1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn Ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất khẩu trên địa bàn TP.HCM

148 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 3,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT LUẬN VĂN Xuất phát từ thực tế cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH



LÊ NGỌC LIÊN

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH

LỰA CHỌN NGÂN HÀNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU

TRÊN ĐỊA BÀN TP.HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TÊ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH



LÊ NGỌC LIÊN

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH

LỰA CHỌN NGÂN HÀNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU

TRÊN ĐỊA BÀN TP.HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : KINH DOANH THƯƠNG MẠI

Mã số : 60340121 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS NGUYỄN ĐÔNG PHONG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Kính thưa Quý thầy cô,

Tôi tên Lê Ngọc Liên, là học viên cao học khóa 21 – Lớp Thương mại đêm – Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh

Tôi xin cam đoan luận văn “ Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu trong đề tài này được thu thập và sử dụng một cách trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn nào và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác trước đây

TP.HCM, ngày 27 tháng 09 năm 2013

Tác giả luận văn

Lê Ngọc Liên

Trang 4

MỤC LỤC Trang phụ bìa

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ viii

TÓM TẮT LUẬN VĂN ix

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1.Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1

1.2.Mục tiêu nghiên cứu 4

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 5

1.4 Phương pháp nghiên cứu 5

1.5 Tính mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

1.6 Kết cấu của báo cáo nghiên cứu 8

Tóm tắt chương 1 9

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 10

2.1 Lý luận về thanh toán quốc tế 10

2.1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế và phương thức thanh toán quốc tế 10

2.1.2 Các phương thức thanh toán quốc tế thông dụng 11

2.1.2.1 Chuyển tiền (Telegraphic Transfer - TT) 12

2.1.2.2 Nhờ thu (Collection) 13

2.1.2.3.Tín dụng chứng từ (Documentary Credits) 15

Trang 5

2.2 Dịch vụ thanh toán quốc tế của các ngân hàng tại thành phố Hồ Chí Minh

18

2.3 Quyết định lựa chọn ngân hàng 21

2.4 Các tiêu chuẩn lựa chọn ngân hàng 24

2.4.1.Giá cả 26

2.4.2 Cấp tín dụng 29

2.4.3 Danh tiếng của ngân hàng 31

2.4.4 Sự hiệu quả trong hoạt động thường ngày 34

2.4.5 Sự thuận tiện 36

2.5 Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 38

Tóm tắt chương 2 39

Chương 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 40

3.1 Quy trình nghiên cứu 40

3.2 Thiết kế nghiên cứu 42

3.2.1 Nghiên cứu định tính 44

3.2.2 Nghiên cứu định lượng 45

3.3 Phân tích dữ liệu 48

Tóm tắt chương 3 49

Chương 4: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 50

4.1 Mô tả mẫu 51

4.2 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 54

4.3 Phân tích yếu tố khám phá EFA 60

4.3.1 Phân tích nhân tố - Biến độc lập 60

4.3.2 Phân tích nhân tố - Biến phụ thuộc 65

4.4 Phân tích hồi quy đa biến 66

4.4.1 Lần 1 66

4.4.1.1 Phân tích hệ số tương quan lần 1 66

Trang 6

4.4.1.2 Kết quả phân tích hồi quy lần 1 67

4.4.2 Lần 2 70

4.4.2.1 Phân tích hệ số tương quan lần 2 70

4.4.2.2 Kết quả phân tích hồi quy lần 2 70

4.5.Dò tìm các vi phạm giả định cần thiết 72

4.5.1 Giả định liên hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập cũng như hiện tượng phương sai thay đổi (heteroskedasticity) 72

4.5.2 Giả định về phân phối chuẩn của phần dư 72

4.5.3 Giả định không có mối tương quan giữa các biến độc lập (đo lường đa cộng tuyến) 73

4.6.Thảo luận kết quả và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 74

Tóm tắt chương 4 78

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP 80

5.1 Kết luận 80

5.2 Giải pháp 81

5.2.1 Sự hiệu quả trong hoạt động thường ngày 81

5.2.2 Cấp tín dụng 83

5.2.3 Danh tiếng 85

5.2.4 Giá cả 86

5.3 Hạn chế 87

Tóm tắt chương 5 89

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Tiếng Việt 90

Tiếng Anh 90

PHỤ LỤC 97

Phụ lục A: Kết quả của nghiên cứu sơ bộ 97

Phụ lục B: Bảng câu hỏi sử dụng trong nghiên cứu chính thức 98

Phụ lục C: Danh sách doanh nghiệp tham gia điều tra 102

Phụ lục D: Kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu 114

1 Thống kê mô tả 114

2 Phân tích Cronbach’s Alpha cho các thang đo 116

3 Phân tích nhân tố khám khá EFA các biến độc lập 121

4 Phân tích nhân tố khám phá EFA biến phụ thuộc 126

5 Phân tích tương quan giữa các nhân tố 129

6 Phân tích hồi quy 132

7 Dò tìm các vi phạm giả định cần thiết 136

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Tên đầy đủ tiếng Anh Tên đầy đủ tiếng Việt

STP Award Straight – Through -

Processing Award

Giải thưởng ngân hàng thanh toán quốc tế xuất

sắc SWIFT Society for Worldwide

Interbank Financial Telecommunication

Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng và tài chính

quốc tế

Practice for Documents

Credits

Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng

chứng từ

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 : Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2010 –

2013 1

Bảng 2.1: Các tiêu chuẩn lựa chọn ngân hàng của khách hàng doanh nghiệp 22

Bảng 2.2: So sánh sự quan trọng của giá cả đối với người mua và người bán 27

Bảng 2.3: Các nhân tố của mô hình 5R 32

Bảng 4.1: Mô tả mẫu 50

Bảng 4.2: Hệ số Cronbach's Alpha của thang đo “ Giá cả” 55

Bảng 4.3: Hệ số Cronbach's Alpha của thang đo “Cấp tín dụng” 55

Bảng 4.4: Hệ số Cronbach's Alpha của thang đo “Danh tiếng” 56

Bảng 4.5: Hệ số Cronbach's Alpha của thang đo “Hiệu quả trong hoạt động thường ngày” 57

Bảng 4.6: Hệ số Cronbach's Alpha của thang đo “Sự thuận tiện” 58

Bảng 4.7: Hệ số Cronbach's Alpha của thang đo “Quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế” 59

Bảng 4.8: Phương sai giải thích (Total Variance Explained) 61

Bảng 4.9: Kết quả xoay nhân tố 62

Bảng 4.10: Tóm tắt kết quả nhóm nhân tố 64

Bảng 4.11: Hệ số tải nhân tố của biến phụ thuộc 65

Bảng 4.12: Phương sai giải thích của biến phụ thuộc 66

Bảng 4.13: Tóm tắt mô hình lần thứ nhất 67

Bảng 4.14: Phân tích phương sai ANOVA lần 1 68

Bảng 4.15: Tóm tắt các hệ số hồi quy lần 1 69

Bảng 4.16: Tóm tắt mô hình lần 2 70

Bảng 4.17: Phân tích phương sai ANOVA lần 2 71

Bảng 4.18: Tóm tắt các hệ số hồi quy (lần 2) 71

Bảng 4.19: Tóm tắt biện luận giả thuyết 77

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá các sản phẩm dịch vụ ngân hàng 28 Hình 2.2 Mô hình quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế 38 Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 41

Trang 11

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Xuất phát từ thực tế cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng cung cấp dịch vụ

thanh toán quốc tế, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” nhằm mục tiêu

xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc

tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân

tố đến việc lựa chọn chọn ngân hàng thanh toán quốc tế, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp các ngân hàng nâng cao tính cạnh tranh của dịch vụ thanh toán quốc tế

Đề tài tập trung nghiên cứu năm nhân tố: (1) Giá cả, (2) Cấp tín dụng, (3) Danh tiếng của ngân hàng, (4) Sự hiệu quả của ngân hàng trong hoạt động thường ngày và (5) Sự thuận tiện Dựa trên lý thuyết nền tảng và các thang đo đã được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây kết hợp với đặc điểm của dịch vụ thanh toán quốc tế, tác giả đã tiến hành xây dựng thang đo, kiểm định thanh đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Sau đó tác giả phân tích hồi quy bội để tìm ra phương trình hồi quy

