Nghiên cứu lọc dữ liệu từ bộ dữ liệu doanh nghiệp vừa và nhỏ SMEs 2009 cho một mẫu gồm 379 doanh nghiệp sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh, đến từ chín lĩnh vực khác nhau để tìm ra các y
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
NGUYỄN THỊ THU TRANG
MỨC ĐỘ TUÂN THỦ QUY ĐỊNH MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh- Năm 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
NGUYỄN THỊ THU TRANG
MỨC ĐỘ TUÂN THỦ QUY ĐỊNH MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: (1) Công trình nghiên cứu này do chính và riêng bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của người hướng dẫn khoa học; (2) Không
có nghiên cứu nào của các tác giả khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định; (3) Không thực hiện chỉnh sữa bất kỳ số liệu nào được sử dụng trong nghiên cứu; (4) Kết quả nghiên cứu là hoàn toàn trung thực
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 10 năm 2013
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 4
MỤC LỤC
Trang
Bìa phụ
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TÓM LƯỢC
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu: hiện trạng môi trường thành phố Hồ Chí Minh và tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 7
1.3 Phạm vi và giới hạn của nghiên cứu 8
1.4 Phương pháp nghiên cứu 8
1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 9
1.6 Kết cấu của luận văn 10
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12
2.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ 12
2.2 Phân hạng doanh nghiệp theo kết quả hoạt động môi trường 16
2.3 Các nghiên cứu lý thuyết liên quan 19
2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan 22
2.4.1 Nghiên cứu thực nghiệm ở các nước đang phát triển 24
2.4.2 Nghiên cứu thực nghiệm ở các nước phát triển 27
2.5 Khung khái niệm và phân tích 32
Trang 5CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Mô hình nghiên cứu 36
3.2 Sơ lược về mô hình binary logistic 38
3.2.1 Mô hình 38
3.2.2 Diễn giải quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc 38
3.2.3 Tính p1 khi biết p0 39
3.3 Dữ liệu 39
3.3.1 Sơ lược về bộ dữ liệu 39
3.3.2 Mẫu nghiên cứu 42
3.4 Biến trích ra từ bộ dữ liệu sử dụng cho mô hình 45
3.5 Mã hóa biến 47
CHƯƠNG 4 MỨC ĐỘ TUÂN THỦ QUY ĐỊNH MÔI TRƯỜNG CỦA SMEs THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN THỐNG KÊ MÔ TẢ VÀ MÔ HÌNH BINARY LOGISTIC 49
4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 49
4.1.1 Kết quả BVMT của SMEs 49
4.1.2 Đặc điểm SMEs 50
4.1.3 Nhận thức của chủ doanh nghiệp/ nhà quản lý 52
4.1.4 Hoạt động tài chính của doanh nghiệp 52
4.1.5 Nhóm đặc điểm áp lực tác động lên SMEs 53
4.1.6 Quan hệ chính quyền 54
4.2 Thống kê mô tả khả năng tuân thủ quy định BVMT của SMEs theo các yếu tố được dự đoán có tác động lên hành vi của doanh nghiệp 54
4.2.1 Tác động của nhóm yếu tố đặc điểm SMEs 54
Trang 64.2.2 Tác động của nhóm yếu tố nhận thức chủ doanh nghiệp/ nhà quản lý 56
4.2.3 Tác động của hoạt động tài chính của doanh nghiệp 57
4.2.4 Tác động của nhóm yếu tố đặc điểm áp lực từ bên ngoài lên SMEs 58
4.2.5 Tác động của nhóm yếu tố quan hệ chính quyền 59
4.3 Mối quan hệ giữa các biến 60
4.3.1 Tương quan đơn 60
4.3.2 Kiểm định mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập 62
4.4 Hồi quy binary logistic 63
4.4.1 Hồi quy binary logistic với bộ dữ liệu ban đầu 63
4.4.2 Hồi quy binary logistic với bộ dữ liệu đã loại trừ các giá trị ngoại lai và các trường hợp ảnh hưởng 64
4.4.3 Lựa chọn mô hình để thuyết minh kết quả 65
4.4.4 Kiểm tra kết quả về mặt thống kê 65
4.5 Kết quả 69
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 75
5.1 Kết luận của nghiên cứu 75
5.2 Hạn chế của nghiên cứu 76
5.3 Hướng nghiên cứu mở rộng 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC A: CÁC BẢNG SỐ LIỆU PHỤC VỤ CHƯƠNG 1- GIỚI THIỆU PHỤ LỤC B: KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH HỒI QUY BINARY LOGISTIC VỚI BỘ DỮ LIỆU BAN ĐẦU
PHỤ LỤC C: KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH HỒI QUY BINARY LOGISTIC VỚI BỘ DỮ LIỆU ĐÃ LOẠI GIÁ TRỊ NGOẠI LAI VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP ẢNH HƯỞNG
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AFTA Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (SEAN Free Trade Area) ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast
Asian Nations) BVMT Bảo vệ môi trường
CIEM Viện Quản lý Kinh tế Trung ương
CKĐTC Bản cam kết đạt tiêu chuẩn môi trường
ILSSA Viện Khoa học Lao động và Xã hội
MOLISA Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư
MSMEs Doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ (Micro, small and
medium-sized enterprises) SMEs Doanh nghiệp vừa và nhỏ (Small and medium-sized enterprises) TNHH Trách nhiệm hữu hạn
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organnization)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 2.1 Tiêu chí phân loại SMEs theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày
30/06/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 12
Bảng 2.2 Tiêu chí phân loại SMEs theo Hội đồng Quốc gia Phát triển SMEs tại Malaysia, áp dụng từ ngày 09 tháng 07 năm 2005 13
