo kết quả nghiên cứu

Điều chỉnh bộ câu hỏi

Thu thập số liệu

Xử lý thông tin

Báo cáo

Phối hợp với Phòng Quản lý chất lượng hoàn

chỉnh bộ câu hỏi khảo sát

Khảo sát thử

Ngày đăng: 03/09/2020, 00:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w