1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực thẩm mỹ thông qua một số bộ luật luật cụ thể của Việt Nam

14 491 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 35,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Muốn tồn tại và phát triển, con người không thể sống độc lập, cá thể riêng lẻ mà cần phải dựa vào nhau, đoàn kết tương trợ nhau và chung sống với nhau tạo thành xã hội thông qua những mối liên hệ. Trong đó, mỗi con người lại có suy nghĩ và hành vi riêng, vì vậy đòi hỏi phải có những “phương tiện xã hội” điều chỉnh. Và chính con người, bằng ý chí chung của các nhóm, giai cấp, tầng lớp xã hội..., đã xác lập và tạo dựng một hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của xã hội đối với hành vi xã hội của mỗi cá nhân hay nhóm xã hội.

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ BÀI 1

B NỘI DUNG 1

I Cơ sở lí luận 1

1.1 Chuẩn mực xã hội 1

1.2 Chuẩn mực pháp luật 3

1.3 Chuẩn mực thẩm mỹ 4

II Mối quan hệ giữa chuẩn mực thẩm mỹ và pháp luật 6

2.1 Những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật và thẩm mỹ .6 2.2 Chuẩn mực thẩm mỹ và pháp luật là mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau 8

C KẾT BÀI 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 2

A MỞ BÀI

Muốn tồn tại và phát triển, con người không thể sống độc lập, cá thể riêng

lẻ mà cần phải dựa vào nhau, đoàn kết tương trợ nhau và chung sống với nhau tạo thành xã hội thông qua những mối liên hệ Trong đó, mỗi con người lại có suy

nghĩ và hành vi riêng, vì vậy đòi hỏi phải có những “phương tiện xã hội” điều

chỉnh Và chính con người, bằng ý chí chung của các nhóm, giai cấp, tầng lớp xã hội , đã xác lập và tạo dựng một hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của xã hội đối với hành vi xã hội của mỗi cá nhân hay nhóm xã hội Từ đó, trong xã hội hình thành và xuất hiện một hệ thống các chuẩn mực xã hội, đó là: chuẩn mực chính trị, chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực phong tục tập quán, chuẩn mực thẩm mỹ

Giữa các chuẩn mực xã hội có mối quan hệ đối với nhau, chi phối, bổ sung, tác động qua lại lẫn nhau trong việc điều chỉnh hành vi của con người Những mối quan hệ này luôn là đề tài dành được nhiều sự quan tâm các nhà nghiên cứu khoa học xã hội Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa các chuẩn mực

xã hội, em xin chọn tìm hiểu một mối quan hệ tiêu biểu từ đề tài: “Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực thẩm mỹ thông qua một số

bộ luật/ luật cụ thể của Việt Nam”

B NỘI DUNG

I Cơ sở lí luận

1.1 Chuẩn mực xã hội

Chuẩn mực xã hội là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của xã hội đối với mỗi cá nhân hay nhóm xã hội, trong đó xác định ít nhiều sự chính xác về tính

Trang 3

chất, mức độ, phạm vi, giới hạn của cái có thể, cái được phép, cái không được phép hay cái bắt buộc phải thực hiện trong hành vi xã hội của mỗi người, nhằm củng cố, đảm bảo sự ổn định xã hội, giữ gìn trật tự, kỉ cương, an toàn xã hội

Chuẩn mực xã hội có những hình thức biểu hiện khác nhau tùy thuộc vào các tiêu chí phân loại cũng như mục đích khảo sát, nghiên cứu Thông thường, chuẩn mực xã hội được phân loại theo hai tiêu chí sau đây:

+ Theo tính chất phổ biến rộng rãi hay hạn hẹp của chuẩn mực xã hội Với tiêu chí này, chuẩn mực xã hội được phân chia thành chuẩn mực xã hội công khai

và chuẩn mực xã hội ngầm ẩn

+ Theo đặc điểm được ghi chép hay không được ghi chép lại Với tiêu chí này, chuẩn mực xã hội thường được biểu hiện dưới hai hình thức là chuẩn mực xã hội thành văn và chuẩn mực xã hội bất thành văn

Chuẩn mực xã hội có các đặc trưng cơ bản sau:

