Các trường đại học đầu tiên được phát triển dưới sự bảo trợ của giáo hội công giáo, còn gọi là trường học nhà thờ, được thúc đẩy bởi các tu viện.. Báo cáo về chất lượng giáo dục đại học
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
VIỆN NGHIÊN CỨU SƯ PHẠM
-& -
TÀI LIỆU CHUYÊN ĐỀ NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM
PGS.TS Phan Thanh Long
Hà Nội, 2019
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 LƯỢC SỬ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 3
1 Lược sử hỡnh thành và phỏt triển giỏo dục đại học thế giới 3
1.1 Ở phương Đụng 4
1.2 Phương Tõy 5
2.2 Giới thiệu một số trường đại học hàng đầu thế giới 8
2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển giáo dục đại học Việt Nam 18
2.1 Giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ phong kiến 18
2.2 Giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ pháp thuộc 20
2.3 Giáo dục đại học Việt Nam Từ năm 1954 đến 1975 22
2.3.1 Giáo dục đại học ở Miền Bắc Việt Nam 22
CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ HƯỚNG DẪN TỰ HỌC 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
CHƯƠNG 2 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠi HỌC TRấN THẾ GIỚI 32
1 Tuyờn ngụn thế giới về giỏo dục đại học 32
2 Một số mụ hỡnh giỏo dục đại học trong lịch sử phỏt triển xó hội 35
2.1 Giỏo dục tinh hoa (educatiom for elite) 35
2.2 Giáo dục vì nguồn nhân lực (education for manpower) 37
2.3 Giỏo dục đại chỳng (Education for mass) 37
2.4 Giỏo dục trong một xó hội học tập (Education in learning society) 39
3 Xu hướng phỏt triển giỏo dục đại học hiện nay 40
3.1 Đa dạng hoỏ cỏc mụ hỡnh nhà trường và phương thức đào tạo 40
3.2 Gắn kết quỏ trỡnh đào tạo với nghiờn cứu khoa học và quỏ trỡnh sản xuất, kinh doanh trong thực tiễn 42
3.3 Quốc tế hoỏ giỏo dục đại học 43
CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ HƯỚNG DẪN TỰ HỌC 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM 48
1 Tớnh cấp thiết của việc đổi mới giỏo dục đại học Việt nam 48
Trang 31.1 Những đặc điểm cơ bản của thời đại - thời cơ và thách thức đối với giáo dục đại
học hiện nay 48
1.2 Bối cảnh phỏt triển của giỏo dục đại học Việt Nam 54
2 Phương hướng phỏt triển giỏo dục đại học Việt Nam 60
2.1 Mục tiờu đổi mới giỏo dục đại học Việt Nam 60
2.2 Cỏc giải phỏp đổi mới giỏo dục đại học Việt Nam 61
3 Phương hướng tổng quát của giáo dục Việt Nam bước vào thế kỷ XXI 67
3 1 Chuẩn hoá 67
3.2 Hiện đại hoá 67
3.3 Dân chủ hoá 67
3.4 Xã hội hoá giáo dục 67
3.5 Đa dạng hoá các hình thức trường lớp 67
CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ HƯỚNG DẪN TỰ HỌC 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
CHƯƠNG 4 QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 70
1 Khỏi niệm quản lý nhà nước về giỏo dục và giỏo dục đại học 70
1.1 Khái niệm chung về quản lý 70
1.2 Quản lý nhà nước về giáo dục 70
1.3 Quản lý nhà nước về giáo dục đại học 71
2 Mụ hỡnh quản lớ giỏo dục và sự vận dụng vào quản lớ giỏo dục đại học 72
2.1 Khỏi niệm về mụ hỡnh 72
2.2 Mụ hỡnh quản lớ giỏo dục 73
3.2 Giỏo dục Đại học Việt Nam trong nền kinh tế thị trường với định hướng xó hội chủ nghĩa - Nhận diện cỏc thuộc tớnh và mõu thuẫn phỏt triển 74
3.3 Những vấn đề chủ yếu về phỏt triển giỏo dục đại học và quản lớ nhà nước về giỏo dục đại học trong bối cảnh phỏt triển hiện nay của đất nước 77
CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ HƯỚNG DẪN TỰ HỌC 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 4CHƯƠNG 1
LƯỢC SỬ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Mục đích yêu cầu:
Học chương này học viên cần phải nắm vững một số vấn đề sau:
- Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của giáo dục đại học trên thế giới (cả phương Đông và phương Tây)
- Có những thông tin cần thiết về một số trường đại học nổi tiếng trên thế giới
- Lịch sử hình thành và phát triển giáo dục đại học Việt Nam và những đóng góp của nó cho sự phát triển nước nhà
1 Lược sử hình thành và phát triển giáo dục đại học thế giới
Giáo dục là một hiện tượng của xã hội đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người Sự đặc biệt của giáo dục được thể hiện ở sự truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử
xã hội qua các thế hệ, tạo ra sự phát triển của cá nhân và xã hội
Từ khi con người biết lao động và có ngôn ngữ thì hiện tượng giáo dục cũng
MỤC TIÊU
Sau khi học xong học phần này, người học có thể:
- Học phần này nhằm cung cấp cho người học một số vấn đề cơ bản về tình hình giáo dục đại học trên thế giới và ở Việt Nam Cụ thể là những vấn
đề sau:
+ Sơ lược về lịch sử hình thành, phát triển của giáo dục đại học trên thế giới và ở Việt Nam
+ Xu hướng phát triển giáo dục đại học trên thế giới
+ Thực trạng giáo dục đại học Việt Nam hiện nay và phương hướng đổi mới giáo dục đại học Việt Nam trong những năm tới
+ Quản lí nhà nước về giáo dục đại học
- Trên cơ sở những hiểu biết nói trên nhằm giúp người học có một quan điểm thích hợp trong quá trình tham gia đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại trường mình công tác nói riêng và nền giáo dục đại học nước nhà nói chung
Trang 5manh nha xuất hiện Hiện tượng giáo dục của buổi sơ khai trong xã hội nguyên thuỷ mang tính chất tự phát, diễn ra rất đơn giản theo cơ chế bắt chước trực tiếp, nhằm truyền đạt những kinh nghiệm săn bắt, hái lượm, cao hơn nữa là những tập tục, nghi
lễ trong cuộc sống chung của bộ tộc, bộ lạc Giáo dục trong thời kỳ này là phúc lợi
xã hội và bình đẳng với mọi người trong cộng đồng, bộ tộc Mọi người lớn đều là thầy giáo, mọi trẻ em đều là trò…
Phương thức sản xuất ngày càng phát triển, của cải trong ngày càng nhiều và
có dư thừa, làm xuất hiện một số người muốn sở hữu riêng những của cải dư thừa
đó Xã hội loài người chuyển sang một thời kì lịch sử mới, xã hội chiếm hữu nô lệ,
xã hội có giai cấp Hiện tượng giáo dục trở thành một công cụ vô cùng quan trọng, một thứ đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị, chủ yếu phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị Trước hết là đào tạo con em họ trở thành những người có năng lực duy trì nền thống trị, tiếp đến là giáo dục tuyên truyền tính chất quy thuận, phục tùng đối với tất cả những tầng lớp, giai cấp bị trị
Sau một thời gian phát triển, trong xã hội xuất hiện một bậc học mang tính hàn lâm, đặc trưng cho văn minh của một thời đại, chỉ dành riêng cho con em giai cấp thống trị đó là giáo dục đại học Sau đây chúng ta sẽ xem xét sơ lược lịch sử hình thành nền giáo dục đại học ở phương Đông cũng như phương Tây
1.1 Ở phương Đông
- Một số quốc gia cổ đại phương Đông như Ai Cập, Át xi ri và Babilon (vùng Lưỡng Hà) từ thiên niên kỉ thứ 3 Tr.CN đã có một nền giáo dục phát triển Trường học được lập ra ở các miếu thờ thần Đạo sĩ, tăng lữ là tầng lớp nắm được nhiều kiến thức khoa học như: số học, hình học, thiên văn, địa lí,… làm nhiệm vụ giảng dạy bằng văn tự tiết hình Ở Babilon đã có một trường đại học, sinh viên được nhà nước cấp dưỡng sau 7 năm học Họ được bản thân quốc vương đến khảo sát để đào tạo thành những người quản lí xã hội
- Ở Ai Cập cổ đại người ta cũng tổ chức các lớp học trong các miếu thờ thần
để giảng dạy cho con em vua chúa, tăng lữ và những người muốn trở thành tăng lữ những kiến thức về số học, hình học để chia lại ruộng đất sau mùa nước lên của sông Nin (do bờ ruộng bị phù sa bồi đắp); về y học để ướp xác; về thuật chiêm tinh
để dự đoán thời tiết, mùa màng, sản xuất …
- Ở Trung Hoa cổ đại Theo lịch sử thì từ đời nhà Hạ (2050 - 1580 TrCN) đã
có trường gọi là “Thành Quân” và thứ chữ viết tượng hình đã đạt trình độ khá hoàn chỉnh Một số chữ được khắc lên mai rùa, xương thú vật dùng để bói toán (gọi là văn tự giáp cốt) Nhà trường cũng là nơi giáo dục, đào tạo con em chủ nô Những người làm công tác giáo dục là những quốc lão có đức, có vị
Đến đời Tây - Chu (1066 - 771 Tr.CN) nền giáo dục đã được phát triển ở mức
độ cao, nền quốc học đã có hai cấp: tiểu học và đại học Nội dung giáo dục cơ bản
Trang 6trong hai cấp đó là: Lễ, Nhạc, Xạ, Ngự, Thư, Số Đối với tiểu học thì thư, số là trọng điểm Còn xạ và ngự thì kết hợp với lễ, nhạc Con em được vào tiểu học hay đại học không được bình đẳng như nhau Ví dụ, con vua vào tiểu học từ 8 tuổi và vào đại học từ 15 tuổi Nhưng con của lớp triều quan thì vào tiểu học phải 13 tuổi, vào đại học phải 20 tuổi Tất nhiên nô lệ và con cái thường dân thì không có điều kiện vào học các trường đó
Trong các triều đại phong kiến Trung Quốc từ nhà Tần (221 Tr.CN), nhà Hán cho đến nhà Minh, Thanh (1911) giáo dục từng bước phát triển về số lượng nhằm giáo dục đào tạo con em giai cấp phong kiến, địa chủ để duy trì vương quyền và tuyển chọn nhân tài của các triều đại Ngay từ đời Đông Hán (925 - 220 Tr.CN) khi đóng đô ở Lạc Dương đã mở một nhà Thái học rất lớn có 247 “phòng”, 1850 “thất”, lúc đông nhất có tới ba vạn thái học sinh Ngoài hệ thống nhà trường đại học thường được xây dựng ở kinh đô và tỉnh lớn thì từ đời nhà Đường (581- 604) đã có tổ chức thư viện được coi như là một loại trường đại học Thư viện được đặt ở những nơi danh lam thắng cảnh, chứa rất nhiều sách do một Động chủ hay Sơn trưởng phụ trách Phương pháp giảng dạy là việc kết hợp việc giảng bài cho tập thể với sự nghiên cứu của cá nhân là chính
Trong lịch sử phát triển giáo dục phương Đông hệ thống các trường Quốc Tử Giám là các trường đại học đầu tiên, chủ yếu để đào tạo con em vua chúa và quan lại trong triều đình
1.2 Phương Tây
Hy Lạp cổ đại là một vùng đất có nền văn minh phát triển rực rỡ rất sớm của thế giới Hy Lạp cổ đại bao gồm nhiều quốc gia nhỏ theo chế độ chiếm hữu nô lệ, trong đó có hai quốc gia lớn mạnh nhất là Spactơ và Aten
Nhà nước chiếm hữu nô lệ Spactơ đã tận dụng giáo dục như một lợi khí nhằm giáo dục, đào tạo con em họ trở thành những chủ nô tàn bạo, có sức khoẻ, võ nghệ cao cường để thẳng tay đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nô lệ, duy trì quyền thống trị Do đó nhà nước Spactơ rất quan tâm tổ chức hệ thống giáo dục từ thấp lên cao Trẻ em con em giai cấp chủ nô nếu không bị dị tật, ốm yếu sẽ được nuôi dạy ở trong gia đình cho đến 6 tuổi Sau 6 tuổi các em được nuôi dưỡng, học tập, rèn luyện rất khắt khe trong trường học của quốc gia để trở thành người công dân Spactơ “tuyệt đối phục tùng” nhà nước Sau 18 tuổi có một số đông thanh niên được vào học trường cao cấp quân sự, có các chuyên ngành như bộ binh, kỵ binh… để trở thành những chiến binh dũng cảm, tàn bạo, trung thành với nhà nước chiếm hữu nô
lệ Spactơ
Từ thế kỷ thứ VI tr.CN, nhà nước chiếm hữu nô lệ Aten ở về phía Đông Nam
Hy Lạp có nhiều hải cảng thuận tiện cho việc giao lưu buôn bán nên nền kinh tế và văn hoá rất phát triển, đòi hỏi giai cấp quý tộc phải tổ chức một nền giáo dục cao
Trang 7cho con em họ Từ 1 đến 6 tuổi các em được giáo dục trong gia đình với nhiều thứ
đồ chơi để phát triển thể lực Sau 6 tuổi, hàng ngày các em được một người nô lệ thông minh gọi là “Paidagogos” đưa đến trường và góp phần giáo dục các em
Vào khoảng 12 tuổi các em được vào trường thể thao rèn luyện “ngũ khoa” là chạy, nhảy, ném đĩa, ném lao, vật, đồng thời tiếp tục học văn pháp, số học, hình học,
