1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiến độ CPH DNNN ở Việt Namtừ năm 1992 đến năm 2004

25 191 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiến Độ Cph Dnnn Ở Việt Nam Từ Năm 1992 Đến Năm 2004
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài Luận
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 40,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội trong và ngoài nước tổng số CP của DN 1Với DN mà NN giữ CP chi phối, CP đặc biệt, mỗi pháp nhân được mua không quá10%, mỗi cá nhân được mua không quá

Trang 1

Tiến độ CPH DNNN ở Việt Namtừ năm 1992 đến năm 2004

2.1 Tiến độ CPH DNNN ở Việt Nam từ năm 1992 đến năm 2004

Tiến trình CPH DNNN ở Việt Nam từ năm 1992 đến năm 2004 được chia thành 4 giai đoạn dựa theo các văn bản luật hướng dẫn CPH

- Giai đoạn 1 (6/1992 - 4/1996) : CPH theo Quyết định 143/HĐBT

- Giai đoạn 2 (5/1996 - 6/1998) : CPH theo Nghị định 28/CP

- Giai đoạn 3 (7/1998 - 6/2002) : CPH theo Nghị định 44/CP

- Giai đoạn 4 (7/2002 - 12/2004) : CPH theo Nghị định 64/CP

Kết quả CPH trong từng giai đoạn phụ thuộc rất lớn vào các quy định trong văn bản luật hướng dẫn CPH của giai đoạn đó Vì vậy, trước khi xem xét kết quả CPH của từng giai đoạn, chúng ta hãy điểm lại một số điểm khác biệt quan trọng giữa văn bản luật hướng dẫn CPH.

Bảng 1: Một số điểm khác biệt quan trọng giữa các văn bản luật hướng dẫn CPH

Quyết định 143/HĐBT Nghị định 28/CP Nghị định 44/CP Nghị định 64/CP

2 Không thuộc diện những DN

mà NN cần giữ 100% vốn

3 Có phương án kinh doanh hiệu quả.

Các DN mà NN không cần tiếp tục giữ 100% vốn

Các DN và đơn vị phụ thuộc của DN

mà NN không cần tiếp tục giữ 100% vốn

2 Bán một phần

1 Giữ nguyên vốn

NN, phát hành CP thu hút thêm vốn

2 Bán một phần

1 Giữ nguyên vốn

NN, phát hành CP thu hút thêm vốn

2 Bán một phần

Trang 2

vốn NN

3 Tách một bộ phận của DN đủ điều kiện để CPH

CP thu hút thêm vốn

xã hội được pháp luật công nhận, công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên.

* Việc thí điểm bán CP cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài được thực hiện theo quy định riêng của Thủ tướng Chính Phủ.

Các tổ chức kinh

tế, xã hội Việt Nam, công dân Việt Nam, người Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài

ở Việt Nam

* Việc bán CP cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài được thực hiện theo quy định riêng của Thủ tướng Chính Phủ.

Các cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội trong và ngoài nước

tổng số CP của DN

(1)Với DN mà NN giữ CP chi phối, CP đặc biệt, mỗi pháp nhân được mua không quá10%, mỗi cá nhân được mua không quá 5% tổng số CP của DN; (2)Với DN mà

NN không nắm CP chi phối, CP đặc biệt, mỗi pháp nhân được mua không quá 20%, mỗi cá nhân được mua không quá 10% tổng số CP của DN; (3)Với DN

mà NN không tham gia CP,

NN không hạn chế

số lượng CP mỗi pháp nhân, cá nhân được mua

Các nhà đầu tư được mua CP lần đầu với số lượng không hạn chế nhưng phải đảm bảo CP chi phối của NN tại các DN