+ Tính tất yếu xã hội

+ Tính định hướng của chuẩn mực xã hội theo không gian, thời gian và đối tượng

+ Tính vận động, biến đổi của chuẩn mực xã hội theo không gian, thời gian, giai cấp, dân tộc

Chuẩn mực xã hội có những vai trò đối với đời sống xã hội như: góp phần điều tiết, điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo “khuôn mẫu” cho hành vi xã hội của con người, duy trì sự ổn định, hài hòa trong xã hội, bảo vệ trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội

Trang 4

1.2 Chuẩn mực pháp luật

Chuẩn mực pháp luật là những quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành

và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, định hướng cho hành

vi ứng xử của các cá nhân và các nhóm xã hội

Tính chuẩn mực của pháp luật nói lên những giới hạn cần thiết mà nhà nước quy định để mọi chủ thể có thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ cho phép, thường biểu hiện dưới dạng “cái có thể”, “cái được phép”, “cái không được phép” và “cái bắt buộc thực hiện” Vượt ra khỏi phạm vi, giới hạn đó là vi phạm pháp luật Không thể có chuẩn mực pháp luật chung chung, trừu tượng, mà nó phải được thể hiện ra thành những quy tắc, yêu cầu cụ thể, dưới dạng các quy phạm pháp luật Chuẩn mực pháp luật là các quy tắc điều chỉnh hành vi; bởi vậy nếu không đặt ra các quy phạm pháp luật thì sẽ không có căn cứ pháp lý để đánh giá hành vi nào là hợp pháp và hành vi nào là bất hợp pháp

Chuẩn mực pháp luật khác với các loại chuẩn mực xã hội khác ở một điểm cơ bản là nó mang tính cưỡng bức của nhà nước Các chuẩn mực xã hội, khi được nhà nước thừa nhận, sử dụng và bảo đảm bằng khả năng cưỡng bức sẽ trở thành chuẩn mực pháp luật

Chuẩn mực pháp luật được thực hiện chừng nào nó còn phù hợp với các quan hệ xã hội và các lợi ích của giai cấp thống trị nảy sinh từ các quan hệ xã hội này Chuẩn mực pháp luật nào không còn phản ánh đúng các quan hệ xã hội nữa thì nhà nước tước mất của nó sức mạnh hoặc thay đổi nó về mặt hình thức Nếu chuẩn mực pháp luật thể hiện nhu cầu xã hội thì đứng đằng sau nó là chính quyền nhà nước với nhiệm vụ bảo vệ các quan hệ xã hội thống trị; phù hợp với các quan

hệ xã hội ấy, chuẩn mực tạo thành hành vi phù hợp với pháp luật, tức là cưỡng

Trang 5

bức tuân theo nó Sự thực hiện phổ biến tương ứng các quan hệ xã hội thống trị đồng thời cũng là tính chuẩn mực

1.3 Chuẩn mực thẩm mỹ

a Khái niệm chuẩn mực thẩm mỹ

Quan hệ thẩm mỹ là một trong các mối quan hệ xã hội cơ bản Trong quan

hệ thẩm mỹ, có ba bộ phận quan trọng nhất của đời sống thẩm mỹ con người, bao gồm:

Bộ phận thứ nhất là đối tượng thẩm mỹ, bao gồm cái đẹp, cái xấu, cái bi, hài, cái anh hùng, cái tuyệt vời của cá nhân và thực tiễn xã hội Nó chứa đựng các dạng phái sinh và các vùng tiềm ẩn của cái đẹp, cái xấu, cái bi hài; nó giải thích vì sao thiên nhiên lại chứa yếu tố thẩm mỹ, vì sao các hiện tượng xã hội lại có yếu tố

bi kịch, hài hước, anh hùng và tuyệt vời

Bộ phận thứ hai là chủ thể thẩm mỹ, phản ánh các hoạt động thẩm mỹ của chủ thể thông qua các giác quan của họ Các nhu cầu thẩm mỹ, thị hiếu, lý tưởng thẩm mỹ đều là sự phản ánh các kinh nghiệm hoạt động thẩm mỹ của con người Mặt chủ quan của cái thẩm mỹ bao chứa các hình thức tồn tạicủa cả cái sinh lý và cái tâm lý Năng khiếu,tài năng và thiên tài không tách rời chủ thể thẩm mỹ

