1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam

163 779 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hội Thảo Cây Phân Xanh Phủ Đất Trên Đất Các Nông Hộ Vùng Đồi Núi Phía Bắc Việt Nam
Tác giả Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm
Người hướng dẫn Nguyễn Ngọc Trìu
Trường học Viện Thổ Nhưỡng Nông Hóa
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Kỷ yếu
Năm xuất bản 1997
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 674,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời kết ...32 Vai trò của cây keo dậu trong hệ thống cây trồng nông lâm nghiệp trên đất dốc ở việt nam...35 Nguyễn Hữu Nghĩa, Bùi Huy Hiền - Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam I

Trang 1

Kỷ yếu hội thảo

"cây phân xanh phủ đất trên

đất các nông hộ vùng đồi núi

phía bắc việt nam"

Trang 2

NATIONAL INSTITUTE FOR SOILS AND FERTILIZERS

VIETNAM AGRICULTURAL SCIENCE INSTITUTE

WORLD NEIGHBORS

OXFAM BELGIQUE

CARE INTERNATIONAL

Financial support: CANADA FUNDS - BREAD FOR THE WORLD

AGRICULTURE PUBLlSHING HOUSE

HA NOI - 1999

Trang 3

Mục lục

Lời giới thiệu 10

Lời khai mạc của chủ tịch T.− hội vacvina, Nguyễn Ngọc Trìu 11

Opening address of president of vacvina, Mr Nguyễn ngọc Trìu 12

Bài phát biểu của tổ chức bánh mì cho thế giới 14

Welcome address of Bread for the World 15

Cây phân xanh phủ đất với chiến l−ợc sử dụng hiệu quả đất dốc Việt Nam 16

Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm - Viện Thổ nh−ỡng Nông hoá I Cây bộ đậu và nền nông nghiệp sinh thái bền vững 16

II Nghiên cứu sử dụng cây phân xanh ở Việt Nam 17

III Chọn cây xanh phủ đất thích hợp 18

1 Tính kiêm dụng (đa mục đích) của cây phân xanh: 18

2 Một số nguyên tắc tuyển chọn 19

3 Cây phân xanh trong hộ gia đình 19

4 Những cây phân xanh phủ đất thông dụng .19

5 Chọn các tổ hợp cây phân xanh hài hoà 20

IV Những hạn chế phải khắc phục để phát triển cây phân xanh phủ đất 21

V Kết luận 21

Cây phân xanh trong tuần hoàn chất hữu cơ và độ phì nhiêu đất dốc 23

Nguyễn Tử Siêm I Mở đầu 23

II Hiện trạng chất hữu cơ trong đất nhiệt đới ẩm Việt Nam 23

III Vai trò chất hữu cơ đối với độ phì nhiêu đất dốc 24

Trang 4

IV Cải thiện độ phì nhiêu đất bằng phân xanh 27

1 Trồng phân xanh kiểm soát xói mòn và rửa trôi 27

2 Cải thiện tính chất vật lý đất 28

3 Cải thiện chế độ nước và tiết kiệm nước tưới 28

4 Cải thiện tình trạng chất hữu cơ đất 28

5 Tăng nguồn dinh dưỡng và cải thiện hiệu lực phân bón 29

6 Cải thiện môi trường đất vùng rễ 30

V Những cây phân xanh thích hợp 30

VI Lời kết 32

Vai trò của cây keo dậu trong hệ thống cây trồng nông lâm nghiệp trên đất dốc ở việt nam 35

Nguyễn Hữu Nghĩa, Bùi Huy Hiền - Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam I Đặt vấn đề 35

II Xây dựng, phát triển các hệ thống nông lâm nghiệp bền vững vùng trung du-miền núi 35 III Việc sử dụng cây keo dậu trong các hệ thống nông nghiệp bền vững vùng trung du miền núi ở nước ta trong thời gian qua 36

IV Vai trò cây keo dậu ở các hệ canh tác nông lâm kết hợp thời gian tới 37

V Kết luận 38

Cây phân xanh ở đất Phủ Quỳ - Nghệ An 41

Lê Đình Định - Trung tâm NCCAQ Phủ Quỳ I Đặt vấn đề 41

II Phân bón và những giải pháp cho đất đồi trồng cây lâu năm ở Phủ Quỳ 42

III Vai trò của cây phân xanh đối với đất đồi Phủ Quỳ 43

1- Là một khối lượng chất xanh giàu đạm: 43

2- Sự phát triển bộ rễ của cây phân xanh và việc cải tạo tính chất lý hoá học của đất đồi .43

3- Cây phân xanh và phủ đất với việc hạn chế xói mòn, rửa trôi trên đất đồi dốc ở Phủ Quỳ 44

4- Thảm che phủ với chế độ nhiệt độ và lượng bốc hơi của đất đồi 44

Trang 5

5- Giữ ẩm cho đất trong các vườn cây trồng chính 44

6- Cây phân xanh phủ đất với việc phục hồi độ phì của các loại đất dồi ở Phủ Quỳ 45

IV Sự cạnh tranh nước và dinh dưỡng của một số cây phân xanh phủ đất 45

V Vấn đề sử dụng cây phân xanh cho đất đồi 45

1- Sử dụng các cây phân xanh cày vùi, p.hục hồi độ phì đất ở các vườn cây lâu năm tàn lụi hoặc kém, bỏ hoang hoá 46

2- Làm nguồn phân chính tại chỗ trên đất có độ dốc cao 46

3- Làm nguyên liệu phủ gốc cho cây lâu năm 46

4- Trồng xen lấy chất xanh dể bón ép xanh cho cây lâu năm 46

5- Trồng xen các cây phân xanh làm cây che bóng tạm thời cho cây cà phê chè đến hai năm đầu sau khi trồng mới 46

VI Những cây phân xanh và phủ đất tốt cho vùng Phủ Quỳ - Nghệ An 47

1- Nhóm cây họ đậu thân đứng 47

2 Cây họ đậu thân bò làm cây che phủ đất 47

3- Một số cây phân xanh không thuộc họ đậu 48

Hiệu quả của cây phân xanh phủ đất trong sản xuất nông nghiệp ở Tây Nguyên 61

1 Tình hình xói mòn và suy thoái độ phì nhiêu đất vùng Tây Nguyên 61

2 Hiệu quả của cây phân xanh trong việc cung cấp nguồn hữu cơ cho đất và tăng năng suất cây trồng 61

3 Hiệu quả của cây phân xanh trong việc hạn chế xói mòn 61

4 Hiệu quả của cây phân xanh trong việc ổn định và nâng cao độ phì nhiêu đất 62

5 Kết luận 63

Một số kết quả về sử dụng cây phân xanh phủ trên đất dốc nghèo dinh dưỡng 77

Lương Đức Loan - Trạm nghiên cứu đất Tây Nguyên I Đặt vấn đề 77

II Một số kết quả về sử dụng cây phân xanh làm băng chống xói mòn và cây họ đậu trồng xen phủ đất 77

Trang 6

1 Kết quả nghiên cứu các loại cây phân xanh làm băng chống xói mòn 77

2 Kết quả nghiên cứu và phổ triển phương thức canh tác sử dụng băng cây phân xanh và trồng xen cho đất trồng sắn nghèo dinh dưỡng 78

III Kết luận 80

Giới thiệu kết quả thực nghiệm một số loài cây họ đậu phủ đất ở Việt Nam 89

Hoàng Xuân Tý Tóm tắt 89

Giới thiệu chung 89

Đậu Triều ấn Độ (Cajanus Cajan): Cây phủ đất, cây thực phẩm, thức ăn chăn nuôi cho vùng cao 90

1 - Tóm tắt sinh học và công dụng: 90

2 - Thử nghiệm trồng đậu triều ở Việt Nam: 90

3 - Kiến nghị: 91

Muồng hoa pháo (Calliandra Calothyrus): Cây cải tạo đất, thức ăn chăn nuôi, làm củi 92

1 - Tóm tắt sinh học và công dụng: (Là cây mới nhập nội vào Việt Nam) 92

2 - Kết quả trồng thử calliandra ở Việt Nam 92

3 - Kết luận 94

Cây đậu tràm (Indigophera TyeSmanii, Họ đậu Leguminoseae): Cây phủ đất, che bóng và gỗ củi 94

1 - Hình thái 94

2 - Sinh thái 95

3 - Cộng sinh 95

4 - Sinh khối và chất dinh dưỡng 95

5 - Cải tạo môi trường 96

6 - Khả năng ứng dụng và kiến nghị 96

Trang 7

Sử dụng và lợi ích của đậu nho nhe (Vigna Umbellata) trên đất

dốc miền Bắc Việt Nam 105

Nguyễn Thị Thanh Thuỷ - World Neighbors Nguyễn Tuấn Hảo, Hà Văn Huy & Huỳnh Đức Nhân - Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp I Giới thiệu 105

II Phương pháp và địa điểm nghiên cứu 105

III Kết quả nghiên cứu 106

1 Phương thức canh tác truyền thống của 3 vùng nghiên cứu 106

2 Sử dụng đậu nho nhe trong canh tác dất dốc 107

IV Thảo luận 109

1 Lợi ích kinh tế và dinh dưỡng của trồng dậu nho nhe 109

2 Lợi ích về mặt ổn định môi trường 109

3 Lợi ích và hạn chế của việc trống dậu nho nhe để cải tạo và quản lý dất hoang 109

V Một số đề suất cho những nghiên cứu tiếp theo 110

VI Kết luận 110

MộT VàI KINH NGHIệM Sử DụNG CÂY PHÂN XANH, CâY CHE PHủ Và CÂY TRồNG KHáC Để RúT NGắN GIAI ĐOạN Bỏ HOá, NÂNG CAO Độ PHì CHO ĐấT CủA Dự áN LÂM NGHIệP Xã HộI SÔNG Đà 115

Nguyễn Hữu Thọ - Cán bộ nông nghiệp Dự án PTLNXH sông Đà I Giới thiệu 115

II Vùng dự án 115

III Kinh nghiệm của dự án LNXH Sông Đà trong việc phát triển cây che phủ, cây phân xanh 116

1 Những kinh nghiệm được rút ra từ phương thức canh tác truyền thống của người dân 116

2 Kinh nghiệm khi giới thiệu kỹ thuật mới cho người dân 118

III Kết luận 119

Trang 8

NGHIÊN CứU Sử DụNG BèO HOA DÂU Và ĐIềN tHANH tHÂN xANH làM THứC

ĂN cHo Gà Đẻ NUôi côNG NGHIệP 121

PTS Tôn Thất Sơn - Trường Đại học Nông nghiệp I 1 Đặt vấn đề 121

2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 121

2.1 Khảo sát năng suất của bèo hoa dâu và điền thanh thân xanh (Sesbania cannabina) trong điều kiện thâm canh làm thức ăn cho gia súc .121

2.2 Nghiên cứu các phương pháp chế biến, xác định thành phần hoá học và ước tính giá trị năng lượng trao đổi (EM) của bèo hoa dâu và điền thanh 121

2.3 Nghiên cứu sử dụng bèo hoa dâu và điền thanh thân xanh làm thức ăn cho gà nuôi công nghiệp 121

2.4 Phương pháp xử lý thống kê 122

3 Kết quả nghiên cứu 122

3.1 Năng suất của bèo hoa dâu và điền thanh thân xanh 122

3.3 Nghiên cứu sử dụng bèo hoa dâu và điền thanh làm thức ăn cho gà đẻ nuôi công nghiệp 123

4 Kết luận 124

TổNG THUậT Về NGHIêN CứU CÂY pHÂN XANH PHủ ĐấT VùNG ĐồI NúI VIệT NAM QUA CáC TàI LIệU Đã CÔNG Bố 129

