Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên của nó là nhận tiền gửi có trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, làm nghiệp v
Trang 1TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
Lịch sử hình thành Ngân hàng thương mại bắt đầu từ rất lâu, trước
cả khi có nền sản xuất hàng hoá Sự khác biệt về tiền tệ giữa các vùng tạo điều kiện suất hiện các thương gia làm công việc đổi tiền Sau đó, các thương gia này nhận gữi tiền và thu lệ phí, làm nhiệm vụ chi trả hộ Những nhà kinh doanh thông minh này đã nhận thấy: luôn có một lượng tiền mặt
ổn định đọng lại trong két của họ.
Tiếp đó là việc cho vay nhằm tìm kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Đây chính là nguyên lý cơ bản và những nghiệp vụ nền tảng của Ngân hàng hiện đại
Một mặt, do sự khác biệt về tiền tệ giữa các khu vực, nhưng cùng với
sự phát triển của nền sản xuất, trao đổi hàng hoá, lãi cho vay thu được lớn hơn nhiều so với thu lệ phí làm suất hiện ý tưởng trả lãi cho nguồn tiền gửi Điều này tạo ra khối lượng cho vay lớn hơn do nguồn tiền gửi càng tăng và
do đó thu được nhiều lợi nhuận hơn Các nghiệp vụ nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán đã hình thành nên các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế các nghiệp vụ cơ bản càng được hoàn thiện
và làm suất hiện nhiều nghiệp vụ mới như dịch vụ uỷ thác, bảo quản an toàn vật gía
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên của nó là nhận tiền gửi có trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, làm nghiệp vụ chiết khấu và phương tiện thanh toán ( pháp lệnh Ngân hàng ).
Mặc dù Ngân hàng thương mại được hình thành từ rất lâu nhưng Ngân hàng thương mại Việt Nam mới chỉ chính thức ra đời gần đây Ngân hàng Nhà nước Việt nam trước vừa làm chức năng quản lý tiền tệ vừa làm chức năng của Ngân hàng thương mại 26/03/1988, NĐ 53/ HĐBT về việc
Trang 2tách hệ thống Ngân hàng Việt nam thành 2 cấp, trong đó Ngân hàng Nhà nước có chức năng quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng nhằm ổn định giá trị đồng, là cơ quan duy nhất phát hành tiền của nước Việt nam, còn
hệ thống Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ và vác dịch vụ Ngân hàng khác phục vụ yêu cầu sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng vì lợi ích của bản thân các Ngân hàng thương mại lúc đó Ngân hàng thương mại Việt nam mới chính thức hình thành.
I TÍN DỤNG MỘT HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế là tối đa hoá lợi nhuận, mục tiêu của ngân hàng, một tổ chức kinh doanh tiền tệ cũng không nằm ngoài phạm vi đó Ngân hàng thu lợi nhuận thông qua các dịch vụ cung cấp cho khách hàng như: thanh toán, tư vấn nhưng quan trọng nhất là hoạt động cho vay
Thật vậy, ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính, kinh doanh trên nguyên tắc nhận tiền gửi của khách hàng ( nghiệp vụ huy động vốn ) dưới hình thức tài khoản vãng lai và tài khoản tiền gửi trên cơ sở đó tiền hành các hoạt động cho vay dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ theo yêu cầu vay của khách hàng Sự chênh lệch giữa tiền lãi kiếm được qua hoạt động và tiền lãi phải trả cho các khoản huy động trên nguyên tắc lãi xuất cho vay > lãi xuất huy động là lợi nhuận thu được, đây chưa phải là toàn bộ lợi nhuận của ngân hàng, tuy nhiên nó chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số lợi nhuận của ngân hàng
Mặc dù trong những năm gần đây, hoạt động ngân hàng ở nước ta ngày càng trở nên cực kỳ sôi động và đa dạng, ngân hàng tiến hành rất nhiều hoạt động kinh doanh dưới nhiều hình thức và lĩnh vực khác nhau
Trang 3nhưng dư nợ cho vay vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản có của tất cả các ngân hàng thương mại (vào khoảng 70-80% ) Tuy nhiên, tiền cho vay có tính lỏng kém hơn các tài sản có khác bởi chúng không thể chuyển thành tiền mặt khi khoản vay đáo hạn các khoản cho vay cũng có xác suất vỡ nợ cao hơn các tài sản khác Do thiếu tính lỏng và rủi ro cao nên ngân hàng thu được lợi nhuận cao nhất nhờ các món cho vay và cũng từ đó phát sinh câu hỏi: Ngân hàng có thể đem cho vay bao nhiêu trong tổng số tiền gửi của khách hàng ?
