1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình luận quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm về tạm giam và hoàn thiện quy định này

18 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 44,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biện pháp ngăn chặn( BPNC) là một chế định pháp lí quan trọng trong bộ luật tố tụng hình sự ( BLTTHS) Việt Nam. Việc áp dụng các BPNC có ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ của TTHS cũng như kết quả của đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Trong hệ thống các BPNC, tạm giam là biện pháp quan trọng và nghiêm khắc nhất. BLTTHS đã có những quy định cụ thể về các yếu tố của biện pháp tạm giam.

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ BÀI 1

B NỘI DUNG 1

I Khái quát chung về biện pháp tạm giam 1

1 Khái niệm BPNC tạm giam 1

2 Vai trò, ý nghĩa của việc quy định biện pháp tạm giam 2

II Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về biện pháp tạm giam 3

1 Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam 3

2 Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam 4

3 Thẩm quyền ra lệnh áp dụng biện pháp tạm giam 6

4 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam 6

5 Thời hạn tạm giam 7

6 Một số quy định khác liên quan đến việc tạm giam 10

III Hạn chế, bất cập trong việc áp dụng biện pháp tạm giam 11

1 Về căn cứ áp dụng BPNC tạm giam 11

2 Về đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam 13

3 Về thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam 13

IV Đề xuất hoàn thiện quy định về tạm giam 13

C KẾT LUẬN 16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 2

A MỞ BÀI

Biện pháp ngăn chặn( BPNC) là một chế định pháp lí quan trọng trong bộ luật

tố tụng hình sự ( BLTTHS) Việt Nam Việc áp dụng các BPNC có ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ của TTHS cũng như kết quả của đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung Trong hệ thống các BPNC, tạm giam là biện pháp quan trọng và nghiêm khắc nhất.BLTTHS đã có những quy định cụ thể về các yếu tố của biện pháp tạm giam Trong phạm vi bài viết này, em xin trình bày đề bài 08 :

“Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về tạm giam và hoàn thiện quy định này” để làm phân tích làm rõ vấn đề này.

B NỘI DUNG

I Khái quát chung về biện pháp tạm giam

1 Khái niệm BPNC tạm giam

Theo quy định của BLTTHS, hệ thống các BPNC trong TTHS bao gồm 6 biện pháp: bắt, tạm giam, tạm giữ, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Trong số các BPNC nêu trên, BPNC tạm giam là BPNC mang tính nghiêm khắc nhất Các biện pháp khác như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo chỉ ảnh hưởng đến quyền tự do đi lại hoặc quyền và lợi ích về tài sản mà không ảnh hưởng đến các quyền tự do khác của công dân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do giao tiếp Còn các biện pháp bắt, tạm giữ cũng là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc, cũng hạn chế quyền tự do của công dân, nhưng thời gian hạn chế quyền tự do trong bắt và tạm giữ ngắn hơn nhiều

so với tạm giam

Xung quanh khái niệm về biện pháp tạm giam hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau, mỗi quan điểm nhìn nhận tạm giam dưới một góc độ khác nhau nhất định,

Trang 3

nhưng căn cứ vào Điều 88 BLTTHS 2003 đưa ra khái niệm về biện pháp tạm giam: “ Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hay bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít

nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội” Thực tế việc tạm giam làm hạn chế đi một số quyền công dân của

người bị tạm giam, nhưng không phải là bị Luật pháp tước bỏ hết các quyền công dân của người bị tạm giam mà chỉ bị tước bỏ một số quyền theo luật định trong một thời gian nhất định do các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành theo luật định

2 Vai trò, ý nghĩa của việc quy định biện pháp tạm giam

Với ý nghĩa là một BPNC, tạm giam có ý nghĩa rất lớn trong việc đấu tranh, phòng và chống các loại tội phạm cũng như việc bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân Cụ thể:

- Tạm giam góp phần nâng cao hiệu lực quản lí nhà nước, củng cố, tăng cường pháp chế XHCN, các quyền cũng như lợi ích hợp pháp của công dân được tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh khám phá tội phạm, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội

- Tạm giam là phương tiện hữu hiệu để bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy

tố, xét xử và thi hành án đạt hiệu quả cao nhất

- Tạm giam tạo cơ sở pháp lí vững chắc nhằm đảm bảo sự tôn trọng các quyền

cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận

- Tạm giam thể hiện tính ưu việt của Nhà nước Đó là biện pháp bảo đảm cho mọi công dân được sống trong một xã hội mà quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi

Trang 4

người được tôn trọng và bảo vệ, tránh được sự tấn công, xâm hại từ phía các đối tượng nhất định

II Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về biện pháp tạm giam

1 Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam

Căn cứ áp dụng BPNC tạm giam được hiểu là những căn cứ luật định theo đó chủ thể có thẩm quyền áp dụng BPNC tạm giam BLTTHS 2003 không trực tiếp quy định các căn cứ áp dụng BPNC tạm giam mà chỉ quy định các căn cứ áp dụng BPNC nói chung Điều 79 quy định 4 căn cứ áp dụng BPNC gồm: Để kịp thời ngăn chặn tội phạm; Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội sẽ tiếp tục phạm tội;

Để bảo đảm thi hành án

Trong số các căn cứ áp dụng BPNC trên, căn cứ “ để kịp thời ngăn chặn tội phạm” chỉ áp dụng cho các trường hợp bắt người phạm tội quả tang theo điểm a

khoản 1 Điều 81 nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, không để xảy ra hoặc không để người phạm tội kết thúc hành vi phạm tội của mình, gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội Căn cứ này không thể là căn cứ áp dụng BPNC tạm giam, vì đối tượng áp dụng BPNC tạm giam là bị can, bị cáo, hành vi phạm tội của họ đã dược thực hiện trong quá khứ Như vậy, căn cứ áp dụng BPNC tạm giam sẽ có:

Căn cứ thứ nhất: Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho

hoạt động điều tra, truy tố, xét xử Hành vi này được thể hiện qua việc sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm có thể bỏ trốn, tiêu huỷ, làm giả, thay đổi chứng cứ, xoá các dấu vết của vụ án, dẫn đến việc gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định và làm rõ sự thật khách quan của vụ án

Căn cứ thứ hai: Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội

Căn cứ này có thể được thực hiện qua các yếu tố phản ánh về nhân thân của các bị

Trang 5

can, bị cáo Họ có thể là những phần tử xấu tái phạm,tái phạm nguy hiểm, tội phạm có tính chất chuyên nghiệp hoặc đe doạ người làm chứng, người bị hại và sự đe doạ đó

có khả năng trở thành hiện thực

Căn cứ thứ ba: Để bảo đảm thi hành án Khi cần bảo đảm thi hành án, tuỳ

theo tính chất của từng vụ vụ án, tuỳ theo nhân thân người bị kết án, Toà án có thể áp dụng BPNC tạm giam đối với bị cáo để bảo đảm thi hành án, còn nếu không có đủ căn

cứ cho rằng bị cáo sẽ bỏ trốn, không gây cản trở, khó khăn cho việc thi hành án thì không cần áp dụng biện pháp tạm giam mà chỉ cần áp dụng biện pháp ngăn chặn khác

ít nghiêm khắc hơn như: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo cũng đủ để đảm bảo cho việc chấp hành án của người bị kết án

2 Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam

Theo khoản 1 Điều 88 BLTTHS, đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo Bị can là những người đã bị khởi tố về hình sự

( khoản 1 Điều 49 ), tức là những người đã có quyết định khởi tố bị can về một tội phạm cụ thể trong Bộ luật hình sự Còn bị cáo là những người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử ( khoản 1 Điều 50 ) Tuy nhiên, không phải tất cả bị can, bị cáo đều bị

áp dụng BPNC tạm giam mà theo khoản 1 Điều 88, chỉ áp dụng biện pháp này với họ trong 2 trường hợp sau:

Trường hợp 1:“Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng” : Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã

hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt với tội ấy là đến 15 năm tù1 Nếu bị can, bị cáo thuộc những trường hợp này, những người có thẩm quyền ra lệnh tạm giam có thể

ra lệnh tạm giam ngay mà không cần thêm căn cứ nào khác

Trang 6

Trường hợp 2: “ Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc gây cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội”

Tội phạm nghiêm trọng là tội gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 7 năm tù Tội phạm ít nghiêm trọng là tội gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt với tội ấy là đến 3 năm

tù2 Theo quy định của BLTTHS, tạm giam chỉ áp dụng đối với những bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên 2 năm Trong trường hợp bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên 2 năm, để tạm giam, họ cần có thêm điều kiện thứ hai là có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội Để xác định được điều kiện trên, phải căn cứ vào nhân thân bị can, bị cáo, thái độ của họ sau khi phạm tội hoặc những vi phạm nghĩa vụ của bị can,

bị cáo khi được áp dụng BPNC khác ít nghiêm khắc

Thể hiện tinh thần nhân đạo xã hội chủ nghĩa, khoản 2 Điều 88 BLTTHS quy định những trường hợp không áp dụng BPNC tạm giam gồm: bị can, bị cáo là phụ nữ

có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi và có nới cư trú rõ ràng; bị can, bị cáo là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng

Tuy vậy, những đối tượng này vẫn có thể bị áp dụng BPNC tạm giam trong những trường hợp: bị can, bị cáo trốn và bị bắt theo lênh truy nã; bị can, bị cáo được

áp dụng BPNC khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử; bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có

đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia

Trang 7

Nhằm mục đích giáo dục, cảm hoá bị can, bị cáo là người chưa thành niên trở

về với cuộc sống, đồng thời thể hiện sự quan tâm đặc biệt của nhà nước với nhóm đối tượng này, khoản 3 Điều 303 BLTTHS quy định người chưa thành niên chỉ có thể bị

áp dụng BPNC tạm giam trong những trường hợp:“ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi: nếu có đủ căn cứ tạm giam, chỉ áp dụng BPNC này khi họ phạm tội nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: nếu có đủ căn cứ tạm giam, chỉ áp dụng BPNC này khi họ phạm tội nghiêm trọng do

cố ý, tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”.

3 Thẩm quyền ra lệnh áp dụng biện pháp tạm giam

Thẩm quyến áp dụng BPNC tạm giam là khả năng của một chủ thể được nhà nước giao cho quyền được quyết định việc tạm giam đối với đối tượng nhất định

Khoản 3 Điều 88 BLTTHS quy định “ Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt được quy định tại Điều 80 của Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm giam ” Theo khoản 1 Điều 80, những người có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát (VKS ) nhân dân và VKS quân sự các cấp; Chánh án, Phó chánh án Toà án nhân dân ( TAND) và Toà án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó chánh toà phúc thẩm TAND tối cao; Hội đồng xét xử; Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp, trong trường hợp này, lệnh bắt phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

Như vậy, thẩm quyền áp dụng BPNC tạm giam được quy định cho nhiều cơ quan với nhiều chủ thể khác nhau ở từng giai đoạn tố tụng khác nhau VKS với chức năng là cơ quan kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ kiểm tra, giám sát hoạt động này, đặc biệt đối với lệnh tạm gia của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành

Trang 8

4 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam

Thủ tục tạm giam là trình tự luật định mà chủ thể có thẩm quyền khi áp dụng BPNC tạm giam phải tuân thủ một cách triệt để Theo quy định của BLTTHS thì việc tạm giam bị can, bị cáo phải có lệnh tạm giam Lệnh này phải do những người có thẩm quyền kí Lệnh tạm giam ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị tạm giam; lý do tạm giam, thời hạn tạm giam; và giao cho người bị tạm giam một bản3 Theo quy định tại khoản 3 Điều 88, lênh tạm giam của cơ quan điều tra phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành

Tạm giam không chỉ hạn chế quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự

do và danh dự của công dân mà còn ảnh hưởng đến cả nhân thân của họ Chính vì vậy, sau khi ra lệnh tạm giam, cơ quan ra lệnh tạm giam cần phải thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam và chính quyền xã phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú, làm việc biết.4

5 Thời hạn tạm giam

Trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thời hạn tạm giam không được quy định tập trung tại một điều luật mà được quy định theo từng giai đoạn của quá trình tố tụng Thời hạn tạm giam trong tố tụng được chia thành: thời hạn tạm giam để điều tra; thời hạn tạm giam để truy tố; thời hạn tạm giam để xét xử sơ thẩm; thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm và thời hạn tạm giam để thi hành án

a) Thời hạn tạm giam để điều tra

Điều 120 BLTTHS quy định : “ Thời hạn tạm giam để điều tra không quá hai tháng đối với tội ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội nghiêm trọng, không quá bốn tháng với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng Việc gia hạn tạm giam quy định như sau: đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn một

Trang 9

lần không quá một tháng; đối với tội phạm nghiêm trọng có thể gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng; đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá

ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng; đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng”.

Như vậy đối với tội phạm ít nghiêm trọng thời hạn tạm giam để điều tra tối đa

có thể là ba tháng, đối với tội phạm nghiêm trọng là sáu tháng, đối với tội phạm rất nghiêm trọng là chín tháng, còn đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể lên đến mười sáu tháng; trong trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam lần thứ hai quy định tại điểm b khoản 3 Điều 120 đã hết và vụ án có tình tiết phức tạp mà không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng VKSNDTC có thể gia hạn tạm giam lần thứ ba trong trường hợp cần thiết đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng VKSNDTC có quyền gia hạn thêm một lần nữa không quá bốn tháng ( Điều 120 )

b) Thời hạn tạm giam để truy tố:

Khoản 2 Điều 166 BLHS 2003 quy định: “ thời hạn tạm giam để truy tố không được quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này” Theo quy định tại khoản 1 Điều 166 : “ Trong thời hạn hai mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn tạm giam nhưng không quá mười ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”

Như vậy, thời hạn tạm giam để truy tố đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng tối đa có thể lên đến ba mươi ngày, với tội phạm rất nghiêm trọng

Trang 10

tối đa có thể lên đến bốn mươi lăm ngày, còn với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thời hạn tạm giam để truy tố tối đa có thể lên đến sáu mươi ngày

c) Thời hạn tạm giam để xét xử sơ thẩm:

Điều 177 BLTTHS 2003 quy định: “ thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại điều 176 của Bộ luật này” Theo quy định tại khoản 2 Điều 176 : Thời hạn chuẩn bị xét xử là ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, hai tháng đối với tội rất nghiêm trọng và ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ này nhận hồ sơ vụ án Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án

có thể quyết định gia hạn nhưng không quá mười lăm ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng Sau khi quyết định đưa vụ án ra xét xử thì thời hạn tạm giam để mở phiên tòa là từ mười năm ngày đến ba mươi ngày ”

Như vậy, thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử tối đa đối với tội ít phạm nghiêm trọng là hai tháng mười lăm ngày, ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì thời hạn này có thể lên đến năm tháng

d) Thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm:

Điều 243 BLTTHS 2003 quy định: “ Thời hạn tạm giam không được quá thời hạn xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 242 Bộ luật tố tụng hình sự” Theo quy định

tại Điều 242 BLTTHS 2003, TAND cấp tỉnh, TAQS cấp quân khu phải mở phiên toà phúc thẩm trong thời hạn sáu mươi ngày; Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa

án quân sự trung ương phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn chín mươi ngày,

kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án

e) Thời hạn tạm giam để đảm bảo thi hành án:

Ngày đăng: 02/09/2020, 14:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w