Đậu Quốc Anh - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 1- Về sưu tầm, thu thập, đánh giá tập đoàn cây phân xanh phủ đất vùng đồi núi nước ta 129

2- Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, thực vật học, nông học, kỹ thuật gieo trồng và cơ cấu đưa cây phân xanh, phủ đất vào vùng đồi núi 133

3- Về hướng tiếp tục nghiên cứu cây phân xanh phủ đất vùng đồi núi ở Vệt Nam 136

Báo cáO THAM LUậN TạI HộI THảO Về CÂY PHÂN XANH Và PHủ ĐấT 138

La Văn Sỹ 60 tuổi dân tộc Nùng

-Làng Phia Dén - xã Thành Công - Nguyên Bình - Cao Bằng

Trang 9

sử DụNG Và QUảN Lý CáC LOạI ĐậU VINY LàM CÂY TRồNG THEO MùA

TRONG THời GIAN Bỏ HOá CủA CHU Kỳ DU CANH DàI Và ở vườN CÂY ĂNQUả THUộC MIềN BắC THáI LAN 143

Somchai Ongprasert và Kluas Prinz - Thái Lan

TIềM NĂNG PHáT TRIểN CÂY ĐậU GạO 146

Rusty Binas - Giám đốc dự án bảo tồn và phát triển tổng hợp

Viện Quốc tế tái thiết nông thôn, Silang Cavite, Philippin

vAI TRò CủA CÂY pHủ ĐấT Tại CáC VùNG DU CANH

MiềN BắC NƯớC LàO 150

Prasit Vongsonphet, Viphakone Slipadit,

Vilaphong Kanjasone và Peter K Hansen

Chương trình nghiên cứu du canh, Luang Prabang, CHDCND Lào

các LOài CÂY Họ ĐậU Để BảO Vệ ĐấT ở TỉNH LUANG PRABANG

- BắC LàO 153

Thansamay Vong Xomphou và Chanpheng Lattanamixay

Trung tâm Đào tạo Khuyến nông lâm Bắc Lào

TổNG HợP ý KIếN Và Bế MạC HộI NGHị CÂY PHÂN XANH PHủ ĐấT TRÊN ĐấTCáC NÔNG Hộ VùNG Đồi NúI PHíA BắC VIệT NAM (1-4/10/ l997) 157

PGS PTS Thái Phiên

Viện Thổ nhưỡng Nông hoá

NATIONAL WORKSHOP ON GREEN MANURE COVER CROPS FOR SMALLHOLDERUPLAND FARMS OF NORTHERN VIETNAM SUMMING - UP ADDRESS 161

Prof Thai Phien

National Institute for soils and Fertilizers

Trang 10

Lời giới thiệu

Qua diễn đàn Nông Lâm kết hợp của các tổ chức phi chính phủ (NGO) được tổ chức nhiều lầntrong năm 1996, qua các hội thảo về sử dụng đất dốc và nông lâm kết hợp, chuyên đề câyphân xanh phủ đất đã được nhiều nhà khoa học, cán bộ khuyến nông nhiều cơ quan và tổ chứctrong nước và quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam quan tâm Vì vậy, một sổ tổ chức NGOcùng với một số các nhà khoa học Việt Nam có sáng kiến tổ chức hội nghị chuyên đề về lĩnhvực cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam

Ban tổ chức hội nghị gồm những người tự nguyện từ các tổ chức như láng giềng thế giới(World neighbors), Oxfam Bỉ, CARE quốc tế, Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam,Viện thổ nhưỡng nông hoá, VACVINA đã cùng nhau góp sức để tổ chức hội nghị này tại HàNội từ 1 đến 4/10 - 1997 Mục tiêu của hội nghị:

- Trao đổi kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu và ứng dụng trong sản xuất về cây phânxanh phủ đất vùng đồi núi

- Tập hợp, in ấn tài liệu về kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm sử dụng phát triển câyphân xanh phủ đất trong sản xuất vùng đồi núi

- Xác định những vấn đề cần ưu tiên nghiên cứu và triển khai, khả năng phối hợp nghiêncứu giữa các cơ quan và tổ chức khác nhau

- Hình thành mối quan hệ phối hợp giữa nông dân, cán bộ khuyến nông và các nhànghiên cứu khoa học trong lĩnh vực cây phân xanh phủ đất

- Trao đổi học tập kinh nghiệm quốc tế

Tham dự hội nghị có hơn 50 đại biểu từ các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học, các cơquan trung ương, các Sở Nông nghiệp và PTNT, các tổ chức NGO quốc tế, và đặc biệt có các

đại diện của hộ nông dân từ các vùng miền núi và các đại biểu quốc tế vùng Đông Nam á.

Tập tài liệu này bao gồm một số báo cáo đã trình bày tại hội nghị Cuối mỗi báo cáo có bảntóm tắt bằng tiếng Anh Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các tổ chức tài trợ quốc tế, QuỹCanađa, Tổ chức bánh mỳ thế giới (Bread for the world) đã giúp đỡ tài chính để tổ chức cuộchội nghị và in tập tài liệu của hội nghị Chúng tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ đã góp phầnbiên tập tóm tắt và hiệu đính tập tài liệu này

BAN Tổ CHứC HộI NGHị

Trang 11

Lời khai mạc của chủ tịch T.ư hội vacvina,

nguyễn ngọc trìu Tại hội nghị cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam

Thưa ngài Peter Hofman, Tham tán Dại Sứ quán Canada tại Việt nam

Bà Phạm thị Thu Thủy, Tổ chức Bánh mỳ cho Thế giới

Thưa các vị đại biểu quốc tế và trong nước

Thưa các bạn

Trước hết, thay mặt cho Trung ương Hội những người làm vườn Việt Nam, và ban tổ chức hộinghị, tôi xin nhiệt liệt chào mừng các vị khách mời và các đại biểu đã đến dự hội nghị "Câyphân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam" Sự tham gia nhiệttình của các đại biểu chứng tỏ tất cả chúng ta đều rất quan tâm đến lĩnh vực quan trọng này.Việt Nam là một quốc gia nằm trong vùng Đông Nam á với ba phần tư diện tích lãnh thổ là

đồi núi mà tại đó khoảng một phần ba dân số toàn quốc đang sinh sống Trải qua nhiều nămchiến tranh phá hoại, cộng với việc khai thác và quản lý tài nguyên không hợp lý, do du canh

du cư và bùng nổ dân số v.v là những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái nhanh chóng của

đất và rừng Sống dưới những điều kiện như vậy, những người dân vùng cao đang được dựbáo nằm trong số những người nghèo nhất quốc gia

Nhằm khắc phục những khó khăn trên đây, Chính phủ Việt Nam đã và đang tổ chức thực hiệnnhững kế hoạch phát triển kinh tế xã hội các khu vực miền núi, như chương trình định canh

định cư, chương trình 327, chương trình phát triển kinh tế xã hội miền núi v.v Nhiều chươngtrình nghiên cứu khác, phục vụ phát triển kinh tế xã hội miền núi cũng đang được Nhà nướcViệt Nam chú trọng và khuyến khích triển khai

Hội nghị "Cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam" lầnnày là cơ hội rất tốt để các nhà khoa học, cán bộ quản lý, cán bộ khuyến nông, các hộ nôngdân trao đổi những kinh nghiệm ở Việt Nam, cũng là cơ hội học tập kinh nghiệm từ các nướckhác, trước hết là những nước trong khu vực Đông Nam á Qua đây có thể định hướngnghiên cứu và phát triển để tiếp tục mở rộng lựa chọn những kỹ thuật có ích phục vụ nhữngngười nông dân đang đối mặt với nhiệm vụ khó khăn về sản xuất chủ yếu trên đất dốc

Với những mục tiêu quan trọng như vậy, tôi xin được phép thay mặt các vị đại biểu tuyên bốkhai mạc hội nghị

Thay mặt các cơ quan tổ chức, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc về sự hợp tác đắc lực và hỗ trợ

có hiệu quả của các nhà tài trợ đã chia sẻ cùng chúng tôi trong sự nghiệp phát triển kinh tếmiền núi đầy khó khăn này

Chúc sự hợp tác giữa các cơ quan ngày càng chặt chẽ và phát triển

Chúc các đại biểu mạnh khoẻ và chúc hội nghị thành công

Xin cảm ơn

Trang 12

Opening address of president of vacvina,

mr Nguyen ngoc triu

Dear Mr Peter Hoffman, Canadian Embassy in Vietnam,

Ms Pham Thi Thu Thuy, Bread for the World in Vietnam,

Distinguished guests and participants,

Ladies and Gentlemen,

First of all, on behalf of VACVINA and the Meeting Organising Committee, I would like toexpress our warmest welcome to all the guests and participants who have come to our meeting

on Green Manure Cover Crops for Smallholder Upland Farms of Northern Vietnam Youractive participation demonstrates our common concern in this important field

Vietnam is located in the Southeast Asia region, three fourth of its territory is sloping landwhich is a home for about one third of its total population After long periods of devastatingwar and inappropriate exploitation and management of natural resources as well as undershifting cultivation with population pressure, the upland soils and forests of Vietnam havebeen increasingly deteriorated

Living under such conditions, upland dwellers of our country are forecasted to be among thepoorest groups, nation-wide To overcome such difficulties and constraints, the Government

of Vietnam has been implementing various programmes for upland socio-economicdevelopment such as the resettlement programme, the bare hill and mountain regreeningprogramme (also called programme 327), mountainous region economic developmentprogramme etc…

Many other research programmes serving upland socio-economic development have also beenimplementing, with strong support from the Government

The Meeting on Green Manure Cover Crops for Smallholder Upland Farms of NorthernVietnam is a very good opportunity for our scientists, Government officials, extensionworkers and local farmers to share their experiences on green manure cover crops growingand utilisation in Vietnam; This meeting is also an excellent opportunity for Vietnam to learnthe experience from other countries, first and foremost the experience from farmers andscientists from Southeast Asian countries Through this meeting, follow-up activities andrecommendations will be proposed on green manure cover crops research and development on

a farmer - based approach, aimed at testing and identifying applicable techniques andmeasures to be practised by upland farmers who are facing with difficult tasks of promotingsustainable agriculture in uplands areas

With such important objectives, on behalf of all participants I would like to open this meeting

On behalf of the organising committee, I would like to convey our sincere thanks to thedonors for having effectively and generously supported Vietnam in this difficult cause ofupland development

I wish the collaboration between concerned organisations in-country and internationallywould be developed fruitfully and productively

I wish all of you good health and much success during this meeting

Thank you all

Meeting on Green manure cover crops for smallholder upland farms of Northern Hanoi 1997

Trang 14

Vietnam-Bài phát biểu của tổ chức bánh mỳ cho thế giới

Kính thưa các quý khách và các vị đại biểu

Tôi là Phạm Thị Thu Thuỷ, cán bộ của văn phòng Tổ chức Bánh Mỳ cho Thế giới tại Hà Nội.Trước tiên cho phép tôi được gửi tới hội nghị lời chào mừng nồng nhiệt và những lời chúc tốt

đẹp nhất của Bà Louise Buhler, đại diện của Tổ chức Bánh Mỳ cho Thế giới tại Hà Nội BàBuhler hiện đang đi công tác ở các tỉnh miền Trung nên không thể dự buổi khai mạc hôm nay