NN giữ CP chi phối

* trong một số ngành nghề (do Thủ tường Chính Phủ quy định), các nhà đầu tư nước ngoài được mua

số lượng CP có tổng giá trị không quá 30% vốn điều

lệ của các DN

Trang 3

Và sau đây là kết quả CPH trong từng giai đoạn

2.1.1 Giai đoạn 1 (từ 6/1992 đến 4/1996)

Tháng 6/1992, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính Phủ) đã ban hành Quyết định số 143/HĐBT về thí điểm chuyển một số DNNN thành CTCP Theo Quyết định này, có 7 doanh nghiệp được chọn để thí điểm CPH là : Nhà máy xà phòng Việt Nam (thuộc Bộ công nghiệp); Nhà máy diêm Thống Nhất (thuộc Bộ công nghiệp); Xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc Hà Nội (thuộc Bộ công nghiệp); Xí nghiệp chế biến gỗ Long Bình (thuộc Bộ nông nghiệp); Công ty vật tư tổng hợp Hải Hưng (thuộc Bộ thương mại); Xí nghiệp sản xuất bao bì Hà Nội (thuộc thành phố Hà Nội); Xí nghiệp dệt may Legamex (thuộc thành phố Hồ Chí Minh) Ngoài ra, hơn 30 DNNN khác cũng đã đăng ký với Bộ tài chính để thí điểm CPH 190 doanh nghiệp trong số này đã được phê duyệt thí điểm CPH dưới sự chỉ đạo của các bộ Nhưng sau đó, 7 doanh nghiệp

đã được chọn để thí điểm CPH dưới sự chỉ đạo của Hội đồng bộ trưởng đều xin rút khỏi danh sách CPH Các doanh nghiệp dự kiến thực hiện CPH dưới chỉ đạo của các bộ cũng xin rút khỏi danh sách CPH hoặc phải ngừng triển khai CPH do thiếu một số điều kiện Ví dụ, Công ty giày dép và hàng may mặc Legamex tiến hành CPH từ tháng 7/1994, đã phát hành 100.000 cổ phần đợt 1, mỗi cổ phần

có mệnh giá 100.000 đồng, nhưng sau đó UBND thành phố Hồ Chí Minh đã cho ngừng triển khai CPH ở công ty do công ty thiếu một số điều kiện luật định Sau sự việc này, Chính Phủ rút kinh nghiệm, chọn những doanh nghiệp tự

nguyện và đủ điều kiện để CPH Kết quả đã có 5 DNNN được chuyển thành

CTCP, trong đó có 2 doanh nghiệp thuộc bộ, 2 doanh nghiệp thuộc địa phương

và 1 doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Các doanh nghiệp này có quy mô vừa và nhỏ (vốn dưới 10 tỷ đồng); kinh doanh hiệu quả; không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn; tập thể cán bộ công nhân viên nhất trí với việc thí điểm CPH Những thông tin cụ thể về 5 doanh nghiệp được trình bày trong bảng 2 dưới đây

Trang 4

Bảng 2: 5 DNNN được CPH đầu tiên

STT Tên doanh nghiệp

Cơ quan chủ quản trước đây

Ngày chuyển sang CTCP

Vốn điều

lệ (tr.đồng)

Tỷ lệ vốn NN (%)

1 Công ty đại lý liên

hiệp vận chuyển Bộ GTVT 1/7/1993 6.200 18

2 Công ty cơ điện lạnh

Sở công nghiệp tp Hồ Chí Minh

1/10/1994 1.600 30

3 Nhà máy giày Hiệp

An

Bộ công nghiệp nhẹ

để CPH như : Xí nghiệp đóng mới sửa chữa tàu thuyền Bình Định (thuộc tỉnh Bình Định); Công ty ong mật (thuộc Sở nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh);

Xí nghiệp sản xuất đồ may mặc (thuộc Sở thương nghiệp thành phố Hồ Chí Minh) Tính đến đầu năm 1996, cả nước mới chỉ có 2/6 tỉnh, thành phố, 3/7 bộ

có DNNN được CPH Đó là tỉnh Long An, thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công nghiệp, và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Trong 5 năm chỉ có 5 DNNN được CPH Như vậy, trung bình mỗi năm chỉ 1 doanh nghiệp được CPH Tốc độ CPH như vậy là quá chậm so với yêu cầu đổi mới DNNN Lý do : đây là giai đoạn đầu tiên của tiến trình CPH, Đảng và Nhà nước hết sức thận trọng, chỉ chủ trương thí điểm CPH một số ít DNNN Nghị quyết Hội nghị TW Đảng lần thứ 2 khoá VII (11/1991) có nêu “ chuyển một số doanh

