1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực phong tục, tập quán và chuẩn mực pháp luật. Liên hệ với tình hình thực tế ở nước ta hiện nay

14 540 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 30,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giữa các chuẩn mực xã hội có mối quan hệ đối với nhau, chi phối, bổ sung, tác động qua lại lẫn nhau trong việc điều chỉnh hành vi của con người. Những mối quan hệ này luôn là đề tài dành được nhiều sự quan tâm các nhà nghiên cứu khoa học xã hội.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Muốn tồn tại và phát triển, con người không thể sống độc lập, cá thể riêng lẻ

mà cần phải dựa vào nhau, đoàn kết tương trợ nhau và chung sống với nhau tạo thành xã hội thông qua những mối liên hệ Trong đó, mỗi con người lại

có suy nghĩ và hành vi riêng, vì vậy đòi hỏi phải có những “phương tiện xã hội” điều chỉnh Và chính con người, bằng ý chí chung của các nhóm, giai

cấp, tầng lớp xã hội , đã xác lập và tạo dựng một hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của xã hội đối với hành vi xã hội của mỗi cá nhân hay nhóm xã hội Từ đó, trong xã hội hình thành và xuất hiện một hệ thống các chuẩn mực xã hội, đó là: chuẩn mực chính trị, chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực phong tục tập quán,

Giữa các chuẩn mực xã hội có mối quan hệ đối với nhau, chi phối, bổ sung, tác động qua lại lẫn nhau trong việc điều chỉnh hành vi của con người Những mối quan hệ này luôn là đề tài dành được nhiều sự quan tâm các nhà nghiên cứu khoa học xã hội.Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa các chuẩn mực xã hội, em xin chọn tìm hiểu một mối quan hệ tiêu biểu từ đề tài:

“Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực phong tục, tập quán và chuẩn mực pháp luật Liên hệ với tình hình thực tế ở nước ta hiện nay”

NỘI DUNG

I Cơ sở lí luận

1.1 Chuẩn mực xã hội

Chuẩn mực xã hội là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của xã hội đối với mỗi cá nhân hay nhóm xã hội, trong đó xác định ít nhiều sự chính xác về tính chất, mức độ, phạm vi, giới hạn của cái có thể, cái được phép, cái không được phép hay cái bắt buộc phải thực hiện trong hành vi xã hội của

Trang 2

mỗi người, nhằm củng cố, đảm bảo sự ổn định xã hội, giữ gìn trật tự, kỉ cương, an toàn xã hội

Chuẩn mực xã hội có những hình thức biểu hiện khác nhau tùy thuộc vào các tiêu chí phân loại cũng như mục đích khảo sát, nghiên cứu Thông thường, chuẩn mực xã hội được phân loại theo hai tiêu chí sau đây:

+ Theo tính chất phổ biến rộng rãi hay hạn hẹp của chuẩn mực xã hội Với tiêu chí này, chuẩn mực xã hội được phân chia thành chuẩn mực xã hội công khai và chuẩn mực xã hội ngầm ẩn

+ Theo đặc điểm được ghi chép hay không được ghi chép lại Với tiêu chí này, chuẩn mực xã hội thường được biểu hiện dưới hai hình thức là chuẩn mực xã hội thành văn và chuẩn mực xã hội bất thành văn

Chuẩn mực xã hội có các đặc trưng cơ bản sau:

+ Tính tất yếu xã hội

+ Tính định hướng của chuẩn mực xã hội theo không gian, thời gian và đối tượng

+ Tính vận động, biến đổi của chuẩn mực xã hội theo không gian, thời gian, giai cấp, dân tộc

Chuẩn mực xã hội có những vai trò đối với đời sống xã hội như: góp phần điều tiết, điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo “khuôn mẫu” cho hành vi xã hội của con người, duy trì sự ổn định, hài hòa trong xã hội, bảo vệ trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội

1.2 Chuẩn mực pháp luật

Chuẩn mực pháp luật là những quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành

và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, định hướng cho hành vi ứng xử của các cá nhân và các nhóm xã hội

Tính chuẩn mực của pháp luật nói lên những giới hạn cần thiết mà nhà nước quy định để mọi chủ thể có thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ cho