được Tổ chức Bánh Mỳ cho Thế giới rất vui mừng là một trong các cơ quan tài trợ cho hộinghị quan trọng này, về "Cây phân xanh phủ đất cho các nông hộ nông dận miền núi" Bánh

Mỳ cho Thế giới là một tổ chức phi chính phủ ở Đức, đã và đang hoạt động ở Việt Nam từnhiều năm nay Trong 10 năm qua, Bánh Mỳ cho Thế giới đã tài trợ cho nhiều dự án ở cáctỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, đặc biệt là ở Yên Bái và Lào Cai

Trong công việc của chúng tôi, có một thực tế ngày càng rõ ràng rằng vấn đề xói mòn đất vàgiảm sút độ phì đất là một trong những khó khăn nghiêm trọng nhất mà nông dân miền núidang phải đương đầu Nhằm khắc phục những khó khăn này, nhiều biện pháp nông nghiệp,mới có, cũ có, đang được thực hiện Các cán bộ khuyến nông, các cán bộ quản lý, các nhàkhoa học và nhiều người khác đang cùng nhau nỗ lực phối hợp với nông dân để tìm cácphương pháp canh tác cải tiến phục vụ cho miền núi

Bánh Mỳ cho Thế giới tin tưởng rằng hội nghị này về cây phân xanh do VACVINA tổ chức sẽ

là một cơ hội quan trọng cho tất cả những người quan tâm đến việc cải thiện an toàn lươngthực và điều kiện sinh sống của nông dân miền núi, sẽ trao đổi thông tin và học tập kinhnghiệm lẫn nhau

Thay mặt cho bà Buhler và các cán bộ Tổ chức Bánh Mỳ cho Thế giới, tôi xin chúc tất cả quýkhách và đại biểu dồi dào sức khoẻ, chúc hội nghị thành công

Xin cảm ơn

Trang 15

Welcome address of bread for the world

Dear Distinguished Guests, Participants, Members of the Organizing Committee and Ladiesand Gentlemen

My name is Pham Thi Thu Thuy and I am a staff member of the Bread for the World Officehere in Hanoi

First of all, permit me to bring warm greetings and best wishes from Mrs Louise Buhler, theBfdw Representative based in Hanoi Unfortunately, Mrs Buhler is unable to attend thisopening ceremony because she is presently on a 10 day mission to central Vietnam

Bfdw is very pleased to be one of the sponsors of this important seminar on "Cover Cropsfor Small Upland Farms" Bfdw is a NGO based in Germany and has been active inVietnam for many years In the past 10 years, Bfdw has provided assistance to manyprojects in the mountainous provinces of North Vietnam, especially in Yen Bai and Lao Cai

In our work it has become clear that soil erosion and declining soil fertility are among themost serious problems faced by upland farmers Various agricultural practices, some old andsome new, are being used to overcome these problems Agricultural extension workers,government officials, scientists and many others are joining the efforts of farmers to find outimproved farming methods for upland areas

Bfdw believes that this seminar on cover crops, organized by VACVINA and otherorganizations presents an important opportunity for people, who are interested in improvingthe food security and living conditions for farmers in the upland areas, to exchangeinformation and to learn from each other

On behalf of Mrs Buhler and all the staff of Bfdw, I wish all of you good health and muchsuccess during this seminar

Thank you

Meeting on Green manure cover crops for smallholder upland farms of Northern Vietnam Hanoi 1997

Trang 16

-Cây phân xanh phủ đất

với chiến lược sử dụng hiệu quả đất dốc Việt Nam

Thái Phiên Nguyễn Tử Siêm

Viện Thổ nhưỡng Nông hoá

I Cây bộ đậu và nền nông nghiệp sinh thái bền vững

Trong lịch sử phát triển nông nghiệp, sau hàng ngàn năm trì trệ, nhân loại đã đạt được bướctiến nhảy vọt bắt đầu từ thời kỳ tiền tư bản chủ nghĩa khi xuất hiện những tiền đề cho việckhai thác độ phì nhiêu thực tế của đất như máy công cụ, phân bón hoá học, giống cây trồngvật nuôi

Một trong những đóng góp cơ bản làm nên bước nhảy vọt về chất đó là cuộc cách mạng về cơcấu cây trồng với việc tìm ra và đưa cây bộ đậu vào tập đoàn cây công nghiệp Với năng lựccung cấp protein gấp 2-3 lần so với hạt ngũ cốc, hạt có dầu và 5-7 lần so với cây có củ, cây bộ

đậu làm thay đổi căn bản nguồn dinh dưỡng loài người, hơn thế nữa, trao cho nông học mộtcông cụ mạnh và an toàn để cải tạo độ phì đất nhờ năng lực cố định đạm tự do

Từ đấy, nông học thế giới không ngừng nỗ lực để khai thác ngày càng nhiều cây bộ đậu trong

số 18.000 giống thuộc 650 loài để đưa vào sản xuất (riêng Việt Nam dã có tới trên 120 loài)

Có thể nói mức độ đa dạng sinh học trong nền nông nghiệp mỗi khu vực của thế giới phản

ánh rất rõ trong tỷ lệ các cây bộ đậu được sử dụng trong cơ cấu cây trồng nông lậm nghiệp.Tác dụng lớn lao và nhạy bén của phân hoá học được phát hiện nhanh chóng, nhưng mặt tráicủa nó đối với chất lượng nông phẩm và môi trường thì được nhận diện chậm hơn, chỉ từnhững năm 70 lại đây, nhưng đã trở nên báo động khắp nơi, đặc biệt là ở những nước sử dụngphân khoáng cao Trong khi đó sử dụng nguồn hữu cơ ngày càng dược thừa nhận rộng rãi làgiải pháp cân bằng lâu dài, đặc biệt là khi phân khoáng sử dụng tăng lên

Vai trò cây phân xanh phủ đất (đối với nền nông nghiệp sinh thái bền vững trên đất dốc thểhiện ở chỗ:

• Tạo một lớp phủ nhanh chóng bảo vệ đất chống xói mòn và dòng chảy trên mặt;

• Giữ dinh dưỡng khỏi trôi theo chiều sâu và kéo dinh dưỡng dưới sâu lên tầng canh tác;

• Bổ sung vào chất lượng dinh dưỡng cây trồng đáng kể, đặc biệt là đạm (từ 200 - 300kgN/ha) và kali (300-500 kg/ha), chống giữ chặt lân và giải phóng lân dễ tiêu;

• Nâng cao dung tích hấp thu và thành phần kim loại kiềm trong dung tích hấp thu;

• Tạo cấu trúc đất, làm cho đất tơi xốp, tăng độ thấm nước, giữ nước;

• Điều hoà tiểu khí hậu khu vực và môi trường đất xung quanh hệ rễ;

• Cải thiện căn bản thành phần nông phẩm lương thực thực phẩm vùng đồi núi, tăng hợpthành protein trong bữa ăn con người và thức ăn gia súc

• Tăng thêm nguồn gỗ, củi đun và góp phần cải thiện môi trường

Trang 17

II Nghiên cứu sử dụng cây phân xanh ở Việt Nam

Về mặt này có thể nói nông nghiệp Việt Nam là một trong những nền nông nghiệp có truyềnthống sử dụng sớm và kiên trì theo hướng tận dụng nguồn đạm sinh học từ cây phân xanh,nhất là cây bộ đậu

Thật vậy, luân canh cây hoà thảo với cây họ đậu hoặc sử dụng tàn dư cây trồng làm tốt đất đã

được mô tả khá sớm trong các thư tịch cổ Việt Nam, (chẳng hạn "Vân đài loại ngữ" của LêQuí Đôn)

Trong hệ thống canh tác bảo vệ đất truyền thống, ngoài việc sử dụng các biện pháp công trìnhnhư mương, bờ, ruộng tầng thì các biện pháp sinh học luôn luôn được áp dụng Phổ biến nhất

là cây bờ lô, hàng rào xanh, tận đụng rơm rạ, lá xanh, cỏ rác để phủ đất làm tốt ruộng Trongcơ cấu cây trồng trên đất dốc, đó là việc trồng cây họ đậu xen canh gối vụ với cây lương thựcrất phổ biến ở nhiều vùng, như trồng ngô, sắn, lúa nương xen các loại đậu đỗ, vừa thu hạt vừadùng tàn dư thân lá làm vật liệu phủ đất giữ ẩm và bón phân

Trong những năm 1926-1927 Nguyễn Công Tiễu đã có những nghiên cứu khám phá tác dụngcủa cây bèo dâu ở đồng bằng và báo cáo tại Hội nghị Khoa học châu á ở Yorjakarta (1927).Cùng thời gian đó, nhà nông học Pháp Chauvin đã thu thập và thử nghiệm tại Pleicu một tập

đoàn phân xanh gồm 62 giống bản địa và nhập nội từ Jakarta Kết quả đã chọn được 12 giốngphân xanh thích hợp để làm cây tiên phong cải tạo đất hoặc trồng xen trong vườn cây lâu nămnhư chè, cà phê, cao su, cây ăn quả Đó là:

Tephrosia candidaTephrosia maximaTephrosia vogelii

Và một số giống có triển vọng khác như: Vigna oligosperma, lndigofera endecaphylla (tràmbò), Phaseolus calcaratus (đậu nho nhe)

Từ 1949-1952, tại Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Blao (Lâm Đồng), một tập đoàn phânxanh phủ đất thuộc họ đậu gồm 21 giống đã được khảo nghiệm bởi A Chavaney và J.Lanfranchi Sau 6 năm nghiên cứu hai ông đã rút ra kết luận trên đất đỏ bazan có 5 cây phủ

Trang 18

Trong đó quì dại là cây cho năng suất chất xanh cao nhất, tới 100 tấn/ha sau 2 năm.

Trong các đồn điền cà phê, cao su, chè trước đây, trồng cây phân xanh phủ đất, làm rừng chắngió, hoặc làm cây che bóng là hạng mục bắt buộc trong qui trình sản xuất, mặc dù lúc đó môitrường sinh thái chưa đến nỗi suy thoái

Từ đầu những năm 1960, cùng với việc thành lập các nông trường quốc doanh và hợp tác xãviệc tận dụng cây phân xanh cũng được chú trọng Tiếp thu những kinh nghiệm trước đó, chủtrương cây phủ đất và vấn đề tuần hoàn hữu cơ kết hợp với sử dụng phân khoáng rất được coitrọng trong ngành nông trường quốc doanh và một số hợp tác xã tiên tiến Hàng chục loàiphân xanh đã được thu thập, nhập nội, thử nghiệm và đưa vào lô trồng

Chính nhờ vậy đất đai đỡ bị xói mòn, giảm bớt được tác hại phá đất do lạm dụng cơ giới nặng

và phần nào bù đắp thiếu hụt phân khoáng trong thời kỳ khó khăn

Từ sau đó đến cuối những năm 1980, trong bối cảnh khó khăn chung, thiếu sót trong quản lý

kỹ thuật, do đề cao cực đoan tác dụng phân khoáng, và nhất là thiếu một cách hiểu đúng vềtính bền vững của thâm canh, nên tuần hoàn hữu cơ bị xem nhẹ, cây phân xanh phủ đất cũngmai một dần

Gần đây, như đã biết, vấn đề suy thoái đất, môi trường, sa mạc hoá lại nổi lên, không phảichỉ ở Việt nam, mà khắp vùng nhiệt đới Các chính phủ và tổ chức quốc tế đã ý thức được và