Việc lập kế hoạch cho vay của một ngân hàng cũng như cân đối vốn huy động và cho vay là cả một vấn đề phức tạp và rắc rối Về mặt chủ quan
mà nói, đương nhiên ngân hàng không thể cho vay tất cả số tiền ký gửi tại ngân hàng, mặt khác ngân hàng không thể để lại quá nhiều tiền nhàn rỗi do chúng không sinh lợi và ngân hàng phải trả lãi cho các khoản vốn đó Do vậy điều quan trọng là phải khai thác triệt để các nguồn vốn của mình và đồng thời duy trì một mức phân bổ hợp lý giữa chúng dười nhiều hình thức khác nhau như tài sản, các khoản ứng trước, các khoản đầu tư sao cho thu được lợi nhuận tối đa.
II CÁC HÌNH THỨC CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Tuỳ theo tiêu thức khác nhau và căn cứ vào đối tượng được cấp tín dụng mà các khoản cho vay có thể được phân ra thành các hình thức cho vay khác nhau như: Cho vay theo theo ngành nghề, cho vay phân theo tính chất, cho vay theo thời hạn, cho vay phân theo phương pháp hoàn trả Ngoài ra còn có nhiều cách phân loại khác Việc phân loại như thế hoàn toàn mang tính chất tương đối, không hề tách rời bản chất của tín dụng
là hoạt động cho vay mượn có hoàn trả.
1 cho vay phân theo ngành nghề.
Trang 4Cách phân loại này căn cứ vào mục đích hoặc việc sử dụng vốn vay như cho vay bất động sản, cho vay thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, cho vay cá nhân, cho vay đối với các tổ chức tài chính, chính quyền.
2 Các hình thức cho vay phân theo tính chất có đảm bảo và không
có đảm bảo
2.1 Cho vay có đảm bảo
Hình thức cho vay biểu hiện bằng việc thay cho cầm giữ các vật thế chấp có thể gồm nhiều loại hích tài sản như bất động sản, biên nhận kí gửi hàng hoá, các loại chứng khoán, vận đơn hàng hoá, sổ tiết kiệm Yêu cầu cơ bản của vật thế chấp là phải dễ bảo quản, có chứng từ bảo hiểm cần thiết và phải bán được
Yêu cầu món vay phải được đảm bảo chỉ nhằm tạo điệu kiện để người cho vay giảm bớt mất mát trong trường hợp người vay không muốn hay không trả được nợ Nó tạo tâm lý yên tâm cho người đi vay Tuy nhiên bảo đảm không có nghĩa là món nợ sẽ được hoàn trả bởi lẽ trong trường hợp thanh lý tài sản thế chấp, tài sản thế chấp có thể bị giảm giá hoặc ép giá, điều này khiến nó không đủ vốn trả hết nợ.
2.2 Cho vay không có đảm bảo :
Khác với cho vay có đảm bảo, cho vay không có đảm bảo dựa trên tính liêm khiết và từ tình hình tài chính cuả người đi vay, lợi tức có thể có được trong tương lai và tình hình tài chính nợ trước đây Hình thức này thường được ngân hàng áp dụng cho khách hàng lớn và tín nhiệm của ngân hàng, trong nhiều trường hợp họ còn được hưởng lãi suất ưu đãi Đó thường là các công ty có cách quản lý hiệu quả, có các sản phẩm và dịch vụ được thị
Trang 5trường chấp nhận, lợi nhuận ổn định và tình hình tài chính vững mạnh Trên thực tế nhiều khoản vay lớn nhất được thực hiện theo hình thức này.