Trang 3

phép, thường biểu hiện dưới dạng “cái có thể”, “cái được phép”, “cái không được phép” và “cái bắt buộc thực hiện” Vượt ra khỏi phạm vi, giới hạn đó

là vi phạm pháp luật Không thể có chuẩn mực pháp luật chung chung, trừu tượng, mà nó phải được thể hiện ra thành những quy tắc, yêu cầu cụ thể, dưới dạng các quy phạm pháp luật Chuẩn mực pháp luật là các quy tắc điều chỉnh hành vi; bởi vậy nếu không đặt ra các quy phạm pháp luật thì sẽ không

có căn cứ pháp lý để đánh giá hành vi nào là hợp pháp và hành vi nào là bất hợp pháp

Chuẩn mực pháp luật khác với các loại chuẩn mực xã hội khác ở một điểm

cơ bản là nó mang tính cưỡng bức của nhà nước Các chuẩn mực xã hội, khi được nhà nước thừa nhận, sử dụng và bảo đảm bằng khả năng cưỡng bức sẽ trở thành chuẩn mực pháp luật

Chuẩn mực pháp luật được thực hiện chừng nào nó còn phù hợp với các quan hệ xã hội và các lợi ích của giai cấp thống trị nảy sinh từ các quan hệ

xã hội này Chuẩn mực pháp luật nào không còn phản ánh đúng các quan hệ

xã hội nữa thì nhà nước tước mất của nó sức mạnh hoặc thay đổi nó về mặt hình thức Nếu chuẩn mực pháp luật thể hiện nhu cầu xã hội thì đứng đằng sau nó là chính quyền nhà nước với nhiệm vụ bảo vệ các quan hệ xã hội thống trị; phù hợp với các quan hệ xã hội ấy, chuẩn mực tạo thành hành vi phù hợp với pháp luật, tức là cưỡng bức tuân theo nó Sự thực hiện phổ biến tương ứng các quan hệ xã hội thống trị đồng thời cũng là tính chuẩn mực

1.3 Chuẩn mực phong tục, tập quán

Phong tục là thuật ngữ ghép đôi, trong đó, “phong” là nền nếp đã được lan truyền, phổ biến rộng rãi, “tục” là những thói quen, nếp sống lâu đời Như vậy, về mặt ngữ nghĩa, phong tục là những thói quen, nền nếp lâu đời đã được lan truyền, phổ biến rộng rãi trên phạm vi toàn xã hội hay trong một cộng đồng xã hội, một nhóm xã hội nhất định

Trang 4

Tập quán là những quy ước, quy tắc giao tiếp, ứng xử giữa các cá nhân với nhau, cá nhân với cộng đồng xã hội hoặc giữa các cộng đồng xã hội với nhau trong cuộc sống, sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt xã hội, được lặp đi, lặp lại nhiều lần rồi trở thành thói quen, nền nếp của cộng đồng người

Cả phong tục và tập quán đều có quá trình hình thành, tồn tại và phát triển lâu dài về mặt lịch sử, đều phản ánh các mặt, các khía cạnh trong hoạt động giao tiếp, sinh hoạt của các cộng đồng người dưới dạng thói quen, nền nếp Giữa phong tục và tập quán có nhiều điểm tương đồng đến mức, nhiều khi không phân biệt được một cách rõ ràng đâu là phong tục và đâu là tập quán Chính vì vậy, thuật ngữ “phong tục” và thuật ngữ “tập quán” thường được

sử dụng song hành với nhau, tạo thành thuật ngữ “phong tục, tập quán”.

Quá trình hình thành, phát triển của phong tục, tập quán là quá trình biến đổi không ngừng cùng với sự biến đổi của văn hóa - xã hộiqua các thời kỳ lịch sử, nhưng dai dẳng hơn và có những quy luật riêng của nó Một phong tục, tập quán không dễ gì được mọi người, mọi nhà, mọi cộng đồng xã hội thừa nhận và tuân theo trong một sớm, một chiều Phong tục hay thì được nhiều người bắt chước nhau làm, tập quán dở thì nhiều người cũng sẽ bắt chước nhau bỏ dần Bản thân các phong tục, tập quán cũng nằm trong cuộc đấu tranh xã hội đã, đang và sẽ tiếp diễn giữa cái cũ và cái mới Đó cũng là quá trình hình thành, biến đổi của các chuẩn mực phong tục, tập quán

Chuẩn mực phong tục, tập quán là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi được xác lập nhằm củng cố những mẫu mực giao tiếp, ứng xử trong các cộng đồng người, các quy tắc sinh hoạt công cộng lâu đời của con người, được hình thành qua quá trình lịch sử lặp đi, lặp lại nhiều lần, trở thành thói quen trong lao động, cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày của các cộng đồng xã hội.