âm nhạc Sau khi tốt nghiệp trường thể thao (Palacotra) con nhà giàu có thể tiếp tục học ở thể dụng quán (gummasion) cho đến 18 thì họ được vào trường Cao đẳng quân sự (ephebeia) đồng thời tiếp tục học văn học, toán học, triết học, âm nhạc và tham gia các buổi sinh hoạt chính trị Đây là hệ thống nhà trường đại học đầu tiên của Hy Lạp cổ đại nhằm đào tạo con em giai cấp thống trị thành những người có trình độ cao, phát triển các mặt chân, thiện, mỹ
Nghiên cứu lịch sử phát triển giáo dục thế giới, các nhà khoa học đều có một nhận định chung là việc giáo dục, đào tạo con em giai cấp thống trị có trình độ học vấn cao đã được các quốc gia phát triển dưới chế độ chiếm hữu nô lệ ở cả phương Đông và phương Tây Tuy nhiên hình thức tổ chức, nội dung giáo dục, yêu cầu về trình độ học vấn có khác nhau, nhưng đều có một mục đích chung là đào tạo nhân tài để tham gia vào các hoạt động quản lý, phát triển của đất nước trong các thể chế chính trị khác nhau
Đến thời Trung cổ nhà trường “đại học” (gốc la tinh là universitas) theo đúng
ý nghĩa của nó về tổ chức, nội dung, chương trình, chất lượng đào tạo, giáo sư giảng dạy, v.v…được xây dựng sớm ở một số quốc gia Tây Âu Các trường đại học đầu tiên được phát triển dưới sự bảo trợ của giáo hội công giáo, còn gọi là trường học nhà thờ, được thúc đẩy bởi các tu viện Đó là các đại học Bologna - La Mã (thành lập năm 1088), Trường Đại học Pari, Ooclêăng - Pháp (1150), Trường Đại học Oxford, Kembridge - Anh (1167), Trường Đại học Xalamanca - Tây Ban Nha(1218), v.v… Đến cuối thế kỷ XIV ở Châu Âu đã có tất cả 40 trường đại học danh tiếng
Trong số các trường đại học ở Tây Âu lúc bấy giờ thì trường Đại học Pari là nổi tiếng nhất Sinh viên ở đây lâp thành 4 hội đồng hương là Noócmăngđi, Anh, Gôlơ, Picacdi Các giáo sư cũng gia nhập các tổ chức mà sau này phát triển thành các khoa Đến cuối thế kỷ XII các tổ chức sinh viên và giáo dục liên hiệp lại để bầu
ra hiệu trưởng (ban giám hiệu) có sinh viên tham gia để điều hành việc giảng dạy và học tập Trong mỗi trường đại học có nhiều khoa khác nhau như: Pháp lý, y khoa, thần học, nghệ thuật Các trường đại học thời Trung cổ có uy tín rất lớn, nhiều khi người ta giao cho việc hoà giải sự tranh chấp giữa chính quyền và giáo hội
Hiện nay ở trên thế giới, đối với những quốc gia nhỏ cũng có hàng trăm trường Cao đẳng và Đại học Đối với những quốc gia lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nga, Nhật có đến hàng ngàn trường Cao đẳng và Đại học ở khắp cả nước, đến từng
Trang 8địa phương, vùng lãnh thổ để đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và nhu cầu “học tập suốt đời” theo xu thế hội nhập quốc tế
2 Giới thiệu một số trường đại học hàng đầu thế giới hiện nay
2.1 Bảng xếp hạng những trường đại học hàng đầu thế giới
Nói đến những trường đại học hàng đầu thế giới, người ta thường nghĩ ngay tới những cái tên như Đại học Harvard, Yale, MIT (Hoa Kì) hay Oxford, Cambridge (Anh) Đó là những cái tên đã trở thành thương hiệu, là sự đảm bảo về
uy tín và chất lượng Tuy nhiên, gán cho những trường này cụm từ “hàng đầu thế giới” không phải chỉ là cảm tính hay thói quen mà dựa trên những tiêu chí hết sức
rõ ràng, cụ thể
Hàng năm, nhiều tổ chức tiến hành bình chọn và xếp loại các trường đại học trên thế giới Mỗi một tổ chức có thể đưa ra những tiêu chí không hoàn toàn giống nhau, dẫn tới thứ hạng của một số trường trong cùng một năm, ở những bảng xếp hạng khác nhau, có thể sẽ khác nhau Tuy nhiên sự chênh lệch là không quá lớn Lấy ví dụ một bảng xếp hạng uy tín do Thời báo Times Higher Education Suppliment phối hợp với Tổ chức Giáo dục và Hướng nghiệp quốc tế (QS) thực hiện Xếp hạng các trường đại học hàng đầu thế giới là sự kiện thường niên của tổ chức này Trong Bảng xếp hạng các trường đại học hàng đầu thế giới hằng năm, 10
vị trí đứng đầu thuộc về các trườnsg đại học của Mỹ và Anh, trong đó đứng đầu là Đại học Harvard, kế đến là Yale, Oxford và Cambridge
Theo ông Nunzio Quacquarelli, Giám đốc của QS, thì kết quả xếp hạng chính
là sự thể hiện rõ nhất, chân thực nhất về chất lượng giáo dục của các trường
Nền giáo dục châu Á cũng cải thiện được vị trí của mình với 13 trường lọt vào Top 100, trong đó có Osaka University và Chinese University of Hong Kong ở Top
50 Còn châu Âu (trừ Anh) lại có vẻ tụt hạng
Báo cáo về chất lượng giáo dục đại học Việt Nam mới công bố của Bộ Giáo dục Đào tạo cho biết: Giáo dục đại học Việt Nam chưa có vị trí trong bảng xếp hạng các trường đại học hàng đầu thế giới
Tạp chí Newsweek cũng công bố xếp hạng các trường đại học hàng đầu thế giới của mình hàng năm, dựa trên sự cởi mở, đa dạng và những thành tựu xuất sắc trong nghiên cứu
Nét mới của bảng xếp hạng này là chú trọng nhiều hơn vào tính chất toàn cầu của các trường Bởi vì các trường đại học trên thế giới ngày càng có ý thức trong việc hòa nhập vào môi trường toàn cầu hóa
Trang 92.2 Giới thiệu một số trường đại học hàng đầu thế giới
v Trường Harvard (Mỹ) và các trường trực thuộc: Trường Kinh
doanh Harvard, trường Luật Harvard, trường Y Harvard và trường John F Kennedy of Government
Trường Đại học Tổng hợp Harvard được thành lập năm 1636 và là một trong những trường đại học nổi tiếng nhất thế giới bên cạnh các trường: đại học Cambridge, Oxford của Anh, Sorbonne của Pháp
Trên 14.000 người đang làm việc ở Harvard, trong đó có hơn 9.000 cán bộ giảng dạy ở trường y và 2.000 cán bộ giảng dạy khác Thư viện ở ĐH Harvard có trên 15 triệu đầu sách
Ban đầu, trường chỉ có 9 sinh viên và duy nhất một thầy giáo Trong niên khoá 2004-2005, số sinh viên của trường là 19.731 người tại 10 đơn vị học thuật chính, trong đó có hơn 12.000 nghiên cứu sinh Ngoài ra, còn có 13.000 SV đăng ký các khoá học tại trường Harvard mở rộng
Ngoài thu nhập do giảng dạy và các hoạt động kinh doanh khác, trường còn nhận được nhiều khoản đóng góp từ các học sinh cũ nay đã thành đạt
Bảy tổng thống Mỹ: John Adams, John Quincy Adams, Theodore and Franklin Delano Roosevelt, Rutherford B Hayes, John Fitzgerald Kennedy và George W Bush đều là cử nhân của Harvard Các cán bộ giảng dạy của trường ĐH danh tiếng này cũng đã tạo ra 40 nhà khoa học giành giải Nobel Chi phí của mỗi sinh viên trong năm 2004-2005 là 40.000 đôla
Mục tiêu của Harvard là cố gắng tạo ra sự hiểu biết và mở mang trí óc của SV đến với hiểu biết đó, đồng thời giúp SV tận dụng tốt nhất các cơ hội giáo dục của
họ Chính vì thế mà Harvard khuyến khích sinh viên tôn trọng các ý tưởng và sự thể hiện tự do của họ, hãnh diện với sự khám phá và khả năng suy nghĩ, theo đuổi tinh thần hợp tác và nhận trách nhiệm đối với hậu quả của những hành động cá nhân
Sự ủng hộ mà đại học Harvard dành cho sinh viên là nền tảng để họ xây dựng tính độc lập và thói quen học tập suốt đời
Nằm trong trường Đại học Tổng hợp Harvard có rất nhiều trường trực thuộc, trong đó phải kể tới 4 trường rất nổi tiếng sau:
- Năm thành lập: 1908
- Địa điểm: Boston, Massachusetts
- Phương châm đào tạo: “đào tạo nên những nhà lãnh đạo làm nên sự khác biệt trên thế giới” (to educate leaders who make a difference in the world)
Trang 10- 65.000 sinh viên đã tốt nghiệp của trường có rất nhiều người là lãnh đạo của những tập đoàn danh tiếng, trong đó có cả những nhà lãnh đạo của các quốc gia như trường hợp của Tổng thống Mỹ Geogre W Bush
- Luôn luôn đứng đầu danh sách các trường kinh doanh uy tín nhất của Mỹ (theo www.forbes.com)
- Các trung tâm nghiên cứu toàn cầu:
+ California Research Center, Palo Alto;
+ Asia-Pacific Research Center, Hong Kong;
+ Latin America Research Center, Buenos Aires;
+ Japan Research Office, Tokyo;
+ Europe Research Center, Paris
- Năm thành lập: 1817
- Hiện tại có 10 thượng nghị sĩ; 10 hạ nghị sĩ và 4 thống đốc bang của Mỹ từng học tại trường Luật Harvard Ứng cử viên tự do Ralph Nader trong cuộc chạy đua vào Nhà trắng (dành được khỏang 1% số phiếu phổ thông) cũng từng học tại trường Luật Harvard
- Năm thành lập: 1782
- Phương châm đào tạo: “tạo ra và nuôi dưỡng một cộng đồng những người sẵn sàng phục vụ và cống hiến để làm dịu đi nỗi đau của của các bệnh nhân” (create and nurture a community of the best people committed to leadership in alleviating human suffering caused by disease)
- Từ năm 1934 đến năm 1990 có 10 nhà nghiên cứu thuộc trường Y Harvard đoạt các giải Nobel về Y học Đặc biệt, có 4 nhà nghiên cứu thuộc trường Y
Harvard và một số người đồng sáng lập Tổ chức bác sĩ quốc tế ngăn ngừa chiến tranh hạt nhân (International Physicians for the Prevention of Nuclear War) đã
được trao giải Nobel hòa bình năm 1985
- Năm thành lập: 1936
- Phương châm đào tạo: “chuẩn bị cho một thế hệ những nhà lãnh đạo của những xã hội dân chủ; đóng góp giải pháp cho những vấn đề của cộng đồng” (preparing leaders for service to democratic societies; contributing to the solutions
of public problems)
Trang 11- Cùng với Trường Hành chính quốc gia Pháp (Ecole Nationale D’Administration), trường John F Kennedy of Government là môi trường lý tưởng
để đào tạo ra những chính khách, những nhà lãnh đạo của các quốc gia trên thế giới Ngoài công việc đào tạo, trường còn có rất nhiều những hoạt động nghiên cứu tại 14 viện và trung tâm nghiên cứu trên khắp thế giới Nhiều những công trình nghiên cứu của trường đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến các giải pháp cho những vấn đề chính trị của các quốc gia trên thế giới Nhiều học viên đã tốt nghiệp của trường hiện đang giữ các ghế thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ và thống đốc một số bang của nước Mỹ
v Đại học Stanford (Mỹ)
Đại học Stanford bao gồm 1 trường đại học và 7 trường cao học, với tổng số sinh viên lên tới gần 10.000 Cùng nằm trong một trường lớn nhưng với nhiều trường nhỏ chuyên biệt trên một khuôn viên rộng, có thể coi đây là một “mô hình
đô thị đại học” đã khá phổ biến với các trường đại học lớn ở Âu, Mỹ và một số nước phát triển ở châu Á
Đại học tổng hợp Stanford (California, Mỹ) là một trong những trường hàng đầu
của Mỹ Nằm ở 2 quận San Mateo và Santa Clara, cách thành phố San Francisco khoảng
1 tiếng đi xe, trường đại học có khuôn viên rộng lớn nhất nước Mỹ này sở hữu các rừng cây tùng bách trải dài và bờ biển Thái Bình Dương tuyệt đẹp
Trường đại học Stanford có diện tích tổng cộng hơn 3300 hecta của bang California, trong đó 2800 hecta là tài sản của trường và không trực thuộc cơ chế quản lý hành chính của thành phố
Đây là một quần thể bao gồm 1 trường đại học và 7 trường cao học cùng hàng trăm viện nghiên cứu lớn nhỏ Khuôn viên trường trải rộng trên khoảng 90km đường, có một nhà máy cấp điện với tải lượng 49 MW, 2 hệ thống cấp nước riêng, 3 đập và hồ nước, 170km đường ống dẫn nước, 1 hệ thống sưởi trung tâm, một hệ thống truyền tải điện với năng suất lớn, và một bưu điện
Ngoài ra, Stanford còn cung cấp hoặc thuê riêng một hệ thống phòng chữa cháy, công an và nhiều dịch vụ khác Stanford là một trong những đơn vị trường đại học sử dụng điện tiết kiệm nhất bang Nhà máy điện của trường cung cấp toàn bộ điện cho trường và còn thừa đến 25 MW cho dân thường sử dụng
94% sinh viên đại học, 54% sinh viên cao học và 30% giảng viên của trường sống trong khuôn viên này Diện tích nhà ở của giảng viên và cán bộ công nhân viên của trường bao gồm cả nhà thuê và nhà mua
Trong khuôn viên có vườn hoa, rất nhiều thư viện, nhà thờ, và bệnh viện (thuộc trường Y)… Khuôn viên Stanford có rất nhiều cây xanh và thảm cỏ với hệ thống tưới tiêu tự động
