Xuất phát từ lý do đó, tác giả quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu “Xác lập tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán và những giải pháp có tính định hướng để nân
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS VÕ VĂN NHỊ
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
HUỲNH THỊ KIM NGỌC
Trang 4Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục viết tắt
Danh mục bảng biểu
Phần I MỞ ĐẦU 1
Phần II NỘI DUNG 10
Chương 1 HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 10
1.1 HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN 10
1.1.1 Khái niệm … 10
1.1.2 Vai trò và chức năng của hệ thống thông tin kế toán …11
1.1.2.1 Vai trò 11
1.1.2.2 Chức năng 12
1.2 TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN 13
1.2.1 Khái niệm về tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán 13
1.2.2 Các nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán 15
1.2.3 Mối liên hệ giữa thực hiện chức năng kế toán và tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán 18
1.2.3.1 Chức năng thu thập, xử lý chuyển đổi dữ liệu, lưu trữ, báo cáo các sự kiện tài chính và hỗ trợ hoạt động quản lý 19
1.2.3.2 Hỗ trợ quá trình ra quyết định bằng cách cung cấp dữ liệu hữu ích 21
1.2.3.3 Cung cấp một hệ thống kiểm soát thích hợp 23
Trang 5TIN KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 26
2.1 ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 26
2.1.1 Một số vấn đề chung của doanh nghiệp nhỏ và vừa 26
2.1.2 Đặc điểm của hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa 27
2.2 NHẬN DIỆN CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 29
2.3 KHẢO SÁT, PHÂN TÍCH VÀ KẾT LUẬN VỀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 31
2.3.1 Thiết kế câu hỏi khảo sát và thu thập mẫu khảo sát 31
2.3.2 Phân tích kết quả khảo sát 33
2.3.2.1 Đánh giá độ tin cậy và kiểm định giá trị thang đo và dữ liệu khảo sát 33
2.3.2.2 Phân tích sự khác biệt quan điểm giữa những đối tượng khảo sát có đặc tính khác nhau về tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán 36
2.3.2.3 Đánh giá tổng quát trung bình các thành phần tiêu chí 41
2.3.3 Kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu 47
2.4 KẾT LUẬN 48
Trang 63.1 QUAN ĐIỂM NÂNG CAO TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG
THÔNG TIN KẾ TOÁN 51
3.1.1 Quan điểm phù hợp với môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp 52
3.1.2 Quan điểm tích hợp được kế toán tài chính và kế toán quản trị 52
3.1.1 Quan điểm ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện hệ thống thông tin kế toán 53
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 53
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán 53
3.2.1.1 Sử dụng nguồn lực nhân sự quản lý và kế toán 53
3.2.1.2 Hoàn thiện các thủ tục và hướng dẫn 54
3.2.1.3 Thiết lập nội dung thông tin phục vụ cho hoạt động và quản lý 56
3.2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin 58
3.2.3 Hệ thống kiểm soát nội bộ 60
3.3 KIẾN NGHỊ 60
3.3.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 60
3.2.2 Đối với bản thân doanh nghiệp 61
3.4 KẾT LUẬN 61
Phần III KẾT LUẬN CHUNG CỦA LUẬN VĂN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7HTTTKT tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh” i phụ lục 2 “Kết quả xử lý đánh giá độ tin cậy thang đo và dữ liệu” vii phụ lục 3: “Kết quả kiểm định giá trị thang đo” xv phụ lục 4 “Kết quả phân tích Kruskal – Wallis các biến có sự khác
biệt giữa các nhóm đối tượng khảo sát có đặc tính khác nhau ” xxvii phụ lục 5 “Kết quả xử lý one way –ANOVA các biến có sự khác
biệt giữa các nhóm đối tượng khảo sát có đặc tính khác nhau” xxxiii phụ lục số 6 “Trung bình thành phần tiêu chí” xlvii
Trang 8AICPA: Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ
COSO (the Committee of Sponsoring Organizations of Treadway Commission): Ủy ban chống gian lận báo cáo tài chính
DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
FASB (Financial Accounting Standards Board): Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ
GDP ( Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội
HTTTKT: Hệ thống thông tin kế toán
IASB (International Accounting Standards Board): Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế
Trang 9Bảng 1.1 Đặc tính của HTTTKT hữu hiệu theo quan điểm của những nhà nghiên cứu nước ngoài
Bảng 2.1 Kết quả kiểm định khác biệt quan điểm giữa các đối tượng có đặc tính khác nhau được khảo sát
Bảng 2.2 Mô tả thống kê trung bình các thành phần tiêu chí
Bảng 2.3 Kết quả kiểm định khác biệt quan điểm giữa các đối tượng có đặc tính trình độ văn hóa khác nhau được khảo sát
Trang 10PHẦN I MỞ ĐẦU
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hệ thống thông tin kế toán là một hệ thống với những chức năng vận hành như thu thập dữ liệu, xử lý, phân loại và báo cáo các sự kiện tài chính với mục tiêu cung cấp thông tin liên quan cho mục đích lưu trữ số liệu, hướng tới chỉ đạo và ra quyết định (Boockholdt, 1999)
Việc thực hiện hệ thống thông tin kế toán là một dự án đầu tư quan trọng và khá tốn kém cho hầu hết các doanh nghiệp Để có được những thông tin hữu ích, phù hợp với yêu cầu quản lý, cần có một hệ thống thông tin kế toán mạnh mẽ và hữu hiệu Theo kết quả nghiên cứu của Flynn (1992) được trích trong Raupeliene et al.(2003) đã phát hiện ra rằng chỉ có 20% hệ thống thông tin đã được sử dụng thành công, trong khi các hệ thống thông tin kế toán khác ảnh hưởng trung lập hay tiêu cực Những lập luận này cho thấy tầm quan trọng cho đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán
Tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán từ lâu đã là đề tài của nhiều nghiên cứu (Chong 1996, Chenhall and Moriss 1986, Kim 1988, Mia and Chenhall
1994, Raupeliene 2003, Sajady et al 2008, Kouser et al 2011, Dehghanzade et al
2011, Alsharayri 2012, Soudani 2012,…) Các bài nghiên cứu này có thể được chia
thành hai nhóm sau:
Nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán và đưa ra các tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán, phát triển mô hình đánh giá tính hữu hiệu trong nhiều bối cảnh, nền kinh tế khác nhau Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống thông tin
kế toán và đưa ra các giải pháp phù hợp với bối cảnh nghiên cứu
Ở Việt Nam, có rất ít nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán Hàm Viết Thuận (2008) nghiên cứu về tính hữu hiệu của phần mềm được đo lường bởi lợi ích Tuy nhiên lợi ích được tạo ra từ hệ thống là chất lượng và số
Trang 11lượng, cái mà khó có thể đo lường chúng Nghiên cứu nổi bật gần đây về tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán là nghiên cứu của Lê Ngọc Mỹ Hằng và Hoàng Giang (2012) Nghiên cứu này đóng góp vào dự án phát triển kinh tế xã hội của Thừa Thiên Huế đến năm 2020 cùng với sức mạnh mô hình kinh tế tập thể thông qua thông tin kĩ thuật và phát triển công nghệ phần mềm Nghiên cứu giới hạn phạm vi ở mô hình kinh tế hợp tác xã, và hạn chế của nghiên cứu là xem xét hệ thống thông tin kế toán chỉ ở góc độ phần mềm kế toán, nghiên cứu tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán theo thời điểm hợp tác xã chưa sử dụng phần mềm
và sau khi sử dụng phần mềm, từ đó đưa ra tiêu chí đánh giá hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán Nên nghiên cứu này chưa đưa ra được tiêu chí đánh giá tổng quan toàn bộ hệ thống thông tin kế toán hữu hiệu
Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, có nhiều thành phần kinh tế Theo cách xác định hiện nay của chính phủ, Việt Nam có các thành phần kinh tế sau: kinh
tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân,kinh tế cá thể và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Mặc dù Đảng và Nhà nước chủ trương ưu tiên phát triển các thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, song tốc độ tăng trưởng của hai thành phần này lại thấp hơn so với của kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Thống kê năm 2011, khu vực kinh tế nhà nước là khu vực lớn nhất, chiếm 33,03% GDP thực tế của Việt Nam, tiếp theo lần lượt là kinh tế cá thể (31,21 %), kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (18,97 %), kinh tế tư bản tư nhân (11,57 %), kinh
tế tập thể (5,22%) Nhưng tốc độ tăng lớn nhất là khu vực kinh tế cá thể (7,54%), tiếp theo lần lược là kinh tế tư nhân (6,98%), kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (6,30%), kinh tế nhà nước (4,46%), cuối cùng là kinh tế tập thể (2,89%) Điều này chứng tỏ bộ phận kinh tế cá thể, tư nhân ngày càng phát triển và cần được quan tâm phát triển nhiều hơn
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như sau:
Trang 12Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%) Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Vì thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế
Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động
Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng
để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh
Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ
sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại
có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương
Đóng góp không nhỏ giá trị GDP cho quốc gia
Do vai trò quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhiều quốc gia đã chú trọng công tác khuyến khích loại hình doanh nghiệp này phát triển Các hỗ trợ mang tính thể chế để khuyến khích bao gồm: các hỗ trợ nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, những hỗ trợ bồi dưỡng năng lực doanh nghiệp (đào tạo nguồn lực quản lý, hỗ trợ về công nghệ, thông tin kỹ thuật và phần mềm công nghiệp, v.v), Nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế, là đa số các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ ít quan tâm và đầu tư vào hệ thống thông tin kế toán Để đáp ứng những yêu cầu phát triển, nhu cầu thông tin ngày
Trang 13càng tăng, vấn đề về hệ thống kế toán ngày càng trở nên quan trọng, và là một trong những nhân tố chủ chốt để phát triển doanh nghiệp Do vậy, việc đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán là rất cần thiết để giúp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đánh giá được việc thực hiện hệ thống thông tin kế toán tại đơn vị và nhận diện
rõ hơn về những hữu ích mà hệ thống thông tin kế toán mang lại từ đó hoàn thiện hệ thống kế toán
Từ tầm quan trọng của vấn đề, từ chổ số lượng nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều và cần được bổ sung hoàn thiện, nó là vấn đề mới, là khoảng trống trong nghiên cứu tại môi trường Việt Nam Xuất phát từ lý do đó, tác giả quyết định thực
hiện đề tài nghiên cứu “Xác lập tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán và những giải pháp có tính định hướng để nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa – nghiên cứu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” để xác định các chỉ tiêu đánh giá
tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp
MỤC TIÊU CỦA LUẬN VĂN
Mục tiêu tổng quát
Đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán để đưa ra các giải pháp nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 14Để đạt được mục tiêu đề ra, luận văn cần giải quyết 3 vấn đề chính, đó là: 1) Thế nào là tính hữu hiệu của HTTTKT, mục tiêu của phần này là tìm ra các thang
đo tính hữu hiệu của HTTTKT 2) Đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa , mục đích của phần này là tìm ra các tiêu chí đánh giá các tiêu chí về tính hữu hiệu của HTTTKT tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa 3) Đề xuất giải pháp nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán, mục đích của phần này là từ những tiêu chí đã được nhận diện ở trên, đề xuất những giải pháp cần thiết
để nâng cao tính hữu hiệu của HTTTKT tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Giải quyết vấn đề 1) tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán, tác giả sử dụng phương pháp tổng kết các quan điểm của các nhà nghiên cứu về hữu hiệu của HTTTKT
Giải quyết vấn đề 2) đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT Bước 1: luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu suy diễn- định tính Do hiện nay các nghiên cứu xác định trực tiếp các tính chất cấu thành nên tính hữu hiệu của hệ HTTKT hầu như không có, nghiên cứu của nước ngoài lại không sát với thực tiễn Việt Nam, nên luận văn phải dùng việc suy diễn để nhận dạng các nhân tố tính chất của tính hữu hiệu của HTTKT tại các doanh nghiệp Việt Nam Từ đó tác giả đưa ra các tiêu chí và xây dựng mô hình nghiên cứu đánh giá tính hữu hiệu của HTTKT Bước 2: Luận văn sử dụng phương pháp định lượng, chọn mẫu khảo sát thuận tiện, sau đó sử dụng SPSS để thực hiện đánh giá
và phân tích kết quả khảo sát
Giải quyết vấn đề 3) giải pháp nâng cao tính hữu hiệu của HTTTKT, trên cở sở các tiêu chí đánh giá về tính hữu hiệu của HTTTKT, luận văn đưa ra các giải pháp mang tính định hướng nhằm nâng cao tính hữu hiệu của HTTTKT tại các doanh nghệp nhỏ và vừa
Trang 15CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Liên quan đến đề tài của luận văn, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra và cần giải quyết là:
- Để đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán thì cần dựa vào những tiêu chí nào?
- Tính cho đến nay Việt Nam đã có những tiêu chí nào để đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán?
- Các nhóm người có đặc tính khác nhau có quan điểm khác nhau về lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán hay không?
- Từ những tiêu chí đã lựa chọn cần có những biện pháp nào để nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán?
PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu: giới hạn phạm vi là các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Việc giới hạn như vậy xuất phát từ quan điểm: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế của cả nước nên có thể đại diện được cho các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế và các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp rất lớn cho nền kinh tế của Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu: là các nhà quản lý, giám đốc tài chính, kế toán, kiểm toán doanh nghiệp Đây là các đối tượng tham gia trực tiếp vào quản lý quyết định
tổ chức HTTTKT, sử dụng HTTTKT để tạo thông tin, khai thác thông tin
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt mục tiêu đề ra, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định lượng và định tính Định tính là phương pháp luận văn sử dụng để nghiên cứu ra các chỉ tiêu đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán Tiếp theo luận văn dùng phương pháp định lượng để khẳng định kết quả định tính kết luận các
Trang 16tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nghiên cứu định tính và kết quả:
Như đã giới thiệu, có rất nhiều quan điểm và nghiên cứu khác nhau về tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán Tuy nhiên hiện nay có rất ít nghiên cứu tổng hợp kết quả này thành khung lý thuyết hoàn chỉnh, có cái nhìn tổng quan để đưa ra các tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán Nghiên cứu định tính sẽ thực hiện bước khám phá các tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán nói chung và tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán phù hợp với loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nghiên cứu định lượng và kết quả:
Nghiên cứu định lượng nhằm mục đích đo lường, xác định từng nhóm tiêu chí cụ thể, đánh giá mức độ quan trọng của tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Chọn mẫu
Luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (Nguyễn Đình Thọ, 2011) Đối tượng khảo sát là nhà quản lý tài chính, giám đốc tài chính, kế toán, kiểm toán là những người trực tiếp điều hành và sử dụng hệ thống
Để xác định số lượng mẫu khảo sát bao nhiêu là phù hợp, luận văn đã tìm kiếm các tài liệu đề cập về kích thước mẫu khảo sát phù hợp Kết quả cho thấy hiện nay chưa có một lý thuyết thống kê nào để xác định kích thước tập mẫu tối thiểu trong phân tích nên là bao nhiêu là đủ Số mẫu cụ thể sẽ được lựa chọn ở phần khảo sát thực tế
Giả thuyết nghiên cứu
Sau những xem xét về tài liệu liên quan, luận văn đưa ra giả thuyết nghiên cứu :
Trang 17Hệ thống thông tin kế toán hữu hiệu được đánh giá thông qua các tiêu chí:
- Quyết định tốt hơn cho nhà quản lý
- Thõa mãn người sử dụng thông tin
- Quá trình xử lý các nghiệp vụ kinh tế dễ dàng hơn
- Cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ
- Hỗ trợ cho việc đánh giá thành quả thuận lợi hơn
- Chất lượng của báo cáo tài chính
- Hệ thống thông tin kế toán tích hợp
- Tăng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Ho: Trung bình nhân tố< 3 ( chỉ tiêu không đánh giá được tính hữu hiệu của HTTTKT)
H1: Trung bình nhân tố > 3( chỉ tiêu đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán)
Giả thuyết dựa trên các biến điều tiết được thiết lập để xem xét liệu việc lựa chọn các tiêu chí đánh giá có bị bất kì tác động chủ quan nào trên đặc tính người trả lời câu hỏi nghiên cứu với hy vọng là việc lựa chọn các tiêu chí đánh giá không bị ảnh hưởng bởi các nhân tố tác động này
Giả thuyết:
Mối liên hệ giữa đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán và các đặc điểm của người trả lời: Lĩnh vực nghề nghiệp, vị trí và kinh nghiệm làm việc; Quy
mô hoạt động sản xuất kinh doanh
- Ho: Trung bình của các tổng thể bằng nhau (nghĩa là không có sự khác biệt về quan điểm về tiêu chí đánh giá giữa các nhóm tổng thể)
- H1: Có ít nhất một cặp có trung bình tổng thể khác nhau (nghĩa là có sự khác biệt về quan điểm tiêu chí đánh giá giữa các nhóm tổng thể)
Trang 18Phân tích kết quả khảo sát
Luận văn sử dụng SPSS 18.0 để xử lý lần lược theo các bước:
Bước 1: Đánh giá độ tin cậy và kiểm định giá trị của thang đo và dữ liệu (sử dụng Cronbach’s Alpha và EFA)
Bước 2: Sử dụng phân tích Kruskal – Wallis kết hợp với phân tích phương sai một yếu tố ANOVA để trả lời cho câu hỏi thứ 3 của câu hỏi nghiên cứu
Bước 3: Sử dụng thống kê mô tả đánh giá trung bình các thành phần tiêu chí nhằm tổng quát các tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán
KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được kết cấu thành các nội dung sau:
Phần I mở đầu: giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi
nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu đề tài
Trang 19PHẦN II NỘI DUNG
Chương 1 HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ TÍNH HỮU HIỆU CỦA
HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN
1.1 HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN
1.1.1 Khái niệm
Kế toán được xem như là một hệ thống thông tin là một định nghĩa mới nhất của kế toán Lần đầu tiên được Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ phát biểu vào năm 1966: Kế toán thật sự là một hệ thống thông tin, chính xác hơn là thực hành các lý thuyết tổng hợp của thông tin trong lĩnh vực những hoạt động kinh tế hữu hiệu và bao gồm trong đó có một bộ phận chủ yếu của thông tin đó là được trình bày dưới hình thức định lượng
Hệ thống là một tập hợp của hai hoặc nhiều bộ phận, thành phần có mối liên
hệ với nhau, ảnh hưởng tác động lẫn nhau để đạt được những mục tiêu chung Hệ thống hầu hết được tạo thành từ nhiều hệ thống phụ nhỏ hơn, mỗi hệ thống phụ đó
có những chức năng đặc biệt và hỗ trợ cho hệ thống lớn hơn Thông tin là dữ liệu được sắp xếp và xử lý để cung cấp một cách có ý nghĩa cho người sử dụng Cái người sử dụng cần là thông tin ra quyết định hoặc cải thiện quá trình ra quyết định, nói chung người sử dụng có thể ra quyết định tốt hơn là nhờ vào chất lượng và số lượng thông tin tăng lên (Romney et al., 2006)
Hệ thống thông tin (hay là hệ thống thông tin quản lý) là một hệ thống nhân tạo, nói một cách tổng quát nó gồm có tập hợp các bộ phận của hệ thống máy tính
và các bộ phận thủ công được thiết lập để thu thập, lưu trữ, và quản lý dữ liệu và cung cấp thông tin đầu ra cho người sử dụng (Gelinas et al., 2005)
Hệ thống thông tin kế toán (HTTTKT) được xem là một hệ thống phụ của hệ thống thông tin quản lý Mục đích của HTTTKT là thu thập, xử lý và báo cáo thông tin liên quan đến khía cạnh tài chính của các sự kiện của doanh nghiệp HTTTKT bao gồm sáu thành phần sau:
Trang 20- Con người là người điều hành hệ thống và thực hiện những chức năng khác nhau trong hệ thống
- Các thủ tục và hướng dẫn, bao gồm cả thủ công và máy tính, liên quan tới thu thập, xử lý và lưu trữ dữ liệu về hoạt động của tổ chức
- Dữ liệu về tổ chức và quá trình kinh doanh của tổ chức
- Phần mềm được sử dụng để xử lý dữ liệu của tổ chức
- Cơ sở hạ tầng thông tin kỹ thuật, bao gồm máy tính, thiết bị ngoại vi, và thiết bị liên kết mạng được sử dụng để thu thập, lưu trữ, xử lý và chuyển đổi dữ liệu thành thông tin
- Hệ thống kiểm soát nội bộ và biện pháp bảo vệ để bảo vệ an toàn dữ liệu trong HTTTKT
1.1.2 Vai trò và chức năng của hệ thống thông tin kế toán
1.1.2.1 Vai trò:
Mục tiêu của hầu hết các tổ chức là cung cấp giá trị cho khách hàng của họ Chuỗi giá trị của một tổ chức bao gồm 5 hoạt động chính cung cấp giá trị trực tiếp đến khách hàng Đó là: (1) Inbound logistic, (2) Hoạt động sản xuất kinh doanh, (3) Outbound logistic, (4) Tiếp thị và bán hàng, (5) Dịch vụ hậu mãi Vai trò của HTTTKT như là một hoạt động hỗ trợ, HTTTKT đóng góp giá trị bằng cách cung cấp thông tin chính xác và kịp thời vì vậy 5 hoạt động chính của chuỗi giá trị có thể được thực hiện hữu hiệu và hiệu quả hơn (Romney et al., 2006) HTTTKT thiết kế tốt có thể cộng vào giá trị của tổ chức thông qua:
- Góp phần cải thiện chất lượng và giảm chi phí của sản phẩm hoặc dịch vụ: HTTTKT có thể giám sát các bộ phận vì thế người quản lý bộ phận được thông báo ngay lập tức khi hoạt động bị xuống dốc vượt ra khỏi giới hạn chất lượng chấp nhập được Nó giúp duy trì chất lượng sản phẩm, nó cũng làm giảm số nguyên liệu lãng phí và chi phí của việc tái tạo lại
Trang 21- Góp phần cải thiện hiệu quả: Một HTTTKT được thiết kế tốt có thể làm cho tổ chức hiệu quả hơn bằng cách cung cấp thông tin kịp thời Ví dụ như sản xuất đúng hạn, chính xác, cập nhật thông tin về nguyên vật liệu trong kho và địa điểm của nó
- Chia sẽ kiến thức: Một HTTTKT được thiết kế tốt có thể làm cho chia sẽ kiến thức và đưa ra ý kiến chuyên môn được dễ dàng hơn, có thể làm cải thiện các bộ phận của tổ chức và thậm chí cung cấp sự cạnh tranh thuận lợi, cung cấp đầy đủ thông tin cho các bộ phận có liên quan
- Góp phần cải thiện cấu trúc kiểm soát nội bộ: Bảo vệ, kiểm soát và tách biệt là vấn đề quan trọng trên thế giới hiện nay Một HTTTKT với một cấu trúc kiểm soát nội bộ thích hợp có thể bảo vệ hệ thống từ những vấn