đang nỗ lực tìm giải pháp cho một nền nông nghiệp sinh thái bền vững, nhấn mạnh đến biệnpháp sinh học và lớp phủ thảm xanh an toàn, mặc dù ngày nay nền nông nghiệp có yểm trợmạnh hơn nhiều so với trước đây

Nhắc lại mấy điểm trong lịch sử canh tác để có thể thấy rằng trồng cây phân xanh không thểxem là giải pháp tình thế hay biện pháp nhất thời Trong khai thác đất đai, xây dựng nềnnông nghiệp sinh thái, nó phải được coi là một hợp thành của chiến lược phục hồi đất thoáihoá, sử dụng quĩ đất lâu bền

Tổng kết nghiên cứu nhiều năm (Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, 1994; Nguyễn Tử Siêm, TháiPhiên, 1992) cho phép khẳng định biện pháp công trình đơn độc dù tốt đến mấy cũng khôngthể thay thế biện pháp sinh học trong việc phục hồi đất dốc thoái hoá và phân khoáng dù đầy

đủ cũng không thể thay thế hoàn toàn phân hữu cơ trong thâm canh cây trồng

III Chọn cây xanh phủ đất thích hợp

1 Tính kiêm dụng (đa mục đích) của cây phân xanh:

"Cây phân xanh đa mục đích là cây có thể có hơn một trong số các tác dụng sau: phủ đất,chống xói mòn, che bóng, làm củi, lấy gỗ, lấy sợi, làm thức ăn gia súc, lương thực hoặc làmthuốc" (Charit Tingsabath, 1994)

Tính trạng khác nhau của các bộ phận cây và sự đa dạng các giống loài làm cho thực vật nóichung và cây phân xanh nói riêng có thể có ít nhất hai tác dụng trở nên Chẳng hạn, cây lấyhạt là chính, có thể cung cấp tàn dư thân lá rễ, cây lấy củi gỗ để lại cành lá rễ làm tốt đất, cácloài dù lấy hạt hay gỗ đểu có tác dụng phủ đất Như vậy xem xét giá trị cây phân xanh cầnphải xuất phát từ quan điểm tổng hợp, đồng thời chú trọng đến mục đích chính, đáp ứng lợiích ưu tiên nhất của người nông dân

Nếu chỉ tính đến lợi ích quốc gia hay cộng đồng (chẳng hạn cải tạo môi trường ), mà quênlợi ích trực tiếp của người nông dân thì khó được chấp nhận Ngược lại, nếu chỉ tính đến mục

đích trước mắt (chẳng hạn lấy hạt để giải quyết lương thực tức thời) thì không thể phát huy lợithế cây phủ đất đối với lợi ích rộng lớn và lâu dài của cả cộng đồng (chẳng hạn trồng rừngngập mặn, rừng đầu nguồn, băng rừng chống cát bay, đai rừng chắn gió bão, )

Trang 19

- Xác định rõ tính thích hợp của cây phân xanh đối với sinh thái khí hậu, đất, cơ cấu câytrồng trong vùng và trong luân canh.

- Cây phủ đất phải là cây mọc nhanh, nhưng trong trường hợp trồng xen không cạnhtranh lấn át cây trồng chính

- Có khả năng tái sinh mạnh, cho năng suất hạt khá, ít sâu bệnh để bảo đảm nhân giống

Cây phân xanh đa mục đích luôn được hộ gia đình nông dân đón nhận tốt hơn là cây chỉ thuầntuý một mục đích, cần kết hợp cây dài ngày với cây ngắn ngày để tận dụng không gian và đất

đai

3 Cây phân xanh trong hộ gia đình

Từ sau chính sách đổi mới, hộ gia đình đã trở thành đơn vị sản xuất tự chủ, kể cả trong cácnông lâm trường Việc phát triển cây phân xanh phủ đất cần lưu ý tới các đặc điểm sau:

- Bình quân đất đai không lớn, do vậy phải triệt để bố trí các cây ít chiếm đất, có thểtrồng xen, trồng gối với các cây trồng chính vốn không liền khoảnh như trong nôngtrường hay hợp tác xã trước kia

- Cây phủ đất cần đa dạng về loài giống, góp phần thoả mãn nhu cầu đa dạng của gia

đình về lương thực thực phẩm, chất đốt, gỗ, phụ phẩm, thức ăn gia súc, hàng rào bảo vệquanh nhà và lô vườn

- Cây phủ đất cần có khả năng tái sinh và cho hạt dễ để giống, tránh cạnh tranh với câytrồng chính về nước, ánh sáng và sự tiện lợi cho chăm sóc

- Gia súc trong hộ là thành phần tất yếu, nên các nhóm cây phủ đất cần chọn lựa sao chovừa góp phần bổ sung thức ăn gia súc; lại vừa tránh được gia súc phá hỏng

4 Những cây phân xanh phủ đất thông dụng.

a) Để làm hàng băng xanh hay hàng rào cây sống

ở vùng đồi núi thường dùng cốt khí, quì dại, móc mèo, đậu triều, tràm, flemingia, bồ kết

Để bảo vệ nghiêm mật vườn quả rộng, dùng các cây có gai (như bồ kết, móc mèo ) đặc biệthữu hiệu

b) Để làm đai rừng chắn gió:

Trang 20

Các cây thông dụng là phi lao, bạch đàn; tràm hoa vàng, keo tai tượng, đài loan tương tư, bạch

đàn, muồng hoa vàng,

c) Cây che bóng:

Là một yêu cầu đối với cây trồng, nhất là chè, cà phê, gừng, quế, sa nhân, ca cao, hồ tiêu Trong nương chè và cà phê các cây che bóng thường là keo đậu, muồng lá khế, muồng hoavàng, cốt khí

Trong những năm đầu, ngoài những cây kể trên, cũng dùng muồng lá tròn, lục lạc, muồng sợi,

điền thanh làm cây che bóng tạm thời, gieo dày quanh hố cây chính, theo thời gian tỉa dầnlàm phân cho đến năm thứ 3-4 thì kết thúc

d) Cây phân xanh tiên phong cải tạo đất:

Tập đoàn cây này rất phong phú, phổ biến nhất trên đất dốc là cốt khí, muồng lá tròn, muồnglá dài, lục lạc, điền thanh, muồng sợi, stylo, đậu mèo Việt Nam, đậu mèo Thái Lan, cút du,quì dại

e) Cây phân xanh trồng xen bao gồm các loại đậu ăn hạt như đậu hồng đáo, đậu nho nhe vànhiều cây không ăn hạt như cốt khí, điền thanh, vetiver, đậu triều, đậu lông, đậu bướm, chàmbò

g) Các cây làm băng xanh chống xói mòn trong lô cây trồng:

Kỹ thuật trở thành tiêu chuẩn hiện nay đối với canh tác đất dốc là trồng theo dải đồng mức tạo

ra bởi các băng cây xanh (alley cropping) Cây phân xanh tạo các băng mềm này ở Việt Namthường là cốt khí, muồng lá tròn, muồng dùi đục, lục lặc, cút du, vertiver, điền thanh

5 Chọn các tổ hợp cây phân xanh hài hoà

Việc chọn các tổ hợp cây phân xanh - cây trồng chính hài hoà về mọi mặt là cả một nghệthuật để đạt được các yêu cầu chính yếu, đòi hỏi các cán bộ nghiên cứu và khuyến nông phốihợp với sự tham gia của nông dân sở tại

Thực tế cho thấy sự kết hợp này trong những năm qua đã tạo ra những tổ hợp rất hài hoà

Ví dụ:

- Tổ hợp cây trồng trong nương cà phê với đai rừng bằng muồng đen hỗn hợp với bạch

đàn hoặc đài loan tương tư Các loài muồng thân bụi làm cây che bóng tạm thời và lấychất xanh làm phân thay thế khoảng 1/3 phân khoáng Trong lô có các cây keo dậu vàmuồng đen làm cây che bóng lâu dài (phổ biến ở Tây Nguyên, Nghệ An)

- Các vườn chè sử dụng cốt khí gieo đông đặc làm cây tiên phong, làm cây che bóng tạmthời và làm phân hữu cơ Khi chè lớn dần, cốt khí được tỉa thưa, phối hợp với muồng lákhế, keo dậu làm cây che bóng lâu dài cho chè (phổ biến ở Hoà Bình, Phú Thọ, YênBái)

- Bạch đàn trồng xen với keo tai tượng là một công thức tốt để phủ xanh đất trống đồitrọc dốc và quá chua, hạn

- Trong hệ thống cây trồng truyền thống trên đất dốc đã ghi nhận được rất nhiều tổ hợpcây họ đậu với cây hoà thảo, song mới chỉ tư liệu hoá dược một phần nhỏ Chẳng hạn,trồng ngô xen đậu đỗ (nhiều công thức khác nhau) ở nhiều vùng khắp toàn quốc Cáccông thức VACR kết hợp khôn khéo cây phủ đất cũng đã được đánh giá và phổ biếnmột phần

Trang 21

IV Những hạn chế phải khắc phục để phát triển cây phân xanh phủ đất

ở vùng đồi núi Việt Nam một số hạn chế sau đây cần phải khắc phục để phát triển cây phânxanh phủ đất:

- Vấn đề cung ứng hạt giống: nhu cầu hạt giống cây phân xanh đối với một hộ gia đìnhthường không lớn, nhưng vấn đề tồn tại vì rằng không bán sẵn trên thị trường Chỉ khi

có đơn đặt hàng thì hạt giống mới được thu hái, khi đến vụ gieo có thể đã quá vụ thuhoạch Sản lượng giống không cao do không có mục đích thâm canh lấy hạt Hạtgiống đậu đỗ mau bị mất sức nảy mần cần thu ngay và gieo sớm Các tổ chức khuyếnnông cần nắm nhu cầu nông dân cho vụ sau ngay khi hạt được thu hoạch

- Chăm sóc cây phân xanh phủ đất Khi đã chọn cây thích hợp thì chăm sóc không đòihỏi đầu tư vốn lớn, song một sự chăm sóc tối thiểu là cần thiết Chẳng hạn, một số câyban đầu mọc chậm (cốt khí, stylo, ) cần làm cỏ kịp thời Các cây thân bò gieo xen(đậu nho nhe, hồng đáo, đậu mèo Thái Lan ) cần ngắt ngọn kịp thời để không leoquấn cây chính

V Kết luận

1 Các kết quả nghiên cứu và thực tế sản xuất mấy chục năm qua ở Việt Nam nói lên rằngcây phân xanh phủ đất là một hợp phần quan trọng trong chiến lược sử dụng đất dốc lâubền Giải pháp này khai thác tính đa dạng vốn có của vùng nhiệt đới ẩm với các cây mọcnhanh, nhiều loài cố định đạm, sử dụng cho nhiều mục đích Tốc độ phân giải hữu cơnhanh là ưu thế sử dụng vật liệu hữu cơ không nhất thiết hoai mục vừa làm phân bón vừalàm chất cải tạo đất, đảm bảo an toàn môi trường

2 Trong nền kinh tế thị trường, yếu tố quyết định là sự chấp nhận của hộ nông dân với câyphủ đất Điều này hoàn toàn có thể đạt được thông qua sự kết hợp khéo léo các mục tiêu,chọn tổ hợp cây thích ứng với điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường sản xuất của địaphương để đảm bảo lợi ích tức thời của nông hộ và lợi ích lâu dài của cộng đồng

3 Để cây phân xanh trở thành công cụ hữu hiệu phủ đất, phục hồi 3/4 diện tích lãnh thổ đồinúi dốc, bước phát triển tiếp theo cần phải đa dạng hoá và địa phương hoá hơn nữa tập

