1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa - bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận

124 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM LÊ HỒNG UYÊN CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA - BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TR

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LÊ HỒNG UYÊN

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA - BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HCM, THÁNG 9/2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LÊ HỒNG UYÊN

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA - BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 8340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Võ Văn Nhị

TP HCM, THÁNG 9/2018

Trang 3

Luận văn nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của doanh nghiệp nhỏ và vừa - Bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp nhỏ

và vừa trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận” do chính tác giả thực hiện, các kết quả

nghiên cứu chính trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tác giả có kế thừa, tham khảo cũng như tham chiếu một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước khác có trích dẫn đầy đủ

và ghi nguồn cụ thể trong danh mục tài liệu tham khảo

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2018

Tác giả

Lê Hồng Uyên

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Vấn đề nghiên cứu 2

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1.1 Mục tiêu tổng quát 3

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 3

2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 4

4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 4

5 Đóng góp mới của đề tài 4

6 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH 6

1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước 6

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 6

Trang 5

1.2 Nhận xét tổng quan kết quả nghiên cứu và xác định khe hổng nghiên cứu 10

1.2.1 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu 10

1.2.2 Khe hổng nghiên cứu 11

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 13

2.1 BCTC và đặc điểm của BCTC trong DNNVV 13

2.1.1 Báo cáo tài chính 13

2.1.2 Đặc điểm BCTC áp dụng cho DNNVV 14

2.2 Chất lượng BCTC 17

2.2.1 Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu 17

2.2.2 Theo quan điểm của Hội đồng chuẩn mực KTTC Mỹ (FASB) 19

2.2.3 Theo quan điểm của chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) 20

2.2.4 Theo quan điểm hội tụ FASB và IASB 21

2.2.5 Theo quan điểm của chuẩn mực kế toán Việt Nam 01 (VAS 01) 22

2.3 Các lý thuyết nền liên quan 23

2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm 23

2.3.2 Lý thuyết tín hiệu 24

2.3.3 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 25

2.3.4 Lý thuyết thông tin hữu ích 26

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC 26

2.4.1 Quyết định của nhà quản trị 27

2.4.2 Quy mô công ty 27

2.4.3 Quy định về thuế 28

2.4.4 Trình độ kế toán viên 30

2.4.5 Các quy định pháp lý về kế toán 31

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 Quy trình nghiên cứu 33

3.2 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 35

3.2.1 Mô hình nghiên cứu 35

Trang 6

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 37

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 38

3.3.2.1 Xây dựng thanh đo 38

3.3.2.2 Mẫu nghiên cứu 41

3.3.2.3 Đối tượng và phạm vi khảo sát 42

3.3.2.4 Phân tích dữ liệu 42

3.3.2.5 Công cụ phân tích dữ liệu 43

CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 45

4.1 Nghiên cứu định tính 45

4.2 Nghiên cứu định lượng 46

4.2.1 Thống kê mô tả mẫu khảo sát 46

4.2.2 Phân tích hệ số Cronbach’s alpha 48

4.2.3 Phân tích khám phá nhân tố 54

4.2.3.1 Phân tích khám phá thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến CL BCTC 54

4.2.3.2 Phân tích khám phá thang đo chất lượng BCTC 56

4.2.4 Phân tích hồi quy 59

4.2.4.1 Phân tích tương quan 59

4.2.4.2 Phân tích hồi quy 60

4.2.4.3 Kiểm định sự phù hợp của mô hình và hiện tượng đa cộng tuyến 61

4.2.4.4 Phương trình hồi quy tuyến tính bội 62

4.3 Bàn luận kết quả nghiên cứu 62

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68

5.1 Kết luận 68

5.2 Kiến nghị 68

5.2.1 Đối với nhân tố các quy định pháp lý về kế toán 69

5.2.2 Đối với nhân tố trình độ KTV 69

5.2.3 Đối với nhân tố quy mô doanh nghiệp 70

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

BCĐKT Bảng cân đối kế toán

BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

BCTC Báo cáo tài chính

BLCTT Bảng lưu chuyển tiền tệ

CLBCTC Chất lượng báo cáo tài chính

CLTT Chất lượng thông tin

CLTTKT Chất lượng thông tin kế toán

DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

DNNY Doanh nghiệp niêm yết

FASB Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ HĐQT Hội đồng quản trị

HTKSNB Hệ thống kiểm soát nội bộ

HTTTKT Hệ thống thông tin kế toán

IASB Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế

Trang 9

TTKT Thông tin kế toán

VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Trang 10

Bảng 3.1 Mã hóa các thang đo 38

Bảng 4.1 Thống kê mẫu nghiên cứu 46

Bảng 4.2 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo CSKT cho nhân tố quyết định của nhà quản trị 48

Bảng 4.3 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo CSKT cho nhân tố quyết định của nhà quản trị lần 2 49

Bảng 4.4 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo CSKT cho nhân tố quy mô doanh nghiệp 49

Bảng 4.5 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo CSKT cho nhân tố trình độ kế toán viên 50

Bảng 4.6 Kết quả kiểm định độ tin cật thang đo CSKT cho nhân tố quy định về thuế 50

Bảng 4.7 Kết quả kiểm định độ tin cật thang đo CSKT cho nhân tố quy định về thuế lần 2 51

Bảng 4.8 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo CSKT cho nhân tố quy định pháp lý về kế toán 51

Bảng 4.9 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo CSKT cho nhân tố quy định pháp lý về kế toán lần 2 52

Bảng 4.10 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo CSKT cho nhân tố chất lượng BCTC 52

Bảng 4.11 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo CSKT cho nhân tố chất lượng BCTC lần 2 53

Bảng 4.12 Ma trận xoay nhân tố 55

Bảng 4.13 Kết quả phân tích nhân tố 56

Bảng 4.14 Diễn giải các biến quan sát sau khi xoay nhân tố 57

Bảng 4.15 Ma trận tương quan giữa các nhân tố 59

Bảng 4.16 Kết quả phân tích hồi qui bội 59

Trang 11

Bảng 4.18 ANOVA

Trang 12

Hình 3.1 Khung nghiên cứu của luận văn 34 Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu Nguyễn Xuân Hưng & Phạm Quốc Thuần 35 Hình 3.3 Mô hình nghiên cứu 37

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (gọi tắt là DNNVV) có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế nước ta, đặc biệt trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay Loại hình doanh nghiệp này tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo… Doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm gần 98% số doanh nghiệp của Việt Nam, đóng góp 40% vào GDP, 30% tổng thu ngân sách nhà nước, giải quyết 50% công ăn việc làm cho xã hội (Tô Hoài Nam, 2014)