Khu nghiên cứu Stanford nằm trong khuôn viên trường được thành lập năm
Trang 121951 để đáp ứng nhu cầu phát triển đất công nghiệp ở gần trường học và phát triển ngành điện tử gắn với trường đào tạo kỹ sư của đại học Stanford
Ngày nay, khu nghiên cứu bao gồm hơn 150 công ty với khoảng 23.000 chuyên viên làm việc trên các lĩnh vực điện tử, phần mềm, công nghệ sinh học, và các ngành công nghệ cao khác
Ngoài ra, còn có công ty nghiên cứu phát triển và các công ty cung cấp dịch
vụ hỗ trợ khác hoạt động trên một tổng diện tích sử dụng gần 1 triệu mét vuông Khu mua bán của trường Stanford nằm ở vùng phía bắc của vùng đô thị, có 5 siêu thị lớn và 140 cửa hàng bán lẻ, thu hút chừng 8 triệu khách hàng năm và có doanh thu trên 500 triệu USD năm 2003 Toàn bộ khu mua sắm này do công ty Simon Property Group, Inc cho thuê và quản lý Đây cũng là khu trung tâm mua sắm có doanh thu trung bình trên diện tích mặt bằng cao nhất trong cả nước
Nằm trên địa bàn của nhiều tỉnh khác nhau, trường đại học Stanford luôn coi trọng mối quan hệ với cộng đồng và có đóng góp trong mọi vấn đề lớn như phát triển kinh tế và giao thông cho vùng Trong khu đô thị này cũng có 5 trường học khác Hiện tại, trong khu đô thị có hệ thống xe buýt Marguerite và các dịch vụ cung cấp phương tiện đi lại khác như cho thuê xe hơi, xe đạp… Khoảng 34% giảng viên
và cán bộ của trường đi lại hàng ngày bằng phương tiện công cộng Có 10 tuyến xe buýt của hệ thống Marguerite mở rộng cho người dân ngoài trường
v Viện công nghệ Massachusetts - MIT (Mỹ)
Viện công nghệ Massachusetts (MIT) là Đại học danh tiếng luôn đứng trong danh sách 10 trường Đại học hàng đầu thế giới và xếp hạng nhất trong các trường Đại học ngành công nghệ thông tin của Mỹ
Năm 1861, Cộng đồng bang Massachussets tán thành ý kiến thành lập "Học viện kĩ thuật Massachussets” bao gồm các ngành khoa học xã hội và tự nhiên, được
đệ trình bởi nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng William Barton Rogers Đây là bước quan trọng đầu tiên mà Rogers hi vọng sẽ thành lập một học viện độc lập thúc đẩy
sự tăng trưởng cho nền công nghiệp của Mỹ Được sự đồng ý của chính phủ, Rogers
đã lập nên quỹ hỗ trợ phát triển chương trình giảng dạy, đánh giá, các cơ sở vật chất Nỗ lực của ông bị đình trệ bởi cuộc nội chiến Mỹ, và cho đến năm 1865 những lớp học đầu tiên mới được mở tại khu Mercantile trung tâm Boston
Toà nhà đầu tiên của MIT được hoàn thành ở Boston's Back Bay năm 1866 Các năm kế tiếp, MIT đã gây dựng được danh tiếng của mình trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, tuy vẫn còn trong thời kì khó khăn về tài chính Đã có quan điểm cho rằng MIT nên liên kết với Đại học Harvard, một đại học có nguồn tài chính dồi dào nhưng yếu hơn về khoa học công nghệ để cùng phát triển Vào những năm
1900, một đề nghị hợp tác với Harvard được đưa ra nhưng sau đó bị hoãn lại do sự
Trang 13phản đối của các cựu sinh viên MIT Năm 1916, MIT chuyển sang khu vực Cambridge hiện tại
Trong suốt lịch sử của mình, MIT luôn tập trung vào các phát minh trong lĩnh vực khoa học công nghệ Số liệu năm 1997 cho thấy tổng thu nhập do các công ty lập nên bởi MIT đứng hàng 24 trong nền kinh tế thế giới Năm 2001, MIT triển khai
dự án Open Course Ware đưa các học liệu mở lên mạng Internet Cùng năm đó Chủ tịch trường là Charles Vest lần đầu tiên đã công nhận rằng, học viện của ông đang
có hạn chế lớn đối với các sinh viên và nhà khoa học nữ, và ông cam kết sẽ có các chính sách thích hợp để cải thiện Tháng 8 năm 2001, Susan Hockfield, nhà thần kinh học, là phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ chủ tịch của MIT Bà chính thức đảm nhiệm chức vụ vào ngày 6 tháng 12 năm 2004 và là chủ tịch thứ 16 của MIT
Tạp chí Atlantic năm 2004 xếp hạng MIT như là một trong những đại học khó vào nhất tại Mỹ Theo đánh giá của US News và World Report's thì MIT là 1 trong
5 trường luôn được xếp hạng cao nhất, cùng với Havard, Stanford, Yale và Princeton Năm 2005, quỹ đóng góp của MIT cho nền kinh tế là 6.7 tỷ Đôla, xếp hạng thứ 6 tại Mỹ
v Đại học Cambridge - cái nôi của những nhà khoa học xuất chúng Hình thành từ thế kỷ thứ XIII, năm 1209, Cambridge đã trở nên nổi tiếng trước hết bởi chính diện mạo của mình với những công trình kiến trúc đẹp trong một khung cảnh thơ mộng Nhưng lý do quan trọng hơn và đáng tự hào hơn là bởi chất lượng giáo dục và những thành tựu khoa học của trường
Từ trung tâm giáo dục và nghiên cứu khoa học này của thế giới, hàng trăm năm qua đã cho ra đời rất nhiều những phát minh quan trọng, mà nhiều trong số đó mang tính lịch sử của toàn nhân loại
Sự nổi danh của Cambridge trong lĩnh vực khoa học được bắt đầu từ nhà bác học Isaac Newton ở thế kỷ XVII với cuốn “Những nguyên lý toán học cơ bản" Phải
300 năm sau khi cuốn sách phát hành thì các phát minh khoa học dựa trên cơ sở các nguyên lý đó mới thực sự được khám phá Tiếp theo Newton, rất nhiều những nhà khoa học khác đã góp phần làm nên sự vĩ đại của Cambridge như: Darwins - cuối thế kỷ XIX - với thuyết tiến hóa, J.J Thomson khám phá ra điện tử năm 1897, Cockcroft và Walson phân chia được nguyên tử năm 1923, 1949 Maurice Wikle phát triển những thành tựu đầu tiên của kỹ thuật số, 1953 Crick và Watson giải mã được cấu trúc ADN Và hiện nay, truyền thống đó vẫn tiếp diễn với giáo sư vũ trụ học Stephen Hawking, giáo sư tin học Roger Needham hay bác sỹ Roy Calne - một chuyên gia trong lĩnh vực cấy ghép gan
Không dừng lại ở lĩnh vực học thuật, Cambridge đã rất nhanh chóng bắt kịp
với đà phát triển của thế giới trong lĩnh vực công nghệ để làm nên “Hiện tượng Cambridge” khi biến thành phố này trở thành một trung tâm công nghệ quan trọng
của Châu Âu, một “thung lũng Silicon” của nước Anh
Trang 14Còn chất lượng giáo dục của Cambridge thì được đánh giá bởi những lớp sinh viên sau khi tốt nghiệp trở thành những người thành đạt Ngôi trường này đã đào tạo ra rất nhiều nhà thơ, doanh nhân, nghị sĩ, Phó thủ tướng hay những chức vụ tương tự cho nước Anh và cho cả thế giới
Có thể kể ra một vài yếu tố làm nên chất lượng của trường Cambridge đó là: giảng viên giỏi, sinh viên ưu tú; phương pháp học đi đôi với hành; và nguồn đóng góp to lớn từ các nhà tài trợ
Sinh viên giỏi và giảng viên giỏi:
Phó Hiệu trưởng trường Cambridge hiện nay - bà Alison Rechard đã trả lời câu hỏi này như sau: “đó là tham vọng to lớn thu hút và giáo dục những sinh viên
có triển vọng nhất, tốt nhất ở mọi ngành; song song với tham vọng tuyển chọn những giảng viên giỏi nhất để dạy những sinh viên ưu tú trên là làm công tác nghiên cứu mọi lĩnh vực của tri thức”
Việc tuyển chọn những sinh viên giỏi là một truyền thống của Cambridge Từ thế kỷ XVII khi toán học là ngành mũi nhọn của Cambridge, những cuộc thi có tên gọi “Tripos” để tuyển chọn sinh viên giỏi đã được tổ chức Và sau đó hình thức này được áp dụng cho các ngành khác như: ngành luật dân sự năm 1816, chuyên ngành thần học năm 1843 và cho đến trước năm 1900 các cuộc thi để tuyển chọn sinh viên giỏi này đã được áp dụng cho hầu hết các chuyên ngành
Để thu hút những sinh viên giỏi, Cambridge còn rất chú trọng đến chính sách
hỗ trợ sinh viên, đặc biệt là những sinh viên nghèo Chính sách này đã là truyền thống ở Cambridge từ thời trung cổ, nhà bác học Issaac Newton đã là một sinh viên trong diện hỗ trợ này Như lời phát biểu của bà Phó Hiệu trưởng trường: “Khi Isaac Newton vào trường với tư cách là một sinh viên đại học, ông được hưởng hoàn toàn
sự tài trợ của trường Trinity, lúc đó không ai biết rằng ông là một thiên tài”
Học đi đôi với hành:
Chất lượng giáo dục của Cambridge còn được khẳng định bởi nguyên tắc học tập phải luôn đi đôi với nghiên cứu“ "Ở Cambridge chất lượng giảng dạy tuyệt vời
và các nghiên cứu tuyệt vời luôn gắn liền với nhau” Nguyên tắc này cộng với đầu vào sinh viên tốt, điều kiện học tập đầy đủ với thư viện, phòng thí nghiệm hiện đại bậc nhất thế giới, nên chất lượng giáo dục ở Cambridge luôn được khẳng định
Từ năm 1993 trường còn áp dụng một phương thức đánh giá chất lượng giảng dạy (TQA) bao gồm rất nhiều tiêu chuẩn với các thang điểm khác nhau
Những sinh viên đại học năm cuối của Cambridge vừa được học rất chuyên sâu, vừa được hỗ trợ bởi sự chăm sóc đặc biệt của hệ thống giám sát của trường Các nhà quản lý Cambridge tin rằng đó là cách dạy hiệu quả nhất đối với những sinh viên triển vọng và có chí tiến thủ nhất
Trang 15Một nhân tố khác làm nên sự nổi tiếng của Cambridge là cách ngôi trường này
đưa tri thức của mình vào cuộc sống khi áp dụng rất hiệu quả công thức: Công nghệ hiện đại + các nhà đầu tư + các nghiên cứu hàn lâm
Với truyền thống về nghiên cứu học thuật, Cambridge đã thu hút được những nhà nghiên cứu hàng đầu trên thế giới hội tụ về đây, cho họ một môi trường làm
việc hoàn hảo, điều kiện làm việc hết sức linh hoạt, cho phép - thậm chí khuyến khích họ làm việc cho các ngành công nghiệp Điều này đã kết hợp được những
nghiên cứu thuần tuý với ứng dụng, sự tinh túy của học thuật với thế giới thực và những kinh nghiệm thực tế
Vì thế, Cambridge là một trường đại học có thu nhập cao khác thường từ lĩnh vực công nghiệp, điều hành một số lượng dự án nghiên cứu quan trọng liên kết với các nhà công nghiệp
Năm 2009, Đại học Cambridge kỷ niệm tuổi 800 của mình Phương châm của trường là sẽ tiếp tục kế thừa những truyền thống của tám thế kỷ qua, đồng thời tiếp tục cố gắng để khẳng định mình trong hàng ngũ những trường đại học vĩ đại nhất thế giới
v Oxford - Đại học cổ nhất Anh Quốc, nơi đào tạo "người đứng
đầu", đại học đầu tư nhiều tiền cho sinh viên nhất
Oxford là đại học cổ nhất trong thế giới các nước nói tiếng Anh Tuy không có ngày thành lập chính thức, nhưng việc giảng dạy ở đây đã được bắt đầu từ năm
1096 và phát triển rất nhanh kể từ năm 1167 khi vua Henry Đệ Nhị của Pháp cấm sinh viên Anh học tập ở Paris Hiện tại, đại học Oxford có khoảng 17 ngàn sinh viên, 25% trong số đó là sinh viên quốc tế đến từ hơn 130 nước khác nhau trên thế giới
Là một trong những đại học danh giá nhất thế giới và đứng đầu ở Anh (theo
xếp hạng năm 2005 của hai tờ báo nổi tiếng 'The Times' và 'The Guardian'), Oxford đào tạo rất nhiều người tài giỏi thuộc tất cả các lĩnh vực tự nhiên và xã hội Hầu
như không thể kể hết những người nổi tiếng đã xuất thân từ đây: 46 nhà khoa học đoạt giải Nobel (riêng Linus Pauling đoạt 2 giải), 25 thủ tướng Anh, 6 vị vua, nhiều nhà văn, nhà thơ, toán học, kinh tế Thủ tướng Anh Tony Blair, Cựu Tổng thống
Mỹ Bill Clinton, Vua Abdullah của Jordan, Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh, Thái tử Nhật Bản Naruhito, nhà vật lý học Stephen Hawking hay cả danh hài Rowan Atkinson (diễn viên đóng vai Mr Bean) đều là cựu sinh viên Oxford
Vì là đại học có từ thời trung cổ, hệ thống giáo dục của Oxford cũng rất khác biệt so với các đại học khác Hệ thống dạy kèm (tutorial system) của Oxford được xem là cách giáo dục tốn kém nhất, và cũng tất nhiên là hiệu quả nhất Mỗi sinh viên đại học ở đây đều có riêng các giáo viên kèm cặp trong các môn học, cho và
chấm điểm bài tập về nhà Riêng các sinh viên sau đại học còn có giáo viên hướng
dẫn nghiên cứu Những năm gần đây tại Anh, Oxford luôn đứng đầu trong các đại học đầu tư nhiều tiền nhất cho sinh viên của mình
