1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước đa tôn giáo, theo ước tính hiện nay có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có khoảng trên 26 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số cả nước) của 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động. Bên cạnh những tổ chức tôn giáo đã được công nhận, cấp đăng ký hoạt động, còn khoảng hơn 100 nhóm, phái và hiện tượng tôn giáo mới đang tồn tại theo cách này hay cách khác. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận hoạt động ổn định với xu hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, tích cực tham gia các công tác từ thiện xã hội, góp phần xây dựng, phát triển đất nước. Các tổ chức tôn giáo không ngừng phát triển về số lượng chức sắc, nhà tu hành, tín đồ và mở rộng địa bàn hoạt động. Tình hình đó là sự phản ánh về quá trình đất nước đổi mới, Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ về đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân, vì thế tôn giáo càng được khẳng định rõ hơn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Bên cạnh những sinh hoạt tôn giáo lành mạnh, tuân thủ pháp luật, vẫn còn có một số hiện tượng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc nhân dân, gây bất ổn tình hình tôn giáo cao hơn là phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo cớ cho các thế lực xấu chống phá Nhà nước. Trước tình hình đó, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo cần phải tăng cường mà nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, trong đó có công tác vận động, tranh thủ chức sắc. Bắc Ninh một tỉnh thuộc miền Bắc nước ta, là cửa ngõ phía bắc thủ đô Hà Nội. Bắc Ninh mặc dù có diện tích không lớn nhưng dân số trên 1,4 triệu người với mật độ dân số cao thứ 4 trong số 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, có vị trí địa chính trị quan trọng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của đồng bằng sông Hồng, là tỉnh có nền văn hóa lâu đời và cũng là nơi có nhiều nét đặc thù về tín ngưỡng, tôn giáo. Hiện nay, Bắc Ninh có 2 tôn giáo lớn là Công giáo và Phật giáo, trong đó Công giáo có khoảng 15.000 giáo dân, 19 linh mục; Phật giáo có hơn 300 chức sắc, nhà tu hành, tín đồ Phật giáo có hơn 300.000 tín đồ, bên cạnh đó là hơn 60% dân số ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo. Như vậy, cứ khoảng trên 300 tín đồ thì có 01 chức sắc Phật giáo phụ trách phần tâm linh. Chức sắc Phật giáo là lực lượng nòng cốt của giáo hội và quyết định đường hướng hoạt động “ hành đạo quản đạo truyền đạo”. Trong hành đạo, chức sắc Phật giáo là người giúp đỡ các tín đồ sinh hoạt tôn giáo tại các cơ sở thờ tự và tại gia. Chức sắc không chỉ ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của đông đảo quần chúng tín đồ, tiếng nói của chức sắc có trọng lượng lớn, có lúc, có nơi giữ vai trò quan trọng (thậm chí là quyết định) đối với lập trường, tư tưởng và thái độ của tín đồ. Trong hoạt động quản đạo, là người điều hành nền hành chính đạo. Hơn nữa, họ là người đại diện cho tổ chức tôn giáo ở các cấp, nên thường xuyên có mối quan hệ với cấp uỷ, chính quyền, các đoàn thể chính trị xã hội ở địa phương, đại diện cho tổ chức tôn giáo trong quan hệ quốc tế và các tôn giáo bạn. Với vai trò quan trọng như vậy nên chức sắc Phật giáo luôn có ảnh hưởng trực tiếp, thậm chí quyết định đến tính chất tích cực hay tiêu cực của các hoạt động tôn giáo của tín đồ. Vì vậy, công tác vận động chức sắc Phật giáo có một ý nghĩa rất quan trọng trong công tác tôn giáo nói chung. Mặt khác, công tác vận động chức sắc Phật giáo lại gắn liền và có mối quan hệ hữu cơ với công tác vận động quần chúng tín đồ. Làm tốt công tác vận động sẽ góp phần tích cực vào việc vận động tín đồ, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngoài ra, làm tốt công tác vận động quần chúng tín đồ sẽ góp phần tạo ra môi trường xã hội thuận lợi để tiến hành công tác vận động chức sắc, nhà tu hành đạt hiệu quả. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Bắc Ninh những năm qua đã có nhiều thành tựu, đạt được một số kết quả nhất định. Nhưng bên cạnh đó, công tác này cũng còn một số hạn chế, như: nhận thức về vai trò của chức sắc Phật giáo trong một bộ phận không nhỏ cán bộ hệ thống chính trị chưa đầy đủ và thống nhất; công tác vận động chức sắc vẫn còn bị xem nhẹ trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương; cách thức tổ chức, vận động thiếu đồng bộ; cơ chế, chính sách đối với chức sắc và công tác xây dựng nòng cốt trong chức sắc còn có chỗ, có nơi lúng túng, cứng nhắc chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra. Công tác nắm tình hình tôn giáo ở địa phương, cơ sở thiếu kịp thời; một số cấp ủy, chính quyền còn lúng túng trong việc giải quyết những nhu cầu hoạt động chính đáng, hợp pháp của chức sắc, tín đồ và những vấn đề bức xúc liên quan đến tôn giáo; chưa thực sự quan tâm tháo gỡ những khó khăn vướng mắc thuộc về cơ chế, chính sách liên quan đến công tác tôn giáo như việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng sửa chữa, thành lập mới cơ sở tôn giáo,... Trước thực trạng đó, tác giả chọn đề tài “Công tác vận động chức sắc Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay: Thực trạng và một số vấn đề đặt ra” làm luận văn thạc sĩ của mình. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Năm 1990, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 24NQTW “Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”, là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong đổi mới tư duy về tôn giáo và công tác tôn giáo, tình hình tôn giáo ở nước ta có nhiều thay đổi lớn, do vậy việc nghiên cứu tôn giáo ngày càng được quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau. Liên quan đến đề tài nghiên cứu có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu: Thứ nhất nghiên cứu lý luận về tôn giáo, công tác tôn giáo: Đỗ Lan Hiền (2011), Khoan dung tôn giáo với dân chủ, đoàn kết và đồng thuận xã hội Trường hợp Việt Nam 19, Quan niệm về khoan dung tôn giáo, tác giả cho rằng khoan dung không phải là nhượng bộ, sự hạ mình, cái đối lập với mình. Tác giả cho rằng Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của Nho, Phật, Đạo nên tinh thần khoan dung cho thấy, người dân Việt nam đã thể hiện khá rõ nét trong ứng xử với tôn giáo tạo sự đồng thuận xã hội, đoàn kết tôn giáo để cùng phát triển. Đỗ Quang Hưng (2004), “Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, lý luận và thực tiễn” 18 tác giả đã khai thác mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc qua các thời kỳ cách mạng ở nước ta. Đặc biệt hơn, tác giả đã đưa ra những quan điểm của các nhà cách mạng, nhà nghiên cứu trong thời kỳ đất nước chiến tranh, nhìn nhận về mối quan hệ giữa tôn giáo và nhà nước, từ đó có sự so sánh, đánh giá bước phát triển trong nhận thức về tôn giáo. Đỗ Quang Hưng (2014), Nhà nước, tôn giáo và pháp luật 17 tác giả đã luận giải về mối quan hệ giữa Nhà nước và giáo hội trên các chiều cạnh: Mối quan hệ giữa tôn giáo và thể chế xã hội, đưa ra các mô hình nhà nước thế tục, điểm mấu chốt giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và giáo hội; luận bàn về chính sách tôn giáo ở Việt Nam, mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về tôn giáo. Tác giả cũng bàn nhiều đến đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay và mối quan hệ giữa tôn giáo và nhà nước, trong đó vấn đề thể nhân và pháp nhân tôn giáo là vấn đề rất cần được tính đến trong luật pháp cần được tính đến trong luật pháp tôn giáo ở Việt Nam và là vấn đề pháp lý quan trọng bậc nhất hiện nay. Nguyễn Thanh Xuân (2015), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam 31 tác giả đã hệ thống chính sách tôn giáo Việt Nam qua các thời kỳ và việc thực hiện chính sách tôn giáo, nhất là từ khi đổi mới đến nay. Tác giả khẳng định, việc thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, công tác đối với tôn giáo đã đưa lại những kết quả rất quan trọng, làm thay đổi đời sống tôn giáo ở Việt Nam theo hướng tích cực và tiến bộ góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển của đất nước. Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam 30 đây là cuốn sách giới thiệu lịch sử ra đời, phát triển, giáo lý, giáo luật, cách hành đạo, chức sắc và cơ cấu tổ chức của một số tôn giáo ở Việt Nam, trong đó có Phật giáo; về một số tổ chức quốc tế tôn giáo trên thế giới. Đây là ấn phẩm đầu tiên ở Việt Nam viết cơ bản về các tôn giáo, trong đó có Phật giáo tạo kiến thức nền hệ thống trực tiếp làm công tác tôn giáo và các ban ngành có liên quan. Nguyễn Hồng Dương (2015), Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo32 tác giả đã phản ánh quan điểm của Đảng, pháp luật của nhà nước Việt Nam về tôn giáo theo vấn đề nghiên cứu như: Quan điểm về bản chất tôn giáo, về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, về đoàn kết tôn giáo trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc; về chống lợi dụng tôn giáo và quan điểm về công tác vận động quần chúng. Tác giả cũng đã phân tích sự biến động của từng tôn giáo như Công giáo, Tin lành, Phật giáo sau giải phóng và trong giai đoạn đổi mới để thấy được xu hướng vận động thích nghi của các tôn giáo trong từng giai đoạn cách mạng. Đồng thời cũng là cơ sở để Đảng và Nhà nước có sự đổi mới trong nhận thức để hoạch định những chủ trương, chính sách phù hợp. Chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam: 25 năm nhìn lại (2016) 14 với sự tham gia của nhiều tác giả. Các tác giả nhận định cần nhìn nhận vai trò của tôn giáo trong thời đại ngày nay dưới tác động của toàn cầu hóa, các tôn giáo sẽ khai thác cơ hội này, nhất là những thành tựu của cách mạng khoa học kỹ thuật để đẩy mạnh các hoạt động truyền giáo và phát triển tín đồ; đồng thời xu thế này cũng làm cho các tôn giáo khó có thể giữ được tín đồ theo lối truyền thống, mà sự đổi đạo, cải đạo tiếp tục diễn ra giữa các tín đồ các tôn giáo. Các tôn giáo thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, giao lưu quốc tế cũng như tham dự vào nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.Trước