đề như gian lận, sai sót, thiết bị và phần mềm bị lỗi, tai họa từ tự nhiên,…
- Góp phần cải thiện việc ra quyết định Quá trình ra quyết định rất phức tạp, nhiều bước thực hiện: xác định vấn đề, thu thập và giải thích thông tin, đánh giá cách giải quyết vấn đề, lựa chọn phương pháp giải quyết và thực hiện giải quyết vấn đề Một HTTTKT có thể cung cấp sự hỗ trợ trong tất cả các giai đoạn trong việc ra quyết định Báo cáo có thể giúp xác định các vấn đề tiềm năng bằng các công cụ khác nhau như: giao diện biểu đồ, có thể giúp người ra quyết định làm sáng tỏ kết quả mô hình ra quyết định và đánh giá và lựa chọn giữa các giai đoạn biến đổi của hoạt động Cuối cùng HTTTKT có thể cung cấp phản hồi trên kết quả của hoạt động
1.1.2.2 Chức năng:
Theo Jelinas et al (2005) thì một hệ thống thông tin phục vụ cho hai chức năng trong một tổ chức: Thứ nhất, HTTTKT phản ánh trung thực và giám sát hoạt động trong tổ chức hệ thống bằng cách xử lý, ghi nhận, và báo cáo các sự kiện tài chính Chức năng thứ hai của HTTTKT là hỗ trợ hoạt động quản lý, bao gồm ra quyết định quản trị
Trang 22Theo Romney et al (2006) HTTTKT có ba chức năng Hai chức năng đầu tiên được định nghĩa tương tự như Jelinas et al (2005): Thu thập và lưu trữ dữ liệu
về hoạt động, nguồn lực và nhân sự của tổ chức Chuyển đổi dữ liệu thành hữu ích cho người sử dụng để ra quyết định quản lý như: hoạch định, điều hành, kiểm soát, đánh giá hoạt động nguồn lực và nhân sự Romney et al (2006) đã bổ sung vào chức năng thứ ba của hệ thống đó là: cung cấp kiểm soát thích hợp để bảo vệ tài sản của tổ chức, bao gồm: dữ liệu, để đảm bảo những tài sản và dữ liệu sẳn có khi cần
và dữ liệu chính xác và đáng tin cậy Thông tin và hệ thống thông tin cần phải được bảo vệ tránh khỏi mất mát, giảm giá trị, và bị đánh cắp HTTTKT phải đáng tin cậy Tóm lại một HTTTKT thực hiện các chức năng sau:
- Thu thập, xử lý chuyển đổi dữ liệu, lưu trữ và báo cáo các sự kiện tài chính
- Hỗ trợ hoạt động quản lý, ra quyết định bằng cách cung cấp dữ liệu hữu ích
- Cung cấp một hệ thống kiểm soát thích hợp
1.2 TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN
1.2.1 Khái niệm về tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán
Hiện nay không có khung lý thuyết hoàn chỉnh và nghiên cứu nào đưa định nghĩa chính xác tính hữu hiệu của HTTKT
Có rất nhiều quan điểm và tiêu chuẩn khác nhau về tính hữu hiệu của HTTTKT Chẳng hạn, theo Otley (1980) HTTTK được xem là hữu hiệu khi thông tin cung cấp bởi chúng phục vụ cho những yêu cầu nhiều hơn người sử dụng hệ thống yêu cầu; hoặc HTTTKT hữu hiệu khi hệ thống cung cấp những thông tin tiềm năng ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định (Ivest et al., 1983) Một vài nghiên cứu
kế toán chỉ ra rằng hữu hiệu của HTTTKT phụ thuộc vào chất lượng đầu ra của hệ thống thông tin cái mà có thể thõa mãn được yêu cầu của người sử dụng (Cameron
1986, Lewin and Minton 1986, Quinn and Rohrbaugh 1983, Deone and Mclean
Trang 231992, Kim 1989) Kim (1989) lập luận rằng HTTTKT hữu hiệu dựa vào sự nhận thức về chất lượng thông tin của người sử dụng Nói chung chất lượng thông tin dựa vào độ tin cậy, hình thức báo cáo, kịp thời và phù hợp cho việc ra quyết định; hoặc Doll & Torkzadeh (1988) phát biểu rằng sự thõa mãn của người sử dụng là công cụ
đo lường tính hữu hiệu của HTTKT Phương pháp đo lường đầu ra là: nội dung thông tin, chính xác, định dạng, dễ sử dụng, và kịp thời
Gelinas (1990) xem xét hữu hiệu của HTTTKT như một thước đo sự thành công để đáp ứng các mục tiêu đã được thiết lập Sự thành công của việc thực hiện HTTTKT có thể được định nghĩa là áp dụng một cách có lợi cho khu vực quan tâm chủ yếu của tổ chức, được sử dụng rộng rãi bởi một hoặc nhiều người sử dụng hài lòng, và cải thiện chất lượng hoạt động của họ Hữu hiệu của HTTTKT có thể nhận được là cung cấp thông tin quản lý để hỗ trợ các quyết định có liên quan (Flynn,1992) Xem xét các nghiên cứu từ năm 1987 đến 1999, đã có 57 nghiên cứu chỉ ra vấn đề của HTTTKT và ra quyết định (Sajady et al., 2008)
Các quan điểm của các nhà nhiên cứu nước ngoài được tóm tắt thành bảng sau:
Bảng 1.1 Đặc tính của HTTTKT hữu hiệu theo quan điểm của những
nhà nghiên cứu nước ngoài
- Tăng thêm chất lượng ra quyết định
2 Cung cấp thông tin nhiều hơn,
thõa mãn nhu cầu của người sử
Trang 243 Dựa vào sự nhận thức về chất
lượng thông tin
- Chất lượng thông tin dựa vào độ tin cậy, hình thức báo cáo, kịp thời và phù hợp cho việc ra quyết định
- Thông tin thõa mãn yêu cầu
4 Cải thiện chất lượng hoạt động - Tăng lợi ích kinh tế cho tổ chức
Nguồn: tác giả tổng hợp
Các quan điểm về tính hữu hiệu của HTTTKT có sự khác nhau và chỉ nhìn nhận tính hữu hiệu của HTTTKT ở khía cạnh của nhà nghiên cứu xem xét chưa có quan điểm nào khái quát được tất cả các đặc tính của một HTTTKT hữu hiệu một cách toàn diện Vì thế để có một cái nhìn đầy đủ hơn tác giả tổng hợp các quan điểm của các nhà nghiên cứu trước đâyvề tính hữu hiệu của HTTTKT: một HTTTKT hữu hiệu khi nó cung cấp thông tin tin cậy, kịp thời, phù hợp việc ra quyết định, thõa mãn cho người sử dụng tùy thuộc vào quan điểm của người sử dụng hay cần được xem xét trong bối cảnh cụ thể của người sử dụng thông tin
1.2.2 Các nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán
Liên quan trực tiếp tới vấn đề đưa ra tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT các nghiên cứu đã được công bố:
Nicolaou (2000), nghiên cứu về mô hình tùy nghi về nhận thức tính hữu hiệu của HTTTKT, nghiên cứu này kiểm tra những yêu cầu về nguồn lực cho sự phối hợp và kiểm soát của tổ chức cũng như chúng ảnh hưởng như thế nào đến mức độ tích hợp của HTTTKT Những yêu cầu đó là tùy nghi trên mức độ của loại hình tổ chức, sự phụ thuộc lẫn nhau của thông tin giữa các phân hệ, và sự phụ thuộc trong chia sẽ thông tin nội bộ lẫn nhau và liên kết trao đổi dữ liệu điện tử Sự thích hợp hoặc phù hợp của hệ thống tích hợp với những yêu cầu đó là một khái niệm quan trọng ảnh hưởng đến độ tin cậy về tính hữu hiệu của HTTTKT Kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng, khi đưa ra giả thuyết, hệ thống tích hợp là nhân tố quan
Trang 25trọng giải thích các biến trong nhận thức về tính hữu hiệu của HTTTKT, đo lường bằng sự thõa mãn của người ra quyết định với sự chính xác và kiểm soát hữu hiệu của thông tin đầu ra Ảnh hưởng của hệ thống tích hợp còn dựa trên yếu tố thứ hai
là nhận thức hữu hiệu của HTTTKT, được đo bằng sự hài lòng của người ra quyết định với nhận thức chất lượng nội dung thông tin trong kết quả đầu ra của hệ thống, yếu tố này ít có ý nghĩa hơn Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ định nghĩa tính hữu hiệu của HTTTKT trong giới hạn những nhận thức về những đặc tính của hệ thống và không kiểm tra các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động