Tại Ninh Thuận hiện nay, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa BCTC của các DNNVV này chủ yếu phục vụ cho cơ quan thuế

và ngân hàng Vì vậy để các doanh nghiệp này phát triển thì việc tạo ra một báo cáo tài chính có chất lượng là hết sức cần thiết Theo nghiên cứu của Le, Venkatesh, and Nguyen (2006) cho rằng sự không phù hợp giữa giá trị thực và các số liệu trong BCTC của DNNVV và kế hoạch kinh doanh Thêm vào đó các báo báo tài chính của DNNVV thường không thể hiện các thông tin liên quan đến giao dịch kinh doanh của công ty và không nhất quán từ năm này sang năm khác Ngoài ra, ở DNNVV thường sử dụng nhân viên kế toán thiếu kỹ năng trong việc lập kế hoạch kinh doanh cũng như BCTC Kết quả là, các thông tin về lợi ích và lợi nhuận triển vọng có thể không được thể hiện một cách đầy đủ hoặc thiếu chính xác Hơn nữa, Pettit and Singer (1985) cho rằng các DNNVV thường rất linh hoạt, đặc biệt trong phản ứng với những thay đổi trong công nghệ hoặc các điều kiện kinh doanh Sự linh hoạt này làm cho các DNNVV có thể đáp ứng với một môi trường kinh doanh thay đổi bằng cách chuyển giao tài sản để sử dụng với mục đích khác, và dẫn đến thay đổi mức độ rủi ro của công ty và gây ảnh hưởng xấu cho các ngân hàng Một báo cáo tài chính có chất lượng sẽ là một công cụ hữu ích cho việc đánh giá giá trị hiện trạng của doanh nghiệp, đánh giá so sánh giữa các doanh nghiệp, giúp nhà đầu tư hiểu được các con số và các chỉ số tài chính dựa vào thông tin tài chính mà báo cáo tài chính đáng tin cậy cung cấp để hỗ trợ cho việc ra quyết định tốt hơn Nghiên cứu này nhằm nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến CLBCTC, từ đó

Trang 14

kế toán làm cơ sở để lập được BCTC có chất lượng, thông tin đáng tin cậy, giúp cho các DNNVV tiếp cận nguồn vốn vay từ tổ chức tín dụng được thuận lợi hơn Ngoài ra các nhà quản trị có thể sử dụng kết quả nghiên cứu các nhân tố quyết định CLBCTC để tăng hiểu biết của họ về các thông tin trên BCTC trước khi đưa ra các quyết định can thiệp về kinh tế

1 Vấn đề nghiên cứu

Đối với các doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa thì tài chính có một vai trò rất quan trọng cho việc mở rộng hoặc đa dạng hóa của các doanh nghiệp Vốn chủ sở hữu và vốn vay là hai nguồn tài chính chủ yếu hỗ trợ cho các doanh nghiệp tăng trưởng Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp hình thành tại các tỉnh nhỏ thì nguồn vay từ các tổ chức tín dụng đóng vai trò chủ yếu trong việc duy trì hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, việc tiếp cận với nguồn vốn vay đối với các doanh nghiệp nhỏ

và vừa rất khó khăn Vì vậy, câu hỏi “Làm thế nào để cải thiện tình hình tiếp cận các nguồn tài chính ngân hàng của DNNVV?” đã tạo được sự chú ý rất lớn từ các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới (Blackwell & Winter 2000; Deakins & Hussain, 1994) Cũng theo đó (Deakins & Husain, 1994) cho rằng các BCTC đóng vai trò quan trọng trong các quyết định cho vay của các ngân hàng, đó là nguồn tài chính chủ yếu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nguyễn Văn Thắng (2005) cho rằng điều kiện tiên quyết để các DNNVV có thể tăng khả năng tiếp cận nguồn tài chính từ các tổ chức tín dụng là các doanh nghiệp phải có một chế độ báo cáo tài chính minh bạch và các thông tin công bố đáng tin cậy Nguyên nhân chính mà các tổ chức tín dụng hạn chế cho các DNNVV vay là

do các tổ chức này phải đối mặt với một mức độ rủi ro cao do thông tin không đối xứng, dẫn đến tăng chi phí trong việc thu thập thông tin để đưa ra quyết định cho vay và giám sát hành vi khách hàng (Howrth, Carole, & Moro., 2006) Để lập được một báo cáo tài chính có chất lượng thì người lập cần nhận biết được các yếu tố tác động đến CLBCTC nhằm xây dựng được hệ thống kế toán phù hợp cho từng loại hình doanh nghiệp, đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản như: phù hợp, kịp thời, đầy đủ, tin cậy và so sánh được

Trang 15

Từ các vấn đề nêu trên hình thành bài nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa - Bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Ninh Thuận”

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của bài nghiên cứu là nhận diện và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến CLBCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa bàn tỉnh Ninh Thuận

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

Nghiên cứu có hai mục tiêu:

(1) Nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của các DNNVV tại địa bàn tỉnh Ninh Thuận

(2) Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến CLBCTC của các

DNNVV tại địa bàn tỉnh Ninh Thuận

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Có hai câu hỏi nghiên cứu như sau:

(1) Các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của DNNVV tại Ninh Thuận?

(2) Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này như thế nào?

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là CLBCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của các DNNVV

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Các DNNVV trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận năm 2018

Trang 16

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến BCTC của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận

4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính

Phỏng vấn các chuyên gia, thảo luận để lựa chọn các thước đo CLTT trình bày trên BCTC phù hợp, cũng như thảo luận nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLBCTC của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận

4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Thiết kế bảng câu hỏi, khảo sát và thu thập dữ liệu Sử dụng phần mềm SPSS để tiến hành phân tích dữ liệu: dựa vào độ tin cậy Cronbach’s alpha và nhân tố EFA, phân tích hồi quy bội để đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố đến CLBCTC của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận

5 Đóng góp mới của đề tài

Ngoài những nghiên cứu đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT, tính minh bạch thông tin trên BCTC của doanh nghiệp niêm yết, các doanh nghiệp lớn, các tác giả Việt Nam cũng đã có những nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của các nhân

tố đến CLTT trên BCTC của các DNNVV như Trần Đình Nguyên (2010), Nguyễn Thành Trung (2014) và Đặng Thị Kiều Hoa (2016) Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ thực hiện tại các DNNVV trên địa bàn các thành phố lớn và chưa có nghiên cứu nào thực hiện trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Vì vậy, tác giả thực hiện đề tài này để nâng cao CLBCTC của các DNNVV, giúp cho người sử dụng BCTC của các DNNVV trên địa bàn tỉnh chủ yếu là cơ quan thuế và ngân hàng gia tăng sự tin cậy đối với chất lượng của BCTC và nâng cao tính trung thực, chính xác của BCTC

6 Kết cấu luận văn

Phần mở đầu: Vấn đề nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trang 17

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận

Trang 18

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH

HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Theo nghiên cứu về các yếu tố có tác động đến CLBCTC của Heidi (2001) đã nêu ra những nhân tố bao gồm: mục đích và nhu cầu của người sử dụng BCTC (nhà đầu tư, ngân hàng, chủ sở hữu, nhà cung cấp, nhân viên, khách hàng…), quyết định của nhà quản trị (như chính sách kế toán…), cơ chế quản lý nội bộ, cơ chế quản lý ngoài doanh nghiệp (như chính phủ, chất lượng kiểm toán…), các quy định về BCTC

Dựa vào nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến CLTT (AIS) trên BCTC trong các công ty tại Australia của Hongjiang Xu (2003), tác giả đã bổ sung thêm cho nghiên cứu của Heidi (2001) những nhóm nhân tố bên trong và bên ngoài có liên quan gồm: hệ thống kiểm soát doanh nghiệp (quy mô doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp), nhân tố con người (đào tạo và huấn luyện nhân viên), nhân tố bên ngoài (sự thay đổi công nghệ, các quy định của chính phủ, các thay đổi về pháp lý…) Theo nghiên cứu của Soderstrom & Sun (2007), chất lượng của TTKT Châu Âu khi áp dụng IFRS bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài phát triển từ các nghiên cứu trước gồm: hệ thống pháp luật và chính trị của một quốc gia, chuẩn mực kế toán, động cơ thực hiện BCTC, trong đó pháp luật và chính trị của một nước có ảnh hưởng trực tiếp đến CLTT trên BCTC