Trang 16v Đại học Tokyo (Nhật Bản)
Ở châu Á, Nhật Bản là quốc gia có 2 trường nằm trong 100 trường đại học đứng đầu thế giới, đó là đại học Tokyo (đứng thứ 14) và đại học Kyoto (đứng thứ
25) theo xếp hạng của tạp chí Newsweek
Trường Tokyo được thành lập bởi chính phủ Minh Trị vào năm 1877 với tên như hiện nay bằng cách hợp nhất các trường Tây y cũ của chính phủ Trường đã
được đổi tên thành Đại học Đế quốc (Teikoku daigaku) năm 1886, và sau đó là Đại học Đế quốc Tokyo (Tōkyō teikoku daigaku) năm 1887 khi hệ thống đại học đế
quốc của Nhật được hình thành Đây là trường đại học quốc gia đầu tiên tại Nhật Trường giảng dạy tất cả các môn học chủ yếu cho cả bậc dưới đại học và trên đại học và cung cấp phương tiện nghiên cứu cho các môn học này Trường có 2.800 giáo sư, phó giáo sư và giảng viên, và khoảng 28.000 sinh viên theo học Năm
2003, trường có 2.100 sinh viên quốc tế, 2.200 nhà nghiên cứu nước ngoài đến tham quan, khảo sát trong thời gian ngắn
Năm 1947, sau khi Nhật thất bại ở Chiến tranh thế giới thứ hai, trường lấy lại
tên ban đầu Với sự bắt đầu của hệ thống đại học mới năm 1949, Todai sáp nhập
trường trước đó là Trường trung học đệ nhất (ngày nay là Khu đại học Komaba) và cựu Trường trung học Tokyo, là trường mà từ đó chịu trách nhiệm giảng dạy sinh viên đại học năm đầu và năm hai, trong khi các khoa của campus Hông chính chịu trách nhiệm các sinh viên năm thứ 3 và thứ 4 Từ năm 2004, Đại học Tokyo đã được hợp nhất vào Liên đoàn đại học quốc gia theo sắc luật áp dụng cho các trường đại học quốc gia Trường hiện chịu quản lý một phần của Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản
Trong các chuyên ngành học hàn lâm được dạy ở trường, có lẽ trường này nổi danh nhất về các khoa khoa học và công nghệ Ngoài ra, trường còn là nơi đã đào tạo nhiều chính khách nổi tiếng của Nhật Bản Đại học Tokyo được xem là một trong những trường danh tiếng nhất, so với các trường đại học khác của Nhật như Đại học Hoàng gia, Đại học Kyoto
Đại học Tokyo bao gồm Trường Nghệ thuật và Khoa học, 9 phân khoa và 15 trường cao học Chín Khoa là: Luật, Y, Công nghệ, Văn học, Khoa học, Nông nghiệp, Kinh tế, Giáo dục và Dược 11 trường cao học truyền thống là: Luật và Chính trị, Y khoa, Công nghệ, Nhân văn và Xã hội, Khoa học, Nông nghiệp và Khoa học đời sống, Kinh tế, Nghệ thuật và Khoa học, Giáo dục, Khoa học Dược, Khoa học Toán 4 trường cao học mới thành lập trong thập niên vừa qua là: Khoa học biên giới, Nghiên cứu Thông tin giữa các ngành học thuật, Kỹ thuật và Khoa học thông tin, và Chính sách Cộng đồng
Trường có 11 viện nghiên cứu: Viện Khoa học Y, Viện Nghiên cứu động đất, Viện Văn hóa Phương Đông, Viện Khoa học Xã hội, Viện Khoa học Kỹ thuật, Viện
Trang 17Sử học, Viện Phân tử và Tế bào sinh học, Viện nghiên cứu Tia vũ trụ, Viện Vật lý Chất rắn, Viện Nghiên cứu Đại dương, và Trung tâm Nghiên cứu về Khoa học Kỹ thuật Tiên tiến
Trường có một hệ thống thư viện, tập trung tại Tổng thư viện, được nối mạng liên kết với 55 thư viện của các khoa, trường, viện Có khoảng 8,1 triệu quyển sách
và tạp chí trong đó có nhiều ấn bản quý hiếm Trường có một viện Bảo tàng độc đáo, đó là một hệ thống bảo tàng đặc biệt bao gồm nhiều lĩnh vực, từ cổ sinh vật học đến nhân chủng học
Thành tích nổi bật của trường: Giáo sư Emeritus Masatoshi Koshiba của trường đã đoạt giải Nobel Vật lý năm 2002
v Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc)
Đại học Thanh Hoa là một viện khoa học và kỹ thuật tổng hợp, được thành lập năm 1911 bằng tiền bồi thường của Mỹ Trường đại học này được xây dựng tại Thanh Hoa lâm viên - một khu nghỉ mát thời Minh, Thanh Hiện nay trường nằm
trong số 100 trường đại học hàng đấu thế giới
Tọa lạc tại thủ đô Bắc Kinh, trên một khung cảnh tuyệt đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại với 12 học viện với 48 khoa khác nhau đào tạo 51 chuyên ngành như Học viện kỹ thuật, học viện kiến trúc, Học viện Pháp luật, Học viện mỹ thuật, Học quản
lý hành chính công, Học viện quản lý kinh tế, nhiều trung tâm nghiên cứu, khoảng
87 phòng thí nghiệm và 9 nhà máy được sử dụng để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu Thư viện tại đại học Thanh Hoa có 2 triệu bản sách và 3.000 tạp chí chuyên ngành nhờ có sự trao đổi hợp tác với 200 trường đại học và viện nghiên cứu nước ngoài
Hiện tại Đại học Thanh Hoa có hơn 1300 lưu học sinh đến từ 70 quốc gia khác nhau trên thế giới
Đại học Thanh Hoa đang phát triển thành một trường tổng hợp với tốc độ đáng kinh ngạc và hiện đứng đầu trong bảng xếp hạng các trường đại học của nước này Với truyền thống đáng tự hào trong 90 năm qua, Đại học Thanh Hoa vẫn giữ được danh tiếng và sức hấp dẫn thông qua việc thúc đẩy mạnh mẽ nghiên cứu học thuật, đảm bảo uy tín ở trong và ngoài nước Hiện trường có trên 7.100 nhân viên, gồm trên
900 giáo sư và 1.200 phó giáo sư Trong số đó, có 24 người là thành viên của Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc và 24 thành viên của Viện kỹ thuật Trung Quốc
Triết lý giáo dục của đại học Thanh Hoa là ''đào tạo sinh viên toàn diện'' Trong số trên 100.000 sinh viên đã tốt nghiệp từ đại học Thanh Hoa kể từ khi thành lập, có nhiều người trở thành các học giả nổi tiếng, thương gia tài giỏi và các chính khách vĩ đại (Chu Dung Cơ, Hồ Cẩm Đào ) được người dân Trung Quốc ghi nhớ
và kính trọng Do vậy, được nghiên cứu tại đại học Thanh Hoa là mơ ước của nhiều
Trang 18bạn trẻ Trung Quốc Hiện nay, Thanh Hoa có trên 20.000 sinh viên theo học, bao gồm 12.000 sinh viên chưa tốt nghiệp, 9.000 sinh viên sau đại học
Các chương trình đào tạo tại đại học Thanh Hoa tập trung vào việc phát triển khả năng sáng tạo, nghiên cứu và học tập cũng như thực tiễn xã hội cho sinh viên
Để mở rộng phạm vi hiểu biết cho sinh viên và tăng cường chất lượng giáo dục, đại học Thanh Hoa đã khởi động dự án đào tạo sinh viên nghiên cứu (STR) Tính tới cuối năm 2004, đã có trên 7.000 sinh viên tham gia vào hơn 3.000 dự án STR Nhờ vậy mà khả năng sáng tạo của sinh viên đã được tăng cường đáng kể Hàng năm đại học Thanh Hoa cũng tổ chức trại hè tiếng Anh cho sinh viên năm thứ nhất nhằm tăng cường kỹ năng nghe, nói, đọc, viết
Với sự ủng hộ mạnh mẽ từ nhà nước và đứng trước những cơ hội mới, đại học Thanh Hoa đang nỗ lực trở thành một trường đại học tầm cỡ thế giới trong thế kỷ 21
v Đại học Quốc gia Australia
Được thành lập năm 1946, Đại học quốc gia Australia (ANU) là một trong 8 đại học lớn nhất của Australia Tọa lạc trên một khu đất rộng 145 hecta ở thủ đô Canberra, trước đây ANU chỉ là một trường phục vụ công tác nghiên cứu của quốc gia Trải qua một quá trình dài với sự nỗ lực của các giáo viên và các nhà quản lý, ANU ngày nay là một địa điểm lý tưởng thu hút sinh viên quốc tế đến từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới với điều kiện học tập lý tưởng, môi trường sống trong lành và an toàn Với 3.600 cán bộ giảng viên, trường có hơn 13.487 sinh viên đến từ
94 quốc gia trên thế giới theo học
Khu học xá chính của trường bao gồm hơn 200 toà nhà và nhiều khu học xá nhỏ hơn ở các vùng lân cận như khu học xá Mt Stromlo Observatory, Siding Spring Observatory, North Australia Research Unit, Kioloa
ANU đào tạo các chuyên ngành: Nghệ thuật và Khoa học xã hội, Y tế và Khoa học sức khoẻ, Châu Á Thái Bình Dương, Kinh tế, Khoa học Kỹ thuật và Luật
Đại học Australia xếp hạng thứ 57 trong 100 trường đại học hàng đầu thế giới
v Đại học Sydney
Sydney University Được thành lập vào năm 1850, Đại học Sydney là trường đại học đầu tiên của Úc và dẫn đầu trong lĩnh vực nghiên cứu Đại học Sydney là thành viên của “Group of Eight key Australian teaching and research universities” - Nhóm tám trường đại học hàng đầu của Úc về nghiên cứu và giảng dạy, và được xếp hạng trong các trường đại học hàng đầu của Úc và Châu Á Thái Bình Dương Đại học Sydney cung cấp các khóa học đa dạng và đào tạo hầu hết các ngành học của bất kỳ trường đại học nào ở Úc Hiện trường có hơn 47.000 sinh viên, trong đó
có khoảng 9.000 sinh viên quốc tế
- Nổi tiếng trên thế giới về giảng dạy và nghiên cứu có chất lượng cao
Trang 19- Những sinh viờn tốt nghiệp thu hỳt cỏc nhà tuyển dụng với mức lương cao
- Những người nổi tiếng đó từng học tại Đại học Sydney gồm cú 4 Thủ tướng Chớnh phủ, 3 người đoạt giải Nobel và cỏc nhà lónh đạo trong lĩnh vực giỏo dục, chớnh trị, thương mại và nghệ thuật
- Đứng hàng đầu trờn thế giới về dạy học mang tớnh hàn lõm và nghiờn cứu bậc cao
- Tỷ lệ giữa số lượng sinh viờn và giỏo viờn ở trường đạt mức xuất sắc 1/5, tốt hơn cỏc trường đại học khỏc ở bang New South Wales, Victoria và Queensland
- Cú số lượng sinh viờn nghiờn cứu lớn nhất Úc
- Liờn tục đứng đầu trong bảng xếp hạng của Hội đồng Nghiờn cứu Úc
Trường đào tạo hơn 430 ngành học ở bậc đại học và sau đại học bao gồm 17 khoa: Quản lý Nụng nghiệp và Nguồn Tài nguyờn Thiờn nhiờn, Kiến trỳc, Nghệ thuật và Nhõn văn, Nha khoa, Kinh tế và Thương mại, Giỏo dục và Cụng tỏc Xó hội, Kỹ sư, Hệ thống trường cụng, Khoa học Sức khỏe, Luật, Y khoa, Âm nhạc, Điều dưỡng và Sản khoa, Dược, Khoa học, Thỳ y, Thiết kế Đồ họa
Đại học Sydney xếp thứ 79 trong 100 trường đại học hàng đầu thế giới
2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển giáo dục đại học Việt Nam
2.1 Giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ phong kiến
Đầu thế kỷ X, ý thức dân tộc của nhân dân ta ngày một lên cao đã tạo ra những cuộc khởi nghĩa giành độc lập Chiến thắng của Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên Sông Bạch đằng (938) mở ra kỷ nguyên độc lập của quốc gia phong kiến Việt Nam Nhưng trải qua ba triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê ngắn ngủi, nên giáo dục của đất nước chưa có điều kiện phát triển Năm 1009 Lê Long Đỉnh chết, triều đình suy tôn Lý Công Uẩn lên làm vua, lập ra nhà Lý và dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long (1010) Năm 1070 Lý Thánh Tông xây dựng văn miếu thờ Khổng Tử (Vạn thế sư biểu), và 72 vị thánh hiền (thất thập nhị hiền) môn sinh giỏi của Khổng Tử và lấy Nho giáo làm Quốc giáo Năm 1075 lý Nhân Tông cho xây dựng Quốc Tử Giám
Đây được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam
Cả khu quần thể Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng từ thế kỷ XI (1070) Đây là biểu trưng cho trí tuệ và nền văn hoá Việt Nam dưới chế độ phong kiến Năm 1804 Vua Gia Long chuyển Kinh Đô và Quốc Tử Giám vào Huế
Rèn luyện sĩ tử, phát triển nhân tài để tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước phong kiến
Người đứng đầu là quan Tễ Tửu (như hiệu trưởng), quan Tư Nghiệp (như hiệu phó) Đội ngũ quan văn đảm nhiệm trọng trách giảng dạy gồm có học chánh,
Trang 20giáo thụ, trợ giáo (trình độ tối thiểu là đã đỗ cử nhân, đã trở thành quan chức của triều đình)
Gồm có tôn sĩ thuộc giòng dõi tôn thất, ấm sinh là con quan triều đình và con quan đứng đầu hàng tỉnh, giám sinh là con quan lại nhỏ ở địa phương hoặc những thanh niên xuất sắc, tuấn tú, có phẩm hạnh dù là con của thường dân nhưng nếu đốc học tỉnh giới thiệu cũng được vào dự tập văn
Việc học tập được thực hiện rất nghiêm túc Căn cứ vào kết quả khảo hạch các
kỳ, nhà trường phân học trò ra làm ba loại: ưu, bình, thứ mà được hưởng học bổng bằng tiền và hiện vật khác nhau:
Loại ưu: được 4 quan tiền , 3 phương gạo, 5 cân dầu/1tháng