đoàn cây phủ đất Công việc đó đòi hỏi xác định nhu cầu nông dân từng địa phương, khảosát phát hiện thêm các loài bản địa, nhập nội và tuyển chọn các loài mới và tổ chức cungứng giống một cách linh hoạt

Tài liệu tham khảo

1 Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, 1993 Hiệu quả các biện pháp chống xói mòn và phân bón

để bảo vệ và tăng năng suất cây trồng trên đất đồi "Tuyển tập các công trình nghiên cứunông nghiệp" NXB Nông nghiệp, Hà nội

2 Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, 1992 Organic matter recycling improvement of slopinglands in Vietnam

Annual Meeting of the IBSRAM'S ASIALAND Network on Sloping lands Management forSustainable Agriculture, Hanoi

Trang 22

Green manure cover crops for effective use of slopping lands in vietnam

Meeting on Green manure cover crops for smallholder upland of Northern Vietnam- Hanoi

1997

Trang 23

Cây phân xanh trong tuần hoàn chất hữu cơ và độ phì nhiêu đất dốc

PGS PTS Nguyễn Tử Siêm

I Mở đầu

Với bình quân 0,5 ha đất tự nhiên hoặc dưới 1.000m2 đất canh tác cho một người, Việt Nam làmột nước hiếm đất nhất thế giới Dự trữ đất vùng châu thổ đã khai thác gần như đến mức tớihạn, nên việc tiếp tục phát triển nông nghiệp trong những thập kỷ tới phần lớn phải phụ thuộcvào việc phục hồi và sử dụng hợp lý tài nguyên đất vùng cao có độ dốc và mức độ phì nhiêukhác nhau

Việc sử dụng đất dốc gặp phải hàng loạt trở ngại như xói mòn, rửa trôi bề mặt, rửa trôi theochiều sâu, thiếu độ ẩm, đất chua, nghèo kiệt dinh dưỡng và độ dễ tiêu thấp Tất cả các trởngại này có quan hệ với một yếu tố hạn chế có tầm quan trọng hàng đầu đó là sự tuần hoànchất hữu cơ bao gồm cả lớp phủ thực vật và vật chất mùn cấu thành bản thể đất

Về bản chất, thoái hoá đất là sự suy giảm mức năng lượng hàm chứa trong trong chất hữu cơ

đất và được chuyển hoá bởi quần thể vi sinh vật đất Cho nên tốc độ phục hồi độ phì nhiêu

đất dốc thoái hoá sẽ phụ thuộc rất lớn vào việc sản xuất liên tục và cung cấp cho đất lượng vậtchất hữu cơ đủ lớn để bù lại lượng chất hữu cơ bị khoáng hoá và rửa trôi khỏi phẫu diện đất.Chỉ khi có được một cân bằng dương về mùn thì độ phì nhiêu đất mới có thể duy trì lâu bền vàcác biện pháp nông học mới có thể phát huy tác dụng

Điều kiện khí hậu nóng ẩm , thực vật sinh trưởng nhanh và tốc độ hoạt động sinh học mạnh lànhững nhân tố chủ yếu xúc tiến sản sinh chất hữu cơ nhanh chóng và chuyển hoá chúng vớitốc độ nhanh hơn hàng chục lần so với ở điều kiện ôn đới Những ưu thế này cần được tậndụng trong khi phục hồi độ phì nhiêu hữu hiệu của các đất dốc đã rất nghèo kiệt của chúng ta

Về mặt này thì cây phân xanh đóng vai trò hết sức trọng yếu, như một công cụ hữu hiệu đểkiểm soát xói mòn, tăng cường độ xốp, sức chứa ẩm tối đa đồng ruộng, dự trữ dinh dưỡng, cảithiện mức độ dễ tiêu các nguyên tố dinh dưỡng, tạo ra môi trường thích hợp cho hoạt độngcủa bộ rễ cây trồng

Bởi vậy việc phát triển cây phân xanh, bao gồm các cây đa mục tiêu, cần phải được xem nhưmột hợp phần không thể thiếu được của chiến lược quốc gia về phục hồi cải tạo đất thoái hoá

và sử dụng bền vững đất dốc

Bên cạnh việc sử dụng hợp lý phân hoá học thì tận dụng tối đa các nguồn dinh dưỡng sinh học

sẽ bảo đảm nền nông nghiệp của chúng ta hài hoà với môi trường

II Hiện trạng chất hữu cơ trong đất nhiệt đới ẩm Việt Nam

Những nghiên cứu trước đây (V M Fridland, 1961, N T Siem, 1974, 1985) đã khẳng định

sự đa dạng về bản chất và sự biến động về hàm lượng và thành phần của chất hữu cơ đất nhiệt

đới ẩm Việt Nam, đặc biệt là đất đồi núi

Dưới thảm thực vật tự nhiện nhiều loại đất giàu chất hữu cơ và đạm Đất alit trên núi cao và

đất feralit có mùn trên núi có chứa trong lớp 20 cm đất mặt từ 282 đến 234 tấn mùn và 9,9

đến 7,4 tấn N tương đương với nhiều đất vùng ôn đới Tuy nhiên một khi đất được đưa vàocanh tác nông nghiệp thì dự trữ mùn và đạm giảm đi nhanh chóng Hàm lượng mùn giảm rất

Trang 24

nhanh trong đất có thành phần cơ giới nhẹ Việc để mất thảm rừng là nguy cơ lớn nhất đốivới việc duy trì dự trữ mùn đất.

So sánh hàm lượng mùn trong đất châu thổ và đất đồi cho thấy đất phù sa phì nhiêu có hàmlượng mùn ổn định khoảng 2,5% trong khi đất đồi chỉ có khoảng 2,2% và dao động khámạnh

Từ đất dưới rừng sang đất canh tác là một bước trượt dài, thoái hoá cả lượng và chất hữu cơ

đất Trên đất nâu đỏ ba dan dưới rừng, hàm lượng mùn là 6% nhưng đất cùng loại liền kề sau

30 năm canh tác hàm lượng mùn chỉ còn 3% Đất feralit trên phiến thạch trồng sắn sau thờihạn đó hàm lượng mùn chỉ còn 1%, tức là thấp xa dưới ngưỡng được coi là khủng hoảng đốivới nhiều cây trồng tức là 2-3% đối với các đất trên (N.T.Siêm,1989)

III Vai trò chất hữu cơ đối với độ phì nhiêu đất dốc

- Chất hữu cơ là nguồn dinh dưỡng thực vật quan trọng trên đất dốc Phần lớn dự trữ đạm trên

đất đồi núi là lấy từ nguồn hữu cơ, vì nguồn đạm khóang là rất hạn chế, không vượt quá0,25% Để bảo đảm an toàn lương thực, phần lớn phân khoáng được ưu tiên dùng cho vùng

đồng bằng, tỷ lệ bón cho đất vùng núi rất thấp Trong đất đồi núi dạng NO3- và NH4+ lạikhông đáng kể và dễ bị rửa trôi khỏi tầng đất

Có một mối tương quan chặt chẽ giữa chất hữu cơ và đạm trong đất, hàm lượng hữu cơ làthước đo mức cung cấp đạm từ đất

- Trong đất Việt Nam, lân tổng số từ trung bình đến nghèo, cao nhất chỉ ở đất nâu đỏ trên badan (0,2 - 0,3%) Song đứng về độ phì nhiêu thực tế thì tổng số lân rất ít có ý nghĩa, vì tuyệt

đại bộ phận lân ở dạng khó tiêu đối với cây trồng (Bảng 1) Chất hữu cơ đóng vai trò đặc biệtquan trọng trong việc giải phóng lân và duy trì nồng độ P trong dung dịch

Bảng 1 Thành phần nhóm lân trong đất chính Việt nam

Loại đất P hoà tan Fe-P Al-P Ca-P P dễ tiêu

(mg/100g)(% tổng số lân khoáng của đất)

Trang 25

1% chất hữu cơ, năng lực cố định lân có thể tăng thêm khoảng 50 ppm P (Nguyễn Tử Siêm vàctv,1981).

Trong đất dốc thoái hoá ở Việt Nam Al-P và Fe-P chuyển hoá từ dạng hoạt động sang dạng cốkết có thể đạt đến 45-55% tổng số lân Sự chuyển hoá này làm cho lân dễ tiêu giảm xuống rấtthấp, 2-3 mg/100g đất trong khi mức độ dễ tiêu P trong đất thường cần 8-10 mg/100 g đất đốivới nhiều cây trồng (Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên,1987)

Với năng lực chelat hoá cao, các hợp chất hữu cơ có thể liên kết các oxyt sắt, nhôm, loại trừ

độc tính của chúng và giải phóng lân tránh cho lân bị giữ chặt trong dạng khó tiêu

Chất hữu cơ giữ vai trò đặc biệt đối với chế độ dinh dưỡng kali trong đất đồi núi, nơi hàmlượng kali nghèo và dễ bị rửa trôi Hơn nữa phần lớn cây trồng trên đất đồi núi có nhu cầukali cao (cây có củ, chè, cà phê, mía, cây có sợi, cây ăn quả) Kali từ nguồn hữu cơ (cỏ dại,phụ phẩm, phân xanh ) có thể đáp ứng phần lớn nhu cầu phân kali là loại phân hoàn toànphải nhập khẩu

Như có thể thấy trong bảng 2 chất hữu cơ đất có tương quan chặt chẽ với phần lớn tính chấthoá học của độ phì nhiêu đất

Chất hữu cơ là nguồn chủ yếu của các cation trao đổi trong đất dốc Nghiên cứu trước đây(Nguyễn Tử Siêm,1974) đã cho thấy các hợp chất hữu cơ trong đất đồi núi Việt Nam rất giàucác nhóm cácboxyl đóng góp quan trọng vào phức hệ hấp thu trong khi phần khoáng có vaitrò ít quan trọng hơn do khoáng sét trong đất chủ yếu là nhóm 2:1 có khả năng hấp thu trao

đổi không cao Đất dốc, nhất là đất phát triển trên đá macma axit bị xói mòn rửa trôi vốn rấtnghèo keo khoáng (Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, 1991) Bởi vậy CEC phụ thuộc rất lớn vàolượng keo hữu cơ, phần cung cấp điện tích mang dấu âm cho vị trí hấp thu trong phức hệ trao

đổi Trong đất có thành phần cơ giới nhẹ sự phụ thuộc CEC vào các chất hữu cơ càng mạnh

mẽ hơn so với phụ thuộc vào phần khoáng của đất Sự phụ thuộc CEC vào hữu cơ trong các

đất có khoáng trội là kaolinit tỏ ra mạnh hơn so với đất có khoáng trội là montmorillonit(Bảng 3)

Bảng 2 Hệ số tương quan (r) giữa chất hữu cơ với tính chất đất

Trang 26

Theo dõi trên nương trồng sắn sau 30 năm khai hoang đất feralit trên phiến thạch TháiNguyên trị số CEC giảm từ17 |đ|/100g xuống cón 9,5 |đ|/100g đất trong khi hàm lượng C cũnggiảm từ 4,3% xuông 2,4%.Việc đưa chất hữu cơ mới làm tăng CEC rõ rệt ngay cả đất vốn đã

có hàm lượng C khá cao như đất đỏ ba dan.Điều đó cho thấy chất hữu cơ mới có hoạt tính caohơn so với chất hữu cơ nội tại của đất mà vị trí hấp thu đã bị bão hoà Hơn nữa việc đưa chấthữu cơ mới vào đất làm cho đất giầu hydrat cacbon, axit humic, axit fulvic đóng vai trò chấtngăn ngừa cố định lân (Nguyễn Tử Siêm 1974)