Trang 5

nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần, phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng phạm vi thực hiện ” Do

đó, trong các văn bản luật về CPH, đối tượng CPH rất hẹp, hình thức CPH không đa dạng, tỷ lệ nắm giữ cổ phần tối đa của một cổ đông quá thấp (2%), thiếu điều khoản về ưu đãi cho DN CPH và người lao động…

2.1.2 Giai đoạn 2 (từ 5/1996 đến 6/1998)

Trong giai đoạn này, số DNNN được CPH là 118 doanh nghiệp Trung

bình 1 năm có 59 DNNN được CPH Như vậy, tiến độ CPH trong giai đoạn này nhanh hơn nhiều so với giai đoạn trước Lý do chủ đạo là : Đảng và Nhà nước

đã bắt đầu mở rộng diện CPH sau khi đã đúc rút được một số kinh nghiệm từ giai đoạn trước Do đó, Chính Phủ đã ban hành Nghị định 28/CP với những điều khoản bổ sung về ưu đãi dành cho DN CPH và người lao động, mở rộng diện CPH, tăng tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của cổ đông ngoài doanh nghiệp, đa dạng hoá hình thức CPH Tuy nhiên, tiến độ CPH như trên vẫn rất chậm so với yêu cầu của Đảng và Nhà nước CPH vẫn là một vấn đề mới mẻ với các DNNN,

cơ quan quản lý Nhà nước và người dân.

2.1.3 Giai đoạn 3 (từ 7/1998 đến 6/2002)

Trong giai đoạn này, Việt Nam đã bắt đầu gia nhập vào các tổ chức kinh

tế lớn trong khu vực và thế giới Năm 1998, Việt Nam trở thành thành viên của

tổ chức Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Đây là một tổ chức rất lớn, bao gồm 21 nước thành viên, chiếm 25% diện tích và 40% dân số của thế giới Do vậy, các DNNN Việt Nam sẽ có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhưng cũng phải chịu áp lực cạnh tranh rất lớn Vấn đề CPH DNNN càng trở nên cấp bách do tính cạnh tranh của các DNNN ở Việt Nam còn yếu Do vậy, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII (tháng 12/1997) đã nêu rõ “ Phân định loại doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp kinh doanh, xác định loại doanh nghiệp Nhà nước cần giữ 100% vốn, loại doanh nghiệp Nhà nước cần nắm tỷ lệ cổ phần chi phối, loại doanh

Trang 6

nghiệp Nhà nước chỉ cần giữ tỷ lệ cổ phần ở mức thấp ” và “ Đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn, cần lập kế hoạch cổ phần hoá

để tạo động lực phát triển, thúc đẩy làm ăn có hiệu quả ” Sau đó, Chính Phủ đã ban hành Nghị định 44/CP với nhiều điểm mới giúp tiến độ CPH được đẩy nhanh, tiêu biểu là sự thay đổi trong quy định về diện CPH Lần đầu tiên Nhà nước quy định tất cả các DNNN không thuộc diện Nhà nước phải nắm giữ 100% được phép tiến hành CPH, do đó diện CPH được mở rộng hơn trước rất nhiều; hình thức CPH được quy định đa dạng hơn; ưu đãi dành cho DN CPH và người lao động nhiều hơn, đặc biệt Nghị định đã chú ý tới người lao động nghèo trong DNNN dựa trên tinh thần của Thông báo số 63/TB-TW ngày 4/9/1997 của Bộ chính trị Cơ chế chính sách về cơ bản là thuận lợi cho việc CPH DNNN và việc CPH DNNN cũng đã trở nên quen thuộc với các DNNN, cơ quản lý nhà nước và người dân Kết quả, số DNNN được chuyển thành CTCP

trong giai đoạn này là là 834 doanh nghiệp, trung bình mỗi năm CPH 280

doanh nghiệp Như vậy tiến độ CPH đã nhanh hơn nhiều lần so với giai đoạn trước Nhiều Bộ, ngành, địa phương, Tổng công ty đã tích cực thực hiện CPH, điển hình là Hà Nội; thành phố Hồ Chí Minh; Nam Định; Thanh Hoá; Bộ Xây dựng; Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn; các Tổng công ty : Hàng hải; Cà phê; Than; Xi-măng; Dệt may