3 Cho vay theo thời gian :
Các khoản vay của ngân hàng được phân theo thời hạn trong hợp đồng cho vay: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
Cho vay ngắn hạn: Là cho vay với thời hạn tối đa là 12 tháng Cho vay trung hạn: Là cho vay với thời hạn cho vay từ 1-5 năm Cho vay dài hạn: Là cho vay với thời hạn từ 5 năm trở lên Các khoản vay có thời hạn ngắn thường đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của khách hàng, các khoản vay trung và dài hạn thường dùng vào mục đích đầu
tư, mua sắm máy móc, mở rộng phạm vi sản xuất.
4 Các hình thưc cho vay phân theo phương pháp hoàn trả :
Các khoản vay của ngân hàng có thể hoàn trả một lần hoặc trả góp Những khoản cho vay trả một lần là những khoản cho vay thẳng, nghĩa là hợp đồng yêu cầu trả toàn bộ một lần vào thời gian đáo hạn cuối cùng
Cho vay trả góp đòi hỏi việc hoàn trả theo định kì Việc hoàn trả có thể là hàng tháng, hàng quí hàng năm Cho vay trả góp theo nguyên tắc trả dần trong suốt thời hạn hợp đồng Nhờ vậy việc hoàn trả không trở thành gánh nặng lớn đối với người vay như trong trường hợp toàn bộ khoản vay được trả một lần Đối với nhiều người các khoản cho vay trả góp đóng vai trò như một phương tiện góp quĩ Hình thức này được dành nhiều món vay bất động sản và cho vay tiêu dùng
Qua các hình thức cho vay nêu trên, ta thấy rằng: Các khoản cho vay là những sản phẩm hàng hoá của ngân hàng thương mại trên thị trường kinh doanh tín dụng và dịch vụ ngân hàng nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu
về tín dụng và dịch vụ ngân hàng càng phong phú đa dạng Ngân hàng cần phải tiếp cận và hoà nhập với đời sống của dân cư.
Trang 6III CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CHO VAY VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
Bởi vậy, đề cập đến vấn đề chất lượng tín dụng khong phải là điều mới
mẻ nhưng nó luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của ngân hàng hiện nay.
Chất lượng tín dụng được hiểu theo đúng nghĩa là vốn vay của ngân hàng được khách hàng sử dụng đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh dịch
vụ để tạo ra một số tiền lớn hơn vừa ssể hoàn trả ngân hàng cả gốc và lãi, trang trải các chi phí khác và có lợi nhuận Như vậy quá trình chu chuyển vốn T-H-T, ngân hàng xẻ thu hồi vốn gốc và lãi, còn khách hàng sử dụng vốn
có hiệu quả Xét về tổng thể, ngân hàng vừa tạo ra được hiệu quả kinh tế vừa tạo ra hiệu quả xã hội.
Trên cơ sở đó khi cho vay ngân hàng phải tính toán cân nhắc vừa đảm bảo không vi phạm Luật ngân hàng vừa giải quyết được đầu ra của mình Điều này đồi hỏi ngân hàng phải nghiên cứu thẩm định khách hàng kỹ càng trước khi cho vay, nắm bắt được thông tin của khách hàng , hiểu được tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính của họ Vốn vay phải thực hiện đúng trổ đúng lúc, thực dự thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có lãi, đúng chính sách của nhà nước và phù hợp pháp Luật hiện hành Từ đó bảo đảm nguyên tắc hoàn trả tiền gốc và lãi được hoàn trả đúng ngày giờ không vi phạm hợp đồng Đó chính là cơ sở đảm bảo chất lượng tín dụng Như vậy chất lượng tín dụng là bắt nguồn từ hai phía ngân hàng và khách hàng vay vốn.