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy tồn tại mối tương quan dương giữa 4 nhân tố (Giá cả, Cấp tín dụng, Hiệu quả trong hoạt động thường ngày, Danh tiếng) với quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Mỗi nhân tố thể hiện mức độ ảnh hưởng khác nhau lên quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế, nhiều nhất là nhân

tố Sự hiệu quả của ngân hàng trong hoạt động thường ngày, kế tiếp là Cấp tín dụng, Danh tiếng và Giá cả Điều này giúp cho các nhà lãnh đạo của ngân hàng xem xét mỗi nhân tố với mức độ thận trọng khác nhau

Trang 12

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Chương đầu tiên sẽ giới thiệu lý do tác giả chọn đề tài để thực hiện cùng mục tiêu nghiên cứu cụ thể Tác giả cũng giới thiệu đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Tính mới của đề tài và ý nghĩa khoa học cũng như thực tiễn mà nghiên cứu mang lại sẽ được thảo luận Phần cuối cùng là kết cấu của nghiên cứu

1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Hoạt động xuất nhập khẩu đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước ở nhiều phương diện Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian vừa qua đã gia tăng đáng kể mặc dù phải chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới Đóng góp vào tổng kim ngạch xuất nhập khẩu không thể không kể đến thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước với tỷ

lệ xấp xỉ 25% trong năm 2012

Bảng 1.1 : Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục Thống kê www.gso.gov.vn

Thanh toán quốc tế là một mắt xích không thể thiếu trong quá trình mua bán

Trang 13

với đối tác nước ngoài với sự tham gia của các ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế Dịch vụ này không những giúp cho việc kinh doanh của các doanh nghiệp được thông suốt mà còn giúp cho doanh nghiệp hạn chế được rủi ro trong thanh toán ở mức thấp nhất có thể Do đó, việc lựa chọn ngân hàng để giao dịch thanh toán quốc tế luôn được các doanh nghiệp xem xét một cách cẩn trọng Song song đó, đối với các ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế, đây là một dịch vụ đem lại nhiều nguồn thu thông qua phí dịch vụ, hoạt động kinh doanh ngoại hối, lãi chiết khấu, ngoài ra còn giúp tăng huy động vốn, bán chéo sản phẩm cũng như nâng cao hình ảnh trong và ngoài nước, góp phần khẳng định tính hiện đại và chuyên nghiệp của ngân hàng

Theo thông tin từ Ngân hàng nhà nước Việt Nam, tính đến ngày 30/06/2013,

cả nước có 5 ngân hàng thương mại nhà nước với khoảng 1.350 chi nhánh và phòng giao dịch, 35 ngân hàng thương mại cổ phần với hơn 1.000 điểm giao dịch, 50 chi nhánh ngân hàng nước ngoài cùng các ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài Như vậy, thị trường ngân hàng không chỉ là sân chơi của riêng các ngân hàng Việt Nam mà còn có sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài và hầu hết các ngân hàng đều cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế với các sản phẩm đa dạng, đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng cao của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Chất lượng của hoạt động thanh toán quốc tế cũng ngày càng được các ngân hàng chú trọng Hàng năm, các định chế tài chính quốc tế hàng đầu như Citibank,

JP Morgan, Wells Fargo, HSBC, Standard Chartered Bank,…đều trao tặng giải thưởng “ Ngân hàng thanh toán quốc tế xuất sắc” STP Award (Straight – Through - Processing Award) cho những ngân hàng có hoạt động thanh toán quốc tế hiệu quả, đạt quy chuẩn cao Giải thưởng này được đánh giá trên cở sở các phân tích về khả năng thực hiện các giao dịch thanh toán thông suốt về tổng thể cũng như mức độ chuyên nghiệp và chất lượng của từng giao dịch hàng ngày chính xác, kịp thời Có thể kể đến một số ngân hàng được Citibank Việt Nam trao tặng giải thưởng danh giá này vào tháng 11/2011 như Ngân hàng Ngoại thương Vietnam (Vietcombank), Ngân hàng đầu tư và phát triển Vietnam (BIDV), Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển

Trang 14

nông thôn Vietnam (Agribank), Ngân hàng Công thương Vietnam (Vietinbank), Ngân hàng thương mại cổ phần Á châu (ACB), Ngân hàng TMCP Saigon Thương Tín (Sacombank), Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt nam (Techcombank), Ngân hàng TMCP quân đội (Military Bank), Ngân hàng TMCP Đông Á (DongA Bank), Ngân hàng TMCP Phương Đông (Oricombank), Ngân hàng TMCP phát triển nhà

TP Hồ Chí Minh (HDBank), Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southern Bank), Indovina Bank, Ngân hàng TMCP Nhà đồng bằng sông Cửu Long(MHB), Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank), Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (Seabank), Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế (VIB), Ngân hàng TMCP Petrolimex (PGBank), Ngân hàng thương mại cổ phần Việt nam Thịnh vượng (VPBank), Ngân hàng TMCP Nam Việt (Navibank) [66]

Như vậy, trong bối cảnh chất lượng dịch vụ ngày càng ngang bằng và sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu là hoàn toàn cần thiết Thật vậy, nếu xem hoạt động thanh toán quốc

tế là một miếng bánh thì miếng bánh này đã được chia thành nhiều phần với tỷ lệ rất khác nhau Theo tổng hợp của Đặng Ngọc Yến (2012) từ báo cáo thường niên của các ngân hàng thì trong giai đoạn từ 2007 đến 2011, Vietcombank chiếm khoảng

20% thị phần thanh toán quốc tế (thị phần được tính bằng chỉ tiêu doanh số thanh

toán quốc tế của một ngân hàng/kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước), kế tiếp là

các ngân hàng DongAbank, ACB, Sacombank, Techcombank, Eximbank với thị phần từ 1-3%, phần còn lại thuộc về các ngân hàng khác Vậy điều gì làm nên sự khác biệt giữa các ngân hàng trong dịch vụ thanh toán quốc tế? Vì sao doanh nghiệp chọn ngân hàng này thay vì một ngân hàng khác để giao dịch thanh toán quốc tế? Một khi ngân hàng hiểu được quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng sẽ biết làm thế nào để lôi kéo và giữ chân

khách hàng Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả đã chọn thực hiện đề tài “Các nhân

tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”

Trang 15

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết

định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc lựa chọn chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

- Đề xuất một số giải pháp giúp các ngân hàng nâng cao tính cạnh tranh

của dịch vụ thanh toán quốc tế

Câu hỏi nghiên cứu

- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu?

- Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó ra sao trong quyết định lựa chọn

chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu?

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng của nghiên cứu này là các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa

bàn thành phố Hồ Chí Minh, trong đó tập trung vào năm nhân tố như Giá cả, Cấp tín dụng, Danh tiếng ngân hàng, Sự hiệu quả của ngân hàng trong hoạt động thường ngày và Sự thuận tiện Các nhân tố khác nằm ngoài chủ đề của nghiên

cứu này

Trang 16

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi các ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh, trong đó bao gồm các ngân thương mại cổ phần, một số ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng nước ngoài Đây

là các ngân hàng hiện nay đang cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế trên thị trường 1.4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua 2 bước: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

- Nghiên cứu định tính: thực hiện phỏng vấn chuyên sâu một số đối tượng có

kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng và doanh nghiệp Bước này dùng để đánh giá sơ bộ thang đo sử dụng trong nghiên cứu định lượng tiếp theo