Tuy nhiên vẫn chưa năm nào việc CPH DNNN đạt chỉ tiêu kế hoạch Từ năm 1999, Chính Phủ đã giao chỉ tiêu CPH cho từng bộ, ngành, địa phương, tổng công ty Năm 1999, kế hoạch CPH trong cả nước là 505 doanh nghiệp,

nhưng thực tế chỉ có 247 doanh nghiệp được CPH, đạt 49% kế hoạch Năm

2000, kế hoạch CPH trong cả nước là 508 doanh nghiệp, nhưng thực tế chỉ có

218 doanh nghiệp được CPH, đạt 38,6% kế hoạch Những bộ, ngành, địa

phương, tổng công ty có tốc độ CPH chậm là : Bộ Công nghiệp; Bộ Thuỷ sản; tỉnh Cần Thơ; Khánh Hoà; Quảng Ninh; Vĩnh Phúc; Tổng công ty Hoá chất; Tổng công ty Thép Những Tổng công ty 90 không CPH được DNNN nào là :

Trang 7

TCT Dầu khí, TCT Hàng không, TCT Thuốc lá, TCT Giấy, TCT Công nghiệp tàu thuỷ, TCT Cao su, TCT Lương thực miền Nam Đến hết năm 2001, vẫn còn 6/13 Bộ; 21/26 tỉnh chưa có DNNN nào được CPH Nguyên nhân lớn nhất dẫn tới tình trạng trên là sự níu kéo của các giám đốc DNNN và cơ quan chủ quản của doanh nghiệp.

2.1.4 Giai đoạn 4 (từ 7/2002 đến 12/2004)

Trong giai đoạn này, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới Ngày 13/7/2000, Việt Nam ký Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ Đây là một hiệp định thương mại có tính toàn diện, theo đó Việt Nam

sẽ hợp tác với Mỹ trong các lĩnh vực : thương mại hàng hoá (trade in goods); thương mại dịch vụ (trade in service); quyền sở hữu trí tuệ (intellectual property rights); phát triển quan hệ đầu tư (development of investment relation); tạo thuận lợi cho kinh doanh doanh (bussiness facilitation) Việt Nam cam kết sẽ mở cửa hầu hết các lĩnh vực cho các nhà đầu tư và xuất nhập khẩu của Mỹ theo một lộ trình từ 3 đến 5 năm Việt Nam cũng đã tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), khởi đầu là Thoả thuận ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) Theo đó, từ năm 2003, Việt Nam phải giảm thuế nhập khẩu hầu hết các nhóm hàng từ 20-40% xuống còn 10-15% Đến năm 2006, Việt Nam phải giảm thuế hàng nhập khẩu xuống còn 0-5% Việt Nam cũng đàm phán để gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), tiền thân là GATT, một tổ chức có liên quan chát chẽ tới Liên hợp quốc, được thành lập từ tháng 1/1948 với mục đích là giảm bớt hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hoạt động thương mại quốc tế WTO là một hiệp ước thương mại đa phương với những nguyên tắc cơ bản : (1) Các nước thành viên giành cho nhau quy chế tối huệ quốc (Most Favored Nation _ MFN); (2) Các nước thành viên không được bảo hộ nền công nghiệp trong nước bằng các biện pháp như trợ cấp xuất khẩu; đặt hạn ngạch nhập khẩu và các biện pháp khác Tham gia vào WTO, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh ở cả thị trường trong nước và nước

Trang 8

ngoài Trung Quốc đã trở thành thành viên của WTO Những hàng hoá xuất khẩu vốn là thế mạnh của Việt Nam như hàng may mặc, giày da, nông sản … cũng là những hàng hoá có tính cạnh tranh cao của Trung Quốc Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các DNNN phải được nâng cao hiệu quả hoạt động để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Do đó, Đảng