Thế giới nghệ thuật là bộ phận thứ ba Đây là nơi diễn ra sự tương tác giữa đối tượng thẩm mỹ và chủ thể thẩm mỹ, như: văn học, âm nhạc, điêu khắc, điện ảnh, Trong thế giới này, cái thẩm mỹ chứa đựng các phạm trù : cảm thụ, sáng tạo, đánh giá, tình cảm, giá trị, đánh giá, loại hình, tác phẩm

Do yêu cầu, đòi hỏi quan hệ thẩm mỹ cần có các quy tắc, yêu cầu, tiêu chuẩn thẩm mỹ để định hướng, điều chỉnh, đánh giá hành vi thẩm mỹ của con

Trang 6

người trong đời sống cộng đồng mà các chuẩn mực thẩm mỹ nảy sinh, biến đổi và phát triển

Chuẩn mực thẩm mỹ là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi về mặt thẩm

mỹ đối với hành vi xã hội của con người, tuân theo những quan điểm, quan niệm đang được phổ biến, thừa nhận trong xã hội về cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài, cái anh hùng, cái tuyệt vời, dược xác lập trong các quan hệ thẩm mỹ, trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật, trong lối sống và sinh hoạt của các cá nhân và các nhóm xã hội.1

b Các đặc điểm của chuẩn mực thẩm mỹ

Chuẩn mực thẩm mỹ là loại chuẩn mực xã hội bất thành văn, nghĩa là các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi đối với hành vi thẩm mỹ của con người không được ghi chép thành văn bản dưới dạng “ cẩm nang” hay “ đạo luật” nào đó; mà chúng tồn tại, biến đổi, phát huy tác dụng bằng con đường truyền miệng, giáo dục, thông qua

xã hội hóa cá nhân và lưu truyền qua các thế hệ Trong quá trình đó, các quan niệm, giá trị, chuẩn mực thẩm mỹ được tích tụ, thẩm thấu vào trong nhận thức, kinh nghiệm của mỗi cá nhân trở thành “ khuôn mẫu hành vi”, và nó bộc lộ thành hành vi thực tế khi con người tham gia vào các quan hệ thẩm mỹ nhất định

Chuẩn mực thẩm mỹ mang tính lợi ích, gồm lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, nghĩa là các quan điểm, quan niệm thẩm mỹ trước tiên phải xuất phát từ chỗ,

nó mang lại hoặc đáp ứng được những nhu cầu, lợi ích nhất định cho cộng đồng xã hội và cho mỗi cá nhân Chẳng hạn, việc xây dựng một ngôi nhà, trước khi nói đến kiểu cách, kiến trúc đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ, thì cần phải tính tới nhu cầu về diện tích sử dụng ( lợi ích vật chất )

1 Trang 231, Ngọ Văn Nhân, Xã hội học pháp luật

Trang 7

Chuẩn mực thẩm mỹ luôn đảm bảo phải mang tính hài hòa, nghĩa là các quy tắc, yêu cầu về thẩm mỹ phải luôn được đặt trong mối tương quan hài hòa với các điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội nhất định; hoặc phải phù hợp trong từng tình huông cụ thể của cuộc sống Ví dụ, ăn ngon mặc đẹp, dùng hàng hiệu là nhu cầu thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ tất yếu của con người và nên được đáp ứng nếu điều kiện kinh tế xã hội nói chung, khả năng tài chính của từng gia đình, cá nhân nói riêng cho phép Nhưng nếu một sinh viên con nhà nghèo mà lại hcọ đòi “ sành điệu” thì đó có thể là nguyên nhân làm phát sinh những hành vi tiêu cực, phạm tội

vì nó vi phạm tính hài hòa

Chuẩn mực thẩm mỹ luôn mang tính khái quát ( tính hình tượng ) Các quan điểm, quan niệm thẩm mỹ không đơn thuần xuất phát từ ý kiến chủ quan của mỗi người, mà chúng còn phản ánh ý chí chung của nhiều người, được họ thừa nhận, tán thành và làm theo Với đặc trưng này, chuẩn mực thẩm mỹ được coi là hình tượng, khuôn mẫu, là “ tấm gương” để mỗi cá nhân tự soi mình vào đó và điều chỉnh hành vi thẩm mỹ sao cho phù hợp với các quy tắc, yêu cầu chung trong các quan hệ thẩm mỹ - xã hội