Loại bình: được 3 quan tiền, 2 phương gạo, 4 cân dầu/ 1 tháng
Loại thứ: được 2 quan tiền, 2 phương gạo, 3 cân dầu/ 1 tháng
Gồm những sách kinh điển của Nho giáo, đó là bộ Tứ thư và Ngũ kinh được
coi là “bộ giáo trình” chủ yếu ở bậc đại học suốt hàng ngàn năm của chế độ phong kiến Việt Nam
- Tứ thư là bốn cuốn: Đại học, Trung dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử
+ Sách đại học do Tăng tử viết giải thích những lời nói của Khổng Tử về nội dung Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ
+ Sách Trung Dung do Tử Tư chép lại những lời của Khổng tử giảng dạy theo
Trang 21+ Kinh Xuân Thu: Do Khổng Tử biên chép những sự kiện xảy ra ở nước Lỗ và một số nước khác Kinh xuân Thu cũng được coi là bộ sử lấy gốc của lễ và nghĩa để bàn luận
Ngoài bộ “giáo trình” chủ yếu trên thì học trò trường Quốc Tử Giám còn nghiên cứu bách gia chữ tử mà trong “Giáo huấn diễn ca” của Nguyễn Trãi đã viết Quốc Tử Giảm được tôn vinh là trường đại học đầu tiên của Việt Nam Đây là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng trình độ cao nhất của Nho học suốt hàng ngàn năm trong xã hội phong kiến, đã sản sinh ra nhiều nhân tài xuất chúng của nước Việt Nam ngàn năm văn hiến Những tấm bia ghi danh trạng nguyên, tiến sĩ đã đỗ đạt, vinh hiển vẫn còn nguyên giá trị lịch sử của Nho học đến ngày nay và mãi mãi về sau, nói lên vị trí lớn lao của nhà trường Quốc Tử Giám trong lịch sử giáo dục dân tộc ta
2.2 Giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ pháp thuộc
Thực dân Pháp nổ súng xâm lược tấn công Đà Nẵng vào ngày 1/9/1858, và phải mất 40 năm (1898) mới hoàn toàn bình định được Việt Nam Song song với chính sách bóc lột tàn khốc, trấn áp dã man, thực dân Pháp đã thi hành một chính sách văn hoá, giao dục nô dịch, ngu dân nhằm đồng hoá lâu dài dân tộc ta Chủ trương này đã được toàn quyền Merlin nói trắng ra trong bài diễn văn tại phiên họp thường kỳ của hội đồng cai trị toàn Đụng Dương năm 1923 là “chỉ cung cấp cho nhân dân Việt Nam một sự giáo dục nhỏ giọt phát triển theo chiều nằm chứ không theo chiều đứng”(1) Trong tạp chí giáo dục số tháng 4 - 1943 ông Tabonlet cũng thống kê cho biết: nếu lấy số học xong sơ học toàn Việt Nam năm 1941 -1942 là 100% thì tỷ lệ học sinh của các bậc học cùng năm ấy như sau: sơ học: 100%; tiểu học 15%, cao đẳng tiểu học 2%, trung học 0,4% Rõ ràng thực dân Pháp đã kiên trì chính sách kìm hãm giáo dục, đặc biệt là nhà trường cao đẳng và đại học ở nước ta trong nhiều thập niên
Tuy nhiên để phục vụ cho mục đích khai thác và cai trị, thực dân Pháp đã mở một số trường nhằm đào tạo công nhân chuyên nghiệp, thợ lành nghề và nhân viên làm tay sai trung thành, đắc lực trong bộ máy cai trị của chúng Chẳng hạn,
- 1862 mở trường đào tạo thông ngôn tuyển chọn những tên Việt gian hoặc ngụy quân vào học
- 1871 mở trường sư phạm Bá Đa Lộc đào tạo giáo viên tiểu học phục vụ cho việc phổ biến văn hoá nô dịch của mẫu quốc Pháp
- 1898 : mở hai trường đào tạo thợ mỏ ở Hà Nội và Sài Gòn
- 1899: Xây dựng trường đào tạo công nhân thợ điện, thợi đúc, thợ rèn, thợ cơ khí, làm đồ thủ công mĩ nghệ ở Huế
- Trong chiến tranh thế giời lần thứ Nhất, do cần gạo để phục vụ chiến tranh,
Trang 22thực dân Pháp đã mở trường “Thực nghiệm nông nghiệp ở Biến Cát (Nam kỳ) và Tuyên Quang (Bắc kỳ)
- Chiến tranh thế giời kết thúc, chúng mở thêm các trường kỹ nghệ thực hành ở Sài Gòn, Hải Phòng, Huế, trường kỹ thuật ở Hà Nội, Gia Định
Trong suốt 80 năm thống trị Đông Dương thực dân Pháp mở duy nhất một trường đại học (cho cả Việt Nam, Lào, Campuchia) và chỉ có ba ngành: luật học, y học, khoa học Số sinh viờn trong khoá đông nhất khoảng 800 người
Về nội dung giáo dục:
- Từ bậc sơ học cho đến đại học từng bước sử dụng chữ quốc ngữ và tiếng Pháp thay thế dần chữ Hán Cho đến năm 1918 thì chấm dứt việc thi cử bằng chữ Hán
- Nội dung chương trình có chú ý đến khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hoá, Sinh Nhưng nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, chưa gắn với thực tiễn Việt Nam
- Các môn học xã hội như Văn Học, Lịch sử, Địa lý, Công dân đều phỏng theo chương trình của nước Pháp hoặc biên soạn lại để tăng cường tính chất nô dịch, thậm chí phản khoa học, xuyên tạc lịch sử Việt Nam nhằm ca ngợi thần phục nước
“Đại Pháp - mẫu Quốc” để chúng dễ bề cai trị
- Từ bậc sơ học thực dân Pháp không những đã huỷ bỏ chữ Hán để gạt bỏ những ảnh hưởng tích cực của nền giáo dục bản địa mà chữ quốc ngữ cũng bị coi
là thứ yếu, nhưng coi trọng chữ Pháp để thực hiện âm mưu đồng hoá đối với thế
hệ trẻ Việt Nam Tất nhiên thực dân Pháp không dễ dàng thực hiện âm mưu với một dân tộc có truyền thống yêu nước, kiên cường, quật khởi như dân tộc ta Vì vậy nhiều sĩ phu yêu nước như cụ Phan Bội Châu đã khởi xướng phong trào yêu nước Đông Du “Nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí” để giải phóng dân tộc Cụ Phan Chu Trinh chủ trương đấu tranh chống nền giáo dục nô dịch của thực dân Pháp bằng con đường cải lương, đã mở ra được 48 trường học kiểu mới, 3 trường lớn nổi tiếng là Diên phong, Phúc Bình và Phúc Lâm Các trường này dạy chữ quốc ngữ theo nền tân học, bàn luận các vấn đề văn học, xã hội, khoa học, tuyên truyền xây dựng nếp sống văn minh Phong trào Đông Kinh nghĩa thục của Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ cũng dấy lên một nền giáo dục yêu nước, truyền bá nền học thuật mới và các tư tưởng dân chủ tư sản tiến bộ
Đặc biệt là phong trào đấu tranh chống nền văn hoá giáo dục nô dịch của thực dân Pháp do Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo trước khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra
đời Nguyễn Ái Quốc đã đứng vững trên lập trường của giai cấp vô sản, của một dân tộc bị áp bức tàn bạo để tố cáo, lên án mạnh mẽ chính sách ngu dân của thực dân Pháp trong hai tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”( viết năm 1921),
“Đây công lý của thực dân Pháp” (viết năm 1921 - 1926) đã lật tẩy bộ mặt giả dối, nham hiểm của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam với thế giới
Trang 232.3 Giáo dục đại học Việt Nam Từ năm 1954 đến 1975
2.3.1 Giáo dục đại học ở Miền Bắc Việt Nam
v Giai đoạn từ năm 1945 -1954
Cách mạng tháng Tám thành công, mặc dù hoàn cảnh cả nước gặp muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn quan tâm đến giáo dục, phát động chiến dịch
“diệt đói” và “diệt dốt” ngày 3/9/1945 Bộ Quốc gia Giáo dục cũng chủ trương phục hồi ngay các trường đại học, cao đẳng và ấn định từ ngày 15/11.1945 sẽ khai giảng tại Hà Nội các trường Y khoa, Dược khoa, Nha Khoa, đại học và cao đẳng Mỹ Thuật, Công chính, Canh nông, Thú y Với đội ngũ giảng viên người việt tài năng như : Hồ
Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Thúc Hào, Tô Ngọc Vân, Nguỵ Như Kon Tum.v.v Nhưng chưa được bao lâu thực dân Pháp quay lại xâm lược Tháng 12/1946 toàn quốc kháng chiến bùng nổ kéo dài đến 9 năm, giáo dục đại học gặp muôn vàn gian khổ, thiếu thốn, phải chuyển hướng phục vụ kháng chiến và kiến quốc nhưng vẫn duy trì trưởng thành cho đến ngày chiến thắng
v Giai đoạn từ (1954 - 1965)
Chỉ hai tháng sau khi tiếp quản thủ đô các trường đại học và cao đẳng đã khai giảng trở lại Ban đầu tạm ghép các trường trong vùng kháng chiến vào các trường ở
Hà Nội trong thời kỳ tạm chiếm đó là: Đại học Y Khoa; Đại học sư phạm Văn Khoa
& Đại học Văn Khoa; Đại học sư phạm Khoa Học & Đại học Khoa Học; Trong Đại học sư phạm Văn Khoa & Đại học sư phạm Khoa Học đều có các lớp dự bị đại học Đầu năm 1956 với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, hệ thống nhà trường Đại học và Cao đẳng XHCN được xây dựng theo mô hình phát triển của nước bạn đã có các trường lớn
- Đại học Tổng Hợp do ông Nguỵ Như Kon Tum làm hiệu trưởng;
- Đại học Sư phạm do ông Phạm Huy Thông làm hiệu trưởng;
- Đại học Y Dược do ông Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng;
- Đại học Bách Khoa do ông Trần Đại Nghĩa làm hiệu trưởng;
- Đại học Nông Lâm do ông Bùi Huy Đáp làm hiệu trưởng
Từ kinh nghiệm xây dựng 5 trường Đại học đầu tiên, sau 3 năm (1958-1960) cải tạo XHCN ở miền Bắc đã có tất cả 9 trường Đại học với 46 ngành học
- Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) do yêu cầu tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ CĐ-ĐH, giáo dục Đại học đã mở rộng quy mô tăng thêm trường lớp, số lượng sinh viên, phát triển ngành học Cho đến năm học 1964-1965 trên Miền Bắc đã có 17 trường Đại học với 97 ngành Ngoài ra, Bộ Giáo Dục đã tăng cường nguồn cử sinh viên, cán bộ đi học tập, bồi dưỡng nghiên cứu sinh, thực tập sinh ở các nước thuộc phe XHCN, nhất là ở Liên Xô
Trang 24từ năm học1964 -1965 Bộ ĐH & THCN có cách tuyển sinh mới là các tỉnh thành lập Ban tuyển sinh để lựa chọn học sinh vào các trường ĐH & THCN Cách tuyển chọn này được tiếp tục thực hiện cho đến năm học 1969-1970
Mặc dù phải đối phó với chiến tranh phá hoại ác liệt, điên cuồng của đế quốc
Mỹ ở Miền Bắc và phải chi viện đắc lực cho cách mạng giải phóng Miền Nam, nhưng sự nghiệp giáo dục nói chung, giáo dục Đại học và THCN nói riêng đã không ngừng phát triển về số lượng & chất lượng trong suốt 10 năm “chiến tranh huỷ diệt” như đế quốc Mỹ đã từng tuyên bố “đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá cũ” Nhưng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng hoàn toàn Miền Nam, đất nước thống nhất hân hoan chào đón những kỳ tích của nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực giáo dục Đại học và Trung cấp chuyờn nghiệp của Miền Bắc
22.374 23.858 32.541 42.909 51.848
1.263 2.389 5.118 5.586 6.009
5.700 7.966 10.473 9.664 13.497 1970-1971
53.593 48.150 39.563 41.371 43.014
5.293 4.078 4.128 3.443 3.212
11.016 9.744 10.117 9.336 9.475
Nguồn tư liệu : Niên giám thống kê của Bộ ĐH& THCN 1955-1975 Năm học 1974-1975
số cán bộ giảng dạy đã lên đến 8658 người công tác trong 41 trường ĐH&THCN
Trang 25v Giai đoạn từ 1975-1986
Ngày 30/4/1975 chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam hoàn toàn giải phóng, nước nhà thống nhất Hội nghị lần thứ 24 ban chấp hành Trung ương khoá 3 họp đề ra nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới “đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN” Sự nghiệp giáo dục cũng đứng trước những yêu cầu lớn lao, mới mẻ trong giai đoạn quá độ tiến lên xó hội chủ nghĩa của cả đất nước thống nhất
Trước ngày giải phóng, Miền Nam có 7 Viện Đại học công như Viện Đại học Sài Gòn, Viện Đại học Huế, Viện Đại học Cần Thơ… và 11 Viện Đại học tư như: Viện Đại học Vạn Hạnh, Viện Đại học Đà Lạt, Đại học Minh Đức, Cao Đài… Việc
tổ chức nhà trường, quy trình đào tạo, hệ thống văn bằng theo mô hình giáo dục của Pháp đến những năm đầu thập kỷ 70 thì theo mô hình của Mỹ
- Sau khi tiếp quản, chính quyền cách mạng đã tiến hành giải thể các trường tư thục và trường đại học cụng đồng, tổ chức lại thành 5 trường đại học theo mô hình nhà trường xó hội chủ nghĩa đó là:
- Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
- Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh;
- Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh;
- Đại học Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh;
- Đại học Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh;
- Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh;