- Nghiên cứu định lượng: với kích thước mẫu phù hợp, nghiên cứu định

lương dùng để kiểm định lại thang đo và mô hình nghiên cứu Tác giả sử dụng phần mềm xử lý dữ liệu thống kê SPSS 16 để xử lý số liệu Công cụ hệ

số tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố EFA (Exploratory Factor Analysis), phân tích hồi quy tuyến tính được sử dụng để kiểm tra mối quan

hệ giữa các biến độc lập và các biến phụ thuộc

1.5 Tính mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trên thế giới, các nghiên cứu về quyết định lựa chọn ngân hàng của khách hàng doanh nghiệp đã được thực hiện trong thời gian dài và tại nhiều quốc gia khác nhau nhằm giúp các ngân hàng hiểu được khách hàng lựa chọn ngân hàng như thế nào Qua các nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra những tiêu chuẩn lựa chọn ngân hàng rất khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu và phạm vi của nghiên cứu Schlesinger

và cộng sự (1987) nhận thấy rằng 3 nhân tố quan trọng nhất trong việc lựa chọn

ngân hàng của 174 doanh nghiệp nhỏ ở New York là lãi suất cho vay, khả năng đáp

Trang 17

ứng như cầu vay vốn và số lượng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp Một số nghiên

cứu khác liên quan đến sự lựa chọn ngân hàng của các khách hàng doanh nghiệp lớn cũng được thực hiện ở ngoài nước Mỹ Một cuộc điều tra các doanh nghiệp Canada được thực hiện bởi Rosenblatt và cộng sự (1988), một cuộc điều tra các công ty Nam Phi được thực hiện bởi Turnbull và Gibbs (1989) và một một điều tra

về hành vi trong lĩnh vực ngân hàng ở HongKong của Chan và Ma (1990) cho thấy

chất lượng dịch vụ, chuyên môn của đội ngũ nhân viên là những nhân tố quan trọng

trong quá trình lựa chọn ngân hàng Trong International Journal of Bank Marketing

16/6 (1998), bài báo của Nielsen và cộng sự Business banking in Australia: a comparison of expectations đã đưa ra 15 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa

chọn ngân hàng của khách hàng doanh nghiệp, trong đó có 6 nhân tố được xem là

quan trọng hơn cả Đó là: Ngân hàng sẵn sàng đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách

hàng, Ngân hàng hiệu quả trong những hoạt động thường ngày, Ngân hàng hiểu về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, Ngân hàng đưa ra phí sản phẩm dịch vụ cạnh tranh, Ngân hàng tạo nên mối quan hệ cá nhân với khách hàng, Ngân hàng có thể cung cấp tất cả các sản phẩm dịch vụ được yêu cầu

Tuy nhiên nghiên cứu về quyết định lựa chọn ngân hàng tại Việt Nam vẫn còn hạn chế và có rất ít nghiên cứu tập trung vào sản phẩm riêng biệt là thanh toán quốc tế Bên cạnh đó, các nghiên cứu về thanh toán quốc tế lại chủ yếu liên quan đến các chủ đề khác và chưa tìm hiểu sâu về quyết định lựa chọn ngân hàng đối với dịch vụ này Thật vậy, tác giả đã thực hiện một tổng hợp dựa trên các đề tài nghiên cứu về thanh toán quốc tế được thực hiện tại Đại học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến năm 2012 Kết quả cho thấy các đề tài về thanh toán quốc tế tập trung chủ yếu vào ba chủ đề sau:

1 Rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế, đặc biệt là trong phương thức tín dụng chứng từ Dạng đề tài này chiếm đến 24%

2 Phát triển, đẩy mạnh, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của dịch vụ thanh toán quốc tế Với tỷ lệ 45%, dạng đề tài này được chọn để thực hiện thường xuyên

Trang 18

nhất

3 Các khía cạnh kỹ thuật của nghiệp vụ thanh toán quốc tế như mô hình xử lý tập trung (Nguyễn Trần Nhật Thuyên, 2012), kỹ thuật sử dụng điện SWIFT (Phạm Văn Tiến, 2005)

Ngoài ra, các tác giả còn thực hiện một số đề tài khác liên quan đến tăng trưởng thị phần thanh toán quốc tế (Đặng Ngọc Yến, 2012) hoặc nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thanh toán quốc tế (Nguyễn Thị Mỹ Phượng, 2012) Tuy nhiên, vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế

Trong bối cảnh đó, đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” sẽ giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quát về

quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế cùng các nhân tố ảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này Như vậy, về mặt lý thuyết nghiên cứu này sẽ lấp được phần nào lỗ hổng trong lý thuyết: nhân tố nào là nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Về mặt thực tiễn, nghiên cứu này có thể giúp các ngân hàng hiểu được những nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định của khách hàng mình Từ những thông tin đó, ngân hàng có thể hoạch

định lại chiến lược để thu hút và giữ chân khách hàng

Trang 19

1.6 Kết cấu của báo cáo nghiên cứu

Báo cáo nghiên cứu này được chia thành năm chương

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương này giới thiệu sự cần thiết của đề tài nghiên cứu cũng như mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, tính mới và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu

Trong chương này, tác giả cung cấp cơ sở lý luận về thanh toán quốc tế và thực trạng dịch vụ thanh toán quốc tế tại các ngân hàng Bên cạnh đó, tác giả giới thiệu

về quyết định lựa chọn ngân hàng của khách hàng doanh nghiệp, đưa ra lý do chọn

năm nhân tố để nghiên cứu Đó là Giá cả, Cấp tín dụng, Danh tiếng ngân hàng, Sự

hiệu quả của ngân hàng trong hoạt động thường ngày, Sự thuận tiện Đối với năm

nhân tố này, định nghĩa và các nghiên cứu liên quan sẽ lần lượt được làm rõ Mô

hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu cũng được đưa ra trong chương này

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Dựa trên mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu ở chương 1, và cơ sở lý luận cùng mô hình nghiên cứu ở chương 2, chương này đặc biệt giới thiệu quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên

cứu

Chương 4: Kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu

Chương 4 sẽ mô tả mẫu và giới thiệu kết quả của nghiên cứu sau khi phân tích dữ liệu Dựa trên kết quả này, tác giả sẽ thực hiện nghiên cứu chuyên sâu về mỗi nhân

tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của khách hàng

doanh nghiệp

Chương 5: Kết luận và giải pháp

Chương 5 tóm tắt những kết luận chính của nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp dựa trên kết quả của những chương trước Tác giả cũng nhìn nhận một số hạn chế

của đề tài và đưa ra hướng nghiên cứu trong tương lai

Trang 20

Tóm tắt chương 1

Trong bối cảnh chất lượng dịch vụ ngang bằng và sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế là ngày càng gay gắt, tác giả đã chọn thực hiện đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế và mức độ ảnh hưởng của chúng Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi các ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh và thông qua 2 bước nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu sẽ giúp phần nào lắp được lỗ hỏng trong lý thuyết về chủ đề này và là tài liệu tham khảo có giá trị đối với các ngân hàng, giúp các ngân hàng biết được khách hàng lựa chọn ngân hàng như thế nào, từ đó đề ra chiến lược hiệu quả để thu hút và

giữ chân khách hàng

Trang 21

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương 2 giới thiệu cơ sở lý luận về thanh toán quốc tế, đặc điểm và rủi ro của từng phương thức đối với cả người bán và người mua Bên cạnh đó tác giả sẽ khái quát tình hình cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế tại các ngân hàng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, để người đọc có cái nhìn bao quát về thực trạng này Tiếp theo, tác giả sẽ giới thiệu những nghiên cứu trong quá khứ về quyết định lựa chọn ngân hàng của khách hàng doanh nghiệp kèm theo những tiêu chuẩn lựa chọn ngân hàng cụ thể Từ đó, tác giả xây dựng giả thuyết và đề nghị mô hình

nghiên cứu

2.1 Lý luận về thanh toán quốc tế

2.1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế và phương thức thanh toán quốc tế

Trong quan hệ quốc tế sâu rộng giữa các quốc gia, quan hệ kinh tế (mà chủ yếu là ngoại thương) vẫn giữ một vị trị vô cùng quan trọng và là cơ sở cho các quan

hệ quốc tế khác tồn tại và phát triển Các hoạt động trao đổi quốc tế dẫn đến nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau từ đó hình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò cầu nối giữa các bên

Như vậy, Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và

quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan

Khái niệm trên cho thấy thanh toán quốc tế phục vụ cả hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế Tuy được phân chia như vậy nhưng trong thực tế giữa hai lĩnh vực này thường giao thoa với nhau Trong các quy chế về thanh toán và thực tế tại các ngân hàng thương mại, người ta thường phân loại hoạt động thanh toán quốc tế thành hai lĩnh vực rõ ràng là: thanh toán trong ngoại thương (hay thanh

toán mậu dịch) và thanh toán phi ngoại thương (hay thanh toán phi mậu dịch)