Năm 2003, một nghiên cứu chuyên khảo về mô hình đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT được thực hiện để đo lường các chỉ số chung của một HTTTKT hữu hiệu (Raupeliene et al., 2003) Việc đánh giá phức tạp về tính hữu hiệu của HTTTKT đã được thực hiện từ các khía cạnh kinh tế, kỹ thuật và xã hội Các chỉ số, phản ánh thuộc tính của HTTTKT có tầm quan trọng khác nhau và được thể hiện bằng các phương pháp định lượng và định tính Mô hình định lượng có thể được sử dụng để đánh giá các đặc điểm của HTTTKT, xác định được thời gian sử dụng , tiền bạc và các đo lường định lượng khác; mô hình định tính – dùng để đánh giá các đặc điểm, xác định bằng điểm số đánh giá của chuyên gia Cụ thể, để đánh giá điểm của kinh tế và nhất là các chỉ số kỹ thuật là sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp và các phương pháp tính toán Các chỉ số xác định bằng đo lường định lượng như tiền bạc, thời gian, dung lượng và khác Để đánh giá điểm của các chỉ số khác về xã hội học, sử dụng đánh giá của chuyên gia và so sánh các phương pháp đo lường định tính Để đánh giá tầm quan trọng của các chỉ số là sử dụng phương pháp đánh giá của chuyên gia Để đánh giá tính khách quan ý kiến của các chuyên gia, nghiên cứu tính toán trung bình của hệ số phù hợp Sau đó nhà nghiên cứu thực hiện phương pháp phân tích đa tiêu chí để tính chỉ số chung của tính hữu hiệu của HTTTKT bằng cách trộn các chỉ số định lượng và định tính, để loại bỏ tính chủ quan của chuyên gia Từ đó nghiên cứu chuyên khảo đã đưa ra được kết luận sau: (1) Hữu hiệu của HTTTKT có thể được coi là sử dụng thành công của hệ thống, đảm bảo nhu cầu của người sử dụng, (2) Phân tích để tính toán một chỉ số chung của tính hữu hiệu của
Trang 26HTTTKT, (3) Mô hình đánh giá đã có những ưu điểm sau: có thể sử dụng để đánh giá hữu hiệu của HTTTKT trong tất cả các giai đoạn của chu kỳ sống của HTTTKT; Cho phép đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT từ tất cả các khía cạnh kinh tế, xã hội, kỹ thuật; Cho phép đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT bằng một chỉ số chung từ các chỉ số định tính và định lượng; Cho phép xác định ảnh hưởng của những tiêu chí khác nhau đến tính hữu hiệu của HTTTKT Tuy nhiên, trong thực hiện thực tế của các mô hình này khá phức tạp, trong đó mô hình phải đáp ứng tính mở, cấu trúc và thực thể
Đến năm 2008, Sajady et al đã công bố nghiên cứu về các chỉ tiêu đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT Trong nghiên cứu này, tính hữu hiệu của HTTTKT được đánh giá từ những nhà quản lý tài chính của những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Teheran Nghiên cứu đã thực hiện kiểm tra tính hữu hiệu của HTTTKT thông qua năm chỉ tiêu khác biệt: ra quyết định quản lý, hệ thống kiểm soát nội bộ, chất lượng báo cáo tài chính, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động và quá trình xử lý các nghiệp vụ kinh tế Kết quả chỉ ra rằng, việc thực hiện HTTTKT tại các công ty nghiên cứu gây ra cải thiện quá trình ra quyết định, cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, cải thiện chất lượng của báo cáo tài chính, và quá trình xử
lý các nghiệp vụ kinh tế dễ dàng hơn Tuy nhiên nghiên cứu này không chỉ ra được bất cứ dấu hiệu nào cho thấy chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động được cải thiện
Ở Việt Nam nghiên cứu về tính hữu hiệu của HTTTKT không nhiều Hàm Viết Thuận (2008), đã nghiên cứu về tính hữu hiệu của phần mềm, kết luận rằng tính hữu hiệu của phần mềm được đo lường bởi lợi ích Tuy nhiên lợi ích được tạo
ra từ hệ thống là chất lượng và số lượng, cái mà khó có thể đo lường chúng
Một nghiên cứu nổi bật gần đây về tính hữu hiệu của HTTKT là Lê Ngọc Mỹ Hằng và Hoàng Giang (2012) đã nghiên cứu về phát triển mô hình đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT Nghiên cứu đưa ra các chỉ tiêu kiểm tra tính hữu hiệu của HTTTKT tại các Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế bằng sáu chỉ tiêu: quá trình ra quyết định, kiểm soát nội bộ, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thực hiện, chất
Trang 27lượng báo cáo tài chính, sự thõa mãn của người sử dụng, quá trình xử lý các nghiệp
vụ kinh tế Kết quả nghiên cứu cho thấy việc thực hiện HTTKT tại các hợp tác xã dẫn đến cải thiện quá trình ra quyết định, kiểm soát nội bộ, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thực hiện, chất lượng của báo cáo tài chính cũng như thỏa mãn thông tin của người sử dụng Nó cũng tạo điều kiện cho quá trình xử lý giao dịch tài chính tài chính dễ dàng hơn Đây là nghiên cứu kế thừa kết quả nghiên cứu của Sajady et al (2008) Trong khi đó Sajady không chỉ ra được các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động và sự thỏa mãn của người sử dụng được cải thiện thông qua HTTTKT, nghiên cứu này tập trung vào các bằng chứng thuyết phục của mối liên hệ giữa các nhân tố này và HTTTKT hữu hiệu Nghiên cứu giới hạn phạm vi ở mô hình kinh tế hợp tác
xã, và hạn chế của nghiên cứu là xem xét HTTKT chỉ ở góc độ phần mềm kế toán, nghiên cứu hữu hiệu của HTTTKT theo thời điểm hợp tác xã chưa sử dụng phần mềm và sau khi sử dụng phần mềm, từ đó đưa ra tiêu chí đánh giá hữu hiệu của HTTTKT Vì thế nghiên cứu này chưa đưa ra được tiêu chí đánh giá tổng quan toàn
bộ HTTTKT hữu hiệu
1.2.3 Mối quan hệ giữa việc thực hiện chức năng kế toán với tính hữu hiệu
của hệ thống thông tin kế toán
Nghiên cứu của luận văn thực chất làm rõ các các nhân tố, tiêu chí hữu hiệu của HTTTKT và làm phong phú thêm lý thuyết kinh nghiệm liên quan tới đánh giá trong việc thực hiện HTTTKT để phát triển đất nước
Để giúp người đánh giá hệ thống có cái nhìn cấu trúc toàn diện về HTTTKT, luận văn đã tiếp cận HTTTKT từ cái nhìn khái quát nhất đến chi tiết từng đặc tính hữu dụng và chức năng của hệ thống HTTTKT có những chức năng gì? Thực hiện những chức năng đó thì HTTTKT như thế nào là hữu hiệu? Do đó, luận văn dựa vào từng chức năng, hữu dụng của HTTTKT và các kết quả nghiên cứu về tính hữu hiệu của HTTTKT đã được công bố để nhận diện các tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT
Trang 281.2.3.1 Chức năng thu thập, xử lý chuyển đổi dữ liệu, lưu trữ, báo cáo các sự
kiện tài chính và hỗ trợ hoạt động quản lý
Với chức năng thu thập xử lý và báo cáo các sự kiện tài chính cho nhà quản trị doanh nghiệp, trước hết là phục vụ cho mục đích hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp HTTTKT xử lý và cung cấp thông tin thực hiện cho các bộ phận có liên quan để nhà quản trị có thể giám sát quá trình hoạt động hiện tại để giữ cho hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện một cách nhịp nhàng, phối hợp và linh hoạt theo một tiến trình kinh doanh của doanh nghiệp Để đạt được điều đó thì quá trình thu thập, xử lý và báo cáo, đòi hỏi phải có sự liên kết hữu hiệu giữa sáu thành phần trong HTTTKT và phải được thực hiện môt cách có hệ thống để đạt được mục tiêu Một HTTKT hữu hiệu sẽ tạo điều kiện cho việc thu thập và luân chuyển thông tin giữa các bộ phận, xử lý các nghiệp vụ kinh tế nhanh và dễ dàng
hơn Tóm lại HTTTKT hữu hiệu thì “quá trình xử lý các nghiệp vụ tài chính dễ
dàng hơn” (Sajady et al.,2008; Lê Ngọc Mỹ Hằng và cộng sự, 2012) Và đây là một
trong những tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT
Sản phẩm của việc thực hiện chức năng này chính là tạo ra báo cáo cung cấp cho bên ngoài và hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp Nhà quản lý sử dụng những thông tin trên báo cáo để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc cho những mục đích khác như phục vụ cơ quan nhà nước, đầu tư, Để thõa mãn nhu cầu của người sử dụng thì HTTTKT phải cung cấp những báo cáo với những yêu cầu sau thông tin được trình bày trên báo cáo phải có nội dung rõ ràng, chính xác, định dạng phù hợp, dễ sử dụng và kịp thời Doll & Torkzadeh (1988) phát biểu rằng sự thõa mãn của người sử dụng là công cụ đo lường tính hữu hiệu của HTTKT HTTTKT đảm bảo sự phù hợp giữa yêu cầu của người sử dụng và thông tin đầu ra Vì vậy
luận văn lựa chọn tiêu chí “sự thõa mãn của người sử dụng” thông qua HTTTKT
hữu hiệu làm tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT ( Lê Ngọc Mỹ Hằng và cộng sự, 2012)