Trang 27

Bảng 3 Sự chi phối CEC do phần hữu cơ và phần khoáng đất (%)

Đất nâu đỏ ba dan 3.82 45.0 22.0 58 42

Đất đen nhiệt đới 4,47 55.0 21.8 63 37

Đất phù sa sông Hồng 2,40 29,0 18.9 57 43

Đất phù sa Mekong 2,55 27.8 16.7 32 68

Đất phèn Mekong 3,51 26.4 15.7 31 69

IV Cải thiện độ phì nhiêu đất bằng phân xanh

1 Trồng phân xanh kiểm soát xói mòn và rửa trôi

Theo dõi của chúng tôi cho thấy xói mòn ít nhất là ở đất còn thảm rừng, khi mặt đất được thựcvật và thảm rụng che phủ Khi đưa đất vào sử dụng nông nghiệp, nhất là trồng cây ngắn ngày

và giai đoạn cây lâu năm mới trồng, đất bị rửa trôi xói mòn mạnh mẽ (Bảng 4)

Bảng 4 Hiệu quả chống xói mòn của cây phân xanh trên đất phiến thạch dốc 20%, bình

quân 5 lần quan trắc

(t/ha/năm)

Nước trôi bề mặt (m 3 /ha)

Nước trôi (% so với lượng mưa)

Dưới rừng thứ sinh 16,5 158,0 9,5

Sắn trồng xen cốt khí 80,2 458,8 27,4

Trang 28

Trồng phân xanh làm cây phủ đất hoặc trồng xen tạo băng chắn làm giảm đáng kể xói mònmặt đất, ngăn ngừa trượt đất, gột rửa dinh dưỡng Hiệu quả của cây phân xanh thân bò thường

rõ hơn cây thân đứng xét về mặt chống mất đất trên bề mặt

2 Cải thiện tính chất vật lý đất

Đối với cây trồng cạn, việc tạo ra môi trường thích hợp cho bộ rễ phát triển là điều kiện quantrọng tiên quyết vì thoái hoá vật lý đất là khó khắc phục hơn nhiều so với sự sửa chữa nhữngsuy thoái về dinh dưỡng bằng việc bón phân để bổ cứu Trong mọi trường hợp, nương trồng

bị bỏ hoá do độ phì nhiêu cạn kiệt đều theo dõi thấy tính chất vật lý đất bị thoái hoá trầmtrọng, đất trở nên chặt cứng, kém tơi xốp, độ ẩm cây héo cao Trong tình hình đó cây phânxanh có thể giúp hồi phục nhanh chóng trạng thái vật lý đất (Bảng 5)

Bảng 5 Trồng phân xanh cải tạo tính chất vật lý đất

Sức chứa ẩm tối đa (%) 35,8 41,1

Đoàn lạp >1 mm (%) 31,0 38,5

3 Cải thiện chế độ nước và tiết kiệm nước tưới

Trên đất dốc rửa trôi trên bề mặt rất nghiêm trọng Với độ dốc 10-20%, lượng nước trôi trênmặt chiếm 35% tổng lượng mưa, trên độ dốc 25% con số này lên tới 45-60%, tuỳ theo loại đất

và cường độ mưa Khả năng ngăn dòng chảy trên mặt là rất khả quan như đã khẳng định ởnhiều kết quả công bố trước đây

4 Cải thiện tình trạng chất hữu cơ đất

Chất hữu cơ của cây phân xanh rất giàu hydrat cácbon, nhóm chức cacbo xylic và các hợpchất đạm Các thành phần này xúc tiến sự hình thành a xit humic, fulvic, nhất là các hợp chất

tự do và liên kết với phần khoáng của đất Việc vùi phân xanh vào đất làm cho đất giàu vậtchất mùn, bền vững hơn đối với xói mòn và rửa trôi (Bảng 6) Cấu trúc đất cũng được cảithiện rõ rệt xét về mặt hình thành đoàn lạp, độ tơi xốp và giữ nước

Trang 29

Bảng 6 Hiệu quả của phân xanh đối với vật chất mùn trên đất phiến thạch

H-R 2 O 3

C% axit fulvic

Tỷ lệ C ah/C af

Không phân xanh Có phân xanh

5 Tăng nguồn dinh d−ỡng và cải thiện hiệu lực phân bón

Khối l−ợng dinh d−ỡng phân xanh đem lại là rất đáng kể, đặc biệt là đạm và kali Trung bìnhmột hecta phân xanh trồng đông đặc có thể đ−a lại 500 kg N và 500 kg K (Bảng 7)

Bảng 7 L−ợng dinh d−ỡng của phân xanh (kg/ha)

Cốt khí 498,0 34,0 448,0 113,1 90,3

Muồng sợi 295,3 19,0 338,8 62,3 47,2Hồng đáo 199,0 20,0 80,6 44,0 38,0

Vật liệu hữu cơ phân xanh có thể ngăn ngừa rất hiệu quả sự kết tủa lân do Fe và Al di động vàduy trì khá lâu nồng độ lân dễ tan trong dung dịch đất (Bảng 8)

Trang 30

Bảng 8 Thành phần nhóm lân trong đất khác nhau

Lân dễ tiêu (mg/ 100g đất) 4,3 10,1

Trong đất feralit thoái hoá có vùi phân xanh, sự chuyển hoá lân theo chiều hướng hình thànhnhiều hơn P-Ca, các dạng hoạt động của Fe-P, Al-P và giảm dạng cố kết của Fe-P và Al-P.Kết quả là năng lực giữ chặt lân giảm đi và lượng lân dễ tiêu tăng lên Việc vùi phân xanh cóthể duy trì lân dễ tiêu ở mức thoả đáng cho cây trồng (trên 10 mg/100 g đất) trong nhiềutháng, trong khi bón phân lân khoáng (dạng tecmô phôt phát) chỉ duy trì được lân dễ tiêutrong vài ngày

6 Cải thiện môi trường đất vùng rễ

Trồng và vùi phân xanh vào đất làm cải thiện rất rõ môi trường đất quanh hệ rễ như đã quansát thấy hiệu ứng cải thiện độ xốp, cấu trúc đất, chế độ nhiệt và ẩm

V Những cây phân xanh thích hợp

Trên đồi núi có rất nhiều cây trồng và cây hoang dại có thể dùng làm cây phân xanh cải tạo

đất ờ miền Bắc Việt nam có tới 120 loài có thể sử dụng, trong đó 102 loài thuộc họ cánhbướm chưa kể cây họ đậu ăn hạt (Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, 1992) Một số cây được sửdụng rộng rãi ghi ở bảng 9

Trên đất dốc cây phân xanh có vai trò quan trọng hơn so với đồng bằng vì tiềm năng phânxanh lớn và nhu cầu phục hồi đất lại cao Một khối lượng lớn chất hữu cơ thô như thảm mục,cây đai rừng, cây hàng rào băng chắn, phụ phẩm thu hoạch có thể dùng làm phân bón trongkhi ở đồng bằng chất hữu cơ phải dùng để làm chất đốt

Trang 31

Bảng 9 Năng suất và dinh d−ỡng một số cây phân xanh chính ở Việt Nam

Cỏ lào Eupatorium odoratum 10,5 2,30 0,65 3,20Keo dậu Leucaena glauca 3,25 0,67 2,55Trinh nữ Mimosa inermis 8,5 3,15 0,87 0,85Trinh nữ có gai Mimosa sp 11,4 2,47 0,82 0,96

Đậu mèo Mucuna sp 7,6 3,33 0,58 0,43

Đậu răng ngựa Phaseolus calcaratus 7,8 5.25 0,44 0,75

Điền thanh Sesbania canabina 15,8 2,88 0,54 1,40

Điền thanh hạt tròn Sesbania paludoza 13,6 2,55 0,60 0,96Cốt khí Tephrosia candida 7,2 3,58 0,33 1,82Quì dại Thitonia diversifolia 35,0 3,10 0,50 4,50

Cỏ stylô Stylosanthes gracilis 16,2 3,22 0,51 0,68

Đậu Hồng đáo Vigna sinensis 12,8 3,05 0,56 0,72

Trang 32

Điều tra ở các tỉnh phía Bắc và Tây Nguyên cho thấy trong số rất nhiều cây đã thử nghiệm,chỉ có một số cây thích hợp đang được nông dân sử dụng Những ưu điểm quan trọng củachúng là: đa mục đích, tốc độ nhân giống nhanh, dễ thu hoạch, tỷ lệ nảy mầm cao, dễ bố trívào cơ cấu cây trồng chính.

1 Trồng phân xanh làm cây tiên phong cải tạo đất

Đối với các đất thoái hoá hoặc bỏ hoá, trong nhiều trường hợp không thể trồng cây được trongnhững năm đầu vì độ phì quá thấp, vì cỏ dại lấn át hay đơn giản là không có phân bón bổsung Trong hoàn cảnh đó cách hiệu quả và kinh tế nhất là trồng cây phân xanh tiên phongsản xuất chất xanh tại chỗ cải tạo đất Một số cây đã đượo xác định là thích hợp nhất chomục đích này, như đậu mèo, cốt khí, muồng lá dài, muồng lá tròn, muồng sợi Trung bình cóthể sản xuất 10-15 tấn chất hữu cơ/ ha Các loài này có thể chịu hạn tốt, cố định đạm cao,kiểm soát được cỏ dại đặc biệt là cỏ tranh

2 Trồng cây phân xanh làm hàng rào chắn gió giữa các lô trồng có thể dùng cốt khí,muồng hoa vàng, muồng sợi, muồng lá tròn , cỏ vetiver kết hợp Trong nội bộ lô trồng câylâu năm có thể trồng thành băng xen giữa hàng cây chính các loại phân xanh như cốt khí,muồng, điền thanh, đậu mèo, hồng đáo, muồng sợi, stylô đậu triều

- Đối với vườn cà phê hoặc chè, keo dậu, muồng lá nhọn , muồng hoa vàng tỏ ra rất thíchhợp làm cây bóng mát

- Để thiết lập đai rừng chắn gió thì muồng hoa vàng, bạch đàn, phi lao, keo tai tượng,keo lá tràm được trồng phổ biến Ngoài tác dụng cải tạo đất, nhiều cây phân xanh cũng

được sử dụng làm thức ăn cho chăn nuôi như cỏ voi, cỏ Ghi nê, stylô

VI Lời kết

1 Tuần hoàn chất hữu cơ đóng vai trò quyết định trong việc phục hồi và sử dụng hiệu quả

đất thoái hoá ở Việt Nam Chất hữu cơ do cây phân xanh đưa lại có quan hệ đến tất cả cácyếu tố quyết định độ phì nhiêu của đất Đất dốc hiện còn được bón rất ít phân hoá học vìvậy rất cần phải bón thêm Song phân hoá học đơn độc là không thể phục hồi độ phìnhiêu đất dốc thoái hoá vốn đã bị suy thoái trầm trọng về mặt chất hữu cơ

2 Tốc độ hình thành sinh khối nhanh chóng trong điều kiện nhiệt đới ẩm là một ưu thế quantrọng để hồi phục lớp thảm thực vật và sản xuất một lượng lớn chất hữu cơ ngay trên đấtdốc, là công cụ mạnh để cải tạo đất Là một hợp phần trong hệ cây trồng trên đất đồi núi,cây phân xanh bảo đảm tạo lập một hệ sinh thái nông-lâm bền vững, giữ đất, giữ nước vàtạo ra nền cơ bản cho thâm canh trên đất dốc