Trang 22

- Thanh toán trong ngoại thương: là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng

hóa nhập khẩu và cung ứng các dịch vụ thương mại cho nước ngoài theo giá

cả thị trường quốc tế Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho

nhau là hợp đồng ngoại thương

- Thanh toán phi ngoại thương: là việc thực hiện thanh toán không liên quan

đến hàng hoá xuất nhâp khẩu cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài, nghĩa là thanh toán cho các hoạt động không mang tính thương mại Đó là việc chi trả các chi phí của các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí

đi lại của các đoàn khách nhà nước, tổ chức và cá nhân, các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhân người nước ngoài cho cá nhân trong nước, các nguồn trợ cấp của một tổ chức từ thiện nước ngoài cho tổ chức, đoàn thể trong nước

Việc thanh toán giữa hai chủ thể thuộc hai quốc gia khác nhau phải được tiến hành thông qua ngân hàng bằng những phương thức thanh toán nhất định

Trần Hoàng Ngân (2008) đã định nghĩa phương thức thanh toán quốc tế là cách thức thực hiện chi trả một hợp đồng xuất nhập khẩu thông qua trung gian ngân hàng bằng cách trích tiền từ tài khoản của nhà nhập khẩu chuyển vào tài khoản của nhà xuất khẩu căn cứ vào hợp đồng ngoại thương và chứng từ do hai bên cung cấp cho ngân hàng Việc lựa chọn phương thức thanh toán quốc tế nào tùy thuộc vào sự thương lượng giữa hai bên và phù hợp với tập quán cũng như luật lệ trong thanh

toán và buôn bán quốc tế vụ thanh toán quốc tế tại các ngân hàng

2.1.2 Các phương thức thanh toán quốc tế thông dụng

Thanh toán quốc tế đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới và chủ

yếu được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng trên toàn cầu Ba phương thức thanh toán quốc tế thông dụng nhất hiện nay là: phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu và phương thức tín dụng chứng từ

Trần Hoàng Ngân (2008) đã giới thiệu 3 phương thức này như sau [6]

Trang 23

2.1.2.1 Chuyển tiền (Telegraphic Transfer - TT)

Chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó một khách hàng của ngân hàng (gọi là người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng ở một địa điểm nhất định

Chuyển tiền gồm có hai hình thức: chuyển tiền trả trước và chuyển tiền trả sau Chuyển tiền trả sau là hình thức chuyển tiền trả cho người xuất khẩu trước khi nhận hàng Ngược lại, chuyển tiền trả trước là hình thức mà trong đó người xuất khẩu được chuyển tiền trước khi giao hàng Trên thực tế, hai phía có thể áp dụng chuyển tiền “hỗn hợp”, tức là trả trước một phần, trả sau một phần theo một tỷ lệ nhất định để giảm thiểu rủi ro cho cả hai

Trong phương thức này, ngân hàng phục vụ người chuyền tiền sẽ thực hiện việc chuyển tiền trong khi ngân hàng phục vụ người thụ hưởng sẽ tiến hành báo có

Có thể nói, chuyển tiền là nghiệp vụ thanh toán đơn giản, trong đó người chuyển tiền và người nhận tiền tiến hành thanh toán trực tiếp với nhau Ngân hàng khi thực hiện chuyển tiền chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo ủy nhiệm để hưởng phí

và không bị ràng buộc bất cứ trách nhiệm gì đối với người chuyển và người thụ

hưởng

Ưu nhược điểm và điều kiện vận dụng:

Trong phương thức chuyển tiền, ngân hàng chỉ là trung gian thực hiện chuyển tiền theo yêu cầu của khách hàng và nhận phí dịch vụ chứ không bị ràng buộc gì cả Việc giao hàng của bên xuất khẩu và trả tiền của bên nhập khẩu hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và thiện chí của mỗi bên Vì vậy, quyền lợi của người xuất khẩu khó đảm bảo nếu chuyển tiền trả sau Trái lại, quyền lợi của người nhập khẩu khó đảm bảo nếu chuyển tiền trả trước

Phương thức chuyển tiền có ưu điểm là thủ tục thanh toán đơn giản, thời gian thanh toán nhanh chóng và phí dịch vụ ngân hàng thấp so với các phương thức khác

Bên xuất khẩu và nhập khẩu thường áp dụng phương thức này trong trường hợp hai bên mua bán có quan hệ lâu đời và tín nhiệm lẫn nhau hay khi giá trị hợp

Trang 24

đồng mua bán không lớn lắm Khi phát sinh mâu thuẫn quyền lợi hoặc thiếu tín

nhiệm lẫn nhau, trong thương lượng hai bên sử dụng phương thức khác thích hợp 2.1.2.2 Nhờ thu (Collection)

Nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ tiến hàng ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ nhà nhập khẩu dựa trên cơ sở hối phiếu và chứng từ do người xuất khẩu lập ra

Trong phương thức nhờ thu, các ngân hàng tham gia vào quá trình thanh toán sâu hơn so với phương thức chuyển tiền Mức độ tham gia của các ngân hàng vào quá trình nhờ thu phụ thuộc hoàn toàn vào nội dung các chỉ thị và những gì (chứng từ) mà người bán ủy quyền cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ

Điểm cần lưu ý là trong mọi trường hợp thì hành động của ngân hàng luôn tuân theo các quy tắc chuẩn quốc tế, đó là Uniform Rules For Collection No.522- Qui tắc thống nhất về nhờ thu số 522, bản sửa đổi năm 1995 do Phòng Thương mại Quốc tế ban hành

Các loại nhờ thu căn bản

- Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collections)

Nhờ thu phiếu trơn là phương thức thanh toán, trong đó, người bán gửi hàng

và bộ chứng từ thương mại trực tiếp cho người mua, sau đó gửi yêu cầu đòi tiền (hối phiếu ký phát) qua ngân hàng phục vụ mình để ngân hàng này thu hộ số tiền hối phiếu

Trong phương thức nhờ thu phiếu trơn, người bán mất quyền kiểm soát hàng hóa và chưa được thanh toán cũng như không có bảo lãnh thanh toán ngay từ lúc hàng gửi đi, do đó rủi ro thanh toán hoàn toàn thuộc về người bán

Trang 25

- Nhờ thu kèm chứng từ dạng DA (Document Collection DA)

Đây là nhờ thu, trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu

hộ tiền trên cơ sở bộ chứng từ Bộ chứng từ nhờ thu bao gồm yêu cầu đòi tiền (hối phiếu) và kèm theo chứng từ thương mại

Điều kiện trao bộ chứng từ thương mại cho người mua đi nhận hàng là: người mua phải ký chấp nhận thanh toán hối phiếu tại một thời điểm nhất định trong tương lai với chỉ thị rằng “Document against Acceptance – DA” Như vậy, trong phương thức này thì rủi ro thanh toán hoàn toàn vẫn thuộc về người bán, bởi

vì người mua nhận hàng chỉ với lời hứa sẽ được thanh toán trong tương lai, còn việc

thanh toán hay không thì chưa chắc chắn

- Nhờ thu kèm chứng từ dạng DP (Document Collection DP)

Điều kiện trao bộ chứng từ thương mại trong phương thức này là: trao chứng từ khi được thanh toán “Document against Payment – DP” Do chứng từ chỉ được trao khi nhận được thanh toán, do đó rủi ro đối với người bán có giảm so với phương thức

DA Bởi vì, nếu người mua không thanh toán thì người bán vẫn còn nguyên quyền định đoạt hàng hoá

Ưu nhược điểm và điều kiện vận dụng:

Trong phương thức nhờ thu, ngân hàng chỉ là trung gian thu hộ thực hiện theo yêu cầu của khách hàng và nhận phí dịch vụ Đối với phương thức thanh toán theo D/P, ngân hàng sẽ chịu trách nhiệm đảm bảo đủ tiền thanh toán trước khi giao chứng từ cho nhà nhập khẩu Đối với phương thức thanh toán theo DA, việc thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và thiện chí của bên nhập khẩu

Nhìn chung, Phương thức nhờ thu an toàn hơn phương thức chuyển tiền nhưng phí dịch vụ ngân hàng cao hơn so với phương thức chuyển tiền