Theo Muhamad và cộng sự (2009) nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLTT công bố tại 159 công ty niêm yết ở Malaysia thì thấy rằng các yếu tố bên ngoài tiếp tục có tác động đến CLTT trên BCTC công bố bao gồm đòn bẩy kinh tế, quy mô doanh nghiệp và ngành công nghiệp

Tác giả Hassan (2013) nghiên cứu về ảnh hưởng của các đặc điểm giám sát (tách rời quyền lực của hội đồng quản trị và cơ quan kiểm toán độc lập) đối với CLBCTC tại các doanh nghiệp sản xuất tại Nigeria Kết quả cho thấy rằng đặc

Trang 19

điểm giám sát của doanh nghiệp ảnh hưởng đến CLBCTC của các doanh nghiệp này tại Nigeria

Tác giả Onuorah, Anastasia Chi-Chi (2015) nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp và CLBCTC tại các công ty ở Nigeria, phát triển từ nghiên cứu của Hassan (2013) đã thì chỉ ra rằng mục tiêu quản trị doanh nghiệp và chất lượng kiểm toán

ảnh hưởng đến CLBCTC trong ngắn hạn giữa các doanh nghiệp tại Nigeria

1.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Trong đề tài nghiên cứu cấp bộ của Võ Văn Nhị và cộng sự (2011) về thực trạng áp dụng các quy định pháp lý về kế toán và công tác kế toán của doanh nghiệp Việt Nam Kết luận cho thấy nguyên nhân hệ thống pháp lý về kế toán còn yếu kém do thực hành kế toán tại doanh nghiệp Tác giả cũng chỉ ra rằng, khi nâng cao chất lượng hệ thống pháp lý, nâng cao chất lượng công tác kế toán tại doanh nghiệp thì sẽ nâng cao CLTTKT

Theo nghiên cứu về vấn đề giải pháp nâng cao chất lượng cho DNNVV ở Việt Nam của Võ Văn Nhị và Trần Thanh Hải (2013) bổ sung thêm các nhân tố khác ảnh hưởng đến CLBCTC của DNNVV ngoài những nhân tố từ nghiên cứu cấp bộ của Võ Văn Nhị và cộng sự (2011) như sau: tổ chức quản lý, người thực hiện công việc kế toán, các quy định về kế toán, nhu cầu thông tin cần cung cấp cho đối tượng

sử dụng Nghiên cứu cho thấy công tác kế toán tại DNNVV hiện nay còn nhiều yếu kém, kế toán viên chỉ là thực hiện nhiệm vụ ghi chép các nghiệp vụ tại doanh nghiệp chứ không thực hiện phân tích và kiểm tra tính hiệu quả của doanh nghiệp Chính việc yếu kém trong công tác quản lý của chủ doanh nghiệp, yếu kém trong công tác kế toán đã làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng thông tin trên BCTC Theo Đào Ngọc Hạnh (2014) nghiên cứu về đánh giá các yếu tố tác động đến chất lượng HTTTKT tại DNNVV trên địa bàn TP HCM Tác giả đưa ra mô hình hồi quy gồm biến phụ thuộc là CLTTKT và 8 biến độc lập bao gồm: cam kết của nhà quản trị, kiến thức về sử dụng công nghệ HTTTKT của nhà quản trị, kiến thức

về kế toán của nhà quản trị, hiệu quả của phần mềm và quy trình ứng dụng kế toán, chất lượng dữ liệu, đào tạo và hiệu quả tham gia của các nhân viên, huấn luyện và

Trang 20

đào tạo, văn hóa của doanh nghiệp Qua phân tích các bước như: kiểm định độ tin cậy Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố EFA, phân tích tương quan hệ số Pearson, phân tích hồi quy…từ dữ liệu thu thập thực tế tại 200 DNNVV trên địa bàn TPHCM, tác giả đã chỉ ra 3 nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng HTTTKT gồm:

sự tham gia của nhân viên, cam kết của nhà quản trị và kiến thức sử dụng công nghệ HTTTKT của nhà quản trị, trong đó sự tham gia của nhân viên là nhân tố có ảnh hưởng nhất

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng (2014) về các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của DNNY trên TTCK tại Việt Nam Mô hình nghiên cứu được tác giả xây dựng với các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC gồm 23 biến độc lập (nhân tố) và biến phụ thuộc chia là 5 nhóm nhân tố bao gồm: (1) Nhóm nhân tố liên quan cơ cấu sở hữu (2) Nhóm nhân tố liên quan, (3) nhóm nhân tố liên quan cơ cấu vốn, (4) nhóm nhân tố liên quan đến đặc điểm thị trường và (5) nhóm nhân tố liên quan hiệu quả công ty Kết quả cho thấy có 17 nhân tố có tác động đến CLBCTC

Theo nghiên cứu về đánh giá các yếu tố bên trong doanh nghiệp ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC của DNNY ở SGDCK TPHCM của tác giả Cao Nguyễn Lệ Thu (2014) Tác giả đã kế thừa các nghiên cứu có liên quan đến yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến CLTTKT và đưa ra 10 nhân tố của đặc điểm tài chính thuộc

về nhân tố bên trong doanh nghiệp Đồng thời nhân tố kết cấu vốn nhà nước được tác giả bổ sung vào mô hình nghiên cứu đã cho thấy CLTTKT trên BCTC của DNNY trên SGDCK TPHCM bị tác động bởi 3 nhân tố: tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành của DN (tỷ lệ thành viên độc lập), quy mô doanh nghiệp và kết cấu vốn của nhà nước

Theo nghiên cứu về tác động của quản trị doanh nghiệp đến CLTT BCTC tại các DNNY ở Việt Nam của Nguyễn Trọng Nguyên (2015) Tác giả thấy rằng tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị trong tổng số hội đồng quản trị tỷ lệ thuận với chất lượng BCTC, thành viên HĐQT có kiến thức và kinh nghiệm về kế toán tài chính

có ảnh hưởng tích cực đến CLBCTC, tỷ lệ thành viên BKS có chuyên môn kế toán

Trang 21

tài chính trong BKS càng cao thì CLBCTC càng cao, CLBCTC cũng có ảnh hưởng bởi bộ phận kiểm toán nội bộ

Theo Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) nghiên cứu về việc kiểm soát sự minh bạch TTTC công bố của các DNNY tại Việt Nam Theo kết quả kiểm định mô hình hồi quy cho thấy các nhân tố phản ánh đặc điểm và quản trị công ty như: đòn bẩy tài chính, lợi nhuận, công ty kiểm toán và cơ cấu HĐQT ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin tài chính của các DNNY trên TTCK Việt Nam

Theo Trương Thị Kim Thủy (2016) nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị công

ty đến CLTTKT trên BCTC của các DNNY trên sàn CK TPHCM Tác giả đã kết luận việc kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch HĐQT và CEO làm giảm CLTTKT trên BCTC, tỷ lệ sở hữu cổ phần của ban giám đốc cấp cao tỷ lệ thuận với CLTTKT trên BCTC

Theo nghiên cứu của Phạm Thanh Trung (2016) về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến trình bày thông tin trên BCTC của các DNNVV ở TPHCM cho thấy có

7 nhân tố tác động đến CLTTKT trình bày trên BCTC gồm: hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống chứng từ kế toán, hình thức ghi sổ kế toán, nhà quản trị, thuế, bộ máy kế toán và mục tiêu BCTC

Nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp đến tính thích đáng của chất lượng thông tin kế toán trên BCTC của Nguyễn Xuân Hưng & Phạm Quốc Thuần (2016) Tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính gồm có 4 nhân tố bên ngoài tác động đến tính thích đáng của chất lượng BCTC bao gồm: niêm yết chứng khoán, kiểm toán độc lập, áp lực về thuế và chất lượng phần mềm kế toán Kết quả cho thấy có 3 nhân tố tác động đến tính thích đáng của CLBCTC trong doanh nghiệp Việt Nam mà áp lực

từ thuế là nhân tố tác động mạnh nhất với beta = -0.373 và chất lượng phần mềm kế toán có tác động yếu nhất Với hệ số R2 đã được điều chỉnh = 0.324, nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến thuộc tính chính đáng của CLTT trên BCTC

Theo nghiên cứu của Đặng Thị Kiều Hoa (2016) nghiên cứu về các nhân tố ảnh

Trang 22

hưởng đến CLBCTC của DNNVV - bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TPHCM Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC bao gồm: quy định về thuế, quy mô công ty, người lập BCTC

và các quy định về kế toán

Như vậy, các nhà nghiên cứu không chỉ quan tâm đến CLBCTC và các nhân tố tác động đến CLBCTC của các DNNY, các doanh nghiệp lớn mà đã bắt đầu quan tâm đến CLBCTC của các DNNVV

1.2 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu và xác định khe hổng nghiên cứu 1.2.1 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu

Qua những nghiên cứu được thực hiện trên thế giới có liên quan đến luận văn,

ta thấy rằng CLBCTC và các nhân tố tác động đến CLBCTC là một trong những chủ đề được quan tâm bởi rất nhiều nhà nghiên cứu của nhiều quốc gia trên thế giới Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu không chỉ quan tâm đến CLBCTC của các DNNY và các doanh nghiệp lớn mà còn bắt đầu quan tâm đến CLBCTC của các DNNVV

CLTT trên BCTC đã được nghiên cứu, đánh giá, tiếp cận khái niệm ở nhiều góc

độ khác nhau Các nghiên cứu đánh giá CLTT trên BCTC chủ yếu dựa trên những chỉ tiêu chất lượng của FASB, IASB và Cobit Ngoài ra, nhiều nghiên cứu về tính thích đáng của thông tin trên BCTC, tổ chức công tác kế toán tại DNNVV có liên quan gián tiếp đến CLTT trên BCTC cũng được thực hiện

Có hai nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC được rút ra từ các nghiên cứu, đó là yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp CLTTKT

bị tác động bởi nhiều nhân tố, theo nhiều chiều hướng khác nhau, bao gồm có tác động tích cực và tác động tiêu cực Nhân tố bên ngoài gồm: quy mô doanh nghiệp, nhà quản trị, quyết định của nhà quản trị, kế toán viên, người lập BCTC, kiểm soát nội bộ, kế toán quản trị… Nhân tố bên ngoài bao gồm: hệ thống chuẩn mực chung, quy định pháp lý về kế toán, hệ thống chuẩn mực chung Có rất ít luận văn tập trung vào nghiên cứu về các nhân tố quản trị công ty, quy mô doanh nghiệp, kiểm toán độc lập, HĐQT, BKS độc lập ngoài nghiên cứu của Võ Văn Nhị và Trần Thị

Trang 23

Thanh Hải (2013), Võ Văn Nhị (2011) và Phạm Quốc Thuần nghiên cứu về hệ thống pháp lý về kế toán và áp lực từ thuế ảnh hưởng đến CLBCTC

1.2.2 Khe hỏng nghiên cứu

Tổng quan từ các nghiên cứu trước được thực hiện trên thế giới và Việt Nam, tác giả thấy rằng có những nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của các DNNVV Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ mới được thực hiện tại TP HCM trong nghiên cứu của Phạm Thanh Trung (2016), Đặng Thị Kiều Hoa (2016)

và một số thành phố khác ở Việt Nam và chưa được thực hiện trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Trong khi đó, địa bàn tỉnh Ninh Thuận chủ yếu chỉ là những doanh nghiệp nhỏ và vừa và chất lượng BCTC có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này vì BCTC chủ yếu phục vụ cho mục đích thuế cho

cơ quan thuế và mục đích vay vốn đối với ngân hàng Nhận thấy tầm quan trọng này, tác giả đã thực hiện nghiên cứu nhân tố tác động đến CLBCTC của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận

Trang 25

CHƯƠNG 2:

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Báo cáo tài chính và đặc điểm của BCTC trong DNNVV

2.1.1 Báo cáo tài chính

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam 21 (VAS21) (Quyết định số 234/2003/QĐ- BTC ngày 30/12/2003 của Bộ trưởng BTC) thì “báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế”

Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp bao gồm:

Bảng cân đối kế toán: Theo VAS 21 thì BCĐKT trình bày thông tin về tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản của công ty tại một thời điểm xác định Thông tin trên bảng cân đối sẽ giúp cho người sử dụng đánh giá tình hình tài chính, tình hình sử dụng vốn và nguồn lực của doanh nghiệp, tình hình nợ phải trả của doanh nghiệp, để đưa ra các quyết định cho phù hợp

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Theo VAS 21, BCKQHĐKD cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ xác định bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chính và kết quả hoạt động kinh doanh khác Thông tin trên BCKQHĐKD sẽ giúp người sử dụng đánh giá được khả năng sinh lời và thực trạng hoạt động của doanh nghiệp

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Theo VAS 24, BCLCTT cung cấp thông tin cụ thể

về luồng tiền thu vào và luồng tiền chi ra phát sinh trong kỳ báo cáo Nó bao gồm luồng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh, luồng tiền từ hoạt động đầu tư và luồng tiền từ hoạt động tài chính Dựa vào thông tin trên BCLCTT, người sử dụng BCTC có thể đánh giá, cơ cấu tài chính, các thay đổi trong tài sản thuần, tính thanh khoản của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động Báo cáo lưu chuyển tiền tệ loại trừ được ảnh hưởng đến thông tin kế toán khi sử dụng các phương pháp kế toán

Trang 26

khác nhau giúp người sử dụng đánh giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh giữa doanh nghiệp Ngoài ra, dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ người sử dụng còn

có thể dự đoán được các luồng tiền trong tương lai, đánh giá khả năng sinh lời và những tác động của thay đổi giá cả

Bản thuyết minh báo cáo tài chính: Theo VAS 21, TMBCTC là một báo cáo tổng hợp để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất – kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết Thông tin trên TMBCTC giúp người sử dụng hiểu rõ và chính xác hơn về hình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp, đồng thời hiểu được BCTC của doanh nghiệp và có thể so sánh với BCTC của các doanh nghiệp khác

2.1.2 Đặc điểm BCTC áp dụng cho DNNVV

* Mục đích lập BCTC

Theo Thông tư 133/2016/TT-BTC ban hành ngày 26 tháng 08 năm 2016 thì hệ thống báo cáo tài chính áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa được lập với mục đích sau:

Theo Điều 69, Mục 1, Chương III, TT 133/2016/TT-BTC

1.“Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về:

a Tài sản;

b Nợ phải trả;

c Vốn chủ sở hữu;

d Doanh thu, thu nhập khác, chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí khác;

e Lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh.”