Các đặc điểm của chuẩn mực phong tục, tập quán:

Trang 5

Chuẩn mực phong tục, tập quán không phải là ý chí của cá nhân đơn lẻ, mà

là sự thể hiện ý chí chung của một cộng đồng xã hội, được biểu hiện ra trong hành vi, hoạt động của mỗi thành viên xuất phát từ sự thừa nhận, tôn trọng

và tuân thủ theo các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi chung Không thể nói phong tục, tập quán của cá nhân, mà phải là phong tục, tập quán của một cộng đồng người

Chuẩn mực phong tục, tập quán thường được hình thành một cách tự phát, được khẳng định dần qua một quá trình lịch sử nhất định và gắn liền với các điều kiện địa lý, hoàn cảnh kinh tế - văn hóa - xã hội nơi cộng đồng xã hội tổ chức hoạt động sống, lao động, sinh hoạt Chính vì vậy, chuẩn mực phong tục, tập quán thường ít biến đổi và mang tính cục bộ J.J Rousseau từng nhận xét rằng: “Một khi phong tục, tập quán đã bắt rễ sâu, muốn thay đổi nó thì thật nguy hiểm và vô hiệu; dân chúng không chịu nổi ngay khi người ta động đến những cái xấu xa của họ để giúp họ tiễu trừ cái xấu ấy”

Chuẩn mực phong tục, tập quán có sự hiểu biết rất đa dạng và phong phú, thường được thể hiện ra trong nề nếp, giao tiếp, ứng xử, cách đối nhân xử thế giữa mọi người trong cách sinh hoạt văn hóa - văn nghệ dân gian, lễ hội

cổ truyền, nghi thức tôn giáo, tín ngưỡng hoặc trong lao động, sản xuất, sinh hoạt của cộng đồng xã hội

Chuẩn mực phong tục, tập quán được coi là các phương tiện xã hội hóa cá nhân, góp phần giữ gìn và lưu truyền những giá trị văn hóa, lối sống, ngôn ngữ, những kinh nghiệm quý báu về lao động, sản xuất, sinh hoạt từ thế hệ này sang thế hệ khác, góp phần củng cố khối đoàn kết bên trong cộng đồng

xã hội

II Mối quan hệ giữa chuẩn mực phong tục, tập quán và chuẩn mực pháp luật

2.1Những vấn đề lý luận chung

Trang 6

Chuẩn mực phong tục, tập quán và pháp luật có mối quan hệ hữu cơ với nhau Do gắn bó chặt chẽ với những thói quen, nếp sống của các cộng đồng

xã hội nên chuẩn mực phong tục, tập quán được coi là các quy tắc xử sự chung, điều chỉnh các quan hệ xã hội ngay từ khi trong xã hội còn chưa xuất hiện nhà nước và pháp luật Nhiều phong tục, tập quán trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ rất bền chặt trong nhân dân và có sức mạnh hơn cả những đạo luật Nhiều thuần phong mĩ tục rất cần thiết cho đạo lý làm người, giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội Khi nhà nước xuất hiện, nhà nước đã tìm cách vận dụng các phong tục, tập quán để phục vụ cho lợi ích của mình, thay đổi nội dung của chúng cho phù hợp, thừa nhận và nâng cấp chúng thành các quy phạm pháp luật hoặc coi chúng là tập quán pháp Như vậy, chuẩn mực phong tục, tập quán là một nguồn quan trọng để hình thành pháp luật