bối cảnh đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần có những ứng xử phù hợp về tôn giáo và công tác tôn giáo để vừa quản lý được tôn giáo vừa phát huy được nguồn lực của tôn giáo trong phát triển xã hội. Thứ hai các bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến Đề tài: Công tác vận động tín đồ tôn giáo ở tỉnh Yên Bái (2015) trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo của tác giả Đoàn Thị Thu Hà 20. Bài viết góp phần chỉ ra những kết quả đã đạt được và một số điểm cần lưu ý khi thực hiện công tác vận động quần chúng có tôn giáo trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Đề tài: “Thực trạng đội ngũ chức sắc một số tôn giáo lớn ở nước ta và những vấn đề đặt ra hiện nay”, do Ngô Hữu Thảo (chủ nhiệm), nội dung nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng của chức sắc Phật giáo và Công giáo, trên cơ sở đó gợi mở những nội dung để các cấp ủy Đảng, chính quyền từ trung ương đến địa phương cần quan tâm; đồng thời đề tài cũng kiến nghị Đảng, Nhà nước những nội dung cụ thể nhằm phát huy vai trò của chức sắc tôn giáo trong giai đoạn hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong phạm vi cả nước. Ban Dân vận Trung ương Tập bài giảng về công tác dân 5, góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn công tác dân vận của Đảng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đây là cơ sở khoa học giúp cho công tác tham mưu đề xuất với Đảng và Nhà nước nội dung, phương thức công tác dân vận trong thời kỳ mới. Công trình này đưa ra quan điểm chỉ đạo công tác dân vận của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới, thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, như: cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân; công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và của các đoàn thể nhân dân; động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân. Những công trình trên đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn đề quản lý nhà nước về tôn giáo cả về mặt lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ khi thực hiện Nghị quyết 25NQTW, năm 2003 đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một các toàn diện, tổng kết thực tiễn về công tác vận động chức sắc tôn giáo phục vụ cho công tác tôn giáo của cấp ủy, chính quyền ở địa phương.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi; Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có xuất
xứ rõ ràng; Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Tác giả
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau hơn 02 năm học tập và nghiên cứu, tiếp thu kiến thức được các thầy
cô truyền thụ; được sự quan tâm, tạo điều kiện của Lãnh đạo Ban Tôn giáoChính phủ và Lãnh đạo Viện Nghiên cứu chính sách tôn giáo (nơi tôi đangcông tác) cùng gia đình; đến nay, tôi đã hoàn thành bản luận văn Thạc sỹ
“Công tác vận động chức sắc Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay: Thực trạng và một số vấn đề đặt ra” Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Lãnh
đạo Ban Tôn giáo Chính phủ, Lãnh đạo Viện Nghiên cứu chính sách tôn giáo
và các đồng nghiệp trong cơ quan đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôihoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Khoa học xãhội và nhân văn, Khoa Sau đại học, Lãnh đạo Bộ môn Tôn giáo học, đặc biệt
là lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thanh Xuân đã tận tình giúp đỡ vàhưỡng dẫn tôi nghiên cứu Luận văn này
Do khả năng và điều kiện thời gian còn hạn chế, vấn đề lựa chọn nghiêncứu trong đề tài khá phức tạp, nhạy cảm nên Luận văn không tránh khỏinhững hạn chế, thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự quan tâm, chỉ bảo vàgóp ý của các thầy, cô giáo để Luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả Luận văn
Nghiêm Thị Vi Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 3
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG CHỨC SẮC PHẬT GIÁO Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY 12
1.1 Lý luận chung về công tác vận động chức sắc Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 12
1.1.1 Một số khái niệm 12
1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác vận động chức sắc Phật giáo 18
1.2 Vấn đề thực tiễn của công tác vận động chức sắc ở địa bàn nghiên cứu 25
1.2.1 Địa kinh tế - chính trị tỉnh Bắc Ninh 25
1.2.2 Tình hình Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh 28
1.2.3 Đặc điểm, vai trò chức sắc Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh 33
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG CHỨC SẮC PHẬT GIÁO Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY VÀ NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ, BÀI HỌC KINH NGHIỆM 38
2.1 Thực trạng công tác vận động chức sắc Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 38
2.1.1 Công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với chức sắc Phật giáo 38
2.1.2 Công tác nắm bắt và giải quyết những nhu cầu chính đáng của chức sắc Phật giáo 40
2.1.3 Công tác vận động chức sắc tham gia các hoạt động xã hội và giải quyết các vụ việc liên quan đến Phật giáo 42
2.2 Những thành tựu và hạn chế trong công tác vận động chức sắc Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 46
Trang 62.2.1 Những thành tựu và nguyên nhân 46
2.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân 50
2.3 Bài học kinh nghiệm 52
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 56
Chương 3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG CHỨC SẮC PHẬT GIÁO Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY VÀ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ 57
3.1 Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng công tác vận động chức sắc ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 57
3.1.1 Vấn đề đặt ra từ phương diện khách thể quản lý 57
3.1.2 Vấn đề đặt ra từ phương diện chủ thể quản lý 59
3.2 Giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác vận động chức sắc Phật giáo ở Bắc Ninh 61
3.2.1 Giải pháp 61
3.2.2 Khuyến nghị 71
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 75
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 82
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước đa tôn giáo, theo ước tính hiện nay có khoảng95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có khoảng trên 26 triệutín đồ (chiếm 27% dân số cả nước) của 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáođược công nhận và cấp đăng ký hoạt động Bên cạnh những tổ chức tôn giáo
đã được công nhận, cấp đăng ký hoạt động, còn khoảng hơn 100 nhóm, phái
và hiện tượng tôn giáo mới đang tồn tại theo cách này hay cách khác
Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận hoạt động ổn định với
xu hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, tích cực tham gia các công tác từ thiện
xã hội, góp phần xây dựng, phát triển đất nước Các tổ chức tôn giáo khôngngừng phát triển về số lượng chức sắc, nhà tu hành, tín đồ và mở rộng địa bànhoạt động Tình hình đó là sự phản ánh về quá trình đất nước đổi mới, ViệtNam đã có sự phát triển mạnh mẽ về đời sống vật chất cũng như tinh thần củangười dân, vì thế tôn giáo càng được khẳng định rõ hơn là nhu cầu tinh thầncủa một bộ phận nhân dân
Bên cạnh những sinh hoạt tôn giáo lành mạnh, tuân thủ pháp luật, vẫncòn có một số hiện tượng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc nhân dân,gây bất ổn tình hình tôn giáo cao hơn là phá hoại khối đại đoàn kết toàn dântộc, tạo cớ cho các thế lực xấu chống phá Nhà nước Trước tình hình đó, công
tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo cần phải tăng cường mà nội
dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, trong đó
có công tác vận động, tranh thủ chức sắc
Bắc Ninh một tỉnh thuộc miền Bắc nước ta, là cửa ngõ phía bắc thủ đô
Hà Nội Bắc Ninh mặc dù có diện tích không lớn nhưng dân số trên 1,4 triệungười với mật độ dân số cao thứ 4 trong số 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, có
Trang 8vị trí địa chính trị quan trọng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của đồngbằng sông Hồng, là tỉnh có nền văn hóa lâu đời và cũng là nơi có nhiều nétđặc thù về tín ngưỡng, tôn giáo Hiện nay, Bắc Ninh có 2 tôn giáo lớn là Cônggiáo và Phật giáo, trong đó Công giáo có khoảng 15.000 giáo dân, 19 linhmục; Phật giáo có hơn 300 chức sắc, nhà tu hành, tín đồ Phật giáo có hơn300.000 tín đồ, bên cạnh đó là hơn 60% dân số ảnh hưởng của văn hóa Phậtgiáo Như vậy, cứ khoảng trên 300 tín đồ thì có 01 chức sắc Phật giáo phụtrách phần tâm linh
Chức sắc Phật giáo là lực lượng nòng cốt của giáo hội và quyết địnhđường hướng hoạt động “ hành đạo - quản đạo - truyền đạo” Trong hành đạo,chức sắc Phật giáo là người giúp đỡ các tín đồ sinh hoạt tôn giáo tại các cơ sởthờ tự và tại gia Chức sắc không chỉ ảnh hưởng đến đời sống tinh thần củađông đảo quần chúng tín đồ, tiếng nói của chức sắc có trọng lượng lớn, cólúc, có nơi giữ vai trò quan trọng (thậm chí là quyết định) đối với lập trường,
tư tưởng và thái độ của tín đồ Trong hoạt động quản đạo, là người điều hànhnền hành chính đạo Hơn nữa, họ là người đại diện cho tổ chức tôn giáo ở cáccấp, nên thường xuyên có mối quan hệ với cấp uỷ, chính quyền, các đoàn thểchính trị - xã hội ở địa phương, đại diện cho tổ chức tôn giáo trong quan hệquốc tế và các tôn giáo bạn
Với vai trò quan trọng như vậy nên chức sắc Phật giáo luôn có ảnhhưởng trực tiếp, thậm chí quyết định đến tính chất tích cực hay tiêu cực củacác hoạt động tôn giáo của tín đồ Vì vậy, công tác vận động chức sắc Phậtgiáo có một ý nghĩa rất quan trọng trong công tác tôn giáo nói chung Mặtkhác, công tác vận động chức sắc Phật giáo lại gắn liền và có mối quan hệhữu cơ với công tác vận động quần chúng tín đồ Làm tốt công tác vận động
sẽ góp phần tích cực vào việc vận động tín đồ, củng cố khối đại đoàn kết toàndân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ngoài ra, làm tốt công tác vận động quần
Trang 9chúng tín đồ sẽ góp phần tạo ra môi trường xã hội thuận lợi để tiến hành côngtác vận động chức sắc, nhà tu hành đạt hiệu quả.
Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Bắc Ninhnhững năm qua đã có nhiều thành tựu, đạt được một số kết quả nhất định.Nhưng bên cạnh đó, công tác này cũng còn một số hạn chế, như: nhận thức vềvai trò của chức sắc Phật giáo trong một bộ phận không nhỏ cán bộ hệ thốngchính trị chưa đầy đủ và thống nhất; công tác vận động chức sắc vẫn còn bịxem nhẹ trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương;cách thức tổ chức, vận động thiếu đồng bộ; cơ chế, chính sách đối với chứcsắc và công tác xây dựng nòng cốt trong chức sắc còn có chỗ, có nơi lúngtúng, cứng nhắc chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra
Công tác nắm tình hình tôn giáo ở địa phương, cơ sở thiếu kịp thời; một
số cấp ủy, chính quyền còn lúng túng trong việc giải quyết những nhu cầuhoạt động chính đáng, hợp pháp của chức sắc, tín đồ và những vấn đề bức xúcliên quan đến tôn giáo; chưa thực sự quan tâm tháo gỡ những khó khăn vướngmắc thuộc về cơ chế, chính sách liên quan đến công tác tôn giáo như việc cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng sửa chữa, thành lập mới cơ sởtôn giáo,
Trước thực trạng đó, tác giả chọn đề tài “Công tác vận động chức sắc
Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay: Thực trạng và một số vấn đề đặt ra”
làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Năm 1990, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 24-NQ/TW “Về tăng
cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”, là dấu mốc đặc biệt quan trọng
trong đổi mới tư duy về tôn giáo và công tác tôn giáo, tình hình tôn giáo ở nước
ta có nhiều thay đổi lớn, do vậy việc nghiên cứu tôn giáo ngày càng được quan
Trang 10tâm ở nhiều góc độ khác nhau Liên quan đến đề tài nghiên cứu có thể điểmqua một số công trình tiêu biểu:
Thứ nhất nghiên cứu lý luận về tôn giáo, công tác tôn giáo:
Đỗ Lan Hiền (2011), Khoan dung tôn giáo với dân chủ, đoàn kết và
đồng thuận xã hội - Trường hợp Việt Nam [19], Quan niệm về khoan dung
tôn giáo, tác giả cho rằng khoan dung không phải là nhượng bộ, sự hạ mình,cái đối lập với mình Tác giả cho rằng Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc tưtưởng của Nho, Phật, Đạo nên tinh thần khoan dung cho thấy, người dân Việtnam đã thể hiện khá rõ nét trong ứng xử với tôn giáo tạo sự đồng thuận xãhội, đoàn kết tôn giáo để cùng phát triển
Đỗ Quang Hưng (2004), “Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam,
lý luận và thực tiễn” [18] tác giả đã khai thác mối quan hệ giữa tôn giáo và
dân tộc qua các thời kỳ cách mạng ở nước ta Đặc biệt hơn, tác giả đã đưa ranhững quan điểm của các nhà cách mạng, nhà nghiên cứu trong thời kỳ đấtnước chiến tranh, nhìn nhận về mối quan hệ giữa tôn giáo và nhà nước, từ đó
có sự so sánh, đánh giá bước phát triển trong nhận thức về tôn giáo
Đỗ Quang Hưng (2014), Nhà nước, tôn giáo và pháp luật [17] tác giả
đã luận giải về mối quan hệ giữa Nhà nước và giáo hội trên các chiều cạnh:Mối quan hệ giữa tôn giáo và thể chế xã hội, đưa ra các mô hình nhà nước thếtục, điểm mấu chốt giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và giáo hội; luậnbàn về chính sách tôn giáo ở Việt Nam, mô hình nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa về tôn giáo Tác giả cũng bàn nhiều đến đời sống tôn giáo ở ViệtNam hiện nay và mối quan hệ giữa tôn giáo và nhà nước, trong đó vấn đề thểnhân và pháp nhân tôn giáo là vấn đề rất cần được tính đến trong luật phápcần được tính đến trong luật pháp tôn giáo ở Việt Nam và là vấn đề pháp lýquan trọng bậc nhất hiện nay
Trang 11Nguyễn Thanh Xuân (2015), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt
Nam [31] tác giả đã hệ thống chính sách tôn giáo Việt Nam qua các thời kỳ và
việc thực hiện chính sách tôn giáo, nhất là từ khi đổi mới đến nay Tác giảkhẳng định, việc thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, côngtác đối với tôn giáo đã đưa lại những kết quả rất quan trọng, làm thay đổi đờisống tôn giáo ở Việt Nam theo hướng tích cực và tiến bộ góp phần quan trọngvào sự ổn định và phát triển của đất nước
Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam [30] đây là
cuốn sách giới thiệu lịch sử ra đời, phát triển, giáo lý, giáo luật, cách hànhđạo, chức sắc và cơ cấu tổ chức của một số tôn giáo ở Việt Nam, trong đó cóPhật giáo; về một số tổ chức quốc tế tôn giáo trên thế giới Đây là ấn phẩmđầu tiên ở Việt Nam viết cơ bản về các tôn giáo, trong đó có Phật giáo tạokiến thức nền hệ thống trực tiếp làm công tác tôn giáo và các ban ngành cóliên quan
Nguyễn Hồng Dương (2015), Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà
nước Việt Nam về tôn giáo[32] tác giả đã phản ánh quan điểm của Đảng, pháp
luật của nhà nước Việt Nam về tôn giáo theo vấn đề nghiên cứu như: Quanđiểm về bản chất tôn giáo, về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, về đoàn kết tôn giáotrong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc; về chống lợi dụng tôn giáo vàquan điểm về công tác vận động quần chúng Tác giả cũng đã phân tích sựbiến động của từng tôn giáo như Công giáo, Tin lành, Phật giáo sau giảiphóng và trong giai đoạn đổi mới để thấy được xu hướng vận động thích nghicủa các tôn giáo trong từng giai đoạn cách mạng Đồng thời cũng là cơ sở đểĐảng và Nhà nước có sự đổi mới trong nhận thức để hoạch định những chủtrương, chính sách phù hợp
Chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam: 25 năm nhìn lại (2016) [14] với sự tham gia của nhiều tác giả Các tác giả nhận định
Trang 12cần nhìn nhận vai trò của tôn giáo trong thời đại ngày nay dưới tác động củatoàn cầu hóa, các tôn giáo sẽ khai thác cơ hội này, nhất là những thành tựucủa cách mạng khoa học kỹ thuật để đẩy mạnh các hoạt động truyền giáo vàphát triển tín đồ; đồng thời xu thế này cũng làm cho các tôn giáo khó có thểgiữ được tín đồ theo lối truyền thống, mà sự đổi đạo, cải đạo tiếp tục diễn ragiữa các tín đồ các tôn giáo Các tôn giáo thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác,giao lưu quốc tế cũng như tham dự vào nhiều lĩnh vực của đời sống xãhội.Trước bối cảnh đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần có những ứng xử phùhợp về tôn giáo và công tác tôn giáo để vừa quản lý được tôn giáo vừa pháthuy được nguồn lực của tôn giáo trong phát triển xã hội.
Thứ hai các bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến Đề tài:
Công tác vận động tín đồ tôn giáo ở tỉnh Yên Bái (2015) trên tạp chí
Nghiên cứu Tôn giáo của tác giả Đoàn Thị Thu Hà [20] Bài viết góp phần chỉ
ra những kết quả đã đạt được và một số điểm cần lưu ý khi thực hiện công tácvận động quần chúng có tôn giáo trên địa bàn tỉnh Yên Bái
Đề tài: “Thực trạng đội ngũ chức sắc một số tôn giáo lớn ở nước ta và
những vấn đề đặt ra hiện nay”, do Ngô Hữu Thảo (chủ nhiệm), nội dung nghiên
cứu tập trung phân tích thực trạng của chức sắc Phật giáo và Công giáo, trên cơ
sở đó gợi mở những nội dung để các cấp ủy Đảng, chính quyền từ trung ươngđến địa phương cần quan tâm; đồng thời đề tài cũng kiến nghị Đảng, Nhà nướcnhững nội dung cụ thể nhằm phát huy vai trò của chức sắc tôn giáo trong giaiđoạn hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong phạm vi cả nước
Ban Dân vận Trung ương Tập bài giảng về công tác dân [5], góp phần
làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn công tác dân vận của Đảng thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh Đây là cơ sở khoa học giúp cho công tác thammưu đề xuất với Đảng và Nhà nước nội dung, phương thức công tác dân vận
Trang 13trong thời kỳ mới Công trình này đưa ra quan điểm chỉ đạo công tác dân vậncủa Đảng ta trong thời kỳ đổi mới, thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh,như: cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân; công tác quần chúng làtrách nhiệm của Đảng, Nhà nước và của các đoàn thể nhân dân; động lực thúcđẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kếthợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân.
Những công trình trên đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn đề quản lýnhà nước về tôn giáo cả về mặt lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, trên địa bàntỉnh Bắc Ninh từ khi thực hiện Nghị quyết 25-NQ/TW, năm 2003 đến naychưa có đề tài nào nghiên cứu một các toàn diện, tổng kết thực tiễn về côngtác vận động chức sắc tôn giáo phục vụ cho công tác tôn giáo của cấp ủy,chính quyền ở địa phương
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác vận động chứcsắc Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay, luận văn đề xuất những giải pháp,kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác vận động chức sắc Phật giáo ở địaphương trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu: chức sắc Phật giáo (bao gồm cả chức việc
tôn giáo và các nhà tu hành không bao gồm những nhà tu hành tại gia) ở tỉnhBắc Ninh
Trang 145 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả quán triệt những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về vấn đề tôn giáo, công tác tôngiáo; về công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo Luận văncũng xuất phát từ thực tiễn công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở tỉnhBắc Ninh thời gian qua
Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành tôngiáo học (phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu, điều tra xã hội học phỏngvấn sâu, ), cũng như các phương pháp nghiên cứu liên ngành của sử học, xãhội học, trong đó đặc biệt chú trọng phương pháp tổng kết thực tiễn, phân tích
và tổng hợp, xử lý tư liệu
5.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu là sử dụng thông tin trongtài liệu để rút ra thông tin cần thiết đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài.Phương pháp này thu thập thông tin thứ cấp, không tiếp xúc với đối tượngnghiên cứu, khảo sát chủ yếu thực hiện qua nghiên cứu tài liệu, sách báo,
5.2 Phương pháp điều tra xã hội học
Đề tài thực hiện phỏng vấn sâu đối với 15 chức sắc, nhà tu hành, tín đồ
và 10 nhà quản lý có trình độ hiểu biết, có kinh nghiệm trong khoa học quản
lý nhà nước đối với Phật giáo Nội dung câu hỏi phỏng vấn liên quan đến cácvấn đề: trình độ nhận thức, hiểu biết về đạo Phật và công tác QLNN về tín
Trang 15ngưỡng, tôn giáo; đánh giá về công tác vận động chức sắc Phật giáo và cáclĩnh vực xã hội liên quan đến Phật giáo; làm rõ vai trò của chức sắc Phật giáotrong đời sống xã hội.
6 Dự kiến kết quả của luận văn
Luận văn tập trung tổng kết thực tiễn và đề xuất một số giải pháp,khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác vận động, tranh thủ chức sắcPhật giáo trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật củaNhà nước ở tỉnh Bắc Ninh
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tácgiảng dạy, bồi dưỡng về tôn giáo học, công tác tôn giáo và công tác vận độngquần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo của các trường chính trị, trung tâm bồidưỡng chính trị Đồng thời làm tài liệu cho công tác bồi dưỡng cán bộ trong
hệ thống dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở tỉnh ởBắc Ninh Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, là tư liệu chocác nhà nghiên cứu, lãnh đạo quản lý về lĩnh vực tôn giáo
8 Kết cấu của luận văn
Trên định hướng lý thuyết và phương pháp nghiên cứu đã trình bày,luận văn sẽ được chia làm ba phần: Phần Mở đầu, phần Nội dung chính vàphần Kết luận Riêng phần Nội dung chính, chúng tôi chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác vận độngchức sắc Phật giáo ở Bắc Ninh hiện nay
Chương 2: Thực trạng công tác vận động chức sắc Phật giáo ở tỉnh BắcNinh hiện nay và những thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng công tác vận động chứcsắc Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh và giải pháp, khuyến nghị
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG CHỨC SẮC PHẬT GIÁO
Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY
1.1 Lý luận chung về công tác vận động chức sắc Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
1.1.1 Một số khái niệm
* Khái niệm chức sắc theo quy định của pháp luật
Theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo: “Chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn
giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức” [4, tr.7].