Bảng 2.3 Tiêu chí phân loại SMEs theo Hội đồng Quốc gia Phát triển SMEs tại Malaysia, áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 14
Bảng 2.4 Tiêu chí phân loại SMEs tại một số quốc gia 14
Bảng 2.5 Tiêu chí phân loại SMEs theo Liên Minh Châu Âu 14
Bảng 2.6 Tiêu chí phân loại SMEs của Ngân hàng Thế giới (doanh nghiệp phải đáp ứng được tối thiểu 2 phần 3 các đặc điểm này) 15
Bảng 3.1 Mô tả các biến độc lập 37
Bảng 3.2 Số liệu doanh nghiệp được điều tra trong bộ dữ liệu điều tra SMEs 2009 theo quy mô và địa bàn 40
Bảng 3.3 SMEs thuộc khu vực sản xuất nằm ngoài các KCN/ KCX/ KCNC/ CCN trong bộ dữ liệu SMEs 2009 tại thành phố Hồ Chí Minh theo ngành 43
Bảng 3.4 Đo lường các biến trong mô hình bằng các biến được trích ra từ bộ dữ liệu SMEs 2009 45
Bảng 3.5 Mã hóa biến Legal 47
Bảng 3.6 Mã hóa biến Sector 47
Bảng 3.7 Mã hóa biến Edu_Own 48
Bảng 4.1 Kết quả BVMT của SMEs trong mẫu nghiên cứu 49
Bảng 4.2 Đặc điểm riêng có của SMEs trong mẫu nghiên cứu 50
Bảng 4.3 Nhận thức của SMEs trong mẫu nghiên cứu 52
Bảng 4.4 Tình hình hoạt động tài chính của SMEs trong mẫu nghiên cứu 52
Bảng 4.5 Các áp lực từ bên ngoài mà SMEs trong mẫu nghiên cứu phải đối diện 53 Bảng 4.6 Quan hệ với chính quyền của SMEs trong mẫu nghiên cứu 54
Trang 9Bảng 4.7 Kết quả BVMT của doanh nghiệp theo các đặc đểm riêng có của SMEs
trong mẫu nghiên cứu 55
Bảng 4.8 Kết quả BVMT của doanh nghiệp theo tuổi thọ của máy móc/ thiết bị chính của SMEs trong mẫu nghiên cứu 56
Bảng 4.9 Kết quả BVMT của doanh nghiệp theo nhận thức của chủ doanh nghiệp/ nhà quản lý SMEs trong mẫu nghiên cứu 56
Bảng 4.10 Kết quả BVMT của doanh nghiệp theo tình hình hoạt động tài chính của SMEs trong mẫu nghiên cứu 57
Bảng 4.11 Kết quả BVMT của doanh nghiệp theo nhóm các đặc điểm áp lực từ bên ngoài của SMEs trong mẫu nghiên cứu 58
Bảng 4.12 Kết quả BVMT của doanh nghiệp theo đối tượng khách hàng của SMEs trong mẫu nghiên cứu 58
Bảng 4.13 Kết quả BVMT của doanh nghiệp theo mức độ quan hệ với chính quyền của SMEs trong mẫu nghiên cứu 60
Bảng 4.14 Hệ số tương quan đơn giữa các biến 61
Bảng 4.15 Kiểm định Pearson Chi- square giữa biến phụ thuộc và từng biến độc lập 62
Bảng 4.16 Tỷ lệ chính xác phân loại (dữ liệu ban đầu) 64
Bảng 4.17 Tỷ lệ chính xác phân loại (dữ liệu đã loại quan sát ngoại lai và các trường hợp ảnh hưởng) 64
Bảng 4.18 Kiểm định Omnibus về hệ số của mô hình 65
Bảng 4.19 Hồi quy binary logistic (N= 370) 66
Bảng 4.20 Bảng phân loại 68
Bảng 4.21 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả BVMT của doanh nghiệp từ kết quả chạy mô hình thống kê 69
Bảng 4.22 Khả năng tuân thủ quy định BVMT của doanh nghiệp khi biến độc lập tăng 1 đơn vị 71
Bảng 4.23 Mức độ thay đổi khả năng tuân thủ quy định BVMT của doanh nghiệp so với ban đầu khi biến độc lập tăng 1 đơn vị 72
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 2.1 Qui trình phân loại doanh nghiệp theo kết quả BVMT của doanh nghiệp tại Việt Nam 17Hình 2.2 Khung khái niệm và phân tích của nghiên cứu 35Hình 4.1 Tác động biên 73
Trang 11TÓM LƯỢC
Trong những năm gần đây, cư dân thành phố Hồ Chí Minh đã phải chứng kiến cảnh chất lượng môi trường sống ngày một suy giảm Đây là hậu quả của nhiều nguyên nhân, trong đó có các hoạt động gây ô nhiễm như: sinh hoạt, giao thông vận tải và sản xuất Trong đó, nguồn thải từ hoạt động sản xuất là rất đáng kể, cả về khối lượng, nồng độ và mức độ khó xử lý Việc hạn chế nguồn thải này ở đây không chỉ đơn giản là đóng cửa các nhà máy gây ô nhiễm mà cần tìm cách tác động vào các yếu tố có tác dụng nâng cao kết quả hoạt động BVMT của doanh nghiệp mà vẫn đảm bảo doanh nghiệp hoạt động và phát triển
Nghiên cứu lọc dữ liệu từ bộ dữ liệu doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) 2009 cho một mẫu gồm 379 doanh nghiệp sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh, đến từ chín lĩnh vực khác nhau để tìm ra các yếu tố thật sự có ý nghĩa tác động đến việc tuân thủ các quy định bảo vệ môi trường (BVMT) của doanh nghiệp Năm nhóm yếu tố và dấu kỳ vọng của nó đối với khả năng tuân thủ: (1) đặc điểm riêng có của doanh nghiệp (quy mô(+), ngành nghề sản xuất, hình thức pháp lý, thâm niên hoạt động(-), tuổi thọ của máy móc/ thiết bị(-)); (2) nhận thức của chủ doanh nghiệp/ nhà quản lý(+) (trình độ, hiểu biết về pháp luật môi trường); (3) kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp(+) (kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, chi đầu tư mới), (4) áp lực từ các bên có liên quan(+) (khách hàng, nhà cung cấp, nhà đầu tư và cộng đồng); (5) mức độ quan hệ với chính quyền(-)
(hối lộ, độ lớn mạng lưới quan hệ với chính trị gia và công chức)
Hồi quy binary logistic được sử dụng để dự đoán mức độ tuân thủ quy định BVMT của doanh nghiệp thông qua việc doanh nghiệp có hay không giấy chứng nhận môi trường Kết quả chạy hồi quy đưa đến một số phát hiện Thứ nhất, doanh nghiệp có (1) giao thương với các nước phát triển; (2) quy mô càng lớn; (3) chất thải được đo lường nồng độ/ khối lượng bởi cơ quan chức năng/ doanh nghiệp; (4) chất thải được đo lường trong quá khứ; (5) hiểu biết về pháp luật môi trường; (6)
Trang 12thường xuyên đưa hối lộ; (7) hoạt động lâu năm; (8) mạng lưới quan hệ với chính trị gia và công chức càng nhỏ; (9) tỷ trọng xuất khẩu càng thấp thì khả năng tuân thủ quy định BVMT của doanh nghiệp sẽ càng cao hơn các doanh nghiệp còn lại Thứ hai, trong số các yếu tố thì áp lực có từ xuất khẩu qua các quốc gia phát triển