2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng :
2.1 Nhóm chỉ tiêu định tính:
Trang 7Nhóm chỉ tiêu nhằm đánh giá tình hình, qui chế, chế độ, thể lệ tín dụng của ngân hàng
Khi cho vay vốn, ngân hàng phải tuân thủ ba nguyên tắc, đó là
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích
- Vốn vay phải dược dảm bảo bằng giá trị vật tư hàng hoá tương tương đương
- Vốn vay phải được hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn cam kết
Ba nguyên tắc tín dụng trên đây hình thành như một qui luật nội tại của tín dụng Trên thực tế cho thấy, một khi cả ba nguyên tắc ấy, hoặc một trong ba nguyên tắc bị coi nhẹ, hoặc quá nhấn mạnh nguyên tắc này tuỳ tiện với nguyên tắc kia sẽ sớm dẩn đến tình trạng khách hàng mất khả năng thanh toán, phá sản hoặc đổ bể một dự án, một doanh nghiệp, một ngân hàng.
Khi nói đến chất lượng tín dụng thì chúng ta phải sem xét đến chất lượng tuân thủ nghiêm ngặt cả ba nguyên tắc cho vay trên
2.2 Nhóm chỉ tiêu định lượng
a) Tỷ lệ nợ quá hạn
Là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của Ngân hàng thương mại tại một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý hoặc cuối năm.
Nguyên tắc quan trọng nhất của cho vay là sự hoàn trả, do đó tính an toàn là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chát lượng cho vay Khi một lhoản vay khong được hoàn trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó vi phạm nguên tắc cho vay quan trọng nhất của Ngân hàng và nó bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường Trên thực tế, phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn
đề, có khả năng mất vốn lớn, có nghĩa là tính an toàn thấp.
Trang 8Trong nền kinh tế thị trường, ruỉ ro trong hoạt động kinh doanh là một tất yếu, có nhiều nguyên nhân dẩn đến rủi ro bao gồm cả nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân khách quan là do khách hàng vay không có khả năng trả đựoc nợ, hoặc không muốn trả nợ Nguyên nhân chủ quan là do sự yếu kém của bản thân Ngân hàng thương mại Do đó
nợ quá hạn của Ngân hàng thương mại luôn tồn tại, rất khó tránh khỏi Nhưng nếu một Ngân hàng thương mại có nhiều khoản nợ quá hạn hay tỷ lệ
nợ quá hạn quá cao sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh, sẻ có nguy cơ mất vốn, dể dẩn đến mất khả năng thanh toán, thâm chí làm phá sản một Ngân hàng Ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẻ bị đánh giá là có chất lượng vay thấp Chỉ tiêu này thường được sử dụng khi phân tích đánh giá chất lượng cho vay của Ngân hàng thương mại Để phân tích chất lượng tín dụng thông qua chỉ tiêu nợ quá hạn như sau:
+ Nợ quá hạn theo nguyên nhân: nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan.
+ Nợ quá hạn theo thành phần kinh tế có tài sản thế chấp hay không có tài sản thế chấp, có khả năng thu hồi hay không có khả năng thu hồi và có vấn
b) Chỉ tiêu vòng quay vốn cho vay
Chỉ tiêu này xác định bằng doanh số cho vay trên dư nợ bình quân của một Ngân hàng thương mại trong thời gian nhất định, thường là một năm.
Doanh số thu nợ
Trang 9Vòng quay vốn cho vay =
Dư nợ bình quân Chỉ tiêu này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn cho vay( thường là một năm ) Chỉ tiêu ngày càng tăng thì phản ánh tổ chức quản lý vốn vay tốt, chất lượng cho vay cao Đây là một chỉ tiêu thường được các Ngân hàng thương mại tính toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý tín dụng và chất lượng cho vay trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, giải quyết hợp lý giữa 3 lợi ích: nhà nước, Ngân hàng và khách hàng.