Theo đó, chức sắc tôn giáo cần hội đủ 3 yếu tố: Một là, chức sắc trước hết phải là tín đồ của một tôn giáo - là loại “tín đồ đặc biệt” Hai là, họ phải
là người có chức vụ nhất định trong tổ chức tôn giáo Bởi vì, tổ chức tôngiáo chính là nền “hành chính đạo”, điều hành, quản lý toàn bộ hoạt độngtôn giáo và gắn với đó là những vị trí cao thấp khác nhau (chức vụ) do mỗi
người đảm trách Ba là, họ còn phải có phẩm sắc (phẩm trật) tôn giáo, được
tổ chức tôn giáo suy tôn, thừa nhận và cho hưởng theo giáo lý, giáo luậtchiểu theo công trạng, công lao tu tập, đạo hạnh, thời gian tu tập và cốnghiến của họ cho tôn giáo đó Vì thế, khái niệm chức sắc tôn giáo như trênmới xuất phát từ phương diện quản lý nhà nước đối với tôn giáo hiện nay ởnước ta, chưa đáp ứng được với công tác tôn giáo nói chung và nhận thức vềtôn giáo Mặt khác, bản thân mỗi tôn giáo lại có những quy định cụ thể vềchức sắc của mình
Với khái niệm này, nội hàm của khái niệm chức sắc tôn giáo không chỉbao gồm những người có chức vụ trong tôn giáo, mà còn có cả những người cótrọng trách trong hành đạo và truyền đạo Truyền đạo là bổn phận của mọi tín
Trang 17đồ, nhưng với tín đồ không được đào tạo, không phải là nhà hoạt động tôn giáochuyên nghiệp và bán chuyên thì những người tín đồ bình thường không thể cókhả năng lớn như chức sắc của họ Theo định nghĩa này, chức sắc tôn giáochính là những đối tượng đặc biệt quan trọng mà công tác tôn giáo phải có sựquan tâm thường xuyên Điều đó lý giải tại sao các cơ quan làm công tác tôngiáo khi nói đến chức sắc tôn giáo thường bao gồm cả chức việc tôn giáo vàcác nhà tu hành.
* Khái niệm chức sắc Phật giáo theo quy định của tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Theo Nội quy Ban Tăng sự trung ương khóa VIII (nhiệm kỳ 2017 2022) gồm 15 chương, 85 điều, trong đó quy định về chức sắc trong giáo hộinhư sau:
-Hàng Giáo phẩm (chức sắc) bao gồm: Giáo phẩm Tăng: Hòa thượng,Thượng tọa Giáo phẩm Ni: Ni trưởng, Ni sư Hàng giáo phẩm được suy tôntại các kỳ Đại hội Phật giáo.[40]
- Chức sắc trong Hội đồng chứng minh
Hội đồng chứng minh là cơ quan lãnh đạo tối cao về đạo pháp và giớiluật của Giáo hội, gồm các vị Hòa thượng tiêu biểu của của Giáo hội Phậtgiáo Việt Nam; có ít nhất 70 tuổi đời và 50 tuổi đạo; được Ban Thường trựcHội đồng Chứng minh tiền nhiệm giới thiệu và Đại hội Đại biểu toàn quốcGiáo hội Phật giáo Việt Nam suy tôn Các vị Hòa thượng được suy tôn vàoHội đồng chứng minh thì không tham gia Hội đồng Trị sự, ngoại trừ một sốtrường hợp đặc biệt do Ban Thường trực Hội đồng Trị sự đề nghị
Một trong số nhiệm vụ của Ban thường trực Hội đồng chứng minh đốivới chức sắc là: Phê chuẩn tấn phong Giáo phẩm Hòa thượng, Thượng Tọa,
Ni trưởng, Ni sư của GHPGVN, nghĩa là tấn phong các vị chức sắc
Trang 18- Điều kiện để được tấn phong hàng giáo phẩm
Điều 53: Đại hội Đại biểu Phật giáo Việt Nam phê chuẩn danh sách tấnphong hàng Giáo phẩm Hòa thượng đối với Thượng tọa tuổi đời từ 60 tuổi trởlên, tuổi đạo từ 40 hạ lạp trở lên, có đạo hạnh tốt, có công đức với Đạo pháp
và Dân tộc, có đóng góp cho Giáo hội và đăng ký với cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền theo quy định của pháp luật
Điều 54: Đại hội Đại biểu Phật giáo Việt Nam xem xét tấn phong Giáophẩm Thượng tọa đối với Đại đức có tuổi đời từ 45 tuổi trở lên, tuổi đạo từ 25
hạ lạp trở lên, có đạo hạnh tốt, có công đức với Đạo pháp và Dân tộc, có đónggóp cho Giáo hội và đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quyđịnh của pháp luật
Điều 55: Hàng giáo phẩm của Ni giới là Ni trưởng và Ni sư Tiêu chuẩn
và điều kiện tấn phong giáo phẩm cúa Ni giới như quy định của hàng Tănggiới ở điều 53, 54 Hiến chương [25]
Ngoài ra giáo hội còn có trường hợp đặc cách tấn phong Giáo phẩm với những trường hợp đặc biệt.
- Chức sắc trong Hội đồng trị sự
Hội đồng trị sự là cơ quan điều hành, quản lý hành chính cao nhất củaGiáo hội về mọi mặt hoạt động giữa hai nhiệm kỳ Đối với hoạt động củachức sắc/chức việc có chức năng, nhiệm vụ sau:
+ Quyết định bổ nhiệm chủ trì các cơ sở do Giáo hội Phật giáo ViệtNam cấp trung ương và cấp tỉnh thành, quản lý trên cơ sở tham khảo ý kiếnvới hệ phái, sơn môn (nếu có liên hệ) và cơ quan có thẩm quyền
+ Giới thiệu Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử tham gia các cơ quan dân cử, tổchức chính trị - xã hội
+ Phê chuẩn kế hoạch, chương trình hoạt động Phật sự của Ban, ViệnTrung ương, Văn phòng Trung ương Giáo hội, các tổ chức cơ sở và thành
Trang 19viên trực thuộc Trung ương Giáo hội và Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấptỉnh Đề nghị Ban thường trực Hội đồng chứng minh tấn phong trước kỳ hạntrong trường hợp đặc biệt cần thiết đối với nhân sự bổ sung vào các chức vụ
bị khuyết thuộc thẩm quyền suy cử của Hội đồng trị sự Tổng hợp ý kiến củachư Tăng Ni, cư sĩ Phật tử thành viên Giáo hội Phật Giáo Việt Nam để phảnánh đến cơ quan có thẩm quyền về chủ trương, chính sách pháp luật liên quanđến hoạt động tôn giáo
Thành viên Hội đồng Trị sự, gồm Hòa thượng, Thượng tọa, Ni sư; Đạiđức Tăng Ni và Cư sĩ phật tử tiêu biểu có nhiều thành tích đóng góp cho Đạopháp và Dân tộc (điều 20) Thành viên tham gia Hội đồng Trị sự không quá
80 tuổi và không kiêm nhiệm quá 2 chức danh trong Ban Thường trực HĐTS,mỗi chức danh không quá 3 nhiệm kỳ[25]
Như vậy, chỉ có chức sắc mới là thành viên của Hội đồng chứng minh,còn Hội đồng Trị sự có cả 3 thành phần: chức sắc/chức việc, nhà tu hành và
cư sĩ Phật tử
* Khái niệm công tác vận động chức sắc, tín đồ tôn giáo
Trong Từ điển tiếng Việt, “vận động” được định nghĩa là tuyên truyền,giải thích nhằm thuyết phục người khác tự nguyện làm việc gì đó, như vậnđộng nhân dân ủng hộ đồng bào bị thiên tai bão lũ, vận động đồng bào dântộc xóa bỏ phong tục lạc hậu, vận động tranh cử
Có thể hiểu vận động chức sắc, tín đồ tôn giáo nói chung và Phật giáonói riêng là tuyên truyền, giải thích nhằm thuyết phục chức sắc, tín đồ Phậtgiáo thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cácchương trình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương;tham gia tích cực các phong trào thi đua yêu nước, sống “tốt đời, đẹp đạo”;hợp tác và tham gia cùng chính quyền giải quyết các vụ việc phức tạp nảysinh trong thực tiễn quản lý hoạt động tôn giáo
Trang 20* Nhận thức về chủ thể vận động và đối tượng vận động
- Chủ thể vận động – hệ thống chính trị của tỉnh Bắc Ninh
Một là, về tổ chức, bộ máy, bao gồm các cấp ủy đảng, chính quyền,
ban ngành, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội; các thiết chế,trang thiết bị, điều kiện, phương tiện làm việc; quy trình đảm bảo công tácvận động chức sắc tôn giáo
Hai là, về đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên làm công tác vận động
quần chúng, vận động chức sắc tôn giáo nói chung và vận động chức sắc Phậtgiáo được củng cố, kiện toàn đủ về số lượng, chất lượng, ngày càng đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới Việc phân công đảng viêntrực tiếp làm công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo ở cơ sở
có ý nghĩa quan trọng, đã góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụchính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh Đây là những cán bộtrong hệ thống chính trị, am hiểu về tôn giáo và chính sách tôn giáo củaĐảng, Nhà nước, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyênmôn, có phẩm chất đạo đức tốt
Các tổ chức cơ sở Đảng xây dựng kế hoạch phân công đảng viên trựctiếp làm công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo tại nơi cư trú
và triển khai công tác này đến cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhândân thông qua các đợt sinh hoạt chi bộ định kỳ, phổ biến một cách đầy đủ đếnnhân dân
Hàng năm, các cấp ủy thường xuyên kiểm tra, giám sát kết quả thựchiện việc đảng viên trực tiếp làm công tác vận động quần chúng và công tácvận động chức sắc Phật giáo ở cơ sở thông qua việc kiểm tra hoạt động củacác tổ chức cơ sở Đảng về lãnh đạo công tác vận động quần chúng, công táctôn giáo, xây dựng tổ chức đoàn thể vững mạnh, xem đây là một trong các
Trang 21tiêu chí để đánh giá phân tích chất lượng tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền,Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể và đảng viên.