Bên xuất khẩu và nhập khẩu thường áp dụng phương thức này trong trường hợp hai bên mua bán có quan hệ lâu đời và tín nhiệm lẫn nhau hay khi giá trị hợp đồng mua bán không lớn lắm Khi phát sinh mâu thuẫn quyền lợi hoặc thiếu tín

nhiệm lẫn nhau, trong thương lượng hai bên sử dụng phương thức khác

Trang 26

2.1.2.3.Tín dụng chứng từ (Documentary Credits)

Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán quốc tế được đánh giá là ưu việt hơn cả trong thanh toán quốc tế vì nó khắc phục được những nhược điểm của các phương thức khác Nội dung phương thức tín dụng chứng từ được thực hiện theo bản “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (Uniform Customs and Practice for Documents Credits), phiên bản mới nhất là UCP600

Tín dụng chứng từ là phương thức trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó nếu người này xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định nêu ra trong thư tín dụng

Theo UCP 600 thì Thư tín dụng nghĩa là bất cứ thỏa thuận được gọi hoặc miêu tả như thế nào, theo đó ngân hàng (ngân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu và chỉ thị của khách hàng (người yêu cầu mở Thư tín dụng ) hoặc đại diện cho chính bản thân mình:

- Thanh toán cho, hoặc theo lệnh của phía thứ ba (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận

và thanh toán hối phiếu do Người thụ hưởng ký phát hoặc:

- Ủy quyền cho ngân hàng khác thanh toán, chấp nhận và thanh toán hối phiếu hoặc

- Cho phép ngân hàng khác chiết khấu chứng từ quy định trong Thư tín dụng, với điều kiện chúng phù hợp với tất cả các điều khoản và điều kiện của Thư tín dụng

Trong phương thức tín dụng chứng từ, có ba mối quan hệ hợp đồng được

hình thành:

Thứ nhất, quan hệ hợp đồng giữa người mua và người bán, được thể hiện

bằng các điều khoản quy định trong hợp đồng mua bán (bao gồm điều khoản quy định về phương thức thanh toán) Nếu người mua và người bán đồng ý chọn phương thức tín dụng chứng từ thì nó cũng phải được thể hiện thành điều khoản trong hợp đồng mua bán

Thứ hai, quan hệ hợp đồng giữa người mua (người đề nghị mở LC) và ngân

Trang 27

hàng phục vụ người mua (ngân hàng phát hành LC)

Thứ ba, quan hệ hợp đồng giữa ngân hàng phục vụ người mua (ngân hàng

phát hành LC) và người thụ hưởng LC (người bán) Mối quan hệ này là hệ quả của hai mối quan hệ trên nhưng lại là một nghĩa vụ hợp đồng độc lập của ngân hàng phát hành LC

Trong phương thức chuyển tiền, ngân hàng đơn thuần chỉ thực hiện chức năng chuyển tiền theo yêu cầu của người mua và nhận tiền hộ người bán Trong nhờ thu, các ngân hàng tham gia xử lý chứng từ do người bán gửi đến và hành động với vai trò là đại lý của người bán Tuy nhiên, trong phương thức tín dụng chứng từ, các ngân hàng đã tham gia chủ động và tích cực hơn nhiều, theo đó các ngân hàng thực hiện trả tiền theo cam kết của mình Theo đó, nghĩa vụ của Ngân hàng phát hành đối với người thụ hưởng là không huỷ ngang và vô điều kiện (nghĩa là ngân hàng không được nêu lý do từ chối thanh toán nếu người bán đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện

của LC)

Các loại LC:

- LC có thể hủy ngang (Revocable LC): Là LC mà người mở (nhà nhập

khẩu) có quyền đề nghị ngân hàng phát hành sửa đổi, bổ sung, hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không cần sự chấp thuận và thông báo trước của người thụ hưởng (nhà xuất khẩu) Vì quyền lợi người xuất khẩu không được bảo đảm, do đó, loại LC này hầu như không được sử dụng trong thực tế mà chỉ tồn tại trên lý thuyết

- LC không thể hủy ngang (Irrevocable LC): Là loại LC sau khi được

mở thì người yêu cầu mở L/C sẽ không được tự ý sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ trong thời hạn hiệu lực của nó, trừ khi có sự thỏa thuận khác của các bên tham gia LC Đây là loại LC được áp dụng rộng rãi nhất trong thanh toán quốc tế và là loại LC cơ bản nhất

- LC không thể hủy ngang có xác nhận (Confirmed Irrevocable LC): Là

loại LC không thể hủy ngang, theo yêu cầu của ngân hàng phát hành, một ngân hàng khác xác nhận đảm bảo trả tiền cho LC này Do có hai

Trang 28

ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nên đây là loại đảm bảo nhất cho nhà xuất khẩu

- LC chuyển nhượng (Transferable LC): Là LC không hủy ngang, theo

đó, người hưởng lợi thứ nhất chuyển nhượng một phần hay toàn bộ nghĩa vụ thực hiện LC cũng như quyền đòi tiền mà mình có được cho những người hưởng lợi thứ hai, mỗi người hưởng lợi thứ hai nhận cho mình một phần thương vụ

- LC giáp lưng (Back to back LC): Sau khi nhận được LC do người

nhập khẩu mở, người xuất khẩu sử dụng chính LC này làm căn cứ bảo đảm, đề nghị ngân hàng phát hành một thư tín dụng khác cho người khác hưởng với nội dung gần giống như LC ban đầu

- LC tuần hoàn (Revolving LC): Là loại LC không hủy ngang, trong đó

có điều khoản quy định, sau khi đã sử dụng hết giá trị hoặc đã hết thời hạn hiệu lực, lại bắt đầu có giá trị như cũ và được tiếp tục sử dụng như vậy trong một thời hạn nhất định

- LC đối ứng (Reciprocal LC): Là loại LC chỉ có hiệu lực thanh toán

cho người thụ hưởng sau khi đã có một LC khác của bên đối tác cũng

đã được mở ra

- LC điều khoản đỏ (Red Clause LC): Là loại LC mà ngân hàng phát

hành ủy nhiệm cho ngân hàng thông báo thanh toán một số tiền nhất định, trong phạm vi giá trị của LC cho người thụ hưởng, ngay cả khi người này chưa thực hiện nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa cho người thụ hưởng

- LC dự phòng (Standby LC): Là loại LC được phát hành nhằm mục

đích trực tiếp bảo vệ quyền lợi cho nhà nhập khẩu Ngân hàng phục

vụ nhà xuất khẩu phát hành LC dự phòng cho nhà nhập khẩu hưởng, cam kết thanh toán tiền cho nhà nhập khẩu nếu nhà xuất khẩu không

có khả năng giao hàng hoặc không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng như

đã quy định trong LC

Trang 29

Ưu nhược điểm và điều kiện vận dụng:

Trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng đóng vai trò cung cấp tín dụng cho người nhập khẩu và cam kết trả tiền cho người xuất khẩu chứ không chỉ làm trung gian đơn thuần như những phương thức thanh toán khác Đây là một phương thức thanh toán có quy trình chặt chẽ đảm bảo được quyền lợi cho các bên trực tiếp tham gia và được sử dụng phổ biến nhất hiện nay Song cũng là phương thức thanh toán khá phức tạp, tốn nhiều thời gian và chi phí

Ngân hàng chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán căn cứ trên chứng từ xuất trình theo LC mà không quan tâm đến tình hình thực tế của hàng hóa Vì vậy, nếu hàng hóa thực tế không khớp với chứng từ có thể xảy ra rủi ro cho nhà nhập khẩu

2.2 Dịch vụ thanh toán quốc tế của các ngân hàng tại thành phố Hồ Chí Minh

Đáp ứng nhu cầu thanh toán của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, dịch vụ thanh toán quốc tế của các ngân hàng tại thành phố Hồ Chí Minh ra đời và không ngừng hoàn thiện, mang lại cho khách hàng những tiện tích ngày càng cao

- Dựa trên các phương thức thanh toán quốc tế thông dụng, các ngân hàng đã

xây dựng những sản phẩm cơ bản sau:

+ Nhập khẩu

 Chuyển tiền: mậu dịch và phi mậu dịch

 Nhờ thu: trả ngay (DP) và trả chậm (DA)

 Thư tín dụng: phát hành LC, ký hậu vận đơn/phát hành thư đảm bảo nhận hàng, xử lý chứng từ và thực hiện thanh toán