Chuẩn mực phong tục, tập quán là sự thể hiện ý chí chung của cộng đồng xã hội, được các thành viên của nó thừa nhận, tuân thủ và thực hiện một cách tự nguyện Nó là một trong những nhân tố tạo nên sự đồng thuận xã hội Với ý nghĩa đó, chuẩn mực phong tục, tập quán góp phần quan trọng trong việc đưa pháp luật vào đời sống cộng đồng xã hội một cách thuận lợi

Pháp luật cũng có tác động quan trọng đối với chuẩn mực phong tục, tập quán Pháp luật có thể góp phần củng cố, khẳng định, phát huy các phong tục, tập quán; hoặc ngược lại, có thể can thiệp, cưỡng bức để loại bỏ chúng

ra khỏi đời sống cộng đồng Trong mối liên hệ này, cần lưu ý hai khía cạnh sau:

Một là, đối với những phong tục, tập quán có giá trị truyền thống, mang tính

nhân văn sâu sắc, đã trở thành thuần phong mỹ tục, có tác dụng tích cực đối với cộng đồng xã hội thì pháp luật cần thừa nhận, củng cố, giữ gìn và phát huy vai trò của chùng trong đời sống xã hội; vận dụng chúng vào trong nếp sống, suy nghĩ, hành vi pháp luật của mỗi người

Trang 7

Hai là, đối với những phong tục, tập quán đã lạc hậu, lỗi thời đã trở thành hủ

tục, thậm chí mang màu sắc mê tín dị đoan (đồi phong bài tục), thì bên cạnh việc tích cực vận động, tuyên truyền để nhân dân nhận thức được và tự giác loại bỏ; trong những trường hợp cần thiết, nhà nước, chính quyền các cấp phải dùng tới sức mạnh cưỡng chế của pháp luật nhằm loại trừ chúng ra khỏi đời sống của cộng đồng, góp phần xây dựng lối sống văn minh, phù hợp với tiến bộ xã hội

2.2 Thực tiễn

a, Tác động của chuẩn mực phong tục, tập quán tới chuẩn mực pháp luật Thứ nhất, chuẩn mực phong tục, tập quán là một nguồn quan trọng để hình thành pháp luật.

Trước khi có pháp luật, phong tục, tập quán là công cụ chính điều chỉnh các quan hệ trong xã hội Khi có pháp luật, một số phong tục, tập quán được nhà nước thừa nhận và nâng lên thành pháp luật, gọi là tập quán pháp Điều đó dẫn đến cùng một quan hệ xã hội, có thể vừa do phong tục, tập quán điều chỉnh, có thể vừa do pháp luật nhà nước điều chỉnh

Ví dụ:

Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán,( ) Tập quán ( ) không được trái với những nguyên tắc quy định trong bộ luật

này” Hay tạiĐiều 409 có quy định về việc giải thích hợp đồng dân sự “khi hợp đồng thiếu một số điều khoản thì có thể bổ sung theo tập quán đối với loại hợp đồng có tại địa điểm giao kết hợp đồng”.

Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với nguyên tắc quy định của luật này thì được tôn trọng

và phát huy” Ngoài ra việc áp dụng tập quán trong pháp luật ở nước ta còn

Trang 8

được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác như tập quán trong quan hệ hôn nhân, quyền nuôi con khi vợ chồng ly hôn

Không chỉ trong quan hệ hôn nhân và gia đình, trong quan hệ dân sự, kinh doanh - thương mại cũng có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định việc áp dụng tập quán Điều 5 Luật Thương mại năm 2005 nêu những trường hợp áp dụng tập quán thương mại: “1 Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng (…) tập quán thương mại quốc tế (…) thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó; 2 Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng (…) tập quán thương mại quốc tế nếu (…) tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam" Điều 235 Luật Thương mại năm 2005 khi quy định về quyền, nghĩa vụ của người kinh doanh dịch vụ logistics khẳng định, khi thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, thương nhân kinh doanh dịch vụ này phải tuân thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải

Thứ hai, chuẩn mực phong tục, tập quán góp phần quan trọng trong việc đưa pháp luật vào đời sống cộng đồng xã hội một cách thuận lợi.