Qua triển khai, quán triệt thực hiện việc phân công đảng viên trực tiếplàm công tác vận động quần chúng ở cơ sở và công tác vận động chức sắc tôngiáo đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trịđối với công tác dân vận và công tác tôn giáo; nâng cao vai trò, trách nhiệmcủa đảng viên trong việc chủ động nắm bắt tình hình quần chúng nhân dân,của chức sắc tôn giáo và quần chúng tín đồ tôn giáo trên các mặt của đờisống, tư tưởng chính trị, thái độ chấp hành pháp luật; đồng thời tuyên truyền,vận động quần chúng tín đồ thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo; tăng cường mối quan hệ mậtthiết giữa chính quyền với tín đồ, chức sắc Phật giáo
- Đối tượng được vận động - chức sắc Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh
Một là, đối tượng trực tiếp, là các vị là chức sắc Phật giáo trên địa bàn
tỉnh, với khoảng gần 500 người
Hai là, đối tượng gián tiếp, đó là quần chúng tín đồ Phật giáo trên địa
bàn tỉnh, với trên 300 ngàn người
Chức sắc là lực lượng quan trọng trong mối quan hệ giữa giáo hội vớinhà nước và là đầu mối trong quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo Đồngthời do vị trí ảnh hưởng của các chức sắc với tín đồ và xã hội nên trong côngtác tôn giáo nói chung, công tác quản lý nhà nước nói riêng, việc tranh thủ cácchức sắc rất quan trọng và cần thiết
Số đông chức sắc các tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng đã vượtqua được sự khác nhau giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội là sự khác nhau giữahữu thần và vô thần, để tìm đến sự tương đồng là tinh thần dân tộc, tinh thầnyêu nước và chủ nghĩa nhân văn Chính lực lượng chức sắc này đã góp phần
Trang 22quan trọng đưa các hoạt động tôn giáo theo đường hướng tiến bộ, gắn bó vớidân tộc.
Như vậy, nếu công tác vận động chức sắc Phật giáo được xem là mộtquá trình tác động thì có kết cấu bao gồm: chủ thể vận động, là tổ chức, cán
bộ, công chức làm công tác tôn giáo của hệ thống chính trị và đối tượngkhách thể vận động là các chức sắc Phật giáo, đồng thời còn có các hình thứccần thiết tạo liên hệ giữa chủ thể và khách thể vận động Tất nhiên như vậykhông có nghĩa là vận động chỉ đi theo một chiều từ chủ thể đến khách thể,
mà thường xuyên đó là mối quan hệ hai chiều tác động lẫn nhau
Trong mối quan hệ giữa chủ thể với khách thể, người làm công tác vậnđộng cần xác định chính xác vai trò của chủ thể vận động và đối tượng vậnđộng Không nên quan niệm chủ thể bao giờ cũng luôn luôn đóng vai trò
quyết định, mà trong nhiều trường hợp, khách thể - đối tượng vận động lại
quyết định chủ thể Thái độ coi thường, áp đặt tư tưởng và hành động của chủ
thể vận động đối với khách thể - đối tượng vận động thường xảy ra do việc
không nhận thức đầy đủ tính khách quan của mối quan hệ này trong công tác,kéo theo là tính hiệu quả, hiệu lực giảm sút hoặc không có, nên không thể đạtđến mục đích đặt ra trong công tác vận động chức sắc Phật giáo
1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác vận động chức sắc Phật giáo
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quần chúng tín đồ tôn giáo làmột bộ phận của khối quần chúng nhân dân C.Mác đã chỉ dạy "Không thể đảkích vào tôn giáo dưới mọi hình thức thù địch cũng như dưới hình thức khinhbạo chung cũng như riêng, nghĩa là nói chung không được đả kích vào tôngiáo"[12, tr23] “Cần phải đấu tranh bằng tuyên truyền, bằng giáo dục”;
“Tránh không xúc phạm đến tình cảm tôn giáo của các tín đồ và tránh làm
Trang 23tăng thêm lòng cuồng tín tôn giáo" Ph.Ăngghen bày tỏ thái độ khách quan,khoa học trong việc tác động vào tôn giáo, đó là phải tôn trọng quá trình tựnhiên, tránh chủ quan, thô bạo
Trong tác phẩm chống Duyrinh , Ăngghen đã phê phán Duyrinh vì đã cóthái độ loại bỏ và truy kích đối với đạo Thiên chúa, đó là thái độ và hànhđộng rất sai lầm, dẫn đến hậu quả là làm bùng lên tinh thần phản kháng kịchliệt của tôn giáo Ăngghen viết “ông ta tung bọn hiến binh tương lai của ông
ta ra truy kích tôn giáo, và do đó, ông ta giúp cho tôn giáo đạt tới chỗ thựchiện tinh thần tử vì đạo và kéo dài thêm sự tồn tại của nó” [13, tr.437]
Vận động tín đồ tôn giáo cần thu hút họ vào các tổ chức chính trị của cáchmạng Coi trọng tầng lớp chức sắc tôn giáo; Lênin đưa quan điểm kết nạpchức sắc tôn giáo vào Đảng, trong tác phẩm Về thái độ của Đảng công nhânđối với tôn giáo, Người viết: “Không nên nhất luận và bất cứ trong trườnghợp nào, cũng tuyên bố rằng các linh mục không thể trở thành đảng viênĐảng dân chủ - xã hội, nhưng lại càng không nên nhất luận tuyên bố ngượclại Nếu có một linh mục nào lại đi với chúng ta để cùng hoạt động chính trị,tận tâm làm tròn nhiệm vụ của mình trong đảng và không chống lại cươnglĩnh của đảng, thì chúng ta có thể kết nạp người ấy vào hàng ngũ đảng dânchủ - xã hội” [43, tr519]
Như vậy, muốn khắc phục được những biểu hiện tiêu cực trong tôn giáotrước hết và chủ yếu phải kiến tạo được một xã hội hiện thực không có ápbức, bất công, nghèo đói và thất học, cùng những tệ nạn nảy sinh Đây là mộtquá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới rất lâu dài, khó khăn và giankhổ, chưa có tiền lệ trong lịch sử; do vậy phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm,làm từng bước và kiên trì, liên tục
Trang 24Tư tưởng Hồ Chí minh về vận động quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo:
Người thực sự tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhândân Xem tự do tín ngưỡng là một quyền cơ bản của công dân Việt Nam, Hồ ChíMinh với vai trò chủ trì xây dựng Hiến pháp 1946, Hiến pháp khẳng định: “Công dân Việt nam có các quyền: Tự do ngôn luận, xuất bản, tổ chức và hộihọp, tín ngưỡng, cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”
Người luôn nhắc nhở: "Chính quyền, quân đội và đoàn thể phải tôn trọng tínngưỡng, phong tục, tập quán của đồng bào" [23,tr.565] "phải chấp hành đúngchính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng đối với tất cả các tôn giáo" [22,tr.148] Từgóc độ của công tác vận động tín đồ tôn giáo thì đây là cái lõi của công tác vậnđộng Theo đó, những cán bộ, đảng viên trực tiếp làm công tác dân vận đối vớiđồng bào có đạo, không thể vì một sự vô tình hay cố ý, để xảy ra những hànhđộng vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân
Hồ Chí Minh đã khai thác giá trị nhân bản, tích cực của tôn giáo Từ đầunhững năm 40 của thế kỷ trước, Hồ Chí Minh đã quan niệm Tôn giáo là Vănhóa “Trong Công giáo có câu “Tam vị nhất thể”, nhà Phật có câu “Vạn chúngnhất tâm” nên chúng ta phải hy sinh cho nhân loại và chúng sinh” [21, tr.116] Nội dung công tác phải thiết thực, không dừng ở tuyên truyền, thuyếtphục, giáo dục, quan trọng hơn, phải xây dựng đời sống vật chất ngày càngphát triển Người không xem nhẹ việc tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục
và từng dặn cán bộ: “Phải biết nhẫn nại Nói với người nghe một lần người
ta không hiểu thì nói đến hai, ba lần Về đức tính này, phải học nhữngngười đi truyền giáo” [22,tr.64] Song Người rất coi trọng việc phát triểnsản xuất kinh tế: “Phải ra sức củng cố hợp tác xã, phát triển sản xuất, tăngthu nhập cho xã viên Đồng thời phải đảm bảo tín ngưỡng tự do Nhưng
Trang 25hoạt động tôn giáo không cản trở sản xuất của nhân dân, không được tráivới pháp luật” [24,tr.606]
Quan điểm của Đảng ta đối với công tác vận động chức sắc, tín đồ tôn giáo:
Ngay từ khi mới thành lập cũng như trong tiến trình cách mạng ViệtNam, Đảng ta luôn xác định vấn đề dân tộc, tôn giáo và đoàn kết các dân tộc,các tôn giáo có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta
Đảng ta khẳng định: “Đảng và Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật của mọi người; thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng bào các tôn giáo là một bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc” [3].
Quan điểm trên của Đảng xuất phát từ mục tiêu quan trọng của cáchmạng nước ta hiện nay là không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kếttoàn dân tộc; mặt khác, quan điểm trên còn xuất phát từ thực tiễn các thế lựcthù địch đã và đang thường xuyên lợi dụng vấn đề tôn giáo, gắn nó với vấn đềdân tộc, nhân quyền, dân chủ để chống phá cách mạng Việt Nam Do đó,quan điểm đoàn kết toàn dân, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng; khôngphân biệt giữa người không theo tôn giáo với những người theo các tôn giáokhác nhau; đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kếttoàn dân tộc phải được coi như là một nguyên tắc trong công tác tôn giáo
Trước tình hình nhiệm vụ mới của đất nước, Bộ Chính Trị của Đảngban hành Nghị quyết số 24 NQ/TW, “Về tăng cường công tác tôn giáo trongtình hình mới” Nghị quyết này đã đưa ra 3 quan điểm chỉ đạo công tác tôngiáo, trong đó, quan điểm thứ 2 xác định:
Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quầnchúng Đồng bào theo đạo hay không theo đạo đều là công dân Việt Nam, có
Trang 26quyền và nghĩa vụ như nhau trước pháp luật Sự lãnh đạo của Đảng và Nhànước nhằm thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, lương cũngnhư giáo Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo đối với đồng bào có đạo làphải chăm lo giải quyết những lợi ích thiết thực, trong đó có quyền tự do tínngưỡng, giúp đồng bào nâng cao trình độ mọi mặt và đóng góp tích cực vào
sự nghiệp cách mạng của dân tộc [7]
Về nhiệm vụ của công tác tôn giáo đảng ta chỉ rõ: Hướng dẫn chức sắccác giáo hội hoạt động tôn giáo theo đúng pháp luật, ủng hộ xu hướng tiến bộtrong các tôn giáo làm cho các Giáo hội ngày càng gắn bó với dân tộc và sựnghiệp cách mạng của toàn dân, thể hiện rõ vai trò và trách nhiệm của Giáohội ở một nước độc lập có chủ quyền [7]
Như vậy, đến Nghị quyết 24, Đảng ta tiếp tục khẳng định rõ lập trườngcoi chức sắc tôn giáo cũng là một công dân có đạo của nước Việt Nam, họ cóquyền và nghĩa vụ như mọi công dân khác, đồng thời thấy rõ vai trò của họvới giáo dân và Giáo hội Theo đó, Đảng ta một lần nữa xác định tầm quantrọng của công tác vận động quần chúng có đạo, bao gồm cả tín đồ, chức sắccác tôn giáo, là vấn đề cốt lõi, quyết định việc thành bại của công tác tôn giáo
Nội dung công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáokhông chỉ là việc tuyên truyền giải thích đường lối chủ trương, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước, mà còn phải bằng cả những hoạt động thựctiễn chăm lo giải quyết những lợi ích thiết thực, trong đó có quyền tự do tínngưỡng của họ Sự quản lý của Nhà nước hoàn toàn không phải là để hạn chếhoạt động của các tôn giáo, mà là làm cho hoạt động tôn giáo được tiến hànhbình thường, có như thế mới chống trả được các hoạt động lợi dụng tôn giáocủa các thế lực thù địch
Mục đích của công tác vận động chức sắc các tôn giáo là hướng dẫn họ
hoạt động tôn giáo chấp hành đúng pháp luật, ủng hộ các xu hướng tiến bộ,
Trang 27đoàn kết, gắn bó họ với dân tộc, với sự nghiệp cách mạng của toàn dân, nângcao lòng tự hào dân tộc trong họ.