Khi mở LC, ngân hàng sẽ yêu cầu doanh nghiệp phải ký quỹ một tỷ lệ nhất định, từ 0-100% Mức ký quỹ này sẽ dao động tùy thuộc vào mức độ quen biết, uy tín, khả năng thanh toán, tài sản đảm bảo của doanh nghiệp, tính khả thi của phương án kinh doanh Về lâu dài, để việc mở LC được thuận tiện, ngân hàng sẽ tiến hành cấp hạn

Trang 30

mức mở LC cho doanh nghiệp dựa trên cơ sở đánh giá nhu cầu, khả năng thanh toán

và tình hình tài chính của doanh nghiệp

+ Xuất khẩu

 Nhận tiền đến

 Thông báo thư tín dụng

 Chuyển nhượng thư tín dụng

 Xuất trình và thanh toán bộ chứng từ theo thư tín dụng

 Gửi nhờ thu hộ bộ chứng từ hàng xuất

 Chiết khấu chứng từ hàng xuất

- Ngoài các sản phẩm truyền thống trên, trong thời gian gần đây, các ngân

hàng đã bắt đầu giới thiệu một số sản phẩm mới có tính ưu việt như:

Chuyển tiền nhanh: áp dụng đối với người thụ hưởng ở các nước châu Á, chuyển tiền và nhận tiền trong ngày

LC trả chậm thanh toán ngay (UPAS - Usance Payable At Sight): nhằm

đáp ứng nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp Nhập khẩu thông qua việc chuyển

LC thanh toán tiền hàng từ "trả ngay" thành "trả chậm” Doanh nghiệp

nhập khẩu được thanh toán chậm tiền hàng trên cơ sở bảo lãnh của ngân hàng Doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài (người thụ hưởng) được thanh toán ngay

Cách thức giao dịch cũng dần được cải tiến Thông thường, trong phương thức chuyển tiền, khách hàng phải gửi hồ sơ gốc bằng giấy cho ngân hàng với chữ

ký và con dấu theo quy định Hiện nay, một số ngân hàng phát triển kênh ngân hàng trực tuyến (ebanking) cho phép khách hàng gửi hồ sơ trực tuyến và bổ sung hồ sơ gốc sau Những ngân hàng phát triển được tiện ích này thường được khách hàng đánh giá cao

Bên cạnh sản phẩm là các phương thức thanh toán quốc tế, sản phẩm thanh

toán quốc tế còn bao gồm các loại ngoại tệ mà ngân hàng có thể đáp ứng Hầu hết

Trang 31

các ngân hàng đều có sẵn loại ngoại tệ thông dụng như USD, trong khi EUR, GBP thì nguồn ngoại tệ hạn chế hơn, khách hàng khi có nhu cầu thanh toán phải thông báo trước với ngân hàng Ngoài ra, những loại ngoại tệ ít sử dụng chỉ được đáp ứng bởi một số ngân hàng nhất định, ví dụ CNY được cung cấp bởi các ngân hàng chuyên về thanh toán biên mậu, KOR bởi các ngân hàng Hàn Quốc

Một sản phẩm khác liên quan đến thanh toán quốc tế là các công cụ phòng ngừa rủi ro về tỷ giá có thể kể đến như hợp đồng kỳ hạn…Doanh nghiệp thường

sử dụng các loại công cụ này trong trường hợp thanh toán trả chậm cho nước ngoài Tuy rất cần thiết nhưng không phải tất cả các ngân hàng đều cung cấp các sản phẩm này, một mặt do chính bản thân ngân hàng không cung cấp, mặt khác một số doanh

nghiệp vẫn chưa thật sự quan tâm đến các sản phẩm này

- Phí dịch vụ các loại Các phí này được thông báo trên trang web của các

ngân hàng Ngoài mức phí chung được thông báo rộng rãi, các phí này có thể được thỏa thuận riêng giữa ngân hàng và khách hàng Ngân hàng có thể áp dụng chính sách phí đặc biệt – miễn giảm phí một hoặc một số các dịch vụ -

cho những khách hàng có giao dịch thường xuyên và doanh số lớn

- Tỷ giá ngoại tệ Tỷ giá mua và bán của các loại ngoại tệ được các ngân hàng

niêm yết tuân theo biên độ của Ngân hàng nhà nước Trong một số trường hợp, doanh nghiệp có thể thỏa thuận với ngân hàng về tỷ giá: ngân hàng mua ngoại tệ với với giá cao hơn và bán ngoại tệ với giá thấp hơn Giữa các ngân hàng luôn tồn tại sự cạnh tranh về tỷ giá Các ngân hàng lớn hoặc ngân hàng nước ngoài thường có lợi thế về tỷ giá hơn so với các ngân hàng nhỏ

- Hiện nay, các ngân hàng đều mở rộng hệ thống chi nhánh, phòng giao dịch của mình cũng như quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài Tuy nhiên,

mở rộng quan hệ đến mức độ nào, điều này còn tùy thuộc vào nội lực và chiến lược của từng ngân hàng

- Về mặt tổ chức thực hiện, hầu hết các ngân hàng đều sử dụng mô hỉnh xử lý tập trung gồm trung tâm thanh toán đặt tại Hội sở và bộ phận thanh toán

Trang 32

quốc tế ở các chi nhánh Trung tâm thanh toán này sẽ thực hiện các xử lý chuyên môn và sẵn sàng tư vấn về chuyên môn cho chi nhánh Trong khi đó,

bộ phận thanh toán quốc tế ở chi nhánh sẽ trực tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, gửi yêu cầu xử lý lên Hội sở và thông báo kết quả cho khách hàng Bộ phận thanh toán quốc tế chi nhánh sẽ chịu trách nhiệm về tính pháp lý của hồ

sơ cũng như giải đáp thắc mắc, xử lý khiếu nại đồng thời thực hiện công tác chăm sóc khách hàng Ưu điểm của mô hình này là hồ sơ được xử lý tập trung tại Hội sở, do đó, thời gian xử lý nhanh chóng, ít xảy ra sai sót do các nhân viên làm việc ở hội sở thường được đào tạo bài bản và chuyên sâu về thanh toán quốc tế Bên cạnh đó, nhân viên ở chi nhánh sẽ có nhiều thời gian

để phát triển và chăm sóc khách hàng

2.2 Quyết định lựa chọn ngân hàng

Khi đề cập đến thuật ngữ “lựa chọn”, chúng ta luôn nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương thức hay cách thức tối ưu trong

số những điều kiện hay cách thực hiện có để đạt được mục tiêu trong các điều kiện khan hiếm nguồn lực

Quyết định lựa chọn ngân hàng của khách hàng cũng vậy Theo các nghiên cứu trên thế giới, quyết định lựa chọn ngân hàng của khách hàng luôn chịu ảnh hưởng của những nhân tố nhất định

Trang 33

Bảng 2.1: Các tiêu chuẩn lựa chọn ngân hàng của khách hàng doanh nghiệp

Tác giả Nước thực hiện

công ty

Những tiêu chuẩn lựa chọn ngân hàng của các khách hàng doanh nghiệp nhỏ được trình bày dưới dạng kim tự tháp, bao gồm 5 cấp độ từ đáy cho đến đỉnh như sau: tính bảo mật, nguồn nhân lực chuyên nghiệp, tư vấn cho doanh nghiệp, sự thuận tiện và chất lượng sản phẩm dịch vụ File and

Prince (1991)

[23]

USA Mẫu gồm 582

công ty nhỏ

Các tiêu chuẩn lựa chọn ngân hàng là: giá cả, tính bảo mật, hỗ trợ doanh nghiệp, sự thuận tiện, giới thiệu của người khác, chú ý đến nhu cầu cá nhân, sản phẩm dịch vụ, quảng cáo, danh tiếng, công nghệ hiện đại, tình trạng tài chính của ngân hàng, bảo đảm tiền gửi, quy mô ngân hàng…

Zineldin

(1995) [64]

Thụy Điển Mẫu ngẫu nhiên:

179 công ty, trong đó có 90 công ty nhỏ

Các tiêu chuẩn quan trọng trong quyết định lựa chọn ngân hàng: uy tín tốt, lãi suất cạnh tranh, quan hệ tốt với giám đốc ngân hàng, tốc độ giao dịch nhanh, tư vấn và dịch vụ gia tăng, quan hệ tốt với đội ngũ nhân viên