3 Để phát triển có hiệu quả cây phân xanh trên đất dốc, điều quan trọng là chúng phải đượcnông dân chấp nhận Những tiêu chí cần có là: cây đa mục đích, sinh khối cao, năng suấthạt cao, độ nảy mầm tốt, dễ thu hái, khả năng nhân giống vô tính và tái sinh cao

Trang 33

Tài liệu tham khảo

1 Fridland VM., 1964

Đất và vỏ phong hoá nhiệt đới ẩm NXB Khoa học, Matxcơva

2 Nguyễn Tử Siêm, 1974

Thành phần và bản chất chất hữu cơ đất nhiệt đới ẩm Việt Nam

Luận văn Trường ĐHTH Matxcơva

3 Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, 1987

Nhận xét về đất ba dan thoái hoá ở Tây Nguyên KHKTNN Số 1

4 Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, 1991

Farming systems and soil conservation in Vietnam

"Contour", ASOCON Newsletter, No.3 , Vol 3

5 Nguyen Tu Siem, Thai Phien, 1992

Organic recycling for soil improvement in Vietnam

Report 4th Annual Meeting of IBSRAM-ASlALAND Network, Hanoi

Trang 34

Green manure plants in organic matter

recycling and sloping land fertility

Vigorious growth of plants in humid tropical climate offer a special advantage for rapidlyestablishing vegetation cover and producing large amount of organic sources on the slopingsoils, a strong tool for soil improvement As a component of the cropping system on thesloping areas, green manure plant ensure a sustainable silvo-agricultural ecosystemconserving soil and water and creating background for intensive use of lands

For successful development of green manure plants on sloping lands, it is essential that theyare adopted by local farmers Most important criteria for them include: multipurpose, highbiomass, high seed yield and germination, easy collection of seeds, high rate of multiplication

by vegetative manner and regeneration

Meeting on Green manure cover crops for smallholder upland farms of Northern Vietnam Hanoi 1997

Trang 35

-Vai trò của cây keo dậu trong hệ thống cây trồng nông lâm nghiệp trên đất dốc ở việt nam

GS Nguyễn Hữu Nghĩa PTS Bùi Huy Hiền

Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam

đất trống đồi núi trọc ở vùng đồi núi Phần lớn đất dốc ở vùng đồi núi bị thoái hoá do xóimòn và rửa trôi Do đó, từ năm 1991 Chính phủ đã có quyết định đầu tư giúp nhân dân phủxanh 10 triệu ha đất trống đồi núi trọc đến năm 2000 và chính sách khoa học và công nghệtrong chương trình 327 của Chính phủ (15/9/1992) đã ghi: Thực hiện các biện pháp nông lâmkết hợp, nhanh chóng phủ xanh đất trống đồi núi trọc Tăng độ che phủ của rừng lên 40% đếnnăm 2000 (hiện nay chỉ còn khoảng 28%)

II Xây dựng, phát triển các hệ thống nông lâm nghiệp bền vững vùng trung du-miền núi

Qua thực tế sản xuất, nông dân vùng trung du và miền núi nước ta trước đây cũng như hiệnnay đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quí báu trong sản xuất nông lâm nghiệp Trước mắtcũng như lâu dài, sản xuất nông lâm nghiệp ở vùng đất dốc phải hướng tới các nội dung chínhsau:

1 Đa dạng hoá cây trồng dưới nhiều hình thức: trồng xen, trồng gối, áp dụng các công thứcluân canh (trong đó có cây họ đậu) Những ưu điểm nổi bật nhất của hệ thống canh tácnày là:

- Đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở không làm giảm tổng sản phẩm trên đơn vị diện tích,thích ứng với thị trường không ổn định

- Tăng tính đa dạng sinh học về giống, loài theo thời gian và không gian

- Sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lợi tự nhiên như: ánh sáng, nước, dinh dưỡng đất

- Tăng độ che phủ đất, chống xói mòn, rửa trôi, tái tạo được chu trình dinh dưỡng trong

đất, hạn chế cỏ dại và sâu bệnh

- Một trong những ưu điểm quan trọng nhất là giảm được rủi ro mất mùa trong phạm vitổng thể

Trang 36

2 Phát triển hệ thống canh tác trên cơ sở nông lâm kết hợp với nhiều hình thức đa dạng như:trồng cây rừng (và suy rộng ra cả cây lâu năm có tán che phủ tốt: cây ăn quả, cây côngnghiệp dài ngày) trên đỉnh đồi trên sườn núi có độ dốc cao hoặc trồng cây theo đừơng

đồng mức để hạn chế xói mòn và rửa trôi đất thông qua giảm dòng chảy trên mặt đất vàtốc độ gió

Trên qui mô rộng lớn, việc đa canh cây dài ngày và cây ngắn ngày trên cơ sở nông lâm kếthợp vừa mang lại tính bền vững cao cho toàn bộ hệ thống sản xuất nông nghiệp, vừa tạo ranhững vùng cây công nghiệp và cây ăn quả tập trung tuỳ theo điều kiện tự nhiên và kinh tế -xã hội mỗi vùng

3 Kết hợp trồng trọt và chăn nuôi là nhân tố không thể thiếu được trong sản xuất nôngnghiệp trung du - miền núi Do bình quân đất trên đầu người cao hơn đồng bằng nên chănnuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia súc, phải trở thành thế mạnh của vùng Tuy nhiên, việc kếthợp và phát triển trồng trọt và chăn nuôi là một vấn đề phức tạp Cơ cấu vật nuôi phải phùhợp với từng vùng, thậm chí từng tiểu vùng và tập quán của mỗi cộng đồng các dân tộc

4 Tăng cường phát triển và mở rộng mô hình kinh tế vườn nhà, vườn rừng, trại rừng trên cơ

sở đa dạng hoá cơ cấu cây, con Các mô hình kinh tế này sẽ mang lại thu nhập quanh nămcho hộ nông dân, không chỉ từ lương thực, chăn nuôi mà còn từ cây công nghiệp, hoa quả,dược liệu và các lâm sản

III Việc sử dụng cây keo dậu trong các hệ thống nông nghiệp bền vững vùng trung du miền núi ở nước ta trong thời gian qua

Cây họ đậu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì năng suất cây trồng trong các

hệ thống nông lâm kết hợp Một số cây gỗ họ đậu có bộ rễ dài, vì thế có khả năng giữ đất,duy trì độ bền vững của đất, có khả năng hấp thu lại độ ẩm và các chất dinh dưỡng từ các tầng

đến 500 kg/ha/năm Tuy nhiên, một đặc tính cần lưu ý là cây keo dậu chỉ có thể phát triểntrên đất trung tính và kiềm, đất có độ pH từ 5 - 8 và không phát triển trên đất úng nước Vìvậy, trên các vùng đồi núi và trung du nước ta có điều kiện đất chua (pH từ 4 đến 4,5) phảitrồng các cây họ đậu khác như: keo lá tràm, keo mỡ, cốt khí v.v để cải tạo đất

Một trong những biện pháp kể tăng cường cố định đạm của keo dậu là việc cải tạo độ chuacủa đất Trước hết là kiểm tra độ pH của đất Nếu thấy đất quá chua có thể bón thêm vôi vànếu vôi quá đắt hay không có phương tiện vận chuyển, không bón được trên toàn bộ diện tíchthì có thể làm những viên vôi bón cùng với hạt giống keo dậu

Cây keo dậu trong nông lâm kết hợp có ý nghĩa sử dụng nhiều mặt: lấy gỗ, củi, làm thức ăngia súc, phân xanh v.v Nói chung, vì người nông dân không kiên trì, nói đúng hơn là không

có điều kiện chờ đợi để thu hái đúng thời vụ mà thường thu hái sớm, vì vậy gỗ chặt ra thường

có kích thước bé, không thích hợp cho sản xuất bột giấy hoặc sử dụng làm cột, ván sàn, thanhầm Do vậy, gỗ của keo dậu mới được sử dụng làm củi là chính để khai thác ưu điểm củacây là ít khói và tro

Trang 37

Đối vơi thức ăn gia súc, keo dậu có ưu điểm là cây có lá ngon, tốc độ tái sinh nhanh Dokhông có điều kiện sơ chế, nông dân mới chỉ sử dụng cành lá keo dậu làm thức ăn bổ sungthêm cho trâu, bò, dê và lợn.

Từ lâu, nông dân trồng keo dậu để làm hàng rào Để góp phần phát triển nông nghiệp trung

du miền núi, từ năm 1991 đến nay, các cơ quan nghiên cứu khoa học đã tiến hành nhiều dự ánphát triển, trong đó có mô hình sử dụng keo dậu Xây dựng các băng xanh trên đường đồngmức với cây keo dậu để cản dòng chảy, chống xói mòn và cải tạo đất ở huyện Tủa Chùa - LaiChâu, các huyện Mai Sơn, Mường La, Mộc Châu, Yên Châu và thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La,huyện Phú Lương tỉnh Bắc Thái (cũ) Đặc biệt, Chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam -Thuỵ Điển (1991 - 1996) tiến hành ở 5 tỉnh: Vĩnh Phú (cũ), Tuyên Quang, Hà Giang, YênBái, Lao Cai đã triển khai các kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc (SALT) có sử dụng keodậu trong mô hình canh tác băng cây xanh Ngoài ra, việc sử dụng keo dậu trong mô hìnhtrên còn được triển khai ở huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình hoặc keo dậu mọc thành rừng câybụi, phủ kín cả những vùng đất rất rộng lớn như loại cây mọc tự nhiên ở khắp mọi nơi vùng

đồi núi tỉnh Phú Khánh (cũ) Các mô hình nông lâm kết hợp trồng cà phê chè (coffea arabica)

có cây keo dậu được trồng làm cây che bóng thấp được triển khai ở Đắc Lắc, Pleiku - Gia Lai

Tổng hợp kết quả đạt được có thể rút ra những kết luận như sau:

1 Keo dậu chỉ trồng ở nơi đất còn tốt và có pH (KCI) > 5,5 Để tránh lá bị rệp, không cắttrước 20/4 hàng năm ở miền Bắc Việt Nam (chờ khi có nắng to và mưa rào mới cắt) Chỉ tiêu

pH của đất là điều kiện quyết định khả năng mở rộng diện tích keo dậu ở nước ta

2 Keo dậu được trồng ở các băng cây phân xanh theo đường đồng mức trên các nương đấtdốc, nông dân trồng lương thực (ngô, sắn cây công nghiệp (cà phê) và cây ăn quả (cam, quít,hồng, nhãn, vải) Đây là kỹ thuật tương đối phổ biến Cây keo dậu được trồng thành hàng

đơn hay kép Cây keo dậu có thể kết hợp với các loài cây họ đậu khác như: cốt khí, so đũa(Sesbania) v.v Bình quân cho 1 ha cần 5 kg hạt keo dậu Đây cũng là cây có thời gian sốnglâu nhất (trên 10 năm) Tất nhiên, khoảng cách giữa các băng cây xanh được xác định theo

độ dốc nên mật độ keo dậu trên một đơn vị diện tích sẽ khác nhau

Tuy nhiên, keo dậu sinh trưởng chậm ở năm đầu nên người nông dân không thích trồng, mặc

dù đây là cây để tăng cường sự bền vững hàng rào xanh tốt nhất Trong khi đó, ở Indonesiacho đến tận những năm gần đây, cây keo dậu (gọi theo tiếng địa phương của Indonesia là