Ngày 2 tháng 7 năm 1998, Bộ chính trị tiếp tục ban hành Chỉ thị số CT/TW “Về công tác tôn giáo trong tình hình mới” Tại đây, Đảng ta đã bổsung, làm rõ và hoàn thiện quan điểm về công tác tôn giáo, còn đối với côngtác vận động chức sắc tôn giáo, đã làm sáng tỏ hơn, thể hiện ở nhiệm vụ thứ 2của công tác tôn giáo là:
37-Các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cácđoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội phải tích cực tuyển truyền, phổ biến,giải thích chính tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong nhân dân, nhất là các tín
đồ và các chức sắc tôn giáo Hướng dẫn các tôn giáo hoạt động theo hướng:phát huy những giá trị văn hóa đạo đức lành mạnh, hướng thiện của tôn giáophù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc và đời sống xã hội, thực hiện tôngiáo gắn bó với dân tộc, đoàn kết hòa hợp đồng bào các tôn giáo cùng toàndân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [2]
Tiếp theo, ngày 12/3/2003, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX)
ra Nghị quyết số 25 NQ/TW, về công tác tôn giáo nêu:
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương,chính sách về tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong cán bộ, đảng viên, nhândân, nhất là trong chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo.Giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổquốc, làm cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước và CNXH, hănghái thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [3,tr.5]
Đây là sự tiếp nối và nhất quán nội dung công tác vận động tín đồ,chức sắc tôn giáo với các văn bản trước
Đến Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và XI, Đảng ta nêurõ: “Động viên giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống tốt đời
Trang 28đẹp đạo Đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn tráchnhiệm công dân với Tổ quốc, sống “tốt đời, đẹp đạo” [15,tr.122-123]
Phát huy những giá trị văn hóa đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo, độngviên các tổ chức tôn giáo, chức sắc sống tốt đời đẹp đạo, tham gia đóng góptích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Quan tâm và tạo điều kiệncho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo
đã được nhà nước công nhận, đúng qui định của pháp luật Đồng thời chủ độngphòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôngiáo để mê hoặc, chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc [15,tr.245]
Các cấp chính quyền kịp thời thể chế hoá chủ trương của Đảng thànhchính sách, pháp luật, chương trình, nhiệm vụ cụ thể về công tác tôn giáo.Ngày 18/6/2004, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đã được Ban Thường vụquốc hội ban hành, tạo hành lang pháp lý để ghi nhận, bảo đảm thực hiệnquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Tuy nhiên, qua tổng kết 10năm thực hiện Pháp lệnh và các văn bản quy định chi tiết thi hành vẫn cònnhiều bất cập, chưa cụ thể; một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn chưa đượcđược quy định trong Pháp lệnh Ngày 18/11/2016 Luật Tín ngưỡng, tôn giáođược quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018, đểphù hợp với Hiến pháp năm 2013 đã có những sửa đổi quan điểm về chủ thểcủa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là “công dân” mà là của “mọingười” Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ra đời là một minh chứng, một bước tiến
và một lần nữa tiếp tục khẳng định nguyên tắc nhất quán trong chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng tự do tín ngưỡng,tôn giáo
Quan điểm, đường lối của Đảng về công tác tôn giáo là cơ sở để cáccấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên pháthuy sức mạnh cộng đồng các dân tộc, tôn giáo, truyền thống yêu nước và lòng
Trang 29tự hào dân tộc, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thành công mụctiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước
1.2 Vấn đề thực tiễn của công tác vận động chức sắc ở địa bàn nghiên cứu
1.2.1 Địa kinh tế - chính trị tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội, thuộc vùngđồng bằng Bắc bộ, nằm trong tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - HảiPhòng - Quảng Ninh Phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía tây và tây nam giápthủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía đông giáp tỉnh HảiDương Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, có các đườnggiao thông lớn quan trọng chạy qua, nối liền tỉnh với các trung tâm kinh tế,thương mại và văn hoá của miền bắc như: Quốc lộ 1A nối Hà Nội - Bắc Ninh
- Lạng Sơn, Quốc lộ 18 nối sân bay Quốc tế Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long,Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh - Hải Dương - Hải Phòng; có đường sắt Hà Nội -Lạng Sơn - Trung Quốc chạy qua; Mạng lưới đường thuỷ với các con sông:sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình chảy ra biển Đông Đây là những điềukiện thuận lợi để phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội và giao lưu với bênngoài Bắc Ninh có nhiều thuận lợi cho sự phát triển toàn diện trên các lĩnhvực xã hội và cũng là thành phố vệ tinh của thủ đô Hà Nội, là mạng lưới giacông cho các xí nghiệp của thủ đô trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đạihoá Bắc Ninh còn là cầu nối giữa Hà Nội và các tỉnh trung du, miền núi phíaBắc, trên đường bộ giao lưu chính với Trung Quốc và có vị trí quan trọng đốivới an ninh quốc phòng
Tổng diện tích đất tự nhiên là 822,7 km2 Theo kết quả Tổng điều tradân số và nhà ở năm 2019, tính đến ngày 01/4/2019, trên địa bàn tỉnh có1.368.840 người, tăng 344.368 người so với năm 2009 Trong đó, dân số nam
Trang 30chiếm 49,4%; dân số nữ chiếm 50,6%; dân số khu vực thành thị chiếm 27,5%;khu vực nông thôn chiếm 82,5% Với kết quả này, tỉnh Bắc Ninh là địa phươngđông dân thứ 21 trên toàn quốc và thứ 6 vùng đồng bằng sông Hồng Tỉnh có 8đơn vị hành chính, bao gồm: Thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và 6 huyện:Tiên Du, Yên Phong, Thuận Thành, Quế Võ, Gia Bình và Lương Tài với 126
đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 97 xã, 23 phường và 6 thị trấn [11]
Sau hơn 20 năm tái lập, từ một tỉnh nông nghiệp thuần túy, đến nayBắc Ninh đã cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, với nhiềuchỉ tiêu kinh tế - xã hội đứng trong tốp đầu cả nước Kinh tế trong năm 2018phát triển toàn diện, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP) tăng 10,6% sovới năm 2017, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.136.000 tỷ đồng, hoạt độngngoại thương phát triển mạnh, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu ước 66,12 tỷUSD, trong đó xuất siêu 3,58 tỷ USD, thu ngân sách nhà nước 27.912 tỷđồng Theo thống kê, thu nhập bình quân 1 nhân khẩu/ tháng tính chung chotoàn tỉnh là 4.957.000 đồng Tính đến hết năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo cònkhoảng 1,62%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 66,3%; Số bác sỹ/1 vạndân đạt 10 bác sỹ; Tỷ lệ người tham gia BHYT tính đến tháng 3/2019 chiếm96,5% dân số toàn tỉnh Riêng quý I/2019, toàn tỉnh đã giải quyết việc làmmới cho 6.116 lao động, trong đó xuất khẩu 470 lao động [11]
Bắc Ninh vùng đất địa linh nhân kiệt, nổi tiếng với bề dày lịch sử vănhóa, Bắc Ninh được biết đến là quê hương của những lễ hội truyền thống Nơiđây, mỗi năm có khoảng 500 lễ hội lớn, nhỏ được tổ chức vào tất cả các mùatrong năm… Nét văn hóa đặc sắc nhất của Bắc Ninh không thể không nhắcđến, đó là dân ca Quan họ và những văn hóa gắn liền với loại hình nghệ thuậtnguồn tài sản văn hóa phi vật thể vô giá của nước ta Nét tự hào về một nềnvăn hoá truyền thống không chỉ là những giá trị văn hoá phi vật thể, mà cònlưu giữ được hàng loạt địa danh gắn liền với di tích lịch sử - văn hoá và con
Trang 31người Kinh Bắc Những nơi đó, bên cạnh giá trị văn hoá, khoa học, lịch sửđáng trân trọng, thì còn là các điểm đang ngày càng hấp dẫn du khách trong
và ngoài nước tới tham quan du lịch
Những thành quả đạt được sau hơn 20 năm xây dựng, đổi mới và pháttriển của Bắc Ninh không những là niềm vui, niềm tự hào của mỗi người dântrong tỉnh mà còn là động lực, là tiền đề để toàn Đảng bộ, chính quyền vànhân dân tiếp tục phấn đấu, nỗ lực quyết tâm đưa Bắc Ninh vươn lên tầm caomới, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào những năm tới theo tinhthần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX
1.2.2 Tình hình Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có 2 tôn giáo lớn là Công giáo vàPhật giáo, với 411 chức sắc, 285 chức việc, 632 cơ sở thờ tự và 317.877 tín
đồ, chiếm khoảng trên 20 % dân cư của tỉnh