có tác động mạnh hơn hẳn các yếu tố khác Thứ ba, trong các ngành nghề sản xuất thì ngành khoáng sản phi kim tuân thủ quy định BVMT tốt nhất
Các phát hiện này phần lớn phù hợp với dự đoán ban đầu của tác giả Tuy nhiên, một số kết quả gây ngạc nhiên cho nhà nghiên cứu: (1) Doanh nghiệp càng lâu năm thì càng tuân thủ tốt; (2) doanh nghiệp có tỷ trọng xuất khẩu càng cao lại tuân thủ kém; (3) việc đưa hối lộ lại có tác động tích cực đến việc tuân thủ (mặc dù
là yếu) Phải chăng đây là đặc điểm riêng có của các doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Chương một trình bày bảy nội dung: (1) ngữ cảnh nghiên cứu, tập trung nêu hiện trạng môi trường thành phố Hồ Chí Minh để thấy được tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu; (2) trình bày mục tiêu nghiên cứu chung và các mục tiêu cụ thể để giải quyết mục tiêu chung; (3) đưa ra một số câu hỏi nghiên cứu để định hình ban đầu một số nhóm nhân tố có thể ảnh hưởng đến kết quả tuân thủ các quy định BVMT của doanh nghiệp; (4) trình bày lý do tại sao lại chọn đối tượng nghiên cứu là SMEs
và phạm vi nghiên cứu là thành phố Hồ Chí Minh; (5) trình bày sơ lược các phương pháp được sử dụng để tìm ra câu trả lời cho từng mục tiêu nghiên cứu; (6) trình bày
ý nghĩa nghiên cứu về mặt học thuật cũng như ứng dụng; và phần còn lại (7) trình bày kết cấu của luận văn và ý nghĩa của từng phần
1.1 Bối cảnh nghiên cứu: hiện trạng môi trường thành phố Hồ Chí Minh và tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sau Đại hội VI (tháng 12 năm 1986) Việt Nam quyết tâm chuyển nền kinh tế
từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế theo định hướng thị trường; cùng với sự kiện Chính phủ Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ (năm 1995) và gia nhập các tổ chức thương mại trong khu vực cũng như thế giới: ASEAN (năm 1995), AFTA (năm 1996), APEC (năm 1998), WTO (năm 2007) đã giúp cho Việt Nam chuyển mình từ một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, có thu nhập thấp1 sang quốc gia có thu nhập trung bình thấp vào năm 2009 Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, số liệu trong 3 năm 2009- 20112, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 6,00%, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân trên đầu người bình quân 17,87%, khối lượng việc làm cho người lao động hằng năm gia tăng trung bình 2,72%, tỷ lệ thất nghiệp liên tục giảm, tỷ lệ thiếu việc làm duy trì ở mức 2-3%
1 Theo cách xác định của Ngân hàng Thế giới có hiệu lực từ ngày 01/07/2013 đến ngày 01/07/2014:
Quốc gia có thu nhập thấp: Thu nhập quốc gia trên đầu người nhỏ hơn $1.035 một năm
Quốc gia có thu nhập trung bình thấp: Thu nhập quốc gia trên đầu người từ $1.036 đến $4.085 một năm
Quốc gia có thu nhập trung bình cao: Thu nhập quốc gia trên đầu người từ $4.086 đến $12.615 một năm
Quốc gia có thu nhập cao: Thu nhập quốc gia trên đầu người từ lớn hơn $12.616 một năm
2 Số liệu kinh tế và việc làm Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2011 xem Bảng 1, Phụ lục A
Trang 14Có thể nói Việt Nam đã trải qua hai thập niên tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, cũng giống nhiều quốc gia khác trong giai đoạn đầu của phát triển để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, thu hút đầu tư từ bên trong cũng như từ bên ngoài quốc gia, Việt Nam đã bỏ qua các trách nhiệm về môi trường đối với doanh nghiệp Kết quả là chúng ta đang phải đối mặt với việc chất lượng môi trường sống bị suy giảm Môi trường bị ô nhiễm, hiện tượng này không thấy rõ ở các tỉnh và vùng ngoại ô các thành phố nơi dân cư thưa thớt, hoạt động kinh tế trầm lắng và cơ sở sản xuất rải rác, nhưng có thể thấy rõ hậu quả ô nhiễm môi trường ở các khu đô thị lớn và các tỉnh tập trung nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất và các nhà máy sản xuất Thành phố Hồ Chí Minh, với vị trí là trung tâm tài chính- dịch vụ- thương mại- sản xuất lớn nhất cả nước (đóng góp 26,3% GDP cả nước3), nơi đây hoạt động kinh tế diễn ra sôi động, quá trình di dân diễn ra mạnh mẽ, tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh trong khi cơ sở hạ tầng không đáp ứng kịp và các phương án bảo
vệ và cải thiện môi trường triển khai chậm và không đồng bộ đã làm môi trường suy thoái trầm trọng và đáng báo động
Theo báo cáo sơ kết hai năm (2011- 2012) thực hiện chương trình giảm ô nhiễm môi trường giai đoạn 2011- 2015 (dự thảo) của Sở Tài nguyên Môi trường thành phố Hồ Chí Minh, tình hình các nguồn chất thải môi trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2012 như sau:
Nước thải: Các nguồn tạo ra nước thải bao gồm: (1) Các cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, thương mại; (2) Các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao; (3) Cụm công nghiệp; (4) Khu đô thị mới; (5) Khu đô thị hiện hữu Nước thải này một phần được xử lý trước khi thải ra nguồn tiếp nhận, phần lớn xả thải trực tiếp Nguồn tiếp nhận ở khu vực nội thành: 4 hệ thống kênh rạch chính là sông Sài Gòn- Đồng Nai, kênh Nhiêu Lộc- Thị Nghè, kênh Tân Hóa- Lò Gốm, kênh Tàu Hủ-