Trang 29Đối với hoạt động của doanh nghiệp, việc thực hiện HTTTKT đòi hỏi phải tạo ra được một báo cáo tài chính có chất lượng Báo cáo phải giải thích tình hình tài chính của doanh nghiệp cho nhiều đối tượng sử dụng khác nhau, tăng tính so sánh được của thông tin tài chính giữa các doanh nghiệp tại các quốc gia khác nhau
Như vậy một HHTTKT “nâng cao chất lượng của báo cáo tài chính” thì HTTTKT
đó hữu hiệu (Sajady et al.,2008; Lê Ngọc Mỹ Hằng và cộng sự, 2012) Và đây là một trong những chỉ tiêu để đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT
Nghiên cứu của Nguyễn Bích Liên (2012) đã so sánh, phân tích trên các quan điểm của các tổ chức nghề nghiệp kế toán như Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế; Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ; Chuẩn mực kế toán Việt Nam và CobiT và lựa chọn tiêu chuẩn chất lượng thông tin kế toán phù hợp với môi trường Việt Nam: Có 2 nhóm quan điểm được đưa ra là chất lượng thông tin đồng nghĩa với chất lượng của báo cáo tài chính và chất lượng thông tin trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin Kết quả lựa chọn nghiên cứu Nguyễn Bích Liên (2012) là các tiêu chuẩn chất lượng thông tin của CobiT, đó là: hữu hiệu( nhằm giúp đảm bảo tính phù hợp và tin cậy về mặt nội dụng thông tin công bố) , hiệu quả, bảo mật , toàn vẹn, sẵng sàng, tuân thủ, và đáng tin cậy ( đảm bảo có thể tìm kiếm được đầy đủ thông tin thích hợp cho việc thực hiện trách nhiệm của người sử dụng thông tin)
Do mục tiêu của luận văn là chất lượng của thông tin kế toán là thước đo của chất lượng báo cáo tài chính nên luận văn lựa chọn tiêu chuẩn chất lượng thông tin theo quan điểm thứ hai của nghiên cứu mà Nguyễn Bích Liên( 2012) đã tổng hợp là quan điểm của các tổ chức nghề nghiệp kế toán như Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) ; Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB); Chuẩn mực kế toán Việt Nam: Chất lượng của báo cáo tài chính đồng nghĩa chất lượng của thông tin, nghĩa là làm sao để giải thích tình hình tài chính của doanh nghiệp rõ ràng, phù hợp, tin cậy, dễ hiểu với người sử dụng nhằm giúp họ đưa ra các đánh giá
và dự đoán tình hình tài chính doanh nghiệp về các vấn đề nguồn lực doanh nghiệp, kết quả hoạt động kinh doanh hay dự đoán về thời gian và tính không chắc chắn của
Trang 30dòng tiền và các nghĩa vụ với các nguồn lực doanh nghiệp Từ đó các đối tượng sử dụng này đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp Các tiêu chuẩn chất lượng thông tin:
Theo quan điểm của FASB, chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính được chia làm 2 nhóm đặc điểm bao gồm: (1) Đặc điểm cơ bản gồm thích hợp và đáng tin cậy; và (2) nhóm các đặc điểm thứ yếu là nhất quán và có thể
so sánh được
Theo quan điểm của IASB, các đặc điểm chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính gồm: có thể hiểu được, thích hợp, đáng tin cậy và có thể so sánh được
Dự án hội tụ IASB và FASB được tiến hành năm 2004 đã xác định hai đặc điểm chất lượng cơ bản (thích hợp, trình bày trung thực), bốn đặc điểm chất lượng bổ sung ( có thể so sánh, có thể kiểm chứng, kịp thời, có thể hiểu được)
Theo chuẩn mực kế toán Việt nam, chất lượng thông tin được trình bày ở nội dung các yêu cầu cơ bản đối với kế toán, bao gồm: trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh
1.3.2.2 Hỗ trợ quá trình ra quyết định bằng cách cung cấp dữ liệu hữu ích
Ra quyết định là chức năng lựa chọn hợp lý và tối ưu những giải pháp và phương án, chức năng này không phải là chức năng độc lập mà nó luôn gắn liền với các chức năng khác Trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức điều hành và kiểm tra luôn tồn tại chức năng ra quyết định Để quản trị các hoạt động sản xuất kinh doanh
có khoa học nhà quản trị cần phải nắm vững tình hình hoạt động của doanh nghiệp một cách chính xác, kịp thời bằng những số liệu, tài liệu cụ thể Tức là họ phải được cung cấp những thông tin cần thiết (thông tin khách hàng, thông tin môi trường hoạt động và thông tin thực hiện) Hệ thống thông tin trung thực rất quan trong đối với công tác quản lý trong quản trị doanh nghiệp:
Trang 31Thông tin là phương tiện của nhà quản lý thực hiện các chức năng cơ bản của mình, thông tin là cơ sở cho công tác lập kế hoạch, khi xác định chúng nhà quản lý cần tiến hành tính toán dựa trên thông tin được cung cấp
Thông tin là phương tiện chỉ đạo sản xuất kinh doanh: muốn xây dựng được
kế hoạch sản xuất kinh doanh đúng đắng và hợp lý thì nhà quản trị phải được cung cấp đầy đủ các thông tin hữu ích để biến đổi cung cầu hàng hóa, dịch vụ
Như vậy chúng ta có thể thấy HTTTKT rất cần thiết và quan trọng đối với nhà quản lý Để quản lý tốt và có hiệu quả thì các nhà quản trị phải sử dụng hiệu thống thông tin khách hàng, thông tin môi trường xung quanh và thông tin thực hiện Muốn chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, phân tích và đánh giá một cách chính xác tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh thì các nhà quản trị phải dựa vào tài liệu thực hiện, thiếu thông tin kế toán thì không thể điều hành hoạt động kinh doanh, không thể quản lý bất kỳ hoạt động nào Như vậy để ra một quyết định tốt, quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì nhà quản lý phải được cung cấp thông tin hữu ích và HTTTKT phải hoạt động hữu hiệu (Ngô Thị Thu Hồng, 2012)
Một HTTTKT hữu hiệu có thể được đánh giá liên quan đến mục tiêu phục
vụ cho việc ra quyết định Tính hữu hiệu HTTTKT là cung cấp những thông tin hữu ích cho phương pháp ra quyết đinh sử dụng, thông tin là sẳn sàng sở hữu bởi người
ra quyết định và khả năng của nhà ra quyết định xử lý thông tin (Gelinas, 2006) Vì
vậy luận văn chọn nội dung “cải thiện quá trình ra quyết định” (Sajady et al.,2008;
Lê Ngọc Mỹ Hằng và cộng sự, 2012) là tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT
HTTTKT có thể cải thiện quá trình ra quyết định theo một số cách (Romney et al., 2006):
- Nó xác định chính xác tình trạng hiện tại để đưa ra những hành động quản trị đúng
Trang 32- Nó đảm bảo cho sự chọn lựa giữa những hoạt động thay thế Ví dụ thông tin được sử dụng cho thiết lập giá và quyết định chính sách tín dụng
- Cung cấp thông tin phản hồi về kết quả của những quyết định trong quá khứ
để sử dụng cải thiện quyết định trong tương lai VD: nếu chiến lược marketing được thử nghiệm và thông tin chỉ ra được là nó không thành công, thì chiến lược khác được lựa chọn
- Một HTTTKT có thể cải thiện quá trình ra quyết định bằng cách cung cấp thông tin chính xác một cách kịp thời
1.3.2.3 Cung cấp một hệ thống kiểm soát thích hợp
HTTTKT cung cấp một hệ thống kiểm soát thích hợp hợp để bảo vệ tài sản của tổ chức bao gồm: dữ liệu, đảm bảo những tài sản và dữ liệu sẳn có khi cần và
dữ liệu chính xác và đáng tin cậy Thông tin và hệ thống thông tin cần phải được bảo vệ tránh khỏi mất mát, giảm giá trị, và bị đánh cắp Sự kết hợp của HTTTKT và
hệ thống kiểm soát nội bộ hỗ trợ cho nhà quản lý trong việc gắn kết trách nhiệm và kiểm soát sự gắn kết này với tất cả các bộ phận khác trong doanh nghiệp để thực hiện mục tiêu chung trên cơ sở pháp luật
Về lý thuyết cấu tạo hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát COSO định nghĩa “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các thành viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu: (1) sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; (2) sự tin cậy của báo cáo tài chính; (3) Sự tuân thủ pháp luật và các qui định” Với những mục tiêu trên thì HTTTKT cung cấp thông thi hữu hiệu đảm bảo
hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu, ngược lại hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu thì thông tin mới đáng tin cậy Một HTTTKT với một cấu trúc kiểm soát nội bộ
thích hợp tác động qua lại và cải thiện lẫn nhau HTTTKT hữu hiệu sẽ “cải thiện hệ
thống kiểm soát nội bộ” (Sajady et al.,2008; Lê Ngọc Mỹ Hằng và cộng sự, 2012),
vì vậy tiêu chí này được chọn là tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT
Trang 33Ngoài những tiêu chí liên quan trực tiếp đến việc thực hiện từng chức năng của HTTTKT, có những tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT được thực hiện thông qua quá trình thực hiện tất cả các chức năng của hệ thống, để đạt được mục tiêu chung đó là: phản ánh kết quả của quá trình thực hiện chiến lược, các chỉ
số tài chính, các báo cáo quản trị
Tùy vào những thời điểm khác nhau mà mục tiêu của doanh nghiệp sẽ khác nhau Ví dụ như nhà quản lý sử dụng hệ thông thông tin để nhận diện và cập nhật một cách kịp thời xu hướng môi trường tổ chức, nhà quản lý cần trả lời cho câu hỏi:
“ Mất bao nhiêu thời gian để quảng cáo một sản phẩm mới so sánh với đối thủ cạnh tranh?” “ Chi phí sản xuất của chúng ta có thể so sánh được với đối thủ cạnh tranh của chúng ta không?”, “ ROE tăng bao nhiêu phần trăm”, Nhưng xét tổng thể thì HTTTKT hỗ trợ cho xử lý các nghiệp vụ tài chính và hoạt động quản lý của doanh nghiệp; hỗ trợ nhà quản lý đưa ra những quyết định tốt hơn; kiểm soát hệ thống chặc chẽ hơn Từ đó HTTTKT tác động ngược lại đến hiệu quả hoạt động của tổ chức mang lại lợi ích kinh tế cho tổ chức, cụ thể sẽ làm gia tăng các chỉ số tài chính như ROE, ROA, năng suất trung bình,… Thiết kế thích hợp của HTTTKT hỗ trợ chiến lược kinh doanh bằng cách tăng hiệu quả hoạt động của tổ chức (Chenhall,
2003) Vì thế một HTTTKT hữu hiệu sẽ “tăng chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt
động” của doanh nghiệp (Sajady et al.,2008; Lê Ngọc Mỹ Hằng và cộng sự, 2012)
Do đó, luận văn chọn tiêu chí này để đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT
Bên cạnh đó, để thực hiện thành công một HTTTKT yêu cầu phải có sự phù hợp giữa ba nhân tố Thứ nhất, phải đạt được sự phù hợp giữa quan điểm tổng thể của tổ chức , và quan điểm theo từng khía cạnh cụ thể Thứ hai, hệ thống kế toán phải phù hợp khi vấn đề được giải quyết một cách trôi chảy, thuận lợi với sự kết hợp các thành phần trong hệ thống Cuối cùng, hệ thống kế toán phải phù hợp với văn hóa, đặc trưng cho tổ chức Nicolaou (2000) xác định HTTKT hữu hiệu trong giới hạn nhận thức của người ra quyết định rằng thông tin đầu ra hữu ích khi chúng đạt được những yêu cầu trong sự phối hợp và kiểm soát của tổ chức Mô hình nghiên cứu của ông ta nhấn mạnh HTTTKT tích hợp như là một biến chính của sự
Trang 34thành công của HTTTKT HTTTKT tích hợp là tính năng cùng chia sẽ dữ liệu, phối hợp các tính năng để xử lý thông tin kế toán trong cùng một quy trình kinh doanh của doanh nghiệp, giải quyết các vấn đề phối hợp và kiểm soát tổ chức và các yêu cầu Các yêu cầu về phối hợp và kiểm soát trong tổ chức là: (1) mức độ chuẩn hóa trong các cấu trúc của một tổ chức, (2) phụ thuộc lẫn nhau trong thông tin giữa các vùng chức năng trong một hệ thống và (3) phụ thuộc do chia sẻ thông tin tổ chức nội bộ và trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) HTTTKT tích hợp có thể giải quyết khó khăn trong việc phối hợp và kiểm soát được tạo ra bởi các yêu cầu này Vì thế luận
văn chọn tiêu chí “ HTTTKT tích hợp” (Nicolaou, 2000) để đánh giá tính hữu hiệu
của HTTTKT
1.3 KẾT LUẬN
Đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT là nhu cầu thiết yếu của các doanh nghiệp trong bối cảnh nhu cầu thông tin cho hoạt động quản lý càng tăng Nhà quản lý cần biết được những hữu ích mà HTTTKT mang lại, từ đó xác định đúng chiến lược thực hiện để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp
Câu hỏi đặt ra là các tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT là những tiêu chí nào? Có rất nhiều quan điểm và nghiên cứu được công bố khác nhau về tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT Luận văn dựa vào phân tích các chức năng, hữu dụng của HTTKT và các nghiên cứu về tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT đã được công bố để nhận diện và làm căn cứ xác định các tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT của luận văn
Trang 35Chương II ĐÁNH GIÁ TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN
KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
2.1.1 Một số vấn đề chung của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và vừa Việt Nam, có đến 96% doanh nghiệp đăng ký là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Theo đó, loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo Sự đóng góp đã hỗ trợ lớn cho việc chi tiêu vào các công tác xã hội và các chương trình phát triển khác Do vậy đã tạo tạo ra 40% cơ hội cho dân cư tham gia đầu tư, có hiệu quả nhất trong việc huy động các khoản tiền đang phân tán, nằm trong dân cư để hình thành các khoản vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh.Trong nhiều năm tới, khối DNNVV vẫn là động cơ chạy chính cho nền kinh tế Việt Nam
Cách xác định các DNNVV luận văn thuân thủ theo Nghị đinh số 56/2009/NĐ-CP Xác định theo quy mô tổng nguồn vốn và số lao động bình quân năm
Để có một cái nhìn sâu sắc cụ thể hơn, luận văn giới thiệu một số đặc điểm hoạt động của DNNVV cũng như những khó khăn thử thách và lợi thế của DNNVV trong giai đoạn hiện nay (Võ Văn Nhị và cộng sự, 2011):
- Trong các DNNVV thì các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm đại bộ phận Hình thức sở hữu chủ yếu nằm trong hai loại: Doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn
- Hoạt động kinh doanh của các DNNVV rất đa dạng, thuộc mọi lĩnh vực ngành nghề nhưng tập trung phổ biến là các ngành nghề thuộc lĩnh vực thương mại, dịch vụ Riêng trong lĩnh vực sản xuất thì các doanh nghiệp
Trang 36nhỏ và siêu nhỏ vẫn hoạt động theo phương thức thủ công hoặc gia công
để đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nội địa
- Hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNVV không cao và chịu áp lực kinh doanh rất lớn nên tuổi thọ bình quân của doanh nghiệp thường rất thấp
- Trình độ quản lý và hiệu quả quản lý còn rất thấp thường quản lý theo kiểu gia đình và mang nặng tính kinh nghiệm Hệ thống thông tin nói chung và thông tin kế toán còn rất yếu, mới chỉ nhằm mục tiêu đối phó cơ quan thuế hơn là phục vụ cho quản lý và điều hành doanh nghiệp
Song song với những khó khăn, thách thức thì DNNVV cũng có một số lợi thế và với lợi thế này nếu DNNVV biết vận dụng thì có thể vượt qua để phát triển
- Quy mô nhỏ vốn ít, lao động ít nên dễ dàng điều chỉnh hoạt động kinh doanh
- Quan hệ nội bộ của DNNVV đơn giản, gắn bó nên việc đồng thuận để giải quyết vấn đề nội bộ diễn ra dễ dàng hơn, dễ kiểm soát hơn, hạn chế rủi ro trong quá trình hoạt động trong những điều kiện không thuận lợi và
áp lực lợi ích, trách nhiệm
- Trách nhiệm xã hội không lớn, dư luận xã hội không tác động nhiều đến DNNVV nên DNNVV thường có tính chủ động, độc lập cao khi giải quyết các tình huống kinh doanh đặc biệt khi gặp phải những khó khăn Tất nhiên, lợi thế chỉ giải quyết được những vấn đề nhất thời, vấn đề quan trọng và cơ bản là phải có những chính sách thỏa đáng để tác động tích cực đến quá trình hoạt động