Nielsen et al

(1995) [42]

Úc Mẫu gồm 384 công ty với 115 doanh nghiệp nhỏ

Các tiêu chuẩn quan trọng trong quyết định lựa chọn ngân hàng: nhu cầu tín dụng được thỏa mãn, sự thuận tiện, quan hệ cá nhân, tình trạng tài chính tốt, giá cạnh tranh, quan hệ dài hạn, quyết định nhanh, giao dịch hiệu quả, hiểu biết doanh nghiệp, danh tiếng, giới thiệu

Trang 34

Edris and

Almahmeed

(1997) [21]

Kuwait Mẫu gồm 304 công ty

Các tiêu chuẩn quan trọng trong quyết định lựa chọn ngân hàng: quy mô ngân hàng, nhân sự hiệu quả, danh tiếng, hiểu biết doanh nghiệp, mạng lưới giao dịch, lãi suất cạnh tranh, phí cạnh tranh, giờ giao dịch, quảng cáo

Mols et al

(1997) [39]

Châu Âu Mẫu gồm 1129 công ty lớn tại 20 nước Châu Âu

Các tiêu chuẩn quan trọng trong quyết định lựa chọn ngân hàng: chất lượng dịch vụ, giá cả, quan hệ, hệ thống chi nhánh, danh tiếng

Tyler and

Stanley (1999)

[60]

UK Phòng vấn 7 ngân hàng và

chuyên sâu 16 khách hàng doanh nghiệp lớn

Khách hàng doanh nghiệp quan tâm đến 2 yếu tố: kỹ thuật và vận hành

Kỹ thuật: nhân viên ít sai sót, chuyên môn cao, giao dịch nhanh chóng, tư vấn tốt, khắc phục sự

cố Vận hành: năng suất, niềm tin, sẵn sàng giao tiếp, khả năng hiểu nhu cầu của khách hàng,

Nguồn: tổng hợp bởi tác giả

Từ bảng tổng hợp trên có thể thấy rằng khi lựa chọn ngân hàng, khách hàng doanh nghiệp luôn đặt ra những tiêu chuẩn cụ thể và xem xét mức độ đáp ứng của các ngân hàng đối với những yêu cầu này Các tiêu chuẩn này có thể thay đổi tùy theo đối tượng doanh nghiệp được nghiên cứu và đối với mỗi đối tượng doanh nghiệp, mức độ quan trọng của các tiêu chuẩn này cũng khác nhau

Câu hỏi được đặt ra là tại sao các ngân hàng cần phải xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng của khách hàng doanh nghiệp Zeithmal và cộng sự (1990) đã tìm hiểu mối liên hệ giữa lợi nhuận của ngân hàng

và số lượng khách hàng tăng thêm Nghiên cứu của họ đã cho rằng lợi nhuận của

Trang 35

ngân hàng có liên quan chặt chẽ với sự tăng trưởng của số lượng khách hàng Trong cuộc cạnh tranh gay gắt, việc các ngân hàng phải hiểu được “Khách hàng chọn ngân hàng như thế nào?” là rất quan trọng Sau đó, chỉ có ngân hàng mới thực hiện được những nỗ lực marketing để có thêm nhiều khách hàng Nếu xác định sai những yếu

tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng của khách hàng thì ngân hàng sẽ

làm marketing không đạt hiệu quả cao [62] Nghiên cứu của Boyd et al., (1994)

cũng cho rằng khi môi trường kinh tế thay đổi nhanh chóng và khách hàng trở nên phức tạp và đòi hỏi hơn, việc quan trọng mà các định chế tài chính phải làm là xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình lựa chọn của khách hàng [14]

Tuy nhiên, các nhân tố đóng vai trò quan trọng trong sự lựa chọn ngân hàng ở một

vùng này nhưng có thể lại không quan trọng ở vùng khác (Almossawi, 2001) [8] 2.4 Các tiêu chuẩn lựa chọn ngân hàng

Như đã đề cập ở phần trước, khi quyết định lựa chọn một ngân hàng để thực hiện giao dịch, các doanh nghiệp luôn đặt ra những tiêu chuẩn cụ thể làm cơ sở cho

sự lựa chọn của mình Các tiêu chuẩn đó có thể được liệt kê như sau: chất lượng sản

phẩm, giá cả dịch vụ, nhu cầu tín dụng được thỏa mãn, lãi suất cạnh tranh, sự thuận tiện, danh tiếng, uy tín, tình trạng tài chính tốt, tính bảo mật, giao dịch hiệu quả, hiểu biết doanh nghiệp, sự giới thiệu, nhân lực chuyên nghiệp, ít sai sót, sẵn sàng giao tiếp, công nghệ hiện đại, quy mô ngân hàng, tốc độ giao dịch nhanh, quan hệ tốt với giám đốc ngân hàng và đội ngũ nhân viên

Các tiêu chuẩn kể trên qua các nghiên cứu trong quá khứ đã được chứng minh có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng của khách hàng doanh nghiệp, tuy nhiên, trong thời gian nghiên cứu hạn chế, tác giả khó có thể thực hiện nghiên cứu trên tất cả các tiêu chuẩn này Mặt khác, qua quá trình làm việc thực tế

và thời gian quan sát lâu dài, tác giả nhận thấy các khách hàng doanh nghiệp biểu lộ

sự quan tâm đặc biệt đến một số tiêu chuẩn nhất định, tập trung vào các nhân tố như

giá cả sản phẩm dịch vụ, nhu cầu tín dụng được thỏa mãn, danh tiếng ngân hàng, sự hiệu quả trong hoạt động thường ngày và sự thuận tiện

Trang 36

Giá cả dịch vụ bao gồm cả tỷ giá ngoại tệ là chi phí mà doanh nghiệp phải

trả để thực hiện giao dịch thanh toán quốc tế, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí của doanh nghiệp, đặc biệt đối với những doanh nghiệp thường xuyên giao dịch với doanh số lớn Nếu chi phí này càng thấp thì lợi nhuận của doanh nghiệp càng cao

Về nhu cầu tín dụng, cần nhìn nhận một thực tế rằng doanh nghiệp giao dịch

thanh toán quốc tế với doanh số lớn thường là những doanh nghiệp có vay vốn ngân hàng để thanh toán hàng nhập hoặc làm hàng xuất, trong khi các doanh nghiệp thanh toán bằng vốn tự có chỉ chiếm số ít và doanh số không quá cao Như vậy, có thể thấy trong cơ cấu doanh số thanh toán quốc tế tại một ngân hàng, khách hàng doanh nghiệp có vay vốn chiếm tỷ lệ lớn hơn và do đó ảnh hưởng lớn hơn đến hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng so với doanh nghiệp thanh toán bằng vốn tự

có Doanh nghiệp có thể giao dịch thanh toán quốc tế ở bất cứ ngân hàng nào nếu thanh toán bằng vốn tự có, tuy nhiên trong trường hợp sử dụng vốn vay, doanh nghiệp bắt buộc phải sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế của chính ngân hàng đã cung cấp tín dụng và đó được xem là điều kiện ràng buộc để ngân hàng đồng ý cho vay Đó là vì sao doanh nghiệp xuất nhập thường giao dịch thanh toán quốc tế với ngân hàng cấp tín dụng

Danh tiếng của ngân hàng cũng là một nhân tố mà doanh nghiệp chú ý khi

lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế, bởi lẽ dù đứng trên cương vị là nhà nhập khẩu hay nhà xuất khẩu doanh nghiệp đều mong muốn sử dụng ngân hàng có danh tiếng tốt để thể hiện uy tín của mình Mặt khác, sử dụng một ngân hàng có danh tiếng tốt sẽ giúp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế đối với cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu

Bên cạnh các tiêu chuẩn trên, sự hiệu quả của ngân hàng trong hoạt động

thường ngày cũng được các doanh nghiệp dành nhiều sự quan tâm Thật vậy, thanh

toán quốc tế là một nghiệp vụ đặc thù cần nhiều sự hỗ trợ, tư vấn cũng như phối hợp

ăn ý từ phía ngân hàng Ngân hàng hoạt động hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí và giảm thiểu rủi ro trong thanh toán ở mức thấp nhất có thể,