Tuy nhiên chỉ tiêu này chỉ phản ánh một cách tương đối, nếu một Ngân hàng thương mại cho vay các doanh nghiệp sản xuất chiếm một tỷ trọng lớn dư nợ, thì chỉ tiêu này sẽ không cao bằng Ngân hàng thương mại khác cho vay các doanh nghiệp thương mại Như vậy không thể vì thế mà chất lượng cho vay của Ngân hàng thương mại này lại kém hơn Từ thực tế trên, để có nhận xét tương đối chính xác về chất lượng cho vay, các tiêu thức tính toán cần phải đồng nhất, vòng quay vốn tính toán cho vay phải tính toán cho từng loại vay, thời hạn cho vay với đối tượng cho vay cụ thể( chẳng hạn cho vay trung hạn, cho vay ngắn hạn phân theo từng ngành ngề khác nhau: cho vay phục vụ sản xuất, cho vay thương mại ) bởi vậy, muốn có kết luận chính xác, cần có công nghệ tin học Ngân hàng hiện đại nhằm giảm bớt phức tạp của việc tính toán.
c) Tỷ lệ thanh toán nợ bằng tài sản của người đi vay
Khi nghiên cứu về bản chất tín dụng, thì một trong những nguyên tắc cho vay là hoàn trả Vậy nguồn trả nợ cho Ngân hàng của khách hàng vay là được trích ra từ phần thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh của họ Trong sản xuất nó bao gồm các lao động vật hoá ( chi phí nguyên, nhiên vật liệu, chi phí khác, khấu hao tài sản cố định ) mà Ngân hàng đã cho vay và phần giá trị mới sáng tạo ra Trong kinh doanh thương mại từ doanh thu
Trang 10bán hàng Tuy nhiên có nhiều trường hợp do sử dụng vốn kém hiệu quả dẩn đến mất vốn, nên khách hàng vay phải bán tài sản để trả nợ vay Ngân hàng
Số tiền đó có thể đủ để trả nợ vay Ngân hàng nhưng cũng chỉ có thể chỉ đủ trả nợ một phần nợ vay Hoặc trong nhiều trường hợp khách hàng vay gán tài sản của mình để trừ nợ, hoặc Ngân hàng bắt nợ, tất cả các trương hợp nêu trên nếu tỷ lệ cao thì chất lượng cho vay của Ngân hàng thấp
Tỷ lệ thanh toán nợ Số tiền thu nợ bằng tài sản của khách hàng vay
bằng tài sản của =
khách hàng vay Tổng doanh số thu nợ
Tỷ lệ này được các Ngân hàng tính theo định kỳ( tháng, quý, năm ) số thu nợ bằng tài sản của khách hàng vay theo báo cáo thống kê tín dụng d)Tỷ lệ sử dụng vốn sai mục đích.
Một nguyên tắc vay vốn đầu tiên là: khách hàng vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng Để đảm bảo
an toàn cho các khoản cho vay các Ngân hàng thương mại rất chú trọng, thường xuyên quan tâm đến việc khách hàng vay sử dụng đồng vốn vay của mình như thế nào Theo quy trình cho vay, Ngân hàng phải thực hiện tốt chế
độ kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay Khi vay vốn, khách hàng vay phải lập phương án hoặc dự án xin vay vốn trong đó trình bày tóm tắt mặt hàng kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn vay, thời hạn xin vay, kế hoạch trả nợ và cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích Trên cơ sở đó Ngân hàng kiểm tra vốn vay đó có được khách hàng vay sử dụng theo đúng mục đích của phương
án xin vay hay không?