2.1.2 Đặc điểm hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hệ thống thông tin tại các DNNVV nói chung còn rất yếu, mới chỉ nhằm mục tiêu đối phó cơ quan thuế hơn là phục vụ cho quản lý và điều hành doanh
Trang 37nghiệp Sau đây, luận văn giới thiệu một số nét về đặc điểm của HTTTKT của doanh nghiệp hiện nay:
- Văn hóa Việt Nam mang nặng tính “tuân thủ”, thực hiện công tác kế toán phải tuân thủ các chính sách và thủ tục quy định được nhà nước ban hành
- Việc thực hiện HTTTKT tại các DNNVV chỉ tập trung giải quyết những thông tin thuộc kế toán tài chính, còn thông tin kế toán quản trị hầu như mới chỉ đi vào một số nội dung hết sức đơn giản, chưa có tính hệ thống, chưa phù hợp với yêu cầu quản lý, điều hành doanh nghiệp
- Các bộ phận trong hệ thống chưa được gắn kết một cách chặt chẽ thành một hệ thống theo một trình tự khoa học mà được sử dụng một cách tùy tiện theo mục tiêu của chủ doanh nghiệp và ban lãnh đạo đề ra
- Cơ sở vật chất – kỹ thuật và công nghệ: ngoài một số doanh nghiệp có quy mô trung bình và lớn được chứ trọng đầu tư và đổi mới, ứng dụng công nghệ vào HTTTKT,… đại bộ phận các doanh nghiệp còn lại vẫn chưa có điều kiện đầu tư, đổi mới, công cụ quản lý còn lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn Do vậy HTTTKT hiện tại còn rất yếu
- Công tác quản lý và điều hành doanh nghiệp: còn nhiều hạn chế về nhận thức, trình độ chuyên môn Người quản lý chưa quan tâm nhiều đến HTTTKT và không hiểu rõ những lợi ích mà HTTTKT mang lại, người
sử dụng hệ thống với kiến thức còn yếu, vì làm việc trong môi trường công ty nhỏ nên có tâm lý hài lòng, không chịu học hỏi phát triển Bên cạnh các chính sách của nhà nước còn nhiều ràng buộc, thiếu linh hoạt, đồng thời sự hỗ trợ từ phía nhà nước đối với doanh nghiệp còn mang nặng tính hình thức, cục bộ nên càng gây ra nhiều khó khăn, lung túng cho doanh nghiệp trong quản lý, điều hành, làm ảnh hưởng không nhỏ việc thiết lập một HTTTKT hữu hiệu
Trang 38Qua tìm hiểu các đặc điểm của HTTTKT của các DNNVV ở Việt Nam, luận văn rút
ra kết luận về tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT của DNNVV như sau:
Văn hóa Việt Nam mang nặng tính tuân thủ, nên việc lập báo cáo tài chính
và tiêu chuẩn chất lượng báo cáo tài chính cũng bị ảnh hưởng bởi chuẩn mực
kế toán Việt Nam Nên để phù hợp với đặc điểm này, luận văn chọn tiêu chuẩn về chất lượng thông tin của chuẩn mực kế toán Việt Nam làm tiêu chí đánh giá chất lượng của báo cáo tài chính Đó là báo cáo tài chính phải: trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh
Để đạt được mục tiêu của tổ chức, DNNVV ở Việt Nam cần thực hiện hệ thống kế toán quản trị để đánh giá thành quả quản lý, thành quả hoạt động của doanh nghiệp Tạo động lực cho tăng trưởng hiệu quả hoạt động Một điều kiện cần thiết là HTTTKT phải cung cấp được những thông tin hữu ích cho quá trình thực hiện đánh giá HTTTKT cần cung cấp một hệ thống hoạch định và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp Hệ thống thông tin đóng vai trò quan trọng trong kế hoạch chiến lược phát triển và giám sát quá trình hoạt động để đo lường mức độ đạt được của kế hoạch Như vậy một HTTTKT hữu hiệu sẽ làm cho quá trình thực hiện đánh giá của doanh nghiệp thuận lợi hơn bằng cách cung cấp thông tin phục vụ cho đánh giá thành quả đầy đủ, phù hợp và kịp thời Nên luận văn bổ sung thêm chỉ tiêu “ Hỗ trợ cho quá trình thực hiện đánh giá thành quả hoạt động, quản lý của doanh nghiệp thuận lợi hơn” làm tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT tại các DNNVV
2.2 NHẬN DIỆN CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Dựa vào kết quả nhận diện các thành phần tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT ở mục 1.2, dựa vào kết luận đặc điểm HTTKT tại các DNNVV ở mục
Trang 392.1.2 luận văn tiến hành điều chỉnh lại các tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT cho phù hợp với môi trường DNNVV ở Việt Nam
Tóm lại các chỉ tiêu đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT tại các DNNVV được xác định không khác các chỉ tiêu đánh giá đã được nhận diện, và được thêm vào 1 tiêu chí cho phù hợp với môi trường DNNVV ở Việt Nam Nó bao gồm 8 thành phần tiêu chí, bao gồm 7 thành phần tiêu chí được nhận diện ban đầu với những thang đo cụ thể được lựa chọn và cộng thêm 1 thành phần tiêu chí bổ sung phù hợp với môi trường DNNVV tại Việt Nam như sau:
Thành phần tiêu chí 1: Quá trình xử lý các nghiệp vụ kinh tế dễ dàng hơn Nó
bao gồm (1) việc thu thập và luân chuyển thông tin giữa các bộ phận dễ dàng hơn, liên kết các thành phần trong hệ thống tạo cho việc xử lý các nghiệp vụ kinh tế dễ hơn (2) và nhanh hơn (3), nói chung HTTTKT hữu hiệu tạo điều kiện cho quá trình
xử lý các nghiệp vụ kinh tế dễ dàng hơn
Thành phần tiêu chí 2: Thõa mãn nhu cầu người sử dụng thông tin Thành phần
này được đánh giá qua: (1) thông tin thể hiện trên báo cáo có nội dung rõ ràng và chính xác, (2) báo cáo có định dạng phù hợp, (3) dễ sử dụng, (4) kịp thời Tóm lại HTTTKT hữu hiệu thõa mãn nhu cầu người sử dụng thông tin (5)
Thành phần tiêu chí 3: Nâng cao chất lượng báo cáo tài chính Bao gồm: Báo
cáo tài chính trung thực (1), khách quan (2), thông tin đầy đủ (3), kịp thời (4), dễ hiểu (5), có thể so sánh (6) Chất lượng báo cáo tài chính được nâng cao thì HTTTKT hữu hiệu
Thành phần tiêu chí 4: Cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ Nó được đo lường
qua: đảm bảo doanh nghiệp hoạt động hữu hiệu và hiệu quả (1), báo cáo tài chính đáng tin cậy (2), tuân thủ pháp luật và các quy định (3) Tóm lại hệ thống kiểm soát nội bộ được cải thiện khi HTTTKT hữu hiệu
Thành phần tiêu chí 5: Tăng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động Được đo
lường thông qua: tăng khả năng sinh lợi ROE (1), năng suất lao động trung bình (2),
Trang 40tài sản ròng (3) Tóm lại các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tăng khi HTTTKT hữu hiệu (4)
Thành phần tiêu chí 6: Cải thiện quá trình ra quyết định gồm : thông tin chính
xác tình trạng hiện tại để đưa ra những hành động quản trị đúng (1), đảm bảo cho sự lựa chọn giữa những hoạt động thay thế (2), cung cấp thông tin phản hồi về kết quả của những quyết định trong quá khứ để sử dụng cải thiện quyết định trong tương lai (3), cung cấp thông tin chính xác một cách kịp thời (4) Tóm lại HTTTKT hữu hiệu cải thiện quá trình ra quyết định (5)
Thành phần tiêu chí 7: Hệ thống thông tin kế toán tích hợp Được dánh giá
thông qua: phối hợp và kiểm soát mức độ chuẩn hóa trong các cấu trúc của một tổ chức (1), sự phụ thuộc lẫn nhau trong thông tin giữa các phân hệ trong một hệ thống (2), sự phụ thuộc do chia sẽ thông tin nội bộ (3), sự phụ thuộc do chia sẽ dữ liệu điện tử (4)
Thành phần tiêu chí 8: Hỗ trợ cho quá trình đánh giá thành quả quản lý thuận lợi hơn Nó được đo lường qua: thông tin phục vụ đánh giá thành quả được cung
cấp đầy đủ (1), phù hợp (2), kịp thời (3) Tóm lại HTTTKT hữu hiệu hỗ trợ cho việc đánh giá thành quả thuận lợi hơn (4)
2.3 KHẢO SÁT, PHÂN TÍCH VÀ KẾT LUẬN VỀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
2.3.1 Thiết kế câu hỏi khảo sát và thu thập mẫu khảo sát
Khảo sát sử dụng thang đo Likert 5 mức (thang đo khoảng) với 37 biến quan sát để giải thích cho 8 thành phần tiêu chí Bản câu hỏi gồm 37 câu đại diện 37 biến quan sát được xây dựng tương ứng 37 nội dung chi tiết của 8 thành phần tiêu chí đã trình bày ở mục 2.4 Câu hỏi chi tiết được trình bày ở phần phụ lục 1 “ Câu hỏi khảo sát các tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT tại các DNNVV trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”