2 Ngoài các thông tin này, doanh nghiệp còn phải cung cấp các thông tin khác trong “Bản thuyết minh Báo cáo tài chính và các chính sách kế toán đã áp dụng để

Trang 27

ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập và trình bày Báo cáo tài chính”

* Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo Điều 71, Mục 1, Chương III, TT 133/2016/TT-BTC

1.“Hệ thống báo cáo tài chính năm áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng giả định hoạt động liên tục bao gồm:

a Báo cáo bắt buộc:

Báo cáo tình hình tài chính Mẫu số B01a – DNN Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B02 – DNN Bản thuyết minh báo cáo tài chính Mẫu số B09 – DNN Tùy theo đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý, doanh nghiệp có thể lựa chọn lập báo cáo tình hình tài chính theo Mẫu số B01b – DNN thay cho mẫu số B01a – DNN

Báo cáo tài chính gửi cho cơ quan thuế phải lập và gửi thêm bảng cân đối tài khoản (mẫu số F01 – DNN)

b Báo cáo không bắt buộc mà khuyến khích lập:

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu số B03 – DNN

2 Hệ thống báo cáo tài chính năm áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa không đáp ứng giả định hoạt động liên tục bao gồm:

a Báo cáo bắt buộc

Báo cáo tình hình tài chính Mẫu số B01 – DNNKLT Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B02 – DNN

Bản thuyết minh Báo cáo tài chính Mẫu số B09 – DNNKLT

b Báo cáo không bắt buộc mà khuyến khích lập:

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu số B03 – DNN

3 Hệ thống báo cáo tài chính năm bắt buộc áp dụng cho các doanh nghiệp siêu nhỏ bao gồm:

Báo cáo tình hình tài chính Mẫu số B01 – DNSN

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B02 – DNSN

Bản thuyết minh Báo cáo tài chính Mẫu số B09 – DNSN”

Trang 28

* Yêu cầu đối với thông tin trình bày trong Báo cáo tài chính

Theo Điều 72, Mục 1, Chương III, TT 133/2016/TT-BTC

1.“Thông tin trình bày trên báo cáo tài chính phải đầy đủ, khách quan, không có sai sót để phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Thông tin được coi là đầy đủ khi bao gồm tất cả các thông tin cần thiết để giúp người sử dụng báo cáo tài chính hiểu được bản chất, hình thức và rủi ro của các giao dịch và sự kiện Đối với một số khoản mục, việc trình bày đầy đủ còn phải mô

tả thêm các thông tin về chất lượng, các yếu tố và tình huống có thể ảnh hưởng tới chất lượng và bản chất của khoản mục

Trình bày khách quan là không thiên vị khi lựa chọn hoặc mô tả các thông tin tài chính Trình bày khách quan phải đảm bảo tính trung lập, không chú trọng, nhấn mạnh hoặc giảm nhẹ cũng như có các thao tác khác làm thay đổi mức độ ảnh hưởng của thông tin tài chính là có lợi hoặc không có lợi cho người sử dụng báo cáo tài chính

Không sai sót có nghĩa là không có sự bỏ sót trong việc mô tả hiện tượng và không có sai sót trong quá trình cung cấp các thông tin báo cáo được lựa chọn và

áp dụng Không sai sót không có nghĩa là hoàn toàn chính xác trong tất cả các khía cạnh, ví dụ, việc ước tính các loại giá cả và giá trị không quan sát được khó xác định là chính xác hay không chính xác Việc trình bày một ước tính được coi là trung thực nếu giá trị ước tính được mô tả rõ ràng, bản chất và các hạn chế của quá trình ước tính được giải thích và không có sai sót trong việc lựa chọn số liệu phù hợp trong quá trình ước tính

2 Thông tin tài chính phải thích hợp để giúp người sử dụng báo cáo tài chính

dự đoán, phân tích và đưa ra các quyết định kinh tế

3 Thông tin tài chính phải được trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thông tin thiếu chính xác có thể làm ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng thông tin tài chính của đơn vị báo cáo Tính trọng yếu dựa vào bản chất và độ lớn, hoặc cả

Trang 29

hai, của các khoản mục có liên quan được trình bày trên báo cáo tài chính của một đơn vị cụ thể

4 Thông tin tài chính phải đảm bảo có thể kiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu

5.Thông tin tài chính phải được trình bày nhất quán và có thể so sánh giữa các

kỳ kế toán, so sánh được giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa với nhau

6 Các chỉ tiêu không có số liệu được miễn trình bày trên báo cáo tài chính Doanh nghiệp được chủ động đánh lại số thứ tự của các chỉ tiêu theo nguyên tắc liên tục trong mỗi phần.”

2.2 Chất lượng BCTC

BCTC là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của DN Nói

cách khác, báo cáo tài chính là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực

trạng tài chính của DN cho những người quan tâm (chủ DN nhà đầu tư, nhà cho vay, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng, …) Một BCTC chất lượng là một báo cáo chứa những thông tin kế toán có chất lượng

2.2.1 Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu

Theo Biddle, Hilary and Verdi (2009) nghiên cứu về hiệu quả đầu tư có tác động đến CLBCTC Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chất lượng BCTC chính là độ chính xác mà báo cáo tài chính truyền tải thông tin về hoạt động của công ty Định nghĩa này là phù hợp với tuyên bố của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán tài chính về khái niệm kế toán tài chính số 1 (1978), đinh nghĩa nói rằng mục tiêu của báo cáo tài chính giúp các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng đưa ra quyết định đầu tư hợp lý

và việc đánh giá dòng tiền dự kiến của công ty

Theo nghiên cứu của Kamaruzaman, Mazlifa, & Maisarah (2009) về tác động của quy chế quản trị công ty đến CLTTTC thì BCTC là phương tiện giao tiếp giữa công ty và các bên có liên quan như chính phủ, cổ đông, nhân viên, ngân hàng, nhà cung cấp, chủ nợ và các bên liên quan khác BCTC phải cung cấp thông tin có liên quan, đáng tin cậy và có thể so sánh được, dễ hiểu để người sử dụng đưa ra quyết định của họ

Trang 30

Tác giả Wright (2010) nghiên cứu về xem xét lại một lịch sử của CLBCTC tại

Úc đã chỉ ra CLBCTC bao gồm 4 yếu tố: phù hợp, đáng tin cậy, so sánh và dễ hiểu Ngoài ra còn 2 yếu tố liên quan là tính hữu dụng và tính trọng yếu

Theo nghiên cứu của tác giả Wright (2010) về lịch sử của chất lượng báo cáo tài chính tại Úc đã chỉ ra rằng có 4 yếu tố ảnh hưởng đến CLBCTC gồm: độ tin cậy, phù hợp, so sánh được và dễ hiểu Ngoài ra nghiên cứu còn chỉ ra thêm 2 yếu tố liên quan là tính hữu dụng và tính trọng yếu

Theo Phạm Thị Thủy và Nguyễn Thị Lan Anh (Quantri.vn) thì để BCTC hữu ích cho các người sử dụng, CLTT trên BCTC cần đáp ứng một số yêu cầu cơ bản sau:

- Tin cậy: Thông tin trên BCTC được xem là đáng tin cậy là những thông tin

khách quan, không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của bất kỳ cá nhân nào và có thể thẩm định được Bên cạnh đó, để nâng cao độ tin cậy của BCTC thì ý kiến của kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán về tuân thủ chuẩn mực, tính khách quan, trung thực cũng rất quan trọng

- Kịp thời: Thông tin trên BCTC cần phải được cung cấp một cách kịp thời vì

nếu chậm trễ thì dù thông tin có đáng tin cậy cũng không thể đưa ra quyết định kinh doanh đúng đắn, kịp thời Do quyết định kinh doanh mang tính thời điểm nên nếu thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp không được cung cấp kịp thời thì có thể dẫn đến sai lầm khi người sử dụng đưa ra quyết định Theo quy định thì BCTC phải được công bố sau 90 ngày sau khi kết thúc năm tài chính và sau 30 ngày sau khi kết thúc quý đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán

- So sánh được: Để thông tin BCTC có thể so sánh được yêu cầu BCTC phải

trình bày nhất quán các khoản mục giữa các kì và giữa các doanh nghiệp Doanh nghiệp phải tuân thủ và áp dụng hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán trong việc ghi nhận số liệu để lập BCTC Nếu có sự thay đổi về nội dung hoặc hình thức giữa

các kỳ kế toán cần phải giải thích chi tiết trong thuyết minh BCTC

- Coi trọng bản chất hơn hình thức: Thông tin cần được phản ánh trên BCTC

theo bản chất kinh tế mà không phải theo hình thức pháp lý của các nghiệp vụ kinh

Trang 31

tế phát sinh Trong một số trường hợp nếu có sự mâu thuẫn giữa bản chất kinh tế và hình thức pháp lý thì các thông tin trên BCTC cần trình bày theo bản chất kinh tế của nghiệp vụ

- Trọng yếu: Kế toán cần cung cấp cho đối tượng sử dụng những thông tin

quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc ra quyết định Có thể tập hợp và trình bày các thông tin không chung một khoản mục nhưng phải trình bày cụ thể trên BCTC nếu thông tin trọng yếu

- Phù hợp: BCTC cần cung cấp thông tin mà các người sử dụng cần Trong một

vài trường hợp thì tính phù hợp và tính tin cậy của thông tin trên BCTC sẽ có mâu thuẫn với nhau Khi xảy ra mâu thuẫn cần cung cấp các thông tin bổ sung trên thuyết minh BCTC để có thể đánh giá được tính hình tài chính của doanh nghiệp một cách đúng đắn

2.2.2 Theo quan điểm của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính Mỹ (FASB)

Theo quan điểm của FASB, CLTT trên BCTC được chia thành 2 nhóm đặc điểm bao gồm: nhóm đặc điểm cơ bản và nhóm đặc điểm thứ yếu Nhóm đặc điểm

cơ bản gồm thích hợp và đáng tin cậy và nhóm đặc điểm thứ yếu gồm nhất quán và

có thể so sánh được Ngoài ra FASB cũng đưa ra các hạn chế của việc thực hiện các đặc điểm của CLTT như là quan hệ chi phí – lợi ích, trọng yếu và thận trọng

- Tính phù hợp (relevant): Thông tin thích hợp là phải có giá trị dự đoán và

kịp thời giúp người sử dụng có thể đưa ra quyết định phù hợp

- Tính tin cậy (reliability): Thông tin kế toán đáng tin cậy là thông tin trình

bày trung thực, khách quan không có sai sót và có thể kiểm chứng

- Tính so sánh được: Thông tin tài chính của doanh nghiệp sẽ mang lại sự hữu

ích to lớn nếu được so sánh với những thông tin tương tự về các doanh nghiệp khác hoặc so sánh với các thông tin qua các thời kì, thời điểm tại cùng một doanh nghiệp Tính so sánh được sẽ giúp người sử dụng thông tin trên BCTC có thể nhận thấy được sự tương tác và khác biệt giữa hai hiện tượng kinh tế

- Tính nhất quán: Đòi hỏi sự phù hợp giữa các kỳ kế toán thông qua việc

Trang 32

không thay đổi chính sách và thủ tục kế toán Nhất quán không có nghĩa là không được áp dụng phương pháp kế toán mới hoặc tốt hơn Khi cần áp dụng phương pháp mới cần trình bày trên thuyết minh để đảm bảo khả năng so sánh được

- Quan hệ lợi ích – chi phí: Quan hệ giữa lợi ích và chi phí có tác động đến

CLTT Khi nhận được lợi ích từ việc sử dụng thông tin cần được xem xét trong mối quan hệ với chi phí nhận được thông tin đó

- Trọng yếu: Việc bỏ sót hay trình bày sai thông tin trong một vài hoàn cảnh

nhất định sẽ làm ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng Vì vậy trình bày thông tin trọng yếu có ý nghĩa vô cùng quan trọng khi ra quyết định

- Thận trọng: Khi xảy ra tình huống chưa rõ ràng kế toán cần phải có phản ứng

thận trọng với các tình huống đó và các rủi ro tiềm tàng phải được xem xét một cách đầy đủ

2.2.3 Theo quan điểm của chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB)

Theo IASB (2010) thì TTKT trên BCTC phải có ích đối với người sử dụng, nó phải phù hợp và đại diện trung thực cho những gì nó phản ánh Thông tin trên BCTC bao gồm 2 nhóm đặc tính: Nhóm đặc tính cơ bản là phù hợp và trung thực

và nhóm đặc tính liên quan là so sánh, kiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu

- Phù hợp: TTTC liên quan sẽ tạo ra sự khác biệt trong quyết định được thực

hiện bởi người sử dụng Thông tin có thể có khả năng tạo ra sự khác biệt trong một quyết định ngay cả khi một số người dùng chọn không tận dụng lợi thế của nó hoặc

đã nhận thức được nó từ các nguồn khác Thông tin có khả năng tạo ra sự khác biệt trong các quyết định nếu nó có giá trị tiên đoán, giá trị khẳng định hoặc cả hai

- Trung thực: BCTC trình bày các hiện tượng kinh tế thông qua ngông ngữ và

các con số, để có hữu ịch, TTTC không chỉ trình bày cho các hiện tượng có tính thích hợp, nhưng nó cũng trình bày trung thực các hiện tượng mà nó muốn phản ánh Để đảm bảo tính trung thực thì thông tin trên BCTC phải có ba đặc tính sau: đầy đủ, trung lập và không có sai sót

- So sánh: Thông tin của BCTC là hữu ích nếu nó có thể so sánh được với các

thông tin tương tự của các đơn vị khác và với những thông tin tương tự cho cùng

Trang 33

một đơn vị trong một khoảng thời gian hoặc một ngày khác Tính so sánh là đặc tính cho phép người sử dụng nhận dạng và hiểu những điểm tương đồng và khác biệt giữa các mục

- Kiểm chứng: Tính kiểm chứng giúp đảm bảo rằng thông tin người sử dụng

trình bày trung thực cho hiện tượng kinh tế trình bày trên BCTC Kiểm chứng được

có nghĩa rằng dùng kiến thức khác nhau và quan sát độc lập có thể đạt được sự thống nhất, mặc dù không nhất thiết phải hoàn thành thỏa thuận, mà đó là một sự miêu tả riêng biệt là một sự trình bày trung thực

- Kịp thời: Tính kịp thời của thông tin có ảnh hưởng đến quyết định của người

sử dụng BCTC Thông tin cũ là thông tin ít có tính hữu ích Tuy nhiên, có một số thông tin có thể tiếp tục được sử dụng sau khi kết thúc báo cáo bởi vì một số người

sử dụng có thể cần phải xác định và đánh giá xu hướng

- Dễ hiểu: Việc phân loại, đặc trưng và trình bày thông tin rõ ràng và chính xác

làm thông tin trên BCTC dễ hiểu BCTC được lập cho những người dùng có một kiến thức nhất định về hoạt động kinh doanh và kinh tế Do vậy, đôi khi người sử dụng BCTC cần phải có sự trợ giúp của các nhà tư vấn chuyên nghiệp về các thông tin kinh tế phức tạp bởi vì có một số hiện tượng kinh tế rất phức tạp và không dễ để trình bày chúng một cách dễ hiểu

2.2.4 Theo quan điểm hội tụ FASB và IASB

Dự án hội tụ IASB và FASB được xác định bởi hai đặc điểm chất lượng cơ bản, bốn đặc điểm chất lượng bổ sung và hai hạn chế