II Mối quan hệ giữa chuẩn mực thẩm mỹ và pháp luật

2.1 Những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật và thẩm mỹ

a Chuẩn mực thẩm mỹ và pháp luật có bốn điểm giống nhau cơ bản, đó là:

Thứ nhất, pháp luật và chuẩn mực thẩm mỹ đều gồm những quy tắc xử sự

chung để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội :

+ Chúng là khuôn khổ những khuôn mẫu, chuẩn mực để hướng dẫn cách

xử sự cho mọi người trong xã hội, để bất kỳ ai khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh do chúng dự liệu thì đều phải xử sự theo cách thức mà chúng đã nêu ra Căn cứ vào

Trang 8

pháp luật, căn cứ vào chuẩn mực thẩm mỹ, các chủ thể sẽ biết mình được làm gì, không được làm gì và làm như thế nào khi ở vào một điều kiện, hoàn cảnh nhất định

+ Chúng là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người Căn cứ vào các quy định của pháp luật, các quy tắc, yêu cầu về thẩm mỹ, có thể xác định được hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là phù hợp với thẩm mỹ, hành vi nào là trái pháp luật, hành vi nào không phù hợp với thẩm mỹ

+ Chúng được đặt ra không phải cho một chủ thể cụ thể hay một tổ chức,

cá nhân cụ thể đã xác định được mà là cho tất cả các chủ thể tham gia vào quan hệ

xã hội do chúng điều chỉnh

Thứ hai là tính phổ biến và xu hướng phù hợp với xã hội Chuẩn mực thẩm

mỹ và pháp luật mang tính quy phạm phổ biến, chúng đều là khuôn mẫu chuẩn mực trong hành vi của con người Chúng tác động đến các cá nhân tổ chức trong

xã hội, tác động đến hầu hết các lĩnh vực trong đời sống

Thứ ba, pháp luật và chuẩn mực thẩm mỹ đều phản ánh sự tồn tại của xã

hội trong những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử Chúng là kết quả của quá trình nhận thức đời sống của chính mình, đều chịu sự chi phối, đồng thời tác động lại đời sống kinh tế xã hội

Thứ tư, chúng được thực hiện nhiều lần trong thực tế cuộc sống vì chúng

được ban hành ra không phải để điều chỉnh một quan hệ xã hội cụ thể, một trường hợp cụ thể mà để điều chỉnh một quan hệ xã hội chung, tức là một trường hợp khi điều kiện hoàn cảnh do chúng dự kiến xảy ra

b Bên cạnh những điểm giống nhau, pháp luật và chuẩn mực thẩm mỹ còn

có những điểm khác nhau:

Trang 9

Thứ nhất, về con đường hình thành , pháp luật hình thành thông qua hoạt

động xây dựng pháp lý của nhà nước Trong khi đó chuẩn mực thẩm mỹ được hình thành bởi ý chí nhiều người, của đa số các thành viên trong xã hội

Thứ hai, hình thức thể hiện của chuẩn mực thẩm mỹ thông qua dạng không

thành văn, còn pháp luật lại biểu hiện rõ ràng dưới dạng hệ thống của văn bản quy phạm pháp luật

Thứ ba, pháp luật có tác động tới mọi tổ chức và cá nhân có liên quan trong

xã hội, còn chuẩn mực thẩm mỹ tác động tới các cá nhân, nhóm xã hội Pháp luật luôn thể hiện ý chí của nhà nước, còn chuẩn mực thẩm mỹ thường thể hiện ý chỉ của một cộng đồng dân cư, ý chí chung của xã hội

Thứ tư, pháp luật có tính quyền lực nhà nước, nó chỉ do nhà nước đặt ra

hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp quyền lực nhà nước, từ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục cho đến áp dụng các biện pháp

cưỡng chế của nhà nước Trong khi đó, chuẩn mực thẩm mỹ được hình thành một cách tự phát trong xã hội, được lưu truyền từ đời này sang đời khác theo phương thức truyền miệng; được đảm bảo bằng bằng dư luận xã hội và bằng biện pháp cưỡng chế phi nhà nước