So với cả nước, các tôn giáo ở Bắc Ninh chiếm tỷ lệ không lớn về sốlượng cả quy mô tín đồ và chức sắc Song từ tầm vai trò địa tôn giáo thì BắcNinh từ hơn một ngàn năm trước đây đã được thừa nhận là cái nôi, trung tâmPhật giáo của Việt Nam Còn với đạo Công giáo, Bắc Ninh cũng là trung tâmđầu não của Giáo phận Bắc Ninh, với Toà Giám mục nằm giữa TP Bắc Ninh,cai quản địa bàn giáo dân ở 10 tỉnh trung du, đồng bằng Bắc bộ
Bi u 1.1: Tôn giáo trên a b n t nh B c Ninh ểu 1.1: Tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh địa bàn tỉnh Bắc Ninh àn tỉnh Bắc Ninh ỉnh Bắc Ninh ắc Ninh
đồ
Số lượng chức sắc
Số lượng chức việc
Nguồn: tác giả tổng hợp
Bắc Ninh là địa bàn đầu tiên - sớm nhất của nước ta mà Phật giáo dunhập vào Phật giáo ra đời vào thế kỷ thứ VI TCN, tại Ấn Độ và đến thế kỷthứ III TCN, dưới thời Asoka (Adục), Phật giáo phát triển rất mạnh, nhiều
Trang 32tăng sĩ đi sang các nước truyền đạo Theo một số nhà khảo cổ học, chính tạithời kỳ này Phật giáo đã có mặt ở vùng Đồ Sơn (Hải Phòng), có điều, ý kiến
này chưa có căn cứ vững chắc Theo một số thư tịch cổ, như: Hậu Hán thư,
Tuỳ thư, Lý hoặc luận, kinh Tứ thập nhị chương,… thì cuối thế kỷ II SCN,
Phật giáo đã du nhập trực tiếp từ Ấn Độ vào nước ta Nơi tiếp nhận Phật giáođầu tiên là vùng Luy Lâu (còn gọi là Liên Lâu hay Doanh Lâu), nay là vùngDâu, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh
Các nhà nghiên cứu cho rằng, sở dĩ Phật giáo được du nhập đầu tiênvào vùng Dâu, Thuận Thành, là do nơi đây có một số điều kiện thuận lợi Đó
là về mặt giao thông, vùng Luy Lâu có con sông Dâu (nay đã chết) là một chilưu của sông Cái (sông Hồng), vừa sâu vừa rộng, đổ nước ra biển Đông Lòngsông không có ghềnh thác, không có bãi cát nổi, nên rất thuận tiện cho việc đilại của thuyền bè Về mặt kinh tế- xã hội, thời kỳ đó Luy Lâu là thủ phủ của
đế chế Hán, nên có mật độ dân cư đông đúc, buôn bán rất nhộn nhịp Mặtkhác, người đứng đầu xứ Giao châu thời ấy là Sỹ Nhiếp, là một trí thức thông
hiểu sâu sắc cả Nho giáo, Lão giáo và rất có cảm tình với đạo Phật Sách Hậu
Hán thư chép rằng: “mỗi khi vương - chỉ Sỹ Nhiếp - ra khỏi thành, có đến
hàng chục người Hồ đi theo” (người Hồ tức là các tăng sĩ Ấn Độ) Về mặt tínngưỡng dân gian, ở vùng Dâu là tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp, vốn coitrọng thờ các nhiên thần, như thần Mây, thần Mưa, thần Sấm, thần Chớp, thầnthổ công, thổ địa Họ cũng thờ ông bà tổ tiên…và có cả tín ngưỡng thờ đá, tínngưỡng phồn thực,… Những tín ngưỡng này rất phù hợp với tín ngưỡng thờcúng của đạo Phật
Với những điều kiện thuận lợi như vậy nên các tăng sĩ Ấn Độ, trênđường đi hoằng dương Phật pháp đã thấy Luy Lâu là nơi đất lành để có thểthực hiện được sứ mệnh truyền giáo của mình
Trang 33* Về chức sắc, tổ chức giáo hội và cơ sở thờ tự của Phật giáo tỉnh Bắc Ninh:
Theo quy định của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2018),Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bắc Ninh do Đại hội Phật giáotỉnh suy cử, được Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo ViệtNam chuẩn y 1
Cơ sở đào tạo của Phật giáo Bắc Ninh, năm 2001, Trường Trung cấpPhật học được thành lập, đào tạo tăng ni của tỉnh đạt trình độ Trung cấp Phậthọc Phần giảng dạy nội điển đều do các vị lãnh đạo trong Tỉnh hội Phật giáođảm nhiệm; phần bổ túc kiến thức văn hóa và phần ngoại điển, nhà trườngnhờ Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện Quế Võ giúp đỡ
Tháng 9/2017, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh Bắc Ninh đã suy cửBan Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bắc Ninh nhiệm kỳ VIII (2017-2022), gồm 45 thành viên, do Thượng tọa Thích Thanh Phụng làm TrưởngBan Trị sự Trong đó: Ban Thường trực Ban Trị sự (17 vị), Ủy viên Ban Trị
sự (37 vị) và 14 Ban – Văn phòng trực thuộc Ban Trị sự, 01 phân Ban Ni giớitỉnh khóa II theo qui định của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm
2017 Cấp huyện có 08 ban Trị sự Phật giáo của 08 huyện, thị xã, thành phốvới tổng số 84 vị tham gia
Hiện nay Tỉnh hội Phật giáo Bắc Ninh có 02 vị được suy cử làm ủyviên Hội đồng Trị sự Trung ương GHPG Việt Nam; 01 vị tham gia Hội Liên
1 Trưởng ban; Phó Trưởng ban Thường trực; Các Phó Trưởng ban; 01 Chánh Thư ký; 02 Phó Thư ký; 01 Ủy viên Thủ quỹ; Các Ủy viên thường trực; Các Ủy viên; Các Trưởng ban đặc trách chuyên ngành, bao gồm: Ban Tăng sự,Ban Giáo dục Phật giáo, Ban Hướng dẫn Phật tử, Ban Hoằng pháp, Ban Nghi lễ, Ban Văn hóa, Ban Kinh tế Tài chính, Ban Từ thiện xã hội, Ban Phật giáo quốc tế, Ban Thông tin Truyền thông,Ban Pháp chế, Ban Kiểm soát.
Trang 34hiệp Thanh niên Việt Nam; 05 vị tham gia đại biểu HĐND cấp huyện; 03 vịtham gia HĐND cấp xã và một số là thành viên Uỷ ban MTTQ cấp huyện, xã.
Có thể nói, Phật giáo ở Bắc Ninh từ xưa đến nay đã phát huy đượctruyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc Chức sắc, nhà tu hành và Phật tửBắc Ninh luôn tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước,
thực hiện phương châm hành đạo “Đạo pháp, dân tộc, chủ nghĩa xã hội”.
Cũng như đa số chức sắc các tôn giáo, chức sắc Phật giáo xuất gia tuhành, hoặc trụ trì, hoặc tu hành ở một cơ sở thờ tự - chùa của Phật giáo Tínhđến năm 2019, tỉnh Bắc Ninh có 594 ngôi chùa và khoảng 700 cơ sở tínngưỡng dân gian khác Trong đó có 53 chùa được công nhận di tích lịch sửcấp Quốc gia, 25 chùa là di tích lịch sử cấp tỉnh Những ngôi chùa ở Bắc Ninh
có đặc điểm là quy mô to lớn, cổ kính và kiến trúc tạo tác rất công phu, tàinghệ, như chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm, chùa Bút Tháp, chùa TiêuSơn, chùa Cổ Pháp, Đây là những công trình kiến trúc, điêu khắc có giá trịlịch sử và giá trị văn hóa vô giá của Bắc Ninh và của dân tộc Việt Nam, xứngdanh là những danh lam cổ tự nổi tiếng, những di sản kiến trúc tiêu biểu củadân tộc, rất cần được bảo quản, trùng tu, tôn tạo
* Tín đồ Phật giáo tại Bắc Ninh
Theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo, tín đồ là người tin, theo một tôn giáo
và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhậ n [46, tr.7] Tín đồ là người theo tôn
giáo, nhưng mỗi tôn giáo có cách gọi khác nhau: Phật giáo gọi là phật tử,Công giáo gọi là giáo dân, Tin lành gọi là tín hữu,… Thống kê năm 2019, ởBắc Ninh có 302.066 tín đồ - những người đã “Quy y Tam Bảo” - Phật tử [9].Tín đồ Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh có những đặc điểm sau:
- Là bộ phận quần chúng có niềm tin tôn giáo sâu sắc Cũng như tín đồ
Phật giáo Việt Nam, tín đồ Phật giáo ở Bắc Ninh cũng là những người có đứctin, họ coi niềm tin tôn giáo như là một định hướng giá trị của cuộc sống và
Trang 35rất thiêng liêng Trong đời sống của tín đồ, niềm tin tôn giáo gắn bó với họmột cách tự nguyện
Đây là một đặc điểm cần hết sức lưu ý trong công tác tuyên truyền, vậnđộng tín đồ, chức sắc tôn giáo nhằm đảm bảo và thực sự tôn trọng đức tin của
bộ phận đồng bào có niềm tin tôn giáo; tránh xúc phạm tới niềm tin tôn giáocủa họ
- Luôn chịu sự chi phối của giáo lý, giáo luật và lễ nghi của tôn giáo.
Ngoài tư cách là công dân, tín đồ tôn giáo còn thuộc về một tổ chức giáo hộinhất định và chịu sự chi phối của giáo lý, giáo luật và lễ nghi của tôn giáo mà
họ tin theo Trong cuộc sống hàng ngày, tín đồ còn phải thực hiện các nghi lễtôn giáo và tham gia các hoạt động đóng góp cho giáo hội, như chăm sóc nơithờ tự, làm việc theo phân công của giáo hội, coi trọng và tích cực tham giacác hoạt động của cộng đồng tôn giáo Bên cạnh đó, tín đồ Phật giáo ở BắcNinh còn tích cực tham gia các hoạt động từ thiện nhân đạo, cứu trợ xã hội phù hợp với các quan niệm răn dạy, hướng thiện của Phật giáo
Như vậy, ngoài “việc đời” tín đồ tôn giáo còn tham gia “việc đạo” Mỗitôn giáo đều có hệ thống giáo lý, giáo luật, nghi lễ và tổ chức riêng, tín đồtheo tổ chức tôn giáo nào đều phải tuân thủ những quy định của tổ chức tôngiáo đó
- Trong lối sống, nếp sống của tín đồ Phật giáo Bắc Ninh có nét riêng,
mang mầu sắc tôn giáo và sinh hoạt tôn giáo được coi như là nét sinh hoạt văn hoá của mỗi tín đồ và cộng đồng Phật giáo Trên thực tế, tín đồ Phật giáo
là công dân của một nước, gắn bó với dân tộc, với cộng đồng xã hội, mangbản sắc văn hoá của quốc gia, dân tộc Đồng thời, tín đồ Phật giáo coi việctham gia sinh hoạt tôn giáo như là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu vắngtrong cuộc sống của họ Do đó, niềm tin tôn giáo và sinh hoạt tín ngưỡng, tôngiáo đã thành lẽ tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày của mỗi tín đồ, mà nếuthiếu vắng sinh hoạt đó người tín đồ sẽ không an tâm, luôn cảm thấy như bịmất mát, không hoàn thành trách nhiệm, bổn phận của tín đồ và như “mắc
Trang 36tội” với đấng thiêng liêng của tôn giáo Như vậy, việc thực hiện các lễ nghitôn giáo và những quy định của tổ chức tôn giáo đối với tín đồ, chức sắc tôngiáo được coi như nếp sinh hoạt văn hoá thường ngày của họ.