* Hai đặc điểm chất lượng cơ bản:

- Thích hợp: Thông tin thích hợp là thông tin mà người sử dụng có thể thay đổi

quyết định về dự đoán triển vọng tương lai và điều chỉnh các đánh giá đã thực hiện trước đó

- Trình bày trung thực: Các hiện tượng kinh tế cần phải trình bày một cách

trung thực trên báo cáo tài chính Cụ thể:

* Các đặc điểm chất lượng bổ sung:

- Có thể so sánh được: Kế toán phải sử dụng nhất quán phương pháp và thủ tục

Trang 34

kế toán trong cùng kỳ và qua các kỳ để người sử dụng có thể thấy được sự khác biệt giữa các hiện tượng kinh tế

- Có thể kiểm chứng được: là thông tin không có sai soát hay sai lệch trọng

yếu khi trình bày về một hiện tượng kinh tế, đạt được mức đồng thuận giữa các nhà

sử dụng

- Tính kịp thời: Thông tin cần phải cung cấp một cách kịp thời để người ra

quyết định sử dụng trước khi nó mất ảnh hưởng đến quyết định

- Có thể hiểu được: Thông tin phải được phân loại, diễn giải và trình bày một

cách rõ ràng

* Các hạn chế:

- Trọng yếu: Việc bỏ sót hay trình bày sai thông tin trong một vài hoàn cảnh

nhất định sẽ làm ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng Vì vậy trình bày thông tin trọng yếu có ý nghĩa vô cùng quan trọng khi ra quyết định

- Chi phí: Lợi ích của BCTC phải được xem xét trong mối quan hệ với các chi

phí của việc lập BCTC trên cả hai phương diện định lượng và định tính

2.2.5 Theo quan điểm của chuẩn mực kế toán Việt Nam 01 (VAS 01)

Theo VAS 21, mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Để đạt được mục đích này thông tin trên BCTC phải:

- “Trung thực: Các thông tin và số liệu phải được ghi chép và báo cáo trên cơ

sở bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung

và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh”

- “Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo

đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo”

- “Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán

phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót”

- “Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp

thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ”

Trang 35

- “Dễ hiều: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong báo cáo tài chính

phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết minh”

- “Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong

một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán

và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh thông tin giữa các

kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch”

Dựa trên các quan điểm nêu trên mặc dù có một số điểm khác biệt nhưng đều có mục đích chung là nâng cao chất lượng TTKT trên BCTC Từ cơ sở lý thuyết, quan điểm của các nhà nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu đã thực hiện trước đây, luận văn sử dụng 5 đặc tính chất lượng là: tính thích hợp, trung thực, dễ hiểu, kịp thời và so sánh được

2.3 Các lý thuyết nền có liên quan

2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory)

Lý thuyết ủy nhiệm được phát triển bởi Jensen và Meckling trong một công bố năm 1976 Lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền, được định nghĩa “Lý thuyết ủy nhiệm tập trung cho mối quan hệ tương tự như một hợp đồng mà theo đó người chủ (nhà đầu tư, chủ sở hữu) thuê người thừa hành (nhà quản lý) Người thừa hành sẽ đại diện người chủ thực hiện một số nhiệm

vụ và được phép ra một số quyết định liên quan”

Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng khi thông tin bất cân xứng và không đầy đủ sẽ xảy

ra xung đột giữa đại diện trong công ty và chủ thể Khi cả hai bên có lợi ích khác nhau thì cần một cơ chế thích hợp để hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty Vì lợi ích của nhà quản lý không gắn liền với lợi ích cổ động nên người quản lý thường có những hành vi tư lợi khi đưa ra quyết định kinh

Trang 36

doanh, đầu tư Do đó, có những chính sách đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản trị

và giám sát hoạt động của nhà quản trị để hạn chế những hành vi tư lợi của nhà quản trị

Theo Healy và Palepu (2001) để dung hòa lợi ích giữa cổ đông và nhà quản trị cần phải có hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị với nhà đầu tư, thỏa thuận thù lao và tiền thưởng của nhà quản trị

Theo Jensen và Meckling (1976), người nhận ủy quyền sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích của bên ủy quyền vì sẽ có những mâu thuẫn lợi ích giữa người

ủy quyền và người nhận ủy quyền khi ra quyết định trong hoạt động của công ty

Vì vậy, chi phí ủy nhiệm đã được người ủy quyền sử dụng để người nhận ủy quyền

ra quyết định theo hướng tối đa hóa lợi ích của người ủy quyền Chi phí ủy nhiệm bao gồm:

Như vậy, dựa vào lý thuyết này, luận văn sẽ nghiên cứu các nhân tố: quyết định nhà quản trị

2.3.2 Lý thuyết tín hiệu (Signaling theory)

Lý thuyết tín hiệu mô tả hành vi của bên có thông tin và bên cần thông tin, một bên phát tín hiệu cho thị trường và một bên sử dụng tín hiệu đó Lý thuyết này nhằm làm giảm tình trạng thông tin bất cân xứng giữa hai bên

Theo Spence (1973) thì lý thuyết tín hiệu được phát triển để làm rõ sự bất cân xứng về thông tin trong thị trường lao động và được sử dụng để giải thích việc công bố thông tin trong báo cáo của công ty (Ross, 1977) Kết quả của vấn đề không cân xứng thông tin là các công ty cố gắng cung cấp thông tin nhất định cho

Trang 37

các nhà đầu tư, để cho thấy rằng họ tốt hơn so với các công ty khác trên thị trường, với mục đích thu hút đầu tư và nâng cao danh tiếng (Verrecchia, 1983)

Tín hiệu của các công ty đưa ra thị trường là TTKT trên BCTC Để tạo niềm tin cho nhà đầu tư và các chủ thể có liên quan thì các công ty phải công bố các thông tin trên BCTC đáng tin cậy và minh bạch Doanh nghiệp nâng cao chất lượng thông tin trên BCTC thông qua các hoạt động kiểm soát nội bộ và đào tạo trình độ đội ngũ nhân viên kế toán, thực hiện tốt các quy định của thuế, các quy định pháp lý về

kế toán

Như vậy, dựa vào lý thuyết này, luận văn sẽ nghiên cứu các nhân tố: quy

mô công ty, quy định thuế, các quy định pháp lý về kế toán, trình độ kế toán viên

2.3.3 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric information)

Lý thuyết thông tin bất cân xứng xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1970 và được nghiên cứu bởi các nhà khoa học là George Akerlof, Michael and Joseph Stiglitz Thông tin bất cân xứng là tình trạng trong một giao dịch có một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với bên còn lại Tình trạng bất cân xứng hiện diện trong rất nhiều lĩnh vực như thị trường hàng hóa, thị trường chứng khoán, thị trường nhà đất, …

Theo Joseph Stiglitz (nhà kinh tế học người Mỹ, đạt giải Nobel năm 2011) có hai nguyên nhân gây ra bất cân xứng thông tin Một là, những chủ thể kinh tế khác nhau quan tâm đến những đối tượng khác nhau và lượng thông tin của họ về cùng một đối tượng là khác nhau Mức độ chênh lệch thông tin phụ thuộc vào cơ cấu, đặc trưng của thị trường Hai là, do chủ thể kinh tế khi tham gia giao dịch cố tình che giấu thông tin để đạt được lợi thế trong đàm phán, giao dịch