đã chủ trương phải đẩy mạnh tiến trình CPH DNNN Nghị quyết Hội nghị TW

ba, khoá IX (năm 2001) coi việc đẩy mạnh CPH những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần thiết giữ 100% vốn là khâu quan trọng để tạo bước chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả của DNNN Nghị quyết Hội nghị TW chín, khoá IX đã khẳng định “tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp Nhà nước, trọng tâm là cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ” Do đó, Chính Phủ đã ban hành Nghị định 64/CP với nhiều điều khoản hợp lý hơn, có tác dụng thúc đẩy CPH Kết quả số DNNN được CPH

trong gia đoạn này là 1.285 doanh nghiệp, trung bình mỗi năm có 643 DNNN

được CPH Tiến độ CPH tiếp tục được đẩy nhanh hơn trước Một số bộ CPH nhanh là : Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải

Tuy nhiên, vẫn chưa có năm nào việc CPH đạt chỉ tiêu kế hoạch Năm

2003, kế hoạch của Chính Phủ là CPH 1.600 DNNN, kết quả chỉ có 554 doanh

nghiệp được CPH, đạt 60% kế hoạch Năm 2004 việc CPH diễn ra nhanh nhất nhưng cũng chỉ đạt 68% chỉ tiêu kế hoạch Một số tỉnh, tổng công ty CPH

chậm như : Kiên Giang, Lai Châu, Tổng công ty Dầu khí, Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Về thời gian trung bình để CPH 1 DNNN, theo ông Hồ Xuân Hùng, phó trưởng Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp trung ương,

trong 3 năm 2002 đến 2004, thời gian bình quân để CPH một DNNN là 15

tháng (tính từ thời điểm thành lập ban đổi mới tại doanh nghiệp cho đến khi

DN CPH có đăng ký kinh doanh), trong đó 30% - 50% thời gian được giành cho việc định giá Công ty Ernst & Young cũng đã tiến hành khảo sát 492 DNNN

Trang 9

được CPH trong năm 2003 và 6 tháng đầu năm 2004 (chiếm 87% tổng số DNNN đã hoàn thành CPH trong giai đoạn này), kết quả như sau : để hoàn

thành CPH một DNNN cần 411 ngày, trong đó, thời gian từ khi thành lập ban

đổi mới doanh nghiệp đến khi bắt đầu định giá là 137 ngày, thời gian bắt đầu định giá đến khi phê duyệt giá trị doanh nghiệp là 122 ngày, thời gian để hoàn thành các công việc phê duyệt giá trị doanh nghiệp, phê duyệt phương án, bán

cổ phiếu, họp Đại hội đồng cổ đông, đăng ký kinh doanh là 150 ngày Như vậy, thời gian trung bình để CPH 1 DNNN ở Việt Nam quá dài so với yêu cầu về tiến

độ CPH và so với tốc độ CPH ở các nước khác Từ 8/2004 đến hết năm 2006, chúng ta phải CPH hơn 1.400 DNNN Nhưng với tốc độ này thì nhiệm vụ rất khó hoàn thành

Tổng kết việc thực hiện CPH DNNN từ năm 1992 đến năm 2004

Số DNNN được CPH từ năm 1992 đến năm 2004 và cơ cấu các DN CPH tính đến ngày 31/12/2004 được thể hiện trong bảng 3 và bảng 4 dưới đây

Trang 10

4 Các DNNN thuộc Tổng công ty 91 6%.

(Nguồn : Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp TW)

Hiệu quả của các DNNN sau khi được CPH tăng nhanh rõ rệt Theo số liệu điều tra của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW, trong 435 DN CPH, 92,72% hoạt động hiệu quả hơn, 4,85% hoạt động không thay đổi và 2,43% doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả hơn so với trước khi được CPH Tuy nhiên hầu hết các doanh nghiệp được CPH đều có quy mô vừa và nhỏ, công nghệ lạc hậu, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn Chỉ có 10% số DN CPH

có vốn hơn 10 tỷ đồng Rất ít doanh nghiệp có vốn lớn, sản xuất kinh doanh có hiệu quả như Vina Milk với 1.500 tỷ đồng vốn Nhà nước, Mía đường Lam Sơn