3 Số liệu tổng sản phẩm trong nước (GDP) của 11 tỉnh thành (trong đó có thành phố Hồ Chí Minh) từ năm 2008- 2010 xem Bảng 2- Phụ lục A
Trang 15Bến Nghé- Đôi- Tẻ; ở khu vực ngoại thành: hai kênh rạch giáp ranh là kênh tiêu Ba
Bò và kênh Thầy Cai- sông Cần Giuộc
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, thương mại: Theo số liệu thống kê sơ
bộ của Sở Tài nguyên Môi trường thành phố Hồ Chí Minh thì số lượng nguồn thải
cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, thương mại trên địa bàn thành phố là 3.300 nguồn thải, trong đó khoảng 750 nguồn thải lưu lượng trên 50 m3/ ngày; 450 nguồn thải lưu lượng 30- 50 m3/ ngày; 2.100 nguồn thải lưu lượng dưới 30 m3/ ngày Hiện nay, thành phố chỉ kiểm soát được các nguồn thải lưu lượng trên 50 m3/ ngày còn các nguồn thải có lưu lượng nhỏ hơn hầu như bị thả nổi về mặt quản lý và thiếu số liệu thống kê
Các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), khu công nghệ cao (KCNC): 15/15 khu (đạt tỷ lệ 100%) có hệ thống xử lý nước thải (HTXLNT) tập
trung; 13/15 khu (đạt tỷ lệ 86,7%) có chất lượng nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn,
02 KCN không đạt là KCN Cát Lái và KCN An Hạ, trong đó KCN An Hạ mới được chuyển thành KCN từ cụm công nghiệp (CCN) năm 2012 và HTXLNT đang trong giai đoạn thử nghiệm Tuy nhiên, các khu này đều chưa được lắp đặt hệ thống quan trắc tự động tại cửa xả nước thải của các KCN, KCX, KCNC để đảm bảo chất lượng nước thải được quan trắc liên tục
Cụm công nghiệp: hiện nay trên địa bàn thành phố có 27 CCN với diện tích
1.441,02 ha; trong đó có 11 CCN chưa đi vào hoạt động (5 cụm có đơn vị kinh doanh hạ tầng và 6 cụm vẫn còn trên quy hoạch, đang kêu gọi đầu tư) và 16 CCN
có doanh nghiệp hoạt động (13 cụm chưa có đơn vị kinh doanh cơ sở hạ tầng, 13 CCN này được quy hoạch làm đất công nghiệp để tập trung các cơ sở sản xuất và do UBND quận/ huyện quản lý) Trong số 16 CCN có doanh nghiệp hoạt động thì chỉ
có 3 cụm có đơn vị kinh doanh hạ tầng: Lê Minh Xuân, Nhị Xuân và Xuân Thới Sơn A; 2/3 cụm (đạt tỷ lệ 66,7%) có HTXLNT (Lê Minh Xuân và Nhị Xuân) và chất lượng nước thải sau xử lý của hai hệ thống đều đạt quy chuẩn đối với hầu hết chỉ tiêu, ngoại trừ chỉ tiêu dinh dưỡng (vượt quy chuẩn từ 1,1- 1,3 lần) Các CCN chưa có đơn vị kinh doanh hạ tầng thì hầu hết chưa có HTXLNT tập trung
Trang 16Khu đô thị mới, thành phố hiện nay có 39 dự án khu dân cư có diện tích 20 ha
trở lên và 50 dự án khu dân cư có diện tích nhỏ hơn 20 ha Trong số 39 dự án khu dân cư có diện tích 20 ha trở lên thì có 10 dự án đã đi vào hoạt động; 6/10 dự án (chiếm tỷ lệ 60%) đã xây dựng HTXLNT tập trung Còn 50 dự án khu dân cư có diện tích nhỏ hơn 20 ha thì có 31 dự án hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó
có 25/31 (chiếm tỷ lệ 80,6%) dự án có HTXLNT
Khu đô thị hiện hữu, theo niên giám thống kê thành phố Hồ Chí Minh ước tính
dân số thành phố năm 2012 khoảng 07 triệu người, ước tính lượng nước thải sinh hoạt từ các khu đô thị hiện hữu phát sinh gần khoảng 02 triệu m3/ ngày và đêm Trong khi đó thành phố chỉ có hai nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt (Bình Hưng Hòa và Bình Hưng) với tổng công suất xử lý 171.000 m3
/ ngày và đêm4 Như vậy, hiện nay các trạm, nhà máy xử lý nước chỉ thu gom và xử lý được khoảng 8,55% lượng nước thải của các khu đô thị hiện hữu
Khí thải: Có hai nguồn gây ô nhiễm không khí và tiếng ồn chính: (i) hoạt
động sản xuất; (ii) Hoạt động giao thông, vận tải
Hoạt động sản xuất, trong năm 2012 thành phố có 107 nguồn khí thải trong
các KCN/ KCX và 343 nguồn khí thải bên ngoài KCN/ KCX (chủ yếu là khí thải lò đốt) Khoảng 76% nguồn thải trong KCN/KCX được xử lý đạt quy chuẩn trước khi thải vào nguồn tiếp nhận Còn các nguồn thải bên ngoài KCN/ KCX chỉ có 46% có trang bị hệ thống xử lý khí thải; trong số các nguồn thải có trang bị hệ thống xử lý khí thải, có khoảng 71% nguồn thải xử lý khí thải đạt tiêu chuẩn trước khi thải vào nguồn tiếp nhận
Hoạt động giao thông, vận tải, có thực hiện quan trắc định kỳ nhưng chưa có
phương pháp để đánh giá mức độ gây ô nhiễm không khí nên chưa thể đưa ra kết luận nào
Chất thải rắn: Các loại chất thải rắn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh bao
gồm: (1) Chất thải rắn thông thường; (2) Chất thải rắn nguy hại; (3) Chất thải rắn y
tế
4 Chi tiết xem Bảng 3- Phụ lục A
Trang 17Chất thải rắn thông thường: Tổng khối lượng được thu gom, xử lý trong năm
2012 là 2.362.419 tấn/ năm, trung bình 6.472 tấn/ ngày Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở khu vực nội thành: khoảng 95% thu trực tiếp từ các hộ dân và 5% còn lại thu gom dọc theo tuyến đường, các bô rác, thùng rác công cộng, vớt rác trên kênh Còn khu vực ngoại thành: thu gom, xử lý trực tiếp từ các hộ dân khoảng 70- 80%, phần còn lại người dân tự xử lý rác trong vườn của mình
Chất thải rắn nguy hại, khối lượng chất thải rắn nguy hại trên địa bàn thành
phố ước tính khoảng 300- 350 tấn/ ngày Ở thành phố Hồ Chí Minh có 48 công ty được cấp phép vận chuyển chất thải nguy hại và 13 công ty xử lý (chủ yếu đốt, hóa rắn, keo tụ) đáp ứng 30- 40% khối lượng chất thải nguy hại của thành phố; phần còn lại do các công ty ngoài tỉnh (Long An, Tiền Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Kiên Giang) đến thu gom, vận chuyển về tỉnh xử lý hoặc chất thải nguy hại đang được lưu trú tạm thời tại các chủ nguồn thải (do số lượng phát sinh thấp)