2.2 Chuẩn mực thẩm mỹ và pháp luật là mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.

Chuẩn mực thẩm mỹ tác động trong hầu hết các lĩnh vực quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ pháp luật, điều chỉnh hành vi thẩm mỹ của con người phù hợp với các quan điểm, quan niệm trong xã hội về cái đẹp, cái xấu, cái cao cả Chuẩn mực thẩm mỹ đòi hỏi các bộ luật, các văn bản được ban hành phải phù hợp với các giá trị, chuẩn mực thẩm mỹ đang hiện hành trong xã hội thì mới dễ dàng được nhân dân tuân thủ và thực hiện Ví dụ :

Trang 10

- Tại điều 4 Luật xây dựng 2014 quy định về nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xây dựng :

“ 1 Bảo đảm đầu tư xây dựng công trình theo quy hoạch, thiết kế, bảo vệ cảnh quan, môi trường; phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội, đặc điểm văn hoá của từng địa phương; bảo đảm ổn định cuộc sống của nhân dân; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh và ứng phó với biến đổi khí hậu.

2 Sử dụng hợp lý nguồn lực, tài nguyên tại khu vực có dự án, bảo đảm đúng mục đích, đối tượng và trình tự đầu tư xây dựng.

3 Tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy định của pháp luật về sử dụng vật liệu xây dựng; bảo đảm nhu cầu tiếp cận sử dụng công trình thuận lợi, an toàn cho người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em ở các công trình công cộng, nhà cao tầng; ứng dụng khoa học và công nghệ, áp dụng hệ thống thông tin công trình trong hoạt động đầu tư xây dựng.

4 Bảo đảm chất lượng, tiến độ, an toàn công trình, tính mạng, sức khỏe con người và tài sản; phòng, chống cháy, nổ; bảo vệ môi trường ”

- Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nam giới hút thuốc lá cao nhất thế giới, VN có số ca tử vong hàng năm vì các bệnh liên quan đến thuốc lá cao gần gấp 4 lần số tử vong vì tai nạn giao thông Nhằm tăng cường bảo vệ sức khỏe cho những người không hút thuốc lá, hạn chế ảnh hưởng của khói thuốc lá nơi công cộng, Chính phủ đã ban hành Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm

2013 quy định về xử phạt vị phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, theo đó sẽ :

“ 1 Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm Trường hợp hút thuốc lá trên tàu bay thực hiện theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng;

Trang 11

b) Bỏ mẩu, tàn thuốc lá không đúng nơi quy định khi hút thuốc lá tại những địa điểm được phép hút thuốc lá

2 Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không treo biển có chữ hoặc biểu tượng “cấm hút thuốc lá” tại địa điểm cấm hút thuốc lá;

b) Không yêu cầu người vi phạm chấm dứt việc hút thuốc lá trong cơ sở của mình;

c) Không tổ chức thực hiện, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện đúng quy định về cấm hút thuốc lá tại địa điểm thuộc quyền quản lý, điều hành.

3 Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây tại nơi dành riêng cho người hút thuốc lá:

a) Không có phòng và hệ thống thông khí tách biệt với khu vực không hút thuốc lá;

b) Không có dụng cụ chứa mẩu, tàn thuốc lá;

c) Không có biển báo tại vị trí phù hợp, dễ quan sát;

d) Không có thiết bị phòng cháy, chữa cháy.” 2

Nhiều quy tắc, yêu cầu của chuẩn mực thẩm mỹ phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của nhà nước nên đã được thừa nhận và trở thành cơ sở để áp dụng trong các quy phạm pháp luật Như vậy, chuẩn mực thẩm mỹ là cơ sở lý luận và thực tiễn để nhà nước xây dựng và ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực xây dựng, quy hoạch đô thị, văn hóa - nghệ thuật, quảng cáo, du lịch, thời trang Ví dụ, theo quy định tại điểm b khoản 3 của Quy chế hoạt động văn hóa và

2 Điều 23 Nghị định 176/2013/NĐ-CP

Ngày đăng: 02/09/2020, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w