- Đại học Thuỷ Sản Nha Trang;
- Đại học Tây Nguyên
Từ năm 1976 - 1986 các trường đại học được xác định có vai trò rất quan trọng trong 3 cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hóa, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt Năm
1976 lần đầu tiên luận án phó tiến sĩ đã được bảo vệ thành công trong nước đánh
Trang 26dấu bước phát triển mới của hệ giáo dục đại học Đến tháng 12 năm 1980 nước ta đã
có 42 trường đại học và Viện nghiờn cứu khoa học được quyết định là cơ sở đào tạo sau đại học (có trình độ thạc sĩ & phó tiến sĩ)
Vài số liệu về phát triển quy mô giáo dục CĐ&ĐH:
trường
Cán bộ giảng dạy
92.097 152.327 124.120
78.637 124.971 88.921
3.493 5.831 7.940
9.967 51.525 27.259
(Nguồn số liệu thống kê của Bộ giỏo dục&ĐT, 1995)
v Giai đoạn từ 1986 đến nay
Tháng 12 năm 1986 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã mở đầu công cuộc đổi mới xây dựng đất nước theo cơ chế thị trường
định hướng XHCN Giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu nhằm mục đích nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài thực hiện sự nghiệp cách mạng cụng nghiệp hoỏ và hiện đại hoỏ đất nước
Đường lối đổi mới toàn diện kinh tế - xó hội của đại hội Đảng lần thứ 6 đã làm xuât hiện 4 tiền đề đổi mới giáo dục đại học Việt Nam đó là:
- Giáo dục đại học không chỉ đáp ứng nhu cầu kinh tế nhà nước, kinh tế quốc doanh mà còn phải đáp ứng yêu cầu của các thành phần kinh tế khác và nhu cầu học tập của toàn dân
- Giáo dục đại học không chỉ dựa vào nguồn kinh phí nhà nước mà còn dựa vào các nguồn kinh phí khác của các tổ chức xã hội trong nước hoặc do quốc tế tài trợ
- Giáo dục đại học không chỉ theo chỉ tiêu kế hoạch tập trung như một bộ phận của kế hoạch nhà nước mà còn phải làm kế hoạch theo những đơn đặt hàng, những
xu thế dự báo, những yêu cầu học tập từ nhiều phía trong xã hội
- Giáo dục đại học không cần phải gắn chặt với việc phân phối người tác nghiệp theo cơ chế hành chính bao cấp, người tác nghiệp có trách nhiệm tự lo việc làm cho mình theo cơ chế tuyển chọn theo yêu cầu của thị trường lao động
Quyết tâm thực hiện chủ trương đổi mới, ngành giáo dục đại học đã đề ra 3 chương trình hành động trong 3 năm học (1987-1990) được cụ thể hoá các nội dung:
- Cải cách, đổi mới công tác tuyển sinh, giao quyền chủ động rộng hơn cho nhà trường đại học và quyền được lựa chọn dự thi vào nhà trường cho thí sinh
- Mở rộng hệ đào tạo không chính quy có đóng học phí
Trang 27- Tổ chức thực hiện quy trình đào tạo 2 giai đoạn
- Đẩy mạnh cuộc vận động dân chủ bầu cử lựa chọn cán bộ quản lý các trường
để quản lý thống nhất hệ thống giáo dục quốc dân từ bậc mầm non cho đến giáo dục đại học và sau đại học
Tháng 7 năm 1991 đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam khoa VII thông qua
“cương lĩnh xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ”, ngành giáo dục đại học đã thực hiện 5 chương trình mục tiêu, đó là:
- Chương trình 1: Các mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo;
- Chương trình 2: Đẩy mạnh nghiờn cứu khoa học, lao động sản xuất gắn nhà
trường với xã hội;
- Chương trình 3: Đổi mới công tác tổ chức và quản lý giỏo dục đại học;
- Chương trình 4: Xây dựng và bồi dưỡng cán bộ giảng dạy & cán bộ quản lý
a) Thành lập hai đại học Quốc Gia: Đại học Quốc Gia Hà Nội (1994); Đại
h ọc Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh (1995)
b) Thành lập đại học Vùng (4/4/1994): Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng
Các trường đại học trên đều là trường đại học đa ngành Tuy nhiờn, có một
số trường khác cũng là đại học đa ngành nhưng không gọi là đại học Quốc Gia hay đại học Vùng nhưng cũng mang tính chất vùng như Đại học Cần Thơ (vùng
đồng bằng sông Cửu Long), Đại học Đà Lạt, Đại học Vinh, Đại học Tây Bắc, Đại học Quy Nhơn
Trang 28c) Các trường đại học chuyên ngành
Đây là các trường đào tạo một ngành hay một nhóm ngành như kỹ thuật, nông nghiệp, thuỷ sản,… các trường này phần lớn tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội đó là: Đại học Bách Khoa, Đại học Thương Mại, Đại học Ngoại Thương, Đại học Kiến Trúc, Đại học Kinh Tế Quốc Dân, Ở thành phố Hồ Chí Minh có nhiều trường như: Đại học Kinh Tế, Đại học Xây Dựng, Đại học Sư Phạm, Đại học Kỹ Thuật,… Một số trường đại học chuyên ngành đặt ở các tỉnh như: Đại học Lâm Nghiệp (Hà Tây), Đại học Hàng Hải (Hải Phòng), Đại học Y (Thái Bình)
d) Trường đại học thuộc tỉnh
Gần đây chính phủ cho phép thành lập trường đại học công lập thuộc tỉnh như: Đại học Hồng Đức (Thanh Hoá), Đại học Hùng Vương (Phú Thọ), Đại học An Giang
e) Các loại trường đại học khác
- Đại học Mở ở các thành phố Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh Hình Thức các trường này gần như trường bán công (cơ sở trường học của nhà nước, kinh tế tự quản)
- Đại học dân lập là loại hỡnh trường do một tổ chức xã hội đỡ đầu đứng ra thành lập, cơ sở vật chất tự lo, tài chính tự quản, nhà trường quyết định mức học phí
và trả lương cho cán bộ giảng dạy Hiện nay đã có hơn 20 trường đại học dân lập như: Đại học Đông Đô, Đại học Phương Đông, Đại học Thăng Long (Hà Nội), Đại học Văn Lang, Đại học Ngoại Ngữ - Tin Học (Thành phố Hồ Chí Minh), Đại học Duy Tân (Đà Nẵng), Đại học Bình Dương, Đại học Vĩnh Long
- Các trường dự bị đại học thu nạp học sinh tốt nghiệp THPT con em các dân tộc ít người, con em nông dân vùng sâu vùng xa, các gia đình thuộc diện chính sách Hiện nay có một số trường học được xây dựng khang trang như: Dự bị Đại học: Sầm Sơn (Thanh Hoá), Nha Trang, Phú Thọ, thành phố Hồ Chí Minh
- Trung tâm hay cơ sở đại học cũng là một loại trường đại học nhưng chưa hoàn chỉnh, do thủ trưởng một ngành hay một tỉnh hoặc hiệu trưởng của một trường đại học thành lập Hiện nay có hai trung tâm: một của ngành ngân hàng, một của thành phố Hồ Chí Minh và ba cơ sở: một của Trường Đại học Giao Thông, một của Trường Đại học Ngoại Thương và một của Trường Đại học Văn Hoá Nhiều tỉnh có trung tâm Giáo dục Thường xuyên mở các lớp đại học tại chức, từ xa, thu nạp cả cán
bộ, công nhân viên vừa học vừa làm, cả học sinh không thi đậu vào các trường khác
f) Các trường cao đẳng
Hiện nay có hơn 100 trường cao đẳng, trong đó có 65 trường cao đẳng sư phạm - nếu tổng các trường ĐHSP và các khoa sư phạm trong các trường đại học (Khoa sư phạm- Trường Đại học Đà Lạt, Khoa sư phạm- Trường Đại học An Giang, Khoa sư pham - Đại học Quốc Gia Hà Nội, ) thì có đến 110 đơn vị đào tạo chuyên ngành sư phạm - đội ngũ giáo viên từ mầm non cho đến đại học và sau đại học (một
Trang 29số Viện như: Viện Chương Trình Chiến Lược, Viện Quản lý giỏo dục Viện Sư phạm các trường đại học cũng tham gia đào tạo cao học và nghiờn cứu sinh)
2.3.2 Giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975
Hệ thống giáo dục đại học miền Nam Việt Nam dưới thời Mĩ - Nguỵ được tổ chức thành những đơn vị tự quản gọi là viện đại học Mỗi viện đại học gồm một số trường đại học, khoa hoặc phân khoa thành viên Trước giải phóng, hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam có các cơ sở sau:
- 4 viện đại học công lập là: Viện Đại học Sài Gòn, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức, Viện Đại học Huế, Viện Đại học Cần Thơ
- 3 trường đại học cộng đồng công lập (chương trình đào tạo 2 năm) là: Viện
Đại học Mĩ Tho, Viện Đại học Nha Trang, Viện Đại học Đà Nẵng
- 11 viện đại học tư (phần lớn các tổ chức tôn giáo đứng ra mở)
Tổng số sinh viên thời điểm đông nhất là 166.000 (trong đó có một số học theo kiểu ghi tên)
Viện Đại học Sài Gòn thành lập năm 1949, vốn là một chi nhánh của Viện Đại học Hà Nội Đến năm 1954, Viện Đại học Hà Nội chuyển vào Sài Gòn, sau khi sát nhập với chi nhánh Viện Đại học Hà Nội ở Sài Gòn vào năm 1955 thành Viện Đại học Sài Gòn Viện có 8 khoa: luật, văn khoa, khoa học, sư phạm, y học, nha khoa, dược khoa, kiến trúc
Viện Đại học Huế thành lập năm 1957 gồm 5 khoa: luật, văn khoa, khoa học,
y khoa, sư phạm Năm học 1974-1975 có 9142 sinh viên
Viện Đại học Cần Thơ thành lập năm 1966 gồm có 5 khoa: luật, y khoa, khoa học, nông nghiệp, sư phạm Năm học 1974-1975 có 8500 sinh viên
Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức thành lập năm 1973 trên cơ sở sát nhập 3 trường vốn có từ trước là Đại học Kĩ thuật Phú Thọ (Sài Gòn), Đại học Nông nghiệp Thủ Đức và
Đại học Sư phạm Kĩ thuật Thủ Đức Năm học 1974-1975 có 2800 sinh viên
Các trường đại học cộng đồng do các địa phương thành lập và đài thọ gồm có các trường sau:
+ Trường Đại học Cộng đồng Nha Trang thành lập năm 1971, năm học
Trang 30Bên cạnh các viện đại học công và các trường đại học cộng đồng còn có 12 viện đại học tư như: Viện Đại học Đà Lạt thành lập năm 1958, năm học 1974 -1975
có 6000 sinh viên; Viện Đại học Vạn Hạnh thành lập năm 1964, năm học 1974
-1975 có 8000 sinh viên; Viện Đại học Hoà Hảo thành lập năm 1971, năm học 1974 -1975 có 4000 sinh viên; Viện Đại học Minh Đức thành lập năm 1972, năm học
1974 -1975 có 5000 sinh viên… Tổng số sinh viên các viện đại học tư năm học
- Chứng chỉ: Đây là hình thức áp dụng theo mô hình của Pháp Chương trình
được chi ra làm nhiều chuyên đề Sinh viên thi đỗ chuyên đề nào thì được cấp chứng chỉ chuyên đề đó Sinh viên cso quyền được lựa chọn những chuyên đề mình thích
để học Sinh viên tích luỹ đủ số chứng chỉ theo quy định thì được cấp một loại bằng nhất định
- Học theo năm học: Các môn học được bố trí theo từng môn học Sau mỗi năm sinh viên thi hết năm rồi xét lên lớp Năm cuối thi tốt nghiệp
- Học theo chế độ tín chỉ: chia môn học ra thành số giờ nhất định (thường chia khoảng 16 đến 30 giờ) Sinh viên hoàn thành số giờ về một vấn đề thì được công nhận xong một tín chỉ Số tín chỉ là do quy định của mỗi trường Sinh viên phải qua một số lượng tín chỉ nhất định mới công nhận tốt nghiệp (thường từ 100 đến 120 tín chỉ) Học theo tín chỉ là theo mô hình giáo dục đại học của Mĩ
Túm lại, cú thể núi từ khi hỡnh thành trường đại học đầu tiờn (Quốc Tử Giỏm) vào năm 1075 đến nay, trải qua bao thăng trầm lịch sử, nền giỏo dục đại học Việt Nam vẫn phỏt triển khụng ngừng, đặc biệt là sau khi đất nước giành được độc lập Từ chỗ chỳng ta chỉ cú cỏc trường đại học ở cỏc thành phố lớn thỡ nay hầu như khắp tất cả cỏc tỉnh đều cú trường đại học và cao đẳng, số lượng lờn đến gần 400 trường trờn cả nước Với số lượng đú, cơ bản chỳng ta
đó đỏp ứng được nhu cầu học tập của nhõn dõn và nguồn nhõn lực chất lượng cao, đỏp ứng sự nghiệp cụng nghiệp húa, hiện đại húa
Trang 31
CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
A Câu hỏi thảo luận và tình huống
1 Những đặc điểm chung của sự hình thành nền giáo dục đại học ở phương Đông và phương Tây
2 Tiêu chí đánh giá, xếp hạng một trường đại học và ý nghĩa của nó Chúng ta có thể học tập được gì qua nghiên cứu một số trường đại học nổi tiếng trên thế giới
3 Những thành tựu và hạn chế của giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn từ năm 1975 đến nay
4 Các trường đại học nước ta có thể xây dựng theo mô hình các trường đại học nổi tiếng trên thế giới được không? Tại sao?
5 Nếu chúng ta đầu tư kinh phí trên đầu sinh viên tương đương với các trường có chất lượng cao trên thế giới (ví dụ, Harvart 40.000USD/ 1 năm/1 sinh viên) thì liệu chất lượng có nâng lên tương đương với họ không?