Chất thải rắn y tế: khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh trong năm 2012 dao
động 12- 17 tấn/ ngày, với tỷ lệ thu gom, xử lý (chủ yếu là đốt) chất thải y tế như sau: tại các bệnh viện, các trung tâm lớn: tỷ lệ thu gom đạt 100%; tại các phòng khám: tỷ lệ thu gom trực tiếp đúng tuyến đạt 85- 90%, phần còn lại được thải bỏ chung với chất thải rắn sinh hoạt và được vận chuyển về bãi chôn lấp hợp vệ sinh Công nghệ áp dụng để xử lý chất thải rắn chủ yếu được sử dụng hiện nay là chôn lấp (chiếm tỷ trọng 80- 85%) Phương pháp này có ưu điểm nhanh, dễ thực hiện nhưng cũng gây ra nhiều vấn đề môi trường về mùi hôi, nước rỉ rác, ô nhiễm nguồn nước khu vực chôn lấp, môi trường sản sinh các mầm bệnh … và không tận dụng được các lợi ích từ rác như phương pháp phân loại- tái chế, xử lý chất thải rắn làm phân compost hay đốt phát điện
Theo kết quả trình bày trên, hiện nay thành phố Hồ Chí Minh có ba loại chất thải chính, đó là nước thải, khí thải và chất thải rắn Phần lớn nước thải đều chưa được xử lý: 100% KCN/KCX/KCNC có HTXLNT; 2/16 CCN đang hoạt động có HTXLNT; thành phố chỉ kiểm soát được các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, thương mại có nguồn thải lưu lượng trên 50 m3/ ngày, còn các nguồn thải có lưu
Trang 18lượng nhỏ hơn hầu như bị thả nổi về mặt quản lý và thiếu số liệu thống kê; 91,45% nước thải sinh hoạt chưa được xử lý Khí thải: 76% nguồn thải xử lý khí thải trong KCN/KCX đạt quy chuẩn trước khi thải vào nguồn tiếp nhận; các nguồn thải bên ngoài KCN/ KCX chỉ có 46% có trang bị hệ thống xử lý khí thải; khí thải từ hoạt động giao thông- vận tải hầu như không có phương án xử lý Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn thì khả quan hơn, có thể đạt tới 90%; tuy nhiên phương án xử lý được xem là không tối ưu và hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội
Có thể nói nếu chính quyền thành phố không có những động thái thể hiện sự quan tâm và kiên quyết giải quyết trong vấn đề giảm thiểu môi trường thì môi trường thành phố sẽ đối mặt với suy thoái nghiêm trọng, môi trường nền sẽ quá tải, không còn khả năng hấp thụ thêm và mất đi khả năng tự xử lý vốn có của nó Để làm được điều đó, cần phải phân loại đối tượng gây ô nhiễm để có những quy định môi trường được soạn thảo riêng cho từng đối tượng một cách phù hợp, có tính chất răn đe để thay đổi hành vi và thói quen các đối tượng đó Một trong những đối tượng gây ô nhiễm lớn cả về số lượng cũng như hàm lượng và tính chất nguy hại đó
là chất thải từ các doanh nghiệp sản xuất Bằng chứng trong thời gian qua, thành phố Hồ Chí Minh đã xuất hiện một số “điểm nóng” về ô nhiễm môi trường do các nhà máy sản xuất thải ra và chịu sự phản đối kịch liệt từ người dân và dư luận Khu công nghiệp Lê Minh Xuân, với chức năng đón các cơ sở sản xuất ô nhiễm khu vực trung tâm thành phố di dời về, kết quả là 30 tuyến kênh trên địa bàn huyện Bình Chánh bị nhiễm bẩn rất nặng Khu chế xuất Linh Trung III (quận Thủ Đức) với việc
xả một lượng nước thải cực lớn ra môi trường làm cho người dân sống quanh khu vực kênh Ba Bò ở quận Thủ Đức đang phải đối mặt với nguồn nước ô nhiễm, độc hại Khu công nghiệp Tân Phú Trung (quận Tân Bình), Khu công nghiệp Xuyên Á
là nguồn gây ô nhiễm kênh Thầy Cai - An Hạ… Hệ thống kênh rạch bị ô nhiễm là nguyên nhân chính dẫn đến sự ô nhiễm các sông Sài Gòn, Đồng Nai, Thị Vải, ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước sạch cho các nhà máy nước Thủ Đức và Tân Hiệp, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản cũng như đời sống sinh hoạt của người dân tại các lưu vực sông này
Trang 19Như vậy để giải quyết vấn đề ô nhiễm tại thành phố Hồ Chí Minh, chính quyền thành phố phải đặc biệt quan tâm đến nguồn thải từ các doanh nghiệp sản xuất Tuy nhiên, việc ngăn chặn nguồn thải này ở đây không chỉ đơn giản là đóng cửa các nhà máy này mà cần có một phân tích để tìm hiểu nguyên nhân sâu xa tại sao doanh nghiệp lại có hành vi xả thải thay vì xử lý chất thải trước khi chuyển ra môi trường bên ngoài
Theo Gangadharan (2006), ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, thì quy định về môi trường thì rất yếu và không được bắt buộc thi hành nghiêm ngặt
do sự hạn chế của ngân sách nhà nước, thiếu nhân sự và tham nhũng trong hệ thống
tư pháp Do đó, ở những quốc gia này, cơ chế bắt buộc thực thi chính thức không hoạt động tốt, do đó điều quan trọng là phải tập trung vào yếu tố khác để khuyến khích việc thực thi pháp luật bảo vệ môi trường
Nghiên cứu này với mục tiêu tìm ra “yếu tố khác” có ảnh hưởng đến kết quả tuân thủ quy định BVMT của doanh nghiệp Nếu kết quả của nghiên cứu được sử dụng bởi cơ quan quản lý, nó có thể giúp ích trong việc đưa ra một số công cụ tác động gián tiếp lên các doanh nghiệp để thay đổi hành vi của họ nhằm đạt được mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm của chính quyền thành phố mà vẫn đảm bảo doanh nghiệp hoạt động, phát triển kinh tế
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung của nghiên cứu này là đánh giá các nhân tố (ngoài yếu tố chính thức) có ảnh hưởng lên việc tuân thủ quy định môi trường của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hồ Chí Minh