92 tỷ đồng, Đường La Ngà 82 tỷ đồng Số cổ phần được bán cho cổ đông ngoài doanh nghiệp còn thấp (được thể hiện qua bảng 5) Do đó, tính đến ngày 31/12/2004, số vốn Nhà nước được CPH mới chỉ chiếm 8% tổng số vốn nhà nước tại các doanh nghiệp

Bảng 5 Cơ cấu sở hữu ở các DN CPH tính đến 12/2004

Cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp 39,3%

Cổ đông ngoài doanh nghiệp 15,1%

(Nguồn : Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp TW) Tiến độ CPH DNNN ở một số Bộ, ngành, địa phương cụ thể :

Ở Hà Nội, từ năm 1998 đến năm 2004, mới chỉ có 14 DNNN của thành

phố được CPH Như vậy trung bình hàng năm, Hà Nội chỉ CPH được từ 2 cho đến 3 doanh nghiệp Với tốc độ này, phải mất 10 năm Hà Nội mới hoàn thành

kế hoạch CPH trên 30 doanh nghiệp tính đến năm 2005

Thành phố Hồ Chí Minh CPH được 180 DNNN kể từ khi chương trình

CPH DNNN được triển khai Bốn DN CPH có vốn điều lệ hơn 100 tỷ đồng là : khách sạn Bông Sen, khách sạn Quê Hương, công ty Savico, công ty vận tải biển Sài Gòn Riêng năm 2004, thành phố CPH được 45 DNNN Theo Ban chỉ đạo đổi

Trang 11

mới và phát triển doanh nghiệp thành phố, gần 2/3 số DN CPH nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh Đó là những doanh nghiệp vốn có lợi thế độc quyền, có thị trường tiêu thụ ổn định, tình hình tài chính đã được lành mạnh hoá trước khi CPH như REE, GEMADEBT, VIFOCO, TRIBECO, SAVIMEX, Bông Bạch Tuyết, May Sài Gòn 3, Công ty giao nhận kho vận ngoại thương Với CTCP

Cơ điện lạnh (REE), một trong những DNNN được CPH đầu tiên, hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao thấy rõ REE có vốn ban đầu là 16 tỷ đồng, sau

10 năm kể từ khi được CPH, vốn tăng 15 lần, doanh thu tăng 10 lần, lợi nhuận tăng 7 lần, các khoản nộp ngân sách tăng 4 lần, số lao động tăng từ 334 lên

788, sản phẩm của công ty ngày càng đa dạng CTCP Đại lý liên hiệp vận chuyển (MEGADEBT) sau 10 được CPH (1992-2002), vốn điều lệ tăng 30 lần, tỷ suất lợi nhuận sau trên vốn chủ ở mức 25%- 30%/năm, công ty đảm bảo việc làm ổn định cho 500 lao động (làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quy Nhơn, và các cảng biển trong cả nước) với mức thu nhập

5 triệu đồng/tháng CTCP Việt Phong sau 7 năm được CPH, vốn điều lệ tăng từ 7,9 tỷ đồng lên 25 tỷ đồng Sau khi được CPH, các doanh nghiệp có mức doanh thu tăng bình quân 27,6%/năm, lợi nhuận trước thuế tăng 119%/năm, cổ tức đạt mức 15%-17%/năm

Thực hiện Chỉ thị số 20/1998/Ct-TTg ngày 21/4/1998 của Thủ tướng

Chính Phủ về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới DNNN, thành phố Hải Phòng đã

xây dựng Đề án tổng thể sắp xếp và đổi mới 153 DNNN thuộc UBND thành phố giai đoạn 1998-2000 và 2001-2005 Trong thời gian qua, 39 DNNN của thành phố đã được CPH và hoạt động dưới hình thức CTCP từ 1 đến 5 năm, 27 doanh nghiệp đang hoàn thành thủ tục CPH Tổng vốn điều lệ của các DN CPH là 200

tỷ đồng , phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp trước khi chuyển đổi là 145

tỷ đồng, như vậy tổng số vốn được huy động thêm là 50 tỷ đồng Một số DN CPH đã tiếp tục phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ như CTCP Giấy Hải Phòng, CTCP Sơn, hoá chất Minh Đức, CTCP Chế biến thuỷ sản Cát Hải DN CPH