Từ ngàn đời xa xưa, nhiều phong tục tập quán đã in sâu vào tâm thức người Việt Nam, có nhiều phong tục tập quán được nhà nước, pháp luật thừa nhận hoặc sửa đổi sao cho phù hợp

Ví dụ:

Điều 625 Bộ luật Dân sự năm 2005 về việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng do súc vật gây ra quy định “trong trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”, như vậy phong tục,

tập quán trong một số trường hợp mặc dù không được pháp luật hóa nhưng được pháp luật thừa nhận Phong tục, tập quán đã thay pháp luật giải quyết

Trang 9

vụ việc giúp việc điều chỉnh của pháp luật thực thi có hiệu quả cao hơn trong thực tiễn

Trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 53 quy định “cái chết của một trong hai vợ chồng bắt đầu cho thời kì để tang, kết thúc bằng lễ đóng cửa phần mộ”, điều này đã phản ánh rõ phong tục bỏ mả và giữ mả vốn xuất

phát từ vùng Tây Nguyên Phong tục này yêu cầu nhân thân của người quá

cố phải thường xuyên chăm sóc, dọn dẹp trong thời kì giữ mả, phải tuyệt đối chung thủy với người quá cố cho đến khi thời kì giữ mả kết thúc Phong tục này thể hiện một cách ứng xử tốt đẹp của những người còn sống với người

đã mất Nguồn gốc hình thànhdựa trên tinh thần tốt đẹp từ thuần phong mỹ tục, quy địnhpháp luật đã được đưa vào đời sống cộng đồng xã hội một cách thuận lợi, hợp lý hợp tình nên dễ dàng đi vào cuộc sống và được mọi người

tự giác thực hiện

b, Tác động của chuẩn mực pháp luật đối với chuẩn mực phong tục, tập quán

Thứ nhất,pháp luật có thể góp phần củng cố, khẳng định, phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp.

Do được nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện nên pháp luật mang tính quyền lực nhà nước và tác động mạnh đến phong tục, tập quán Còn phong tục, tập quán lại có một đời sống thực tế đa dạng,phong phú về cả con đường hình thành và phương thức tồn tại.Có những phong tục, tập quán phù hợp với pháp luật,thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc nhưng cũng có những phong tục tập quán trở thành hủ tục,trái pháp luật.Chính vì vậy nhà nước ghi nhận,củng cố và bảo vệ phong tục tập quán tốt đẹp dưới nhiều hình thức và biện pháp khác nhau là hết sức cần thiết.Ở một khía cạnh nào đó nhà nước thừa nhận các phong tục tập quán và nâng lên thành các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung là quy phạm pháp luật Điểu này giúp cho phong tục tập

Trang 10

quán được tôn trọng,bảo vệ và phát huy tác dụng trong cuộc sống, góp phần bảo tồn phát huy những phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp khi chúng phù hợp với ý chí nhà nước và được thừa nhận trong pháp luật

Ví dụ:

Điều 5 Hiến pháp năm 1992 quy định “ Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và phát huy những phong tục tập quán truyền thống văn hoá tốt đẹp của mình”.

HayĐiều 6 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nêu rõ: “Trong quan hệ HN&GĐ, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật này thì được tôn trọng và phát huy” Để củng cố, khẳng định các phong tục, tập quán tốt đẹp, cũng

như phát huy tác dụng quy định của luật trong cuộc sống, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2000 đối với các dân tộc thiểu số Điều 2,

Nghị định này khẳng định “1.Phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình của các dân tộc thiểu số (được ghi trong Phụ lục A ban hành kèm theo Nghị định này) thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với những nguyên tắc quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì được tôn trọng và phát huy ( )”.

Những phong tục, tập quán có giá trị truyền thống, mang tính nhân văn sâu sắc, đã trở thành thuần phong mỹ tục, có tác dụng tích cực đối với cộng đồng xã hội thì pháp luật thừa nhận, củng cố, giữ gìn và phát huy vai trò của chùng trong đời sống xã hội; vận dụng chúng vào trong nếp sống, suy nghĩ, hành vi pháp luật của mỗi người

Ví dụ: Luật pháp Việt Nam quy định “con cái có quyền và nghĩa vụ chăm sóc ông bà, cha mẹ” (Khoản 2 Điều 36 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000) Điều luật này của nhà nước xuất phát từ đạo lý làm người, truyền

Ngày đăng: 02/09/2020, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w