B Câu hỏi hướng dẫn tự học và tự đánh giá
1 Phân tích quá trình hình thành và phát triển giáo dục đại học ở phương Tây
2 Phân tích quá trình hình thành và phát triển giáo dục đại học ở phương Đông
3 Trình bày những hiểu biết của bản thân về một trường đại học nổi tiếng trên thế giới mà mình yêu thích
4 Những đặc điểm của giáo dục đại học Việt Nam thời kì phong kiến
5 Những đặc điểm của nền giáo dục đại học Việt Nam thời kì pháp thuộc
6 Giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 và những đóng góp của nó trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc
7 Giáo dục đại học miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 và những đóng góp của nó trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
8 Những đặc điểm của giáo dục đại học miền Nam Việt Nam giai đoạn
Trang 32TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (1995), 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục
và đào tạo
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Những điều cần biết về tuyển sinh đại học và cao đẳng năm 2008, NXB Giáo dục - Hà Nội
3 Phạm Minh Hạc (2007), Giáo dục Việt Nam trước thế kỉ XXI, NXB
Chính trị Quốc gia - Hà Nội
4 Bùi Minh Hiền (2005), Lịch sử giáo dục Việt Nam, NXB ĐHSP Hà Nội
5 Nguyễn Lân (1958), Lịch sử giáo dục thế giới, NXB Giáo dục - Hà Nội
6 Hồ Hữu Nhật (1998), Lịch sử giáo dục – Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh, NXB Trẻ
7 Vũ Dương Ninh (1998), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo dục
Trang 33CHƯƠNG 2
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠi HỌC TRÊN THẾ GIỚI
Mục đích yêu cầu:
Học chương này yêu cầu học viên phải nắm vững một số vấn đề sau:
- Các quan điểm phát triển giáo dục đại học trên thế giới, ưu nhược điểm của mỗi quan điểm phát triển
- Xu hướng phát triển giáo dục đại học hiện nay
- Một số nền giáo dục đại học tiêu biểu trên thế giới
- Liên hệ với thực tiễn giáo dục đại học Việt Nam
1 Tuyên ngôn thế giới về giáo dục đại học
Tuyên ngôn thế giới về giáo dục đại học được đưa ra trong Hội nghị thế giới
về giáo dục đại học “Giáo dục đại học vào thế kỉ XXI - Tầm nhìn và Hành động” do UNESCO tổ chức tại Paris từ 5-9 tháng 10 năm 1998 Tóm tắt nội dung tuyên ngôn
có 15 điểm cơ bản sau:
- Giáo dục đại học được nhập học bình đẳng đối với mọi người (theo tinh thần Điều 26.1 của Tuyên ngôn toàn cầu về Nhân quyền), không chấp nhận một sự phân biệt đối xử nào dựa trên cơ sở về chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tín ngưỡng, kinh tế, văn hóa hoặc những khiếm khuyết về thân thể…
- Sứ mệnh cốt lõi của hệ thống giáo dục đại học là giáo dục, đào tạo và nghiên cứu góp phần vào sự phát triển và tiến bộ bền vững của toàn xã hội Cụ thể là giáo dục những người tốt nghiệp có chất lượng cao, những công dân có trách nhiệm, làm cho giáo dục đại học có một sứ mệnh chưa từng có trong xã hội, một thành phần sinh động của sự phát triển văn hóa xã hội, kinh tế và chính trị, là trụ cột của việc xây dựng tiểm lực nội sinh, sự củng cố quyền con người, sự phát triển bền vững, nền dân chủ và hòa bình trong một khung cảnh pháp luật… Nhiệm vụ của giáo dục đại học là đảm bảo cho các giá trị và các lí tưởng của một nền văn hóa hòa bình
- Các trường đại học, đội ngũ giáo chức, sinh viên cần giữ gìn và phát triển các chức năng cơ của nó, thông qua việc rèn luyện đạo đức và tính nghiêm túc trong khoa học Họ cần tăng cường chức năng phê phán và nhìn về tương lai thông qua việc phân tích hiện trạng của các xu thế kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa nổi bật, chỉ ra các vấn đề trọng tâm để dự kiến, cảnh báo và phòng ngừa Muốn vậy, họ phải được hoàn toàn tự chủ và tự do về khoa học, đồng thời cần có đầy đủ trách nhiệm
và giải trình đối với xã hội
- Sự phù hợp của giáo dục đại học được đánh giá qua sự ăn khớp giữ những gì
Trang 34mà xã hội kì vọng và những gì mà nó đang làm Để có sự phù hợp đó, các nhà trường và các hệ thống cần dựa trên sự định hướng lâu dài về mục tiêu và nhu cầu của xã hội, bao gồm những mối quan tâm về văn hóa và bảo vệ môi trường Phát triển các kĩ năng và sáng kiến tạo nghiệp cần phải trở thành mối quan tâm chính của giáo dục đại học Lưu ý sự phục vụ của giáo dục đại học đối với xã hội trong việc xóa đói, giảm nghèo, sự thiếu khoan dung, bạo lực, ngu dốt, hủy hoại môi trường, bệnh tật…hướng tới củng cố hòa bình thông qua tiếp cận liên ngành, xuyên ngành
- Giáo dục đại học là một phần của hệ thống giáo dục quốc dân Sự đóng góp của giáo dục đại học vào sự phát triển của hệ thống giáo dục phải được ưu tiên Giáo dục trung học cần phải chuẩn bị và tạo điều kiện để nhập học vào giáo dục đại học đồng thời cung cấp một sự đào tạo rộng để cuẩn bị cho học sinh có một cuộc sống tự lập
- Sự đa dạng hóa các mô hình giáo dục đại học, đa dạng hóa các phương pháp
và tiêu chuẩn tuyển chọn là rất quan trọng đối với cả việc đáp ứng nhu cầu và việc cung cấp cho sinh viên một nền tảng và một sự đào tạo nghiêm chỉnh mà thế kỉ XXI đòi hỏi Người học phải có một dải tối ưu để lựa chọn và sự chiếm lĩnh kiến thức dựa trên đầu vào và đầu ra linh động của hệ thống
- Chất lượng giáo dục đại học là một khái niệm đa chiều, khái niệm này bao trùm mọi chức năng và hoạt động của nó: giảng dạy và các chương trình đào tạo, nghiên cứu và học thuật, đội ngũ sinh viên, cấu trúc hạ tầng và môi trường học thuật Cần đặc biệt chú ý nâng cao kiến thức thông qua nghiên cứu Các trường đại học phải cam kết công khai việc đánh giá trong và đánh giá ngoài được tiến hành bởi các chuyên gia độc lập Tuy nhiên, cần chú ý đến bối cảnh khu vực và quốc gia, của các trường cụ thể để có thể tính đến sự đa dạng, tránh sự đồng đều nhất loạt Cần thiết phải có một cái nhìn mới và mô hình mới của giáo dục đại học, đó là lấy sinh viên làm trung tâm Để đạt được mục tiêu đó, chương trình đào tạo cần phải xây dựng lại sao cho vượt qua được việc nắm kiến thức chuyên môn một cách đơn giản
mà cần bao gồm việc chiếm lĩnh các kĩ năng, năng lực giao tiếp, óc phân tích sáng tạo và phê phán, suy nghĩ độc lập và biết làm việc trong một nhóm giữa một bối cảnh đa văn hóa
- Một chính sách mạnh mẽ về phát triển đội ngũ là yếu tố quan trọng đối với các trường đại học Cần xây dựng các chính sách sáng tỏ liên quan đến giáo chức đại học, sao cho có thể cập nhật và nâng cao kĩ năng của họ, khuyến khích sự cải tiến về chương trình đào tạo, phương pháp dạy và học, và với một tình trạng tài chính và nghiệp vụ thích hợp để đạt chất lượng cao trong nghiên cứu và giảng dạy
- Những người ra quyết định ở cấp quốc và cấp nhà trường nên đặt sinh viên
và nhu cầu của họ ở trung tâm ở mối quan tâm của mình và xem họ như đối tác chính và đại diện cho các bên liên quan khi đổi mới giáo dục đại học Các dịch vụ hướng dẫn và tư vấn cần được phát triển, cộng tác với các tổ chức của sinh viên, để tính toán nhu cầu của các loại học viên luôn luôn đa dạng Những sinh viên bị rơi
Trang 35cần có cơ hội thích hợp để quay trở lại giáo dục đại học Các trường đại học cần giáo dục sinh viên trở thành những công dân được thông tin đầy đủ và chủ động tận tụy cao, những người biết suy nghĩ một cách phê phán, biết phân tích các vấn đề xã hội, biết tìm các giải pháp cho các vấn đề xã hội, áp dụng chúng và nhận lấy trách nhiệm xã hội
- Phải đưa ra hoặc tăng cường các biện pháp để đảm bảo sự tham gia của phụ
nữ vào giáo dục đại học, đặc biệt ở cấp ra quyết định và trong các chuyên môn mà
họ chưa có đầy đủ đại diện Tiếp theo cần đòi hỏi để hạn chế mọi thành kiến về giới trong giáo dục đại học Để vượt qua những chướng ngại và để tăng sự nhập học của phụ nữ vào giáo dục đại học, cần có một ưu tiên cấp bách trong đổi mới hệ thống và trường học
- Cần phải tận dụng đầy đủ ưu thế của công nghệ thông tin và viễn thông mới
để đổi mới giáo dục đại học bằng cách mở rộng và đa dạng hóa cách chuyển tải, và bằng cách làm cho kiến thức và thông tin sẵn sang cho đại chúng rộng rãi có thể sử dụng Việc truy cập bình đẳng vào các phương tiện đó cần được đảm bảo thông qua
sự hợp tác quốc tế và sự hỗ trợ đối với các nước không đủ năng lực để có các công
cụ như vậy Việc làm cho các công nghệ đó thích ứng với các nhu cầu quốc gia, khu vực và địa phương, đảm bảo quản lí kĩ thuật, giáo dục và hệ thống trường học để duy trì chúng phải được ưu tiên
- Giáo dục đại học phải được xem là một dịch vụ công cộng Trong khi cần huy động các nguồn ngân quỹ đa dạng tư và công, thì hỗ trợ của công quỹ cho giáo dục đại học và nghiên cứu vẫn quan trọng để đảm bảo một thành tựu cân bằng của các sứ mệnh
xã hội và giáo dục của nó Quản lí và tài chính trong giáo dục đại học cần trở thành một công cụ để tăng cường chất lượng và tính phù hợp của nó Điều đó đòi hỏi một sự phát triển các năng lực lập kế hoạch và phân tích chính sách thích hợp và các chiến lược dựa trên sự cộng tác giữa các trường đại học và các cơ quan có trách nhiệm của quốc gia Quyền tự chủ trong việc quản lí công việc nội bộ là cần thiết, nhưng đồng thời phải có
sự giải trình trong sáng và công khai đối với xã hội
- Hoạt động quốc tế của giáo dục đại học là một thành phần cố hữu bảo đảm chất lượng của nó Phải có sự chia sẻ, đoàn kết và bình đẳng giữa các đối tác Chống chảy máu chất xám từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển, nhằm tránh làm ảnh hưởng đến sự phát triển tiến bộ xã hội của họ Cần phải ưu tiên cho các chương trình đào tạo ở các nước đang phát triển, tại các trung tâm chất lượng cao tạo nên các mạng lưới quốc gia và khu vực, kết hợp với thời gian ngắn học chuyên ngành và học tập trung tăng cường ở nước ngoài
- Các công cụ chuẩn hóa quốc tế để công nhận việc học tập và bằng cấp cần được phê chuẩn và áp dụng, bao gồm các chứng nhận về kĩ năng và năng lực của những người tốt nghiệp, làm cho sinh viên chuyển đổi các khóa học dễ dàng hơn, nhằm tạo điều kiện cho sự cơ động bên trong hệ thống quốc gia và giữa các hệ thống với nhau
- Cần phải có sự cộng tác chặt chẽ của các phía liên quan – các nhà hoạch
Trang 36định chính sách quốc gia và nhà trường, các chính phủ và quốc hội đội ngũ gảng dạy và nhân lực liên quan, các nhà nghiên cứu, các sinh viên và gia đình của họ, thế giới việc làm, các nhóm cộng đồng – để đưa vào quỹ đạo một cuộc vận động đổi mới và cải cách theo chiều sâu giáo dục đại học
2 Một số mô hình giáo dục đại học trong lịch sử phát triển xã hội
Giáo dục là một hiện tượng chịu sự quy định của xã hội, trước hết là các điều kiện kinh tế xã hội Việc phát triển giáo dục đại học của một quốc gia cũng phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia đó
Có rất nhiều cách phân loại các mô hình giáo dục đại học Ví dụ, hiện nay người ta chia thành đại học nghiên cứu, đại học thực hành, đại học ứng dụng Thực
ra, cách chia như thế chỉ mang tính tương đối
Xét theo lịch sử phát triển của xã hội từ trước tới nay và yêu cầu của xã hội đối với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng chúng ta thấy nổi lên một
số mô hình phát triển giáo dục đại học sau đây:
2.1 Giáo dục tinh hoa (educatiom for elite)
Giáo dục đại học theo hướng hàn lâm, tinh hoa chủ yếu trong các xã hội chậm phát triển, nền kinh tế sản xuất còn hậu, đòi hỏi về lực lượng lao động có trình độ cao rất ít Trong lịch sử, giáo dục tinh hoa xuất hiện và tồn tại chủ yếu trong nền kinh tế nông nghiệp và tiền công nghiệp Tương ứng với trình độ phát triển kinh tế
xã hội, nhà nước chỉ có một nguồn lực nhất định để đầu tư cho giáo dục Do nguồn lực còn hạn chế, để sử dụng một cách có hiệu quả cho toàn xã hội, nhiều quốc gia
đã đào tạo bậc đại học theo hướng “tinh hoa”, theo phương châm ít mà tinh Tư tưởng này một mặt tương ứng với khả năng cụ thể của xã hội, một mặt phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị xã hội Hệ thống các trường đại học các nước phương Tây trước đây và các trường “quốc tử giám” của các nước phương Đông theo Nho học là những điển hình của tư tưởng này
Gọi là giáo dục tinh hoa vì một số lí do cơ bản sau: Thứ nhất, chỉ một số người