Trang 12

thành công điển hình là CTCP Giấy Hải Phòng được CPH vào năm 1999, năm

2001 là doanh nghiệp đầu tiên của miền bắc được cấp giấy phép niêm yết trên

Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh, hiện có mức cổ tức tới 30%/năm Tuy nhiên, thành phố cũng có một số doanh nghiệp thuộc diện CPH hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài như Công ty thảm Hàm Kênh, Công ty thương mại Ngô Quyền chưa thể được CPH nhanh được, đến 31/12/2004, vẫn còn 87 doanh nghiệp cần được CPH trong khi thời gian phải hoàn thành công việc chỉ còn 1 năm nữa.

Theo Đề án CPH được Chính Phủ phê duyệt năm 2001, tỉnh Đà Nẵng

phải CPH 18 trong tổng số 55 DNNN thuộc tỉnh tính đến năm 2005 Sau 3 năm (9/2001 - 9/2004), Đà Nẵng mới CPH được 10 doanh nghiệp, đạt 55,55 % chỉ tiêu kế hoạch.

Bà Rịa - Vũng Tàu là một trong số các tỉnh thực hiện CPH chậm nhất

Năm 2004, chỉ có 16 DNNN của tỉnh được CPH Theo báo cáo của Chi cục Tài chính doanh nghiệp của tỉnh, chỉ có 5/11 doanh nghiệp đang thực hiện CPH có lợi nhuận, tình hình tài chính “lành mạnh”, có thể tiến hành CPH đúng tiến độ Các doanh nghiệp còn lại gặp khó khăn trong vẫn đề xử lý tài chính nên không thể CPH đúng tiến độ Đó là các công ty : Thương mại - dịch vụ, Dịch vụ du lịch quốc tế, Chế biến xuất khẩu thuỷ sản Vũng Tàu, Dịch vụ hậu cần thuỷ sản, Xây dựng và phát triển đô thị, Tramasuco Công ty Dịch vụ hậu cần thuỷ sản có nhiều khoản nợ phải thu khó đòi được chuyển giao từ đơn vị tiền thân Công ty không đầy đủ hồ sơ về các khoản nợ này, do đó việc xử lý nợ gặp nhiều khó khăn Ngoài ra, công ty phải chuyển giao cho các đơn vị khác một số tài sản có giá trị lớn nhưng không được sử dụng hiệu quả như cảng Lộc An, tàu dịch vụ hậu cần thuỷ sản, sau đó công ty mới có thể tiến hành định giá được Công ty Thương mại - dịch vụ được Nhà nước giao cho số vốn là 9 tỷ đồng 569 triệu đồng.Vốn công ty đã thực mất là 4 tỷ 167 triệu đồng, chiếm 43% vốn Nhà nước giao Tuy nhiên, theo báo cáo của Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp tỉnh,

Ngày đăng: 17/10/2013, 20:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Một số điểm khác biệt quan trọng giữa các văn bản luật hướng dẫn CPH - Tiến độ CPH DNNN ở Việt Namtừ năm 1992 đến năm 2004
Bảng 1 Một số điểm khác biệt quan trọng giữa các văn bản luật hướng dẫn CPH (Trang 1)
Bảng 2: 5 DNNN được CPH đầu tiên - Tiến độ CPH DNNN ở Việt Namtừ năm 1992 đến năm 2004
Bảng 2 5 DNNN được CPH đầu tiên (Trang 4)
Bảng 3 Kết quả CPH DNNN 1992 - 2004 - Tiến độ CPH DNNN ở Việt Namtừ năm 1992 đến năm 2004
Bảng 3 Kết quả CPH DNNN 1992 - 2004 (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w