Để giải quyết mục tiêu chung nghiên cứu đề ra các mục tiêu cụ thể: mục tiêu thứ nhất, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ quy định BVMT của các doanh nghiệp; mục tiêu thứ hai, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này trong trường hợp nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ tại thành phố
Hồ Chí Minh
Trang 201.3 Phạm vi và giới hạn của nghiên cứu
Nghiên cứu có đơn vị nghiên cứu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) vì hai lý do: (1) do bộ dữ liệu được sử dụng có được từ cuộc điều tra đặc điểm môi trường kinh doanh của SMEs ở Việt Nam năm 2009; (2) SMEs có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nhỏ như Việt Nam Số liệu doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam năm 20115 cho thấy SMEs chiếm 97,5% số doanh nghiệp hiện đang hoạt động tại Việt Nam, nó góp phần tạo ra 46,5% việc làm cho quốc gia và đóng góp 31,6% vào nguồn thu từ doanh nghiệp của Chính phủ
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vì một số lý do: (1) thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp nhất
cả nước với 96.206/312.6446 (chiếm 30,8%) doanh nghiệp cả nước và 95.186/304.905 (chiếm tỷ trọng 31,2%) SMEs cả nước; (2) nghiên cứu tập trung một tỉnh/ thành để bỏ qua một số yếu tố tác động bởi đặc điểm của tỉnh/ thành đó như khả năng quản lý và sự nghiêm khắc của chính quyền, mức độ nghiêm trọng của vấn đề môi trường tại địa phương, mức sống, nhận thức cũng như sự quan tâm của người dân tại cộng đồng xung quanh đối với các vấn đề môi trường
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu thứ nhất, tác giả thực hiện khảo cứu các nghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm có liên quan để rút ra một số các yếu tố ban đầu, sau
đó sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá sơ bộ mối tương quan giữa từng nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến sự tuân thủ pháp luật BVMT của doanh nghiệp Để đạt mục tiêu thứ hai, phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng cho mô hình hồi quy binary logistic (với biến nhị phân) để tìm ra các yếu tố có ý nghĩa thực sự về mặt thống kê và đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố dựa trên kết quả có được từ chạy mô hình
Trang 211.5 Ý nghĩa của nghiên cứu
Nghiên cứu cho thấy tình hình nghiên cứu về mảng đề tài này trên thế giới và tại Việt Nam để thấy được mức độ quan tâm của các nhà nghiên cứu về vấn đề nóng này và những kết luận đúc kết từ các nghiên cứu là không giống nhau ở những khía cạnh nghiên cứu khác nhau và kết quả nghiên cứu có thể là trái chiều khi nghiên cứu thực nghiệm diễn ra ở các quốc gia khác nhau Điều này gợi ý cho người đọc có thêm nhiều suy nghĩ, thắc mắc và gợi ý một số hướng mở cho một số đề tài nghiên cứu khác
Một dự án nghiên cứu thường tập trung vào một trong hai việc hoặc là thử nghiệm lý thuyết hoặc xây dựng lý thuyết Xây dựng lý thuyết rất hữu ích khi công
cụ lý thuyết hiện tại không đủ để giải thích một vấn đề khó giải thích nhất định Kiểm nghiệm lý thuyết hữu ích khi các công cụ lý thuyết hiện tại là đủ để kiểm tra một câu hỏi nghiên cứu cụ thể Tất nhiên, trong quá trình thử nghiệm các lý thuyết hiện tại, các nhà nghiên cứu có thể đề nghị sửa đổi chúng (Prakash, 09/2001) Bài viết này nằm trong mảng thử nghiệm lý thuyết Kết quả từ nghiên cứu cung cấp thêm các bằng chứng thực nghiệm để thực chứng các yếu tố có ảnh hưởng đến kết quả BVMT của doanh nghiệp Nghiên cứu về mảng đề tài này hiện đang rất mới và
có ít đề tài nghiên cứu tại Việt Nam
Xét về góc độ lợi ích của cơ quan quản lý, nghiên cứu góp phần gợi ý một số chính sách bên ngoài các quy định chính thức được cho là không phù hợp ở Việt Nam Theo Dao & Ofori (2010), quy định môi trường ở Việt Nam phần lớn được sao chép từ tiêu chuẩn Mỹ và châu Âu do đó nói chung là rất nghiêm ngặt Nhưng các quy định chính thức này bị cản trở rất lớn bởi sự thiếu các quy định ràng buộc pháp lý rõ ràng; năng lực quản lý có giới hạn; thiếu công cụ hợp lý và nhân sự được đào tạo; và không đủ thông tin về xả thải (giám sát kém) (Hettige et al., 1996) Một
ví dụ nghịch lý, ở Việt Nam chưa có cơ sở xử lý và loại bỏ chất thải nguy hại nhưng quy định pháp luật bắt buộc các doanh nghiệp phải loại bỏ nó, vậy nếu doanh nghiệp có ý định thi hành các biện pháp BVMT cần thiết để đáp ứng yêu cầu pháp
lý thì sẽ gặp rất nhiều vấn đề khó khăn trong việc tuân thủ các quy định này
Trang 221.6 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm năm chương Chương một- giới thiệu- trình bày bảy nội dung: (1) ngữ cảnh nghiên cứu, tập trung nêu hiện trạng môi trường thành phố Hồ Chí Minh để thấy được tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu; (2) trình bày mục tiêu nghiên cứu chung và các mục tiêu cụ thể để giải quyết mục tiêu chung; (3) đưa ra một số câu hỏi nghiên cứu để định hình ban đầu một số nhóm nhân tố có thể ảnh hưởng đến kết quả tuân thủ các quy định BVMT của doanh nghiệp; (4) trình bày lý