ưu tú và những người có quyền lực trong xã hội được hưởng nền giáo dục đại học Hầu hết nhân dân lao động không bao giờ có quyền được hưởng nền giáo dục này
Vì thế, trong xã hội có rất ít người có học vấn đại học, họ là những người quyền quý đại diện cho nền văn minh của xã hội Có ít người được hưởng nền giáo dục đại học
vì nhà nước không có đủ điều kiện trường lớp, tài liệu, tiền bạc, cơ sở vật chất, giáo viên… đáp ứng cho nhu cầu học tập của người dân Đặc biệt là nền sản xuất xã hội không đòi hỏi nhiều người có trình độ cao như vậy nên không tạo ra được động lực học tập của đông đảo người dân trong xã hội Mặt khác, người dân cũng không có
đủ điều kiện để hưởng thụ nền giáo dục này (không có đủ tiền bạc, điều kiện, vị thế
xã hội, cơ chế, chính sách của nhà nước…)
Trang 37Thứ hai là, giỏo dục đại học chủ yếu học tập những tri thức tinh tuý nhất mang tớnh hàn lõm, kinh viện Giỏo dục đại học là nơi sỏng tạo, sản sinh ra cỏc tri thức mới và lưu truyền trong một phạm vi hẹp của xó hội Những người học đại học được xếp vào hàng ngũ trớ thức và lao động trớ úc thuần khiết tỏch biệt với đời sống lao động chõn tay của đại đa số nhõn dõn lao động
Nền giỏo dục tinh hoa đào tạo cú tớnh chất nhỏ giọt nhằm duy trỡ và phỏt triển văn hoỏ xó hội Quỏ trỡnh lựa chọn thi tuyển cũng như quỏ trỡnh đào tạo rất phức tạp
và rườm rà, kộm hiệu quả nhưng lại đũi hỏi hết sức khắt khe và chặt chẽ Chẳng hạn, thời phong kiến ở nước ta cứ 3 năm mới mở một khoa thi để chọn ra một trạng nguyờn, một bảng nhón, một thỏm hoa (tương đương với đào tạo sau đại học bõy giờ) và vài chục cử nhõn Ngay cả số người học đến tỳ tài cũng đó rất hạn chế rồi (mỗi huyện chỉ cú vài người) Trong một quốc gia có hệ thống giáo dục tinh hoa là chính thức bao giờ cũng có sự hợp tác, bổ trợ của các hình thức và hệ thống phi chính thức
Trong xã hội phong kiến Việt Nam, bên cạnh một số rất ít trường quốc lập tinh hoa vẫn có một mạng lưới rộng rãi các trường tư thục gánh vác nhiệm vụ giáo dục
đông đảo nhân dân Thậm chí trong mạng lưới trường tư thục cũng có nhiều trường
đào tạo theo lối tinh hoa Thời kì Pháp thuộc, chính quyền thực dân cũng thiết lập hai hệ thống giáo dục tinh hoa và phi tinh hoa
Ăng ghen đó từng núi: khi nền sản xuất xó hội đũi hỏi thỡ nú cú tỏc dụng thỳc đẩy khoa học kĩ thuật hơn hàng chục trường đại học Quả là đỳng như vậy, trong nền sản xuất nụng nghiệp lạc hậu khụng đỏi hỏi nhiều về khoa học kĩ thuật, khụng cần cú trỡnh độ cao con người vẫn cú thể tham gia tớch cực vào quỏ trỡnh sản xuất đú Chớnh vỡ thế, giỏo dục đại học trở thành thứ xa xỉ của xó hội, trở thành một thứ xa vời đối với người dõn lao động Khi nền sản xuất phỏt triển, đặc biệt là trong nền kinh tế cụng nghiệp, kinh tế tri thức, con người muốn tham gia lao động thỡ phải qua đào tạo và yờu cầu trỡnh độ ngày càng cao, buộc mọi người phải đi học, học liờn tục và học suốt đời Giỏo dục đại học trở thành phổ biến rộng rói cho mọi người tham gia học với mọi hỡnh thức phự hợp với điều kiện bản thõn
Ngày nay, nhiều nước chậm phỏt triển, giỏo dục đại học vẫn đào tạo theo hướng tinh hoa Chớnh vỡ thế, những nước này đó chậm phỏt triển lại càng chậm phỏt triển và lạc hậu thờm
Nhận thức được vai trũ của giỏo dục trong nền kinh tế tri thức, nhiều nước trong đú cú Việt Nam đó cú nhiều chớnh sỏch phỏt triển giỏo dục, coi giỏo dục là quốc sỏch hàng đầu và phải tập trung phỏt triển giỏo dục đi trước một bước so với
sự phát triển kinh tế xó hội nhằm tạo cơ hội cho việc đi tắt, đún đầu sự phỏt triển của thế giới
Giỏo dục tinh hoa khụng cũn phự hợp với thời đại ngày nay Nền sản xuất lớn,
Trang 38sản xuất theo cụng nghiệp hoỏ và hiện đại hoỏ, nhất là nền kinh tế tri thức đũi hỏi giỏo dục phải đào tạo hàng loạt người lao động cú trỡnh độ cao Giỏo dục đại học phải chuyển từ đào tạo tinh hoa sang giỏo dục đại chỳng Mọi người phải được tiếp cận với nền giỏo dục đại học dưới mọi hỡnh thức để tham gia vào nền sản xuất xó hội Nền giỏo dục tinh hoa khụng thể đỏp ứng được yờu cầu của nền sản xuất mới nên người ta đã mở ra rất nhiều trường cao đẳng và đại học Tuy vậy, người ta vẫn duy trì một bộ phận giáo dục tinh hoa chất lượng cao để phát triển khoa học kĩ thuật theo hướng hàn lâm Ví dụ, ở Hoa kì ngày nay người ta đã chọn khoảng 1-2% sinh viên trong các trường đại học đào tạo theo hướng tinh hoa
2.2 Giáo dục vì nguồn nhân lực (education for manpower)
Nền sản xuất xã hội càng phát triển (yêu cầu về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…ngày càng tăng) thì nhu cầu nhân lực của xã hội càng tăng cả về số lượng lẫn chất lượng Ban đầu, đòi hỏi về trình độ đào tạo của lực lượng lao động chưa cao, một bộ phận của hệ thống giáo dục đảm nhiệm chức năng giảng dạy các kiến thức trực tiếp phục vụ sản xuất, dịch vụ, kinh doanh, quản lí Hiện tượng này đã diễn ra nhanh chóng trong các nước công nghiệp phương Tây Giai đoạn này là sự kết hợp hài hoà giữa giáo dục tinh hoa và giáo dục vì nguồn nhân lực
Khi nền sản xuất xã hội càng hiện đại, đòi hỏi lực lượng tham gia lao động có trình độ ngày càng cao, những cơ sở đào tạo trực tiếp dần dần mất tác dụng Lúc này, giáo dục đại học trở thành cơ sở đào tạo lực lượng lao động chính cho xã hội Nguồn nhân lực chất lượng cao này sẽ tham gia vào các ngành sản xuất chính của xã hội như điện tử viễn thông, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ na nô, công nghệ vũ trụ,…và tạo ra của cải vật chất chính cho xã hội Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực, hàng loạt các trường đại học, cao đẳng được mở ra cả công lập
và ngoài công lập và đào tạo với nhiều phương thức khác nhau Với quan điểm đào tạo này đã giúp cho nhiều nước tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công Nước ta với đặc thù xã hội đang tồn tại nhiều nền kinh tế đan xen nhau (kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp và bắt đầu hình thành một bộ phận của nền kinh tế tri thức) vì thế giáo dục đại học cũng đan xen nhau giữa giáo dục tinh hoa và giáo dục vì nguồn nhân lực Tuy vậy, giáo dục đại học đang chuyển dần sang vì nguồn nhân lực là chính Bằng chứng là nhiều trường đại học được mở ra cả công lập và ngoài công lập, cả trung ương và các khu vực, các địa phương Tỉ lệ sinh viên trên một vạn dân ngày càng cao Các trường đại học phải trở thành nơi đào tạo nguồn nhân lực chính cho xã hội
2.3 Giỏo dục đại chỳng (Education for mass)
Khi xó hội đạt tới một mức độ phỏt triển nhất định về kinh tế-xó hội, đời sống vật chất và tinh thần của đại đa số nhõn dõn được cải thiện, nhận thức về giỏ trị giỏo dục được nõng cao, nhu cầu được hưởng thụ giỏo dục đại học của người dõn trở
Trang 39thành phổ biến Mọi người dân đều có nhu cầu học tập nâng cao trình độ, một mặt nhằm thoả mãn nhu cầu văn hoá tinh thần của cá nhân, một mặt nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực của xã hội Những tiến bộ của khoa học kĩ thuật, sự phát triển sản xuất, dịch vụ, kinh doanh đòi hỏi đội ngũ nhân lực đông đảo, có trình độ ngày càng cao tạo nên trong xã hội những đòi hỏi rộng lớn về giáo dục ở trình độ cao Trước tình hình đó đã tạo ra yêu cầu phải có một nền giáo dục đại chúng (kể cả giáo dục đại học) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đông đảo nhân dân, để tất cả mọi người được học tập, phát huy nhân cách của mình và đáp ứng nhu cầu to lớn của thị trường nhân lực trong một xã hội phát triển
Trên thế giới, nhiều nước đã có những đặc điểm của nền giáo dục đại học đại chúng Tiêu biểu là hệ thống giáo dục của Mĩ Giáo dục được phổ cập rộng rãi trong
xã hội và ở bậc học ngày càng cao Đào tạo nghề nghiệp được mở rộng khắp mọi nơi, giáo dục đại học và cao đẳng phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, tổ chức, phương thức đào tạo, đa ngành, đa dạng, đa trình độ, đa chuyên môn…Hệ thống này tỏ ra thích hợp với các quốc gia có nền kinh tế thị trường và có trình độ khoa học công nghệ cao Nhiều nước phát triển đang tiếp thu hình thức giáo dục này để phát triển giáo dục ở quốc gia mình Các bậc học như cao học ở trình độ sau đại học, các trường cao đẳng cộng đồng vốn chỉ phát triển tại Hoa Kì thì nay dần dần trở thành phổ biến ở nhiều nước ở châu Âu và châu Á
Giáo dục đại chúng thể hiện ở quy mô giáo dục rộng lớn, chất lượng giáo dục
đa dạng, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát triển tự do, linh hoạt nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu xã hội Mọi người dân đều có quyền học tập dưới mọi hình thức phụ thuộc vào điều kiện của từng cá nhân Nhà nước có nhiều chính sách khuyến khích người dân học tập nâng cao trình độ học vấn cũng như nghề nghiệp
Bên cạnh hệ thống giáo dục đại chúng rộng lớn, trong xã hội vẫn tồn tại một
bộ phận giáo dục tinh hoa, quy mô nhỏ nhưng chất lượng cao Hệ thống giáo dục đại học Hoa Kì là một ví dụ điển hình về mô hình đào tạo này Bên cạnh hàng nghìn trường cao đẳng cộng đồng với chất lượng phổ cập lại có hàng trăm trường đại học của các bang có chất lượng cao và hàng chục đại học, viện nghiên cứu có chất lượng đào tạo cao nhất thế giới hiện nay
Ngoài hệ thống giáo dục nói trên, nhà nước Mĩ còn khuyến khích các tập đoàn, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhà máy, xí nghiệp, các tổ chức tôn giáo…mở trường đào tạo cung cấp nguồn nhân lực trực tiếp theo yêu cầu sản xuất của các tổ chức đó Đây cũng là một hình thức đào tạo hiệu quả và thiết thực mà nhiều nước trên thế giới đang học tập Ngoài ra, hình thức kết hợp đào tạo giữa cơ sở sản xuất
và các nhà trường cũng rất phát triển Chúng ta có thể thấy mối quan hệ đào tạo giữa các hệ thống giáo dục trong xã hội ngày nay như sau:
Trang 40Giáo dục đại chúng đang là một xu thế tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội hiện nay Đây là một xu thế giáo dục có khả năng đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực ngày càng cao cả về số lượng lẫn chất lượng của xã hội
2.4 Giáo dục trong một xã hội học tập (Education in learning society)
Những năm cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI, tốc độ phát triển khoa học kĩ thuật và công nghệ nhanh chưa từng có trong lịch sử loài người Những khả năng của khoa học và công nghệ, khả năng sản xuất và kinh doanh cũng như quản lí xã hội phát triển vượt bậc ngoài sức tưởng tượng của mỗi người Nhân loại đứng trước nhiều cơ hội và cũng phải đối mặt với nhiều thách thức Những điều kiện để đảm bảo cho toàn thể nhân loại có một cuộc sống ấm no hạnh phúc hầu như đã đạt được tương đối cơ bản Nhưng những khó khăn đang đặt ra cũng không phải là nhỏ và không thể khắc phục một cách dễ dàng một sớm một chiều Đó là sự nghèo đói, ngu dốt, áp bức, bóc lột, chiến tranh, khủng bố, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường…đang đè nặng lên nhân loại
Làm thế nào để phát huy và khai thác được những cơ hội và ứng phó với những thách thức? Nhân loại đã nhận thức được rằng: chỉ có phát triển giáo dục mới
có thể giải quyết một cách triệt để những vấn đề nêu trên Giáo dục là phương thức chính yếu để mang lại sự phát triển nhân cách tốt đẹp, thiết lập mối quan hệ cần có giữa các cá nhân, các cộng đồng, các dân tộc và các quốc gia Nền giáo dục này phải là nền giáo dục đại chúng phục vụ cho tất cả mọi người trong xã hội Không những thế, nền giáo dục này phải đáp ứng nhu cầu học tập liên tục và suốt đời của mọi người Bất cứ ai, dù ở đâu, thời điểm nào cũng có thể học tập theo khả năng của mình để phát triển nhân cách, tìm kiếm việc làm và thăng tiến…Một xã hội như vậy gọi là xã hội học tập (learning society) Chủ thuyết xã hội học tập có thể xem là triết
lí giáo dục của thời đại ngày nay
Trong xã hội ngày nay đòi hỏi mỗi con người phải học liên tục mới có thể tồn tại được Con người không chỉ học trong thời gian cắp sách đến trường, học trong khi làm việc mà phải học cả trong tiêu dùng, vui chơi giải trí…Ví dụ, muốn sử dụng
Hệ giáo dục đại chúng
Hệ đào tạo nghề nghiệp
Hệ giáo dục tinh hoa