Đây là đặc điểm cần quan tâm trong công tác vận động tín đồ, chức sắctôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, nhằm tạo điều kiện cho cáchoạt động tôn giáo của tín đồ, chức sắc theo hiến chương, điều lệ của tổ chứctôn giáo đã được Nhà nước chấp thuận và theo quy định của pháp luật
- Tín đồ Phật giáo ở Bắc Ninh đa số là người lao động, có tinh thần yêu nước, luôn gắn bó với dân tộc Tín đồ Phật giáo ở Bắc Ninh gồm nhiều
thành phần xã hội, nhưng đa số là nhân dân lao động, trong đó chủ yếu lànông dân Đa số tín đồ Phật giáo chưa thực sự thông hiểu về giáo lý tôn giáo
mà họ tin theo Trong khi đó, việc tham gia thực hành các nghi lễ tín ngưỡng,tôn giáo lại khá thường xuyên; đa số tín đồ Phật giáo “sùng đạo”, gắn bó vớigiáo hội và tham gia các sinh hoạt tôn giáo một cách tích cực Đây là vấn đềcần quan tâm để có những giải pháp tuyên truyền, vận động quần chúng tôngiáo hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật
Nhìn chung, tín đồ Phật giáo ở Bắc Ninh là bộ phận quần chúng có tinhthần yêu nước, có ý thức dân tộc, có nhiều đóng góp trong quá trình phát triểncủa lịch sử đất nước, được thể hiện rõ trong sự nghiệp cách mạng do Đảnglãnh đạo
1.2.3 Đặc điểm, vai trò chức sắc Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh
Theo thống kê năm 2019, cả tỉnh có 472 chức sắc và chức việc [10] Cụthể: phẩm hòa thượng: 01 vị, phẩm Thượng tọa: 06 vị, Ni trưởng: 05 vị, Nisư: 29 vị, phầm Đại đức tăng: 110 vị, Tỳ khưu ni: 321 vị Về trình độ Phậthọc, 12 vị có bằng Cao cấp Phật học, 54 vị có trình độ Trung cấp, 50 vị cótrình độ Cơ bản Phật học Trong số này, có 12 vị học ở Trường Cao cấp Phậthọc Quán Sứ, Hà Nội, 21 vị tốt nghiệp trường Phật học TP Hồ Chí Minh,
Trang 37một số học ở trường Trung cấp Phật học Hà Nội, 31 người tốt nghiệp Trườngtrung cấp Phật học Bắc Ninh.
- Đặc điểm của chức sắc Phật giáo tỉnh Bắc Ninh
Cũng như đặc điểm của chức sắc Phật giáo ở Việt Nam, chức sắc Phậtgiáo ở Bắc Ninh cũng có một số đặc điểm chung và riêng như sau:
Thứ nhất, chức sắc Phật giáo ở Bắc Ninh có trình độ văn hóa, học vấn
và trình độ thần học cao so với mặt bằng chung của cả nước Chức sắc Phật
giáo ở Bắc Ninh ngày càng được trẻ hóa và có am hiểu trong các lĩnh vực củađời sống xã hội, có trình độ thần học cao, có năng lực tổ chức hoạt động đạo -đời Trong các mối quan hệ, họ luôn mềm dẻo, linh hoạt Đây chính là vấn đềđòi hỏi chủ thể quản lý xã hội cần phải quan tâm, nhất là vấn đề liên quan đếnxây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo cần phải có chuyênmôn và sự hiểu biết về tôn giáo, Từ đó đòi hỏi cần bố trí người có đủ uy tín,năng lực để làm công tác vận động, tranh thủ chức sắc Phật giáo
Thứ hai, chức sắc Phật giáo Bắc Ninh có ý thức công dân, đa số chấp
hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo Đặc điểm này thể hiện rõ nhất ở
việc, chức sắc Phật giáo Bắc Ninh luôn chấp hành chủ trương của Đảng,chính sách pháp luật nhà nước ở địa phương, nhất là trong hoạt động tôn giáo
Thứ ba, chức sắc Phật giáo ở Bắc Ninh đa dạng về thành phần xuất
thân và nghề nghiệp, có kiến thức trình độ khác nhau; đã và đang được sống đạo, hành đạo theo đúng đường hướng “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” Đa số chức sắc Phật giáo có niềm tin tôn giáo khá sâu sắc, có nhu cầu
hoạt động tôn giáo Tuy nhiên, trước những ảnh hưởng của mặt trái kinh tế thịtrường đã ảnh hưởng không nhỏ đến lối sống, đạo đức của một bộ phận chứcsắc Phật giáo, nảy sinh không ít tiêu cực về an ninh xã hội, ảnh hưởng trựctiếp đến công tác vận động tín đồ Phật giáo trên địa bàn tỉnh
Trang 38- Vai trò của chức sắc Phật giáo tỉnh Bắc Ninh
Với tổ chức tôn giáo, chức sắc Phật giáo là rường cột của giáo hội, là lực
lượng nòng cốt trong việc “hành đạo - quản đạo - truyền đạo” Chức sắc lànhững người hình thành nên hệ thống triết lý tôn giáo, là người truyền bá triết
lý đó và không ngừng làm phong phú hệ giá trị đạo đức, văn hóa tôn giáo
Với tín đồ, chức sắc Phật giáo là người có vị trí đặc biệt được kính trọng,
họ là những người trực tiếp hướng dẫn việc đạo, là những người chăm lo đờisống tinh thần cho tín đồ
Chức sắc Phật giáo không chỉ ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của
đông đảo quần chúng nhân dân, mà còn ảnh hưởng trên nhiều lĩnh vực của đờisống xã hội, nhất là trong việc hướng dẫn, động viên tín đồ thực hiện các chủtrương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương.Chức sắc Phật giáo không chỉ am hiểu về tôn giáo mà còn am hiểu các vấn đề
xã hội, họ là những người kiến thiết, xây dựng tổ chức tôn giáo và hướng tín đồthực hiện đường hướng hành đạo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc; tổ chức vàhướng dẫn tín đồ thực hiện các hoạt động tôn giáo đúng chính sách, pháp luật;giáo dục tín đồ nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, đóng góp tíchcực vào sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc; chủ động đấu tranh với các hoạtđộng lợi dụng tôn giáo chia rẽ đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc, vu cáo ViệtNam vi phạm tôn giáo, nhân quyền của các thế lực cực đoan
Hoạt động của đội ngũ chức sắc Phật giáo trong thời gian qua không chỉđáp ứng nhu cầu tâm linh của một bộ phận người dân, tổ chức các hoạt độngtôn giáo theo quy định của pháp luật, góp phần ổn định xã hội, mà còn tham giavào các hoạt động xã hội, văn hóa, bảo vệ môi trường đóng góp tích cực vàoquá trình xây dựng và phát triển đất nước
Từ nhiều năm nay, cùng với những hoạt động phật sự ích đạo, lợi đời,với vai trò là Trưởng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh, Thượng tọa Thích Thanh
Trang 39Phụng cùng các vị trong Ban Trị sự Phật giáo tỉnh đã chủ động vận động cáctăng ni, tín đồ thực hiện tốt phong trào “Ba an toàn” an toàn trong hoạt độngphật sự, an toàn về con người, về tài sản Trong đó, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh
đã chú trọng vận động, giáo dục tăng ni, tín đồ phật tử gương mẫu chấp hànhtốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, cácquy định của địa phương và quy chế hoạt động tôn giáo, thực hiện chính tín,bài trừ mê tín Hưởng ứng phong trào, các tăng ni và Ban hộ tự các chùa trênđịa bàn tỉnh đã ký cam kết thực hiện quy định bảo vệ tài sản Vào những ngày
lễ hằng tháng, các tăng ni, trụ trì các chùa trong tỉnh thông qua các buổi lễgiảng giải giáo lý của đạo Phật còn lồng ghép giáo dục cho tín đồ phật tử tựgiác chấp hành, làm tốt công tác quản lý, giáo dục con em trong gia đìnhkhông phạm tội và mắc các tệ nạn xã hội; đồng thời vận động các tăng ni,phật tử tích cực tham gia phong trào giữ gìn an ninh trật tự ở địa phương nhưphong trào xây dựng “Thôn, xóm bình yên, gia đình hạnh phúc”, xây dựng
“Xóm, tổ dân phố không có tội phạm, không có ma túy, không có tệ nạn xãhội” Hưởng ứng các phong trào “Tâm sáng hướng thiện”, “Xây dựng chùatinh tiến” và cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ởkhu dân cư”; 100% các chùa đều đăng ký thực hiện và tích cực tham gia xâydựng xóm, làng văn hóa nơi có chùa đứng chân
Bằng những việc làm thiết thực, cụ thể trong xây dựng và thực hiện các
mô hình phong trào giữ gìn an ninh trật tự vùng đồng bào các tôn giáo; cácchức sắc Phật giáo trên địa bàn tỉnh đã thể hiện tinh thần chung sức trongphong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, thực hiện tốt công tác vận độngquần chúng giáo dân sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần giữ vững ổn địnhchính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở
Trang 40TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Bắc Ninh không có nhiều tôn giáo, tín đồ không đông như một số tỉnh,thành phố khác, song tôn giáo và tín đồ các tôn giáo ở đây có những đặc điểmriêng, rất đáng kể, như Phật giáo từng là cái nôi của Phật giáo Việt Nam; đạoCông giáo du nhập vào Bắc Ninh khá sớm và là đầu não của Giáo phận BắcNinh, có các địa bàn phụ thuộc rất rộng lớn
Đặc điểm hình thành và quá trình phát triển Phật giáo tỉnh Bắc Ninhcũng như đặc điểm chức sắc Phật giáo cho thấy bên cạnh tính quy định củathần học, giáo luật Phật giáo, thì bị ảnh hưởng từ những đặc điểm, điều kiện
về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của địa phương và đất nước qua từng thời
kỳ lịch sử Vì vậy, người làm công tác tôn giáo nói chung và công tác vậnđộng chức sắc phải hết sức quan tâm, phải có cách ứng xử phù hợp với từng
vị chức sắc, không nên chung chung, qua loa đại khái Góp phần phát huy sứcmạnh đại đoàn kết dân tộc, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địaphương, “xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa”, vì “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”