"ipil-ipil") được trồng nhiều nhất Mặt khác, cây keo dậu ở nước này bị loài bọ nhảy phá hoạinặng, người dân buộc phải trồng các loại cây khác làm vật chắn sống trên đường đồng mức

Đây là đặc điểm cẩn phải quan tâm trong kỹ thuật quản lý để nâng cao sức chống chịu củakeo dậu đối với bọ nhảy

IV Vai trò cây keo dậu ở các hệ canh tác nông lâm kết hợp thời gian tới

Dựa vào hệ thống phân loại các hệ canh tác nông lâm kết hợp ở Việt Nam việc gieo trồng keodậu có thể được triển khai ở các hệ với các hệ phụ và mô hình trực thuộc sau:

1 Hệ nông lâm kết hợp có 3 hệ phụ mà có thể gieo trồng keo dậu:

a Hệ phụ trồng xen theo các đường băng, theo mô hình các băng keo dậu trồng trên bờ bậcthang trồng hoa màu theo đường đồng mức Trên các bờ bậc thang này, nông dân trồngcây keo dậu Cây keo dậu được đốn hàng năm, lấy phân xanh thâm canh cho cây hoa màutrong ruộng bậc thang

Trang 38

b Hệ phụ luân canh giũa rừng và nương rẫy theo mô hình cây keo dậu được trồng luân canhgiũa thảm cây bụi tự nhiên và nương rẫy hoặc luân canh giữa rừng trồng cây gỗ họ đậu,mọc nhanh và nương rẫy Thích hợp nhất để trồng keo dậu là đất nâu đỏ bazan hoặc đất

đen trên núi lửa có độ bão hoà bazơ cao, pH gần trung tính

c Hệ phụ các cây gỗ trồng tạo tán che cho các cây trồng cho thu hoạch mùa vụ Mô hình ở

đây là cây bóng mát và phân xanh là cây keo dậu để trồng cà phê chè Mô hình nông lâmkết hợp trồng cà phê chè có tầng cây gỗ che bóng trên cao là muồng đen, tầng che bóngthấp là keo dậu

2 Hệ súc - lâm có một hệ phụ có thể trồng keo dậu theo hai mô hình:

• Cây keo dậu trồng kết hợp với cây họ đậu khác để tạo thành băng cản súc vật, thực hiệnchăn thả luân phiên

• Cây keo dậu trồng kết hợp với các cây họ đậu khác để tạo thành băng cản súc vật vàtrồng cây rải rác trên đồng cỏ để tạo bóng mát cho gia súc và thục hiện chăn thả luânphiên

Đất đồi núi thường có độ pH rất dao động: chỗ có nhiều đá vôi, đất thường kiềm và có độ pHcao hơn Ngược lại, các vùng đất đồi khác đều có độ pH thấp (3,5 - 4,5) Vì cây keo dậuthích hợp với đất có độ pH từ 5 - 8, nên sau khi xác định được độ pH của đất thì mới có thểchọn được vùng đất và hệ thống nông lâm kết hợp có thể trồng keo dậu

Căn cứ vào khả năng thích hợp với đất có độ pH từ 5 - 8 của cây keo dậu nên trong hệ nônglâm kết hợp trên địa bàn có thể trồng keo dậu ở vùng đất cát ven biển và vùng đồng bằng phù

sa, ngoài vùng trung du - miền núi đã đề cập ở trên

1 Tổng diện tích các loại đất cát ven biển Việt Nam có khoảng 502.045 ha, chiếm 1,4% diệntích tự nhiên của toàn quốc Đất cát ven biển có pH từ 5,8 – 6,5 Do vậy, có thể trồng keodậu cùng với các cây gỗ khác như: phi lao, keo lá tràm, bạch đàn, muồng đen để phòng hộtrên đất cát và cồn cát ven biển

2 Các vùng đồng bằng ở Việt Nam được hình thành trên đất phù sa châu thổ màu mỡ, cótổng diện tích khoảng 8.688.400 ha, chiếm khoảng 26% tổng diện tích đất đai tự nhiên Nếuchỉ tính riêng đất phù sa mới thì diện tích đồng bằng châu thổ ở Việt Nam chỉ có 6.202.000

ha, chiếm 18,8% diện tích tự nhiên Đất phù sa trẻ có độ pH ít chua, trung tính hoặc kiềmyếu Có thể sử dụng keo dậu phối hợp với các loài cây khác như: bạch đàn trắng, phi lao, xà

cừ, cây gạo, sao xanh, sao đen, các loài tre v.v để trồng phổ biến trong các dải rừng phòng

hộ, chắn gió ở vùng đồng bằng hoặc trong mô hình VAC (vườn - ao - chuồng) Căn cứ vàocấu trúc các tầng cây gỗ, cây keo dậu phải được trồng trên tầng đất không bị úng nước Do

đó, cây keo dậu rất thích hợp trên đất phù sa thoát nước tốt (thường không bị ngập nước trongmùa mưa)

độ ẩm đất đóng vai trò quan trọng nhất Keo dậu chỉ thích hợp với đất có độ pH từ 5 - 8 vàkhông thể sinh trưởng, phát triển trên đất úng nước Ngoài ra, việc loài bọ nhảy phá hoạimạnh đặt ra nhiệm vụ phải sử dụng các nòi và cây lai keo dậu chống chịu được với bọ nhảy.Trên cơ sở đó mới mở rộng được diện tích trồng cây keo dậu để khai thác những ưu điểm của

Trang 39

c©y nµy §©y còng lµ nhiÖm vô phæ biÕn vµ khuyÕn c¸o c©y keo dËu ë n−íc ta trong t−¬nglai.

Trang 40

The role of leucaena glauca

IN UPLAND AGROFORESTRY SYSTEMS IN VIETNAM

Prof Nguyen Huu Nghia

Dr Bui Huy Hien

Vietnam Agricultural Science Institute, Hanoi

Uplands share around 24m hectares in the total 33,1 m ha of natural area or 72% ofVietnam mainland This is a home for about 24 million people, of which 9 million are ethnicminority groups

Agroforestry production in uplands should be sustainable and diversified, the soils should becovered by crops and forest trees Green manure cover crops play an important role inachieving sustainable agriculture in upland areas

Leucaena Glauca, a multipurpose tree, is also considered one of the promising species ofgreen manure cover crops Numerous on farm and field experiments on growing andutilization of Leucaena as a multi-purpose tree have been conducted in both Northern andSouthern Vietnam Preliminary findings show that Leucaena Glauca is adaptable to variousagro-ecological conditions of uplands in Vietnam, but it is unsuitable to waterloggedseriously degraded and low pH soil conditions Leucaena Glauca is considered by localfarmers as a multi-purpose tree, to be used as fodder, green manure cover crop, wood fuelproducing, timber tree

It has been recently grown by local farmers as hedgerows for contour farming on slopinglands, in mixture with other cover crops like Tephrosia candida, Crotalaria to achieve soilerosion control and better farming productivity - Leucaena is also grown densely in vast areas

to cover bare hills In coffee plantations, Leucaena Glauca is grown to provide appropriateshadow for arabica coffee, especially in the Western Plateau region

Further study is needed to improve the effects of Leucaena Glauca as multi-purpose tree onsloping lands, especially better use of this species as a green manure cover crops

Ngày đăng: 17/10/2013, 20:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.  Thành phần nhóm lân trong đất chính Việt nam - Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Bảng 1. Thành phần nhóm lân trong đất chính Việt nam (Trang 24)
Bảng 6.  Hiệu quả của phân xanh đối với vật chất mùn trên đất phiến thạch - Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Bảng 6. Hiệu quả của phân xanh đối với vật chất mùn trên đất phiến thạch (Trang 29)
Bảng 8.  Thành phần nhóm lân trong đất khác nhau - Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Bảng 8. Thành phần nhóm lân trong đất khác nhau (Trang 30)
Bảng 9.  Năng suất và dinh d−ỡng một số cây phân xanh chính ở Việt Nam - Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Bảng 9. Năng suất và dinh d−ỡng một số cây phân xanh chính ở Việt Nam (Trang 31)
Bảng 1: Năng suất chất xanh và hàm l−ợng dinh d−ỡng của các giống cây phân xanh và cây phủ họ Đậu. - Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Bảng 1 Năng suất chất xanh và hàm l−ợng dinh d−ỡng của các giống cây phân xanh và cây phủ họ Đậu (Trang 50)
Bảng 4.  Cây phân xanh với tác dụng hạn chế sự rửa trôi theo chiều thấm sâu ở tầng 0- 0-20cm trong v−ờn cà phê chè - Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Bảng 4. Cây phân xanh với tác dụng hạn chế sự rửa trôi theo chiều thấm sâu ở tầng 0- 0-20cm trong v−ờn cà phê chè (Trang 52)
Bảng 9.  Diễn biến độ ẩm (%) dưới thảm che phủ đậu mèo Thái Lan (1994). - Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Bảng 9. Diễn biến độ ẩm (%) dưới thảm che phủ đậu mèo Thái Lan (1994) (Trang 54)
Bảng 14.  Trên vườn cao su non trồng xen ở năm thứ 2 đất bazan, nông tr−ờng Tây Hiếu (1987). - Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Bảng 14. Trên vườn cao su non trồng xen ở năm thứ 2 đất bazan, nông tr−ờng Tây Hiếu (1987) (Trang 56)
Bảng 15.  Trên v−ờn cà phê che xen cây phân xanh làm bóng che, - Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Bảng 15. Trên v−ờn cà phê che xen cây phân xanh làm bóng che, (Trang 57)
Bảng 20.  Một số yếu tố dinh dưỡng đất bazan suy thoái dưới cây phân xanh phủ tầng đất ( tÇng 0-10cm) 1975. - Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Bảng 20. Một số yếu tố dinh dưỡng đất bazan suy thoái dưới cây phân xanh phủ tầng đất ( tÇng 0-10cm) 1975 (Trang 59)
Bảng 2.  Hàm lượng các chất dinh dưỡng của đất bị sụt giảm qua các phương thức sử dông - Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Bảng 2. Hàm lượng các chất dinh dưỡng của đất bị sụt giảm qua các phương thức sử dông (Trang 64)
Bảng 4.  Năng suất và hiệu suất của phân xanh, phân chuồng đối với  một số cây trồng trên một số loại đất (nền: phân hoá học) - Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Bảng 4. Năng suất và hiệu suất của phân xanh, phân chuồng đối với một số cây trồng trên một số loại đất (nền: phân hoá học) (Trang 65)
Bảng 5.  Sinh khối hữu cơ và hàm l−ợng dinh d−ỡng của cây phân xanh trồng trên đất bazan thoái hoá trong ba năm. - Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Bảng 5. Sinh khối hữu cơ và hàm l−ợng dinh d−ỡng của cây phân xanh trồng trên đất bazan thoái hoá trong ba năm (Trang 66)
Bảng 7.  Băng phân xanh ngang dốc cũng cho sinh khối hữu cơ lớn và làm tăng năng suất (bình quân 3 năm). - Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Bảng 7. Băng phân xanh ngang dốc cũng cho sinh khối hữu cơ lớn và làm tăng năng suất (bình quân 3 năm) (Trang 67)
Bảng 9.  Cây phân xanh và băng phân xanh làm chậm xuất hiện dòng chảy, giảm l−ợng n−ớc trôi. - Hội thảo cây phân xanh phủ đất trên đất các nông hộ vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Bảng 9. Cây phân xanh và băng phân xanh làm chậm xuất hiện dòng chảy, giảm l−ợng n−ớc trôi (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w