Trên TTCK, bất cân xứng thông tin xảy ra khi có một số nhà đầu tư hoặc người quản lý doanh nghiệp có nhiều thông tin hơn so với cộng đồng đầu tư còn lại Ngoài ra, bất cân xứng thông tin xảy ra khi thông tin trên BCTC mà doanh nghiệp

và người quản lý doanh nghiệp công bố không đáng tin cậy Bên cạnh đó, nhà đầu

tư trên thị trường chứng khoán chỉ có thể thu thập thông tin dựa vào báo cáo kiểm

Trang 38

toán của công ty kiểm toán Vì vậy việc che dấu thông tin bất lợi, cung cấp thông tin không chính xác dẫn tới không công bằng đối với các nhóm nhà đầu tư khác nhau Chính điều này, để nhà đầu tư có thể có được các quyết định chính xác nhất khi đầu tư cần phải nâng cao chất lượng BCTC, phải minh bạch trong công bố thông tin và giảm thiểu tối đa bất cân xứng thông tin

Như vậy, sự lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức là hai hậu quả của bất cân xứng thông tin Điều này sẽ làm cho các chủ thể kinh tế đưa ra các quyết định sai lầm khi tham gia vào thị trường và có thể dẫn đến thất bại thị trường

2.3.4 Lý thuyết thông tin hữu ích (Decision usefulness theory)

Lý thuyết thông tin hữu ích (Lý thuyết Quyết định hữu dụng) nêu ra các quyết định và đặc điểm của người sử dụng BCTC Lý thuyết giải thích các nguyên tắc, lý thuyết và khái niệm kế toán được áp dụng để đưa ra các quyết định hữu ích trong các trường hợp khác nhau (Stamp, Mumford và Peasnell 1993)

Lý thuyết thông tin hữu ích là cơ sở lý luận để xây dựng khuôn mẫu lý thuyết kế toán hiện hành của chuẩn mực BCTC Lý thuyết này nhấn mạnh nhiệm vụ cơ bản của BCTC là cung cấp thông tin phù hợp và có ích cho người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế

Lý thuyết thông tin hữu ích

là một khía cạnh quan trọng khi thiết lập các tiêu chuản và các khái niệm về cân bằng lợi ích - chi phí cũng đề cập (Godfrey et al, 2003)

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC

Trong chương 1, tác giả đã liệt kê một số bài nghiên cứu trong và ngoài nước về CLBCTC và các nhân tố có tác động đến CLBCTC Do vậy, tác giả xin kế thừa và phát huy các kết quả nghiên cứu với việc tổng hợp các ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán và đưa vào nghiên cứu trong bài luận văn các nhân tố tác động đến BCTC Dựa theo nghiên cứu của Đặng Thị Kiều Hoa (2016)

về “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa - thực nghiệm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP.HCM” có 5 nhân tố tác động đến chất lượng BCTC gồm: quy định về thuế,

Trang 39

quy mô công ty, người lập BCTC, tổ chức kiểm toán, quyết định của nhà quản trị

và các quy định pháp lý về kế toán Tuy nhiên, theo thực trạng các DNNVV trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận thì BCTC của các doanh nghiệp này không thực hiện công tác kiểm toán Vì vậy, trong bài luận văn của mình, tác giả chỉ kiểm định 4 nhân tố

có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận gồm: quy định về thuế, quy mô công ty, trình độ kế toán viên, quyết định của nhà quản trị và các quy định pháp lý về kế toán

2.4.1 Quyết định của nhà quản trị

Theo nghiên cứu về bất cân xứng thông tin, công bố thông tin và các thị trường bốn của Healy & Palepu (2001) thì chất lượng của BCTC của doanh nghiệp sẽ bị thay đổi và giảm chất lượng do phương pháp kế toán bị ảnh hưởng bởi quyết định của nhà quản trị và các nhà quản trị có xu hướng tìm cách cắt giảm chi phí để làm cho tình hình tài chính kinh của doanh nghiệp tốt hơn Kết quả nghiên cứu cho thấy nhà quản lý có khả năng can thiệp vào công tác kế toán và BCTC của doanh nghiệp

để phục vụ cho mục đích quản trị doanh nghiệp

Như vậy, quyết định của nhà quản trị có tác động cùng chiều đến chất lượng BCTC

2.4.2 Quy mô công ty

Lý thuyết tín hiệu, lý thuyết đại diện và một số nghiên cứu cho rằng để củng cố niềm tin và thu hút vốn đầu tư, các doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì càng yêu cầu cao về mức độ công bố và minh bạch thông tin so với các doanh nghiệp có quy

mô nhỏ hơn Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 đã quy định về việc đánh giá quy mô doanh nghiệp qua các chỉ tiêu: doanh thu thuần, tổng tài sản, tổng nguồn vốn, tổng lao động của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì hệ thống kế toán doanh nghiệp yêu cầu càng chặt chẽ thông qua: doanh nghiệp đầu tư hệ thống máy móc tin học chất lượng, mua phần mềm kế toán, xây dựng quy trình kế toán rõ ràng, xây dựng hệ thống kế toán chặt chẽ, tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả, thuê các công ty kiểm toán uy tín để nâng cao mức độ tin cậy Do vậy, doanh nghiệp có quy mô lớn thì CLBCTC có độ tin cậy

Trang 40

cao hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ

Theo nghiên cứu của Meek, Roberts & Gray (1995) về các yếu tố ảnh hưởng đến thuyết minh báo cáo hằng năm của Mỹ, Anh và các tập đoàn đa quốc gia lục địa châu Âu thì nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến CLBCTC và việc vận dụng chuẩn mực kế toán tại doanh nghiệp là quy mô doanh nghiệp Nghiên cứu cho thấy rằng, khi vận dụng chuẩn mực và thực hiện công tác kế toán nghiêm túc các doanh nghiệp nhỏ không đủ bù đắp chi phí các nguồn lực bỏ ra để mua phần mềm kế toán, thuê kiểm toán, đào tạo đội ngũ nhân viên giỏi

Theo Cao Nguyễn Lê Thu (2014) nghiên cứu về đánh giá các nhân tố bên trong doanh nghiệp tác động đến chất lượng TTKT trình bày trong BCTC của các DNNY

ở SGDCK TPHCM thì nhân tố ảnh hưởng nhất đến CLBTCC là quy mô doanh nghiệp Nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp có quy mô càng lớn với tổng tài sản

có giá trị cao thì CLBCTC sẽ được đảm bảo hơn so với các doanh nghiệp có quy

mô nhỏ hơn

Theo Lê Thị Khoa Nguyên, Lê Thị Thanh Xuân (2015) nghiên cứu về các nhân

tố ảnh hưởng mức độ thuyết minh báo cáo tài chính các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thì nghiên cứu cho thấy quy mô công ty là một trong hai nhân tố quan trọng nhất có ảnh hưởng đến mức độ thuyết minh báo cáo tài chính các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam sau khi khảo sát tổng cộng có

137 công ty cổ phần niêm yết được khảo sát trong năm 2011

Như vậy, từ các nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp có tác động dương với CLBCTC

2.4.3 Quy định về thuế:

Theo nghiên cứu của Desai, M.A., Dyck, A., & Zingales, L (2007) về gian lận

và thuế thấy rằng để giảm sự gia tăng giá trị mục tiêu và chi phí kiểm soát của công

ty cần gia tăng việc thực thi thuế ở Nga Vì vậy, để bảo vệ lợi ích của cổ đông bên ngoài, cải thiện chất lượng quản trị doanh nghiệp và nâng cao chất lượng BCTC thì

cơ quan thuế cần phải giám sát chặt chẽ công tác thực thi luật thuế của các doanh nghiệp

Ngày đăng: 01/09/2020, 17:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w