Trang 11Trong nền kinh tế thị trường có một nguyên tắc: lợi nhuận càng cao thì rủi
ro càng lớn Một số khách hàng vay vốn muốn có lợi nhuận cao đã mạo hiểm
sử dụng vốn vay Ngân hàng sai mục đích đã cam kết, vì vậy dễ dẫn đến bị mất khả năng thanh toán nợ với Ngân hàng Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, do tính chất thông tin không cân xứng, khách hàng vay cung cấp thông tin sai sư thật có ý đồ lừa đảo Ngân hàng, gây nên tổn thất nặng nề cho Ngân hàng, phá hoại các quan hệ kinh tế lành mạnh, tạo ra cú sốc về tâm lýcho dư luận xã hội, đặc biệt làm thiệt hại cho nền kinh tế Những khoản vay
bị sử dụng sai mục đích phần lớn là sử dụng sai mục đích đã cam kết Để hạn chế việc sử dụng vốn vay sai mục đích, Ngân hàng phải thường xuyên thực hiện quy chế cho vay: kiểm tra sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng mục đích như đã cam kết hay không Nếu phát hiện khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, thì lập biên bản và có những biện pháp thích hợp, nhằm mục tiêu cuối cùng là thu được nợ tiền vay Chỉ tiêu này có thể được xác định
Tỷ lệ sử dụng vốn vay số tiền vay sử dụng sai mục đích
sai mục đích =
Trang 12Tổng số tiền dư nợ Chỉ tiêu này sử dụng nhằm đánh giá chất lượng cho vay cả về quá hạn lẫn nợ vẫn còn trong hạn, nhưng đã chứa tiềm ẩn rủi ro Một chỉ tiêu hết sức nhạy cảm đối với Ngân hàng thương mại, nó đánh giá tương đối thực chất về chất lượng những khoản nợ đã cho vay Tỷ lệ sử dụng vốn vay sai mục đích càng cao thì chất lượng cho vay bị đánh giá càng thấp và ngược lại.
e) Chỉ tiêu lợi nhuận
Như chúng ta đã đề cập, lợi nhuận do hoạt động tín dụng trong đó chủ yếu là cho vay Vì vậy lợi nhuận tăng hàng năm, điều đó chứng tỏ chất lượng cho vay đã được nâng lên hoặc Ngân hàng thương mại đã mỡ rộng công tác cho vay Chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay trên cơ sở căn cứ vào lợi nhuận thu được của các Ngân hàng thương mại, đây cũng chỉ là chỉ tiêu tương đối vì
nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : chính sách thu nhập, chi phí của chính phủ, chính sách lãi suất, chính sách khách hàng Thuờng trong hoạt động cho vay của Ngân hàng, nếu chất lượng cho vay của Ngân hàng tốt, tỷ lệ nợ sấu thấp, thì thu nhập từ hoạt động cho vay sẽ cao khi cùng một mức dư nợ so với các Ngân hàng khác Vì các khoản nợ sấu, Ngân hàng ít có thể hoặc không thể thu được lãi vay, mặc dù Ngân hàng áp dụng các khoản nợ đó bằng những lãi suất phạt cao hơn lãi suất thông thường Ngân hàng vẫn tính lãi vay các khoản
nợ đó sau đó treo trên tài khoản và nhập ngoài bảng.
Từ đó, chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay còn phụ thuộc vào các khoản lãi chưa thu Một Ngân hàng thương mại, nếu có khoản lãi cho vay chưa thu được lớn, thì có thể nói chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng cho vay nói riêng là có vấn đề, và ngược lại Những khách hàng hoạt động có hiệu quả,
có uy tín, thường thanh toán sòng phẳng cả gốc và lãi tiền vay đúng hạn Điều
đó gắn liền với các khoản vay có chất lượng tốt Còn các khách hàng hoạt động sản suất kinh doanh kém hiệu quả, tài chính doanh nghiệp gặp khó khăn,
Trang 13không có uy tín với Ngân hàng, thì việc trả nợ gốc và lãi tiền vay thường không đúng hạn, dễ phát sinh nợ quá hạn.