do tại sao lại chọn đối tượng nghiên cứu là SMEs và phạm vi nghiên cứu là thành phố Hồ Chí Minh; (5) trình bày sơ lược các phương pháp được sử dụng để tìm ra câu trả lời cho từng mục tiêu nghiên cứu; (6) trình bày ý nghĩa nghiên cứu về mặt học thuật cũng như ứng dụng; và phần còn lại là mục này, trình bày kết cấu của luận văn và ý nghĩa của từng phần;
Chương hai- cơ sở lý thuyết- trình bày năm nội dung: (1) trình bày các khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) và các tiêu chí phân loại chúng hiện nay cũng như trong quá khứ tại Việt Nam, ngoài ra nghiên cứu cũng khảo cứu một số cách phân loại SMEs tại một số quốc gia và tổ chức trên thế giới để có một cái nhìn
so sánh sâu hơn; (2) trình bày một số cách phân hạng doanh nghiệp theo kết quả hoạt động môi trường, đây cũng là cơ sở đánh giá mức độ tuân thủ các quy định BVMT của doanh nghiệp được sử dụng trong các chương sau của nghiên cứu; (3) trình bày các nghiên cứu lý thuyết có liên quan để giải thích các hành vi của doanh nghiệp trong hoạt động môi trường, bằng các quan điểm luận giải và suy luận của các nhóm tác giả; (4) trình bày các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, kết quả của phần này: giúp tác giả định hình được một yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến sự tuân thủ quy định BVMT của doanh nghiệp, làm cơ sở để xây dựng khung khái niệm và phân tích được thể hiện trong nội dung thứ năm của chương;
Chương ba- phương pháp nghiên cứu- gồm năm phần nhỏ: (1) trình bày mô hình thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến sự tuân thủ quy định BVMT của doanh nghiệp- được đại diện bởi các biến độc lập- và kết quả tuân thủ của doanh nghiệp- được đại diện bởi các biến phụ thuộc; cách đo lường các
Trang 23biến và giá trị có thể nhận được của chúng cũng được thể hiện trong phần này; (2) trình bày sơ lược lý thuyết loại hồi quy được sử dụng để chạy mô hình: binary logistic; (3) tóm tắt bộ dữ liệu SMEs 2009 và xác định cỡ mẫu nghiên cứu; (4) trích lọc các biến từ bộ dữ liệu phục vụ cho tính toán các biến của mô hình; (5) mã hóa các biến từ dạng định tính sang định lượng, là yêu cầu bắt buộc về loại dữ liệu trước khi chạy hồi quy bằng phần mềm SPSS 16.0;
Chương bốn- kết quả nghiên cứu- trình bày các kết quả nhận được từ: (1) thống kê mô tả đặc điểm của từng biến trong mẫu; (2) đánh giá sơ bộ khả năng tác động cũng như khuynh hướng tác động của từng yếu tố lên việc tuân thủ quy định BVMT của doanh nghiệp; (3) kiểm tra mối quan hệ có thể có giữa các biến với nhau theo từng cặp và kiểm định mối quan hệ giữa biến phụ thuộc với từng biến độc lập trước khi tiến hành chạy hồi quy; (4) chạy mô hình hồi qui binary logistic để kiểm định mô hình với biến thể hiện sự tuân thủ là biến lưỡng phân và xác định các yếu tố tác động- thật sự có ý nghĩa về mặt thống kê Từ kết quả của hai phần này là
cơ sở dẫn dắt đến hai phần tiếp theo: (1) tìm câu trả lời cho các câu hỏi được đặt ra trong phần “Câu hỏi nghiên cứu” thuộc chương 1; (2) tổng hợp lại các yếu tố tác động đến việc tuân thủ quy định BVMT của doanh nghiệp và đánh giá mức độ tác động của chúng;
Chương năm- kết luận- trình bày ba nội dung chính: (1) các kết luận chung được rút ra từ nghiên cứu; (2) những hạn chế mà tác giả nhận thấy ở nghiên cứu, trên cơ sở đó đề xuất một số hướng nghiên cứu mở rộng (nội dung thứ ba)
Trang 24CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này trình bày năm nội dung: (1) trình bày các khái niệm SMEs và các tiêu chí phân loại chúng hiện nay cũng như trong quá khứ tại Việt Nam, ngoài ra nghiên cứu cũng khảo cứu một số cách phân loại SMEs tại một số quốc gia và tổ chức trên thế giới để có một cái nhìn so sánh; (2) trình bày một số cách phân hạng doanh nghiệp theo kết quả hoạt động môi trường, đây cũng là cơ sở đánh giá mức
độ tuân thủ các quy định BVMT của doanh nghiệp được sử dụng trong các chương sau của nghiên cứu; (3) trình bày các nghiên cứu lý thuyết có liên quan để giải thích các hành vi của doanh nghiệp trong hoạt động môi trường, bằng các quan điểm luận giải và suy luận của các nhóm tác giả; (4) trình bày các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, kết quả của phần này: giúp tác giả định hình được một yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến sự tuân thủ quy định BVMT của doanh nghiệp, làm cơ sở để xây dựng khung khái niệm và phân tích được thể hiện trong nội dung thứ năm
2.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam được đề cập trong các văn bản pháp quy Văn bản pháp luật mới nhất đề cập đến khái niệm này là Nghị định
số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy
mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Bảng 2.1 Tiêu chí phân loại SMEs theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Số lao động Nguồn vốn Số lao động Nguồn vốn Số lao động Nông, lâm nghiệp
Trang 25Tiêu chí phân loại SMEs thay đổi theo thời gian và theo từng chính sách mà Nhà nước ban hành Điều này có thể thấy được thông qua khảo lược các khái niệm SMEs được thể hiện trong các văn bản pháp quy đã được ban hành từ trước đến nay Theo Công văn số 681/1998/CP-KTN, ngày 20/06/1998 của Chính phủ về việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phân loại SMEs “Tạm thời quy định thống nhất tiêu chí xác định Doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người” Còn theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2011 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đưa ra tiêu chí phân loại SMEs “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”