Trang 37

ngoài ra còn giúp doanh nghiệp nắm bắt được cơ hội kinh doanh

Cuối cùng, sự thuận tiện sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể giao dịch tại nhiều điểm giao dịch, giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và chi phí.Điều này đặc biệt

quan trọng đối với địa bàn lớn và phức tạp như thành phố Hồ Chí Minh

2.4.1.Giá cả

Theo quan điểm của Philip Kotler (1988), giá là số tiền mà người tiêu dùng sẵn sàng chi trả để có được sản phẩm [46] “Giá cũng là tổng giá trị mà khách hàng trao đổi cho lợi ích của việc có được hoặc sử dụng sản phẩm hay dịch vụ.”, Londre (2012) đã trình bày như thế trong một bài viết của mình [38]

Neu (1998) đã định nghĩa chiến lược giá cạnh tranh là sự thiết lập giá cả của sản phẩm dịch vụ dựa trên giá của đối thủ cạnh tranh Chiến lược giá cạnh tranh thường được sử dụng bởi các doanh nghiệp bán những sản phẩm tương tự nhau Chiến lược này thông thường được sử dụng khi giá sản phẩm dịch vụ đạt đến 1 trạng thái cân bằng, điều này xảy ra khi sản phẩm dịch vụ có mặt từ lâu trên thị trường và có nhiều sản phẩm thay thế [41]

Theo nghiên cứu của Pavel Dvořák, Jan Hanousek (2009), trong số các nhân

tố ảnh hưởng đến sự khác biệt trong giá sản phẩm dịch vụ giữa các ngân hàng là chi phí của ngân hàng, sự cạnh tranh trên thị trường và những quy định của ngành ngân hàng Nghiên cứu này đã xây dựng mô hình gồm 4 nhân tố chính: (1) chi phí cung cấp dịch vụ, (2) sự cạnh tranh, (3) quy định, (4) nhân tố cầu của khách hàng [45] Trong một nghiên cứu của Ernst & Young (2009) về ngành ngân hàng, các yếu tố

mà ngân hàng phải xem xét để giữ quan hệ tốt với khách hàng doanh nghiệp đã được đưa ra, trong đó có giá cả sản phẩm dịch vụ [22] Giá phải cạnh tranh, linh động và phù hợp 69% người trả lời đã nhấn mạnh đến sự cạnh tranh của giá cả và 44% cho rằng sự linh động của biểu phí là rất quan trọng trong việc duy trì quan hệ với khách hàng Một cuộc điều tra cũng được thực hiện để đánh giá mức độ quan trọng của 16 tiêu chuẩn trong việc lựa chọn ngân hàng chính, ngoài các nhân tố như sản phẩm dịch vụ, vị trí, công nghệ và cải tiến, giá cả cũng được đề cập

Trang 38

Trong một nghiên cứu khác của Iuliana Cetinã, Nora Mihail (2007) về chiến

lược giá của ngành ngân hàng, giá cả đã được xem như một yếu tố quan trọng của

marketing mix [32] Cetina đã dẫn chứng một nghiên cứu của Zethaml và Bittner,

(2000, p 429) về 3 điểm khác nhau cơ bản giữa việc định giá hàng hóa hữu hình và sản phẩm dịch vụ [63] Đó là: (1) người tiêu dùng trong hầu hết các trường hợp không có đủ thông tin về dịch vụ, (2) giá cả là yếu tố nhìn thấy được của chất lượng dịch vụ, (3) chi phí không phải là nhân tố duy nhất làm cơ sở cho việc định giá Giá

cả của sản phẩm dịch vụ ngân hàng thường công khai bằng biểu phí, tuy nhiên vẫn

có sự thỏa thuận riêng về giá cả cả sản phẩm dịch vụ giữa ngân hàng và khách hàng của mình Cetina cũng đưa ra một bảng so sánh về sự quan trọng của giả cá đối với người mua và người bán như sau:

Bảng 2.2: So sánh sự quan trọng của giá cả đối với người mua và người bán

Sự quan trọng của giá cả đối với

người bán

Sự quan trọng của giá cả đối

với người mua

Giá đại diện cho chi phí để cung

cấp sản phẩm dịch vụ

Giá đại diện cho doanh thu có

được khi bán sản phẩm dịch vụ

Giá chỉ ra lợi nhuận trong ngắn

hạn và khả năng sinh lời trong dài

hạn

Giá đại diện cho khả năng đáp

ứng nhu cầu của thị trường

Giá đại diện cho giá trị của hàng hóa dịch vụ

Giá là chi phí mà người tiêu dùng phải chịu

Giá minh họa cho chất lượng của sản phẩm dịch vụ và của nhà cung cấp

Giá bị ảnh hưởng bởi sức mua

Nguồn: Iuliana Cetinã, Nora Mihail (2007) [32]

Trang 39

Bên cạnh đó, Iuliana Cetinã, Nora Mihail (2007) cũng đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá các sản phẩm dịch vụ ngân hàng

Hình 2.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá các sản phẩm dịch

vụ ngân hàng

Nguồn: Iuliana Cetinã, Nora Mihail (2007) [32]

Về các tiêu chuẩn lựa chọn ngân hàng, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng giá cả sản phẩm dịch vụ là một trong những nhân tố quan trọng Có thể kể đến các nghiên cứu của Khazeh and Decker (1992-93) [36], Zineldin (1996) [65], Kennington et

al (1996) [34], Ta and Har (2000) [55], Cicic et al (2004) [18], Kumar et al (2010) [37] … Đối với dịch vụ thanh toán quốc tế, giá của dịch vụ này được hiểu bao gồm phí dịch vụ và tỷ giá ngoại tệ Phí dịch vụ và tỷ giá đều được niêm yết công khai, ngoài ra còn có sự thỏa thuận riêng giữa khách hàng và ngân hàng Thật vậy, phí sản phẩm dịch vụ là vấn đề mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng xem xét khi sử dụng dịch vụ của ngân hàng, vì đây là chi phí mà doanh nghiệp phải trả Nếu khoản phí dịch vụ này ở mức hợp lý doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí đáng

kể, điều này càng có ý nghĩa khi doanh nghiệp giao dịch thường xuyên với ngân hàng và phát sinh chi phí thường xuyên Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tỷ

Trang 40

giá luôn được quan tâm sâu sát Khi tỷ giá biến động, doanh thu hoặc chi phí của doanh nghiệp xuất nhập khẩu sẽ biến động theo

Từ cơ sở lý luận trên, tác giả đi đến giả thuyết đầu tiên:

H1: Giá cả cạnh tranh có tương quan dương với quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế

Iacovone and Zavacka (2009) đã đưa ra những phân tích của mình dựa trên dữ liệu lịch sử từ 23 cuộc khủng hoảng ngân hàng trong quá khứ ở nhiều nước phát triển và đang phát triển trong những năm từ 1980 đến 2000 Họ thấy rằng khủng hoảng ngân hàng ảnh hưởng đến mức tăng trưởng của xuất khẩu ở các ngành phụ thuộc nhiều vào tín dụng hơn ở các ngành ít phụ thuộc vào tín dụng [31]

Mauro et al (2010) đã kết luận trong 90% khối lượng giao dịch thương mại quốc tế liên quan đến một vài dạng tài trợ thương mại thì hạn mức tín dụng là trung tâm trong việc giải thích sự biến động của xuất khẩu [20]

Chor and Manova (2011) đã sử dụng dữ liệu hàng tháng về nhập khẩu của

Mỹ và thấy rằng những quốc gia có điều kiện tín dụng chặt hơn sẽ xuất khấu ít hơn vào Mỹ trong giai đoạn khủng hoảng 2008-2009 [17]

2 nghiên cứu nữa cũng đã đào sâu hơn mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng để khám phá ra sự khác nhau giữa các ngân hàng trong khả năng và ý muốn cho vay

Paravisini et al (2011) tập trung vào Peru, trong khi Amiti and Weinstein (2011) tập trung vào Nhật Bản Paravisini và cộng sự(2011) thấy rằng các ngân hàng ở Peru đối phó với khủng hoảng thanh khoản bằng cách cắt giảm tín dụng đối

Ngày đăng: 01/09/2020, 17:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w