Qua hai nhóm chỉ tiêu trên ta thấy: nhóm chỉ tiêu định tính có thể thực hiện được hay không tuỳ thuộc vào ý thức chấp hành thể lệ tín dụng, tuân thủ qui trình cho vay của ngân hàng để có thẻ đảm bảo được chất lượng tín dụng Thế nhưng đối với nhóm chỉ tiêu định lượng, mặc dù có thể đảm bảo chỉ tiêu
hệ số qui định nhưng chưa chắc chắn hẳn đã đảm bảo về mặt chất lượng do việc các ngân hàng đối phó trong việc gia hạn nợ, cho vay đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn đúng thời gian.
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
3.1 Các nhân tố khách quan
a Môi trường kinh tế xã hội
Môi trường kinh tế có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của ngân hàng, điều này thấy rõ ở đường lối chủ trương phát triển kinh tế của nhà nước, của mỗi địa phương và ở mức độ phát triển của mỗi quốc gia, ở từng địa phương.
Một nền kinh tế ổn định sẽ dẫn đến một chính sách tín dụng tự do so với một nền kinh tế lệ thuộc vào các biến động thời vụ và chu kỳ Các khoản kí thác trong nền kinh tế không ổn định thường chao đảo biến động mạnh so với các khoản kí thác trong một nền kinh tế ổn định Nhiều người vay đã làm ăn phát đạt trong những giai đoạn thịnh vượng nhưng trong giai đoạn suy thoái vốn
có thể bị tiêu tan, lợi nhuận có thể giảm sút từ đó có thể gây nên tình trạng ngân hàng không thu hồi được vốn Một yếu tố hiển nhiên ảnh hưởng đến chính sách tín dụng của ngân hàng là đường lối chủ trương của quốc gia, địa phương Lí do chủ yếu để ngân hàng đuợc tồn tại là nhằm phục vụ các nhu cầu tín dụng của cộng đồng, xã hội Về mặt lý luận, các ngân hàng chỉ cho người nào vay nếu đưa ra được yêu cầu xin vay hợp lệ, hợp pháp và lành mạnh về kinh tế, nhưng theo chủ trương của nhà nước.
Trang 14Mức độ phát triển kinh tế của địa phương qui định quy mô và khối lượng đầu tư tín dụng Nếu đầu tư tín dụng vượt quá khối lượng cần thiết, không phù hợp phát triển kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng tín dụng Nhiều ngân hàng thương mại do nóng vội mở rộng đầu tư, nâng cao dư
nợ, đẩy tỉ lệ tăng trưởng tín dụng vượt quá mức tăng trưởng kinh tế trên địa bàn đều phải trả giá cho sự nóng vội.
Tóm lại, hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng đạt hiệu quả cao hay thấp, rủi do nhiều hay ít có quan hệ hữu cơ với sự phát triển kinh tế của quốc gia.
b Môi trường pháp lý:
Nhân tố luật pháp có vị trí hết sức quan trọng đối với chất lượng hoạt động tín dụng nó tạo môi trường hành lang pháp lý cho hoạt động của ngân hàng Nhân tố luật pháp ở đây bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính đầy đủ, tính thống nhất của các văn bản dưới luật, đồng thời gắn liền với quá trình chấp hành luật pháp và trình độ dân trí.
Việc hoàn chỉnh cơ chế, thể lệ tín dụng của ngành đúng với luật ngân hàng, phù hợp với thực tiễn là một điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng tín dụng Bất kỳ một điều khoản nào, một quy định nào chưa phù hợp với thực tiễn đều ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
Hiện nay nước ta có nhiều bộ luật tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập chưa sát với thực tế gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế xã hội nói chung và hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng Trong điều kiện như vậy, việc vận dụng thực thi các bộ luật đã có như thế nào để có thể tạo được hành lang pháp lý đầy đủ cho hoạt động ngân hàng là vấn đề có ảnh hưởng rấy lớn đến hoạt động tín dụng của ngân hàng.
c Trình độ quản lý, năng lực, chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và các cá nhân vay vốn.