Việc thay đổi tiêu chí phân loại SMEs theo thời gian cũng diễn ra ở các nước trên thế giới: lấy trường hợp Malaysia là ví dụ điển hình Theo National SME Development Council of Malaysia (2005) đã phân loại SMEs như sau:
Bảng 2.2 Tiêu chí phân loại SMEs theo Hội đồng Quốc gia Phát triển SMEs tại Malaysia, áp dụng từ ngày 09 tháng 07 năm 2005
>=250.000,
<10 triệu RM
5- 19 lao động
>=10 triệu RM,
<25 triệu RM
20- 50 lao động
>=1 triệu RM,
<5 triệu RM Nguồn dữ liệu: National SME Development Council of Malaysia (2005)
Ghi chú: 1 RM = 6.400 VND tại thời điểm 06/09/2013
Tiêu chí phân loại này sẽ thay đổi trong thời gian tới Chính phủ Malaysia gần đây đã công bố một định nghĩa mới cho SMEs của Malaysia có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2014 như sau:
Trang 26Bảng 2.3 Tiêu chí phân loại SMEs theo Hội đồng Quốc gia Phát triển SMEs tại Malaysia, áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2014
Siêu nhỏ <5 lao động < 300.000 RM <5 lao động < 300.000 RM
Nguồn dữ liệu: http://www.smecorp.gov.my/vn2/node/533 (Accessed Sep 11, 2013)
Các nước khác họ đều có tiêu chí riêng để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Bảng dưới đây thống kê sơ lược tiêu chí phân loại SMEs ở 1 số quốc gia:
Bảng 2.4 Tiêu chí phân loại SMEs tại một số quốc gia
Hoa Kỳ <500 cho phần lớn hoạt động
sản xuất và khai thác
<$7 triệu đối với đa số các ngành không liên quan tới sản xuất, nhưng dao động tới mức tối đa là
$35.5 triệu
Mexico <500 trong hoạt động sản xuất,
nhiều lao động
<100 trong các ngành sử dụng nhiều vốn
Nguồn dữ liệu: IFC (2009)
Tại thời điểm ngày 06/09/2013: 1 USD= 21.200 VND, 1 CAD= 20.400 VND, 1 ZAR = 2.100 VND
Tiêu chí phân loại SMEs là không thống nhất tại các tổ chức quốc tế, thể hiện
ở Bảng 2.5 và Bảng 2.6
Bảng 2.5 Tiêu chí phân loại SMEs theo Liên Minh Châu Âu
Qui mô công ty Nhân viên Doanh thu hàng năm Tổng cân đối kế toán hàng năm
Nguồn dữ liệu: Đề xuất số 2003/361/EC của The Commission of the European Communities
Tại thời điểm ngày 09/09/2013: 1 EUR= 27.800 VND
Trang 27Bảng 2.6 Tiêu chí phân loại SMEs của Ngân hàng Thế giới (doanh nghiệp phải đáp ứng được tối thiểu 2 phần 3 các đặc điểm này)
Qui mô công ty Nhân viên Tài sản Doanh thu hàng năm
tế của quốc gia đó hay chính sách mà Nhà nước tác động Tuy nhiên, ba tiêu chí phổ biến nhất được nhiều quốc gia sử dụng là: (1) số lượng lao động bình quân mà doanh nghiệp sử dụng trong năm, (2) tổng mức vốn đầu tư của doanh nghiệp, (3) tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp Mỗi tiêu chí đều có những ưu và nhược điểm riêng Tiêu chí số lượng lao động bình quân mà doanh nghiệp sử dụng trong năm có ưu điểm: ổn định lâu dài về mặt thời gian trong khi đó doanh thu, vốn tuy rất quan trọng nhưng thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại doanh nghiệp Tuy nhiên, tiêu chí phân loại theo số lượng lao động gặp trở ngại về cách tính bởi lẽ mỗi doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều loại lao động khác nhau như lao động theo thời vụ, cộng tác viên, thuê chuyên gia, lao động theo từng hợp đồng và lao động đóng bảo hiểm Vậy cơ sở tính số lao động bình quân và cách qui đổi thời gian làm việc của từng lao động ra việc làm cũng rất phức tạp
Ngoài ra, việc phân loại SMEs theo các tiêu chí trên chỉ mang tính chất tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Trang 28Trình độ phát triển kinh tế của một nước: trình độ phát triển càng cao thì trị số
các tiêu chí càng tăng lên như doanh nghiệp có 400 lao động được xem là SMEs ở
Mỹ nhưng ở Việt Nam lại được xem là doanh nghiệp có quy mô lớn;
Tính chất ngành nghề: do đặc điểm từng ngành, có ngành sử dụng nhiều lao
động như dệt, may, có ngành sử dụng ít lao động nhưng nhiều vốn như hóa chất, điện
2.2 Phân hạng doanh nghiệp theo kết quả hoạt động môi trường
Gangadharan (2006) chia doanh nghiệp theo kết quả tuân thủ thành năm nhóm: (1) doanh nghiệp tuân thủ tốt hơn mức yêu cầu; (2) doanh nghiệp luôn tuân thủ các quy định về môi trường; (3) doanh nghiệp thường xuyên tuân thủ các quy định về môi trường nhưng thỉnh thoảng thất bại trong một số điểm nào đó; (4) doanh nghiệp thường xuyên không tuân thủ quy định môi trường; (5) doanh nghiệp hiếm khi tuân thủ các quy định môi trường Các nhóm này được phân hạng thành ba hạng: (i) hạng nhất- thực thi quá mức: gồm nhóm 1; (ii) hạng nhì- có thực thi: gồm nhóm 2 và 3; (iii) hạng ba- không thực thi: gồm nhóm 4 và 5
Theo Ngân hàng Thế giới (2008) có đưa ra “Việt Nam- tài liệu hướng dẫn phân hạng doanh nghiệp theo kết quả bảo vệ môi trường” phân hạng doanh nghiệp theo thực trạng nỗ lực quản lý môi trường của doanh nghiệp, cụ thể qui trình phân hạng được thể hiện trong Hình 2.1
Trang 29Nguồn: Ngân hàng Thế giới (2008) đề xuất
Hình 2.1 Qui trình phân loại doanh nghiệp theo kết quả BVMT của doanh
nghiệp tại Việt Nam
Xanh da trời (tốt)
Xanh lá cây (rất tốt)
Vàng (khá)
Nộp phí theo Nghị định 67/2003 và 04/2007?
Có bị khiếu kiện?
Có thực hiện thêm các biện pháp cải thiện môi trường?
Tuân thủ các quy định?
Phân loại DN theo Thông tư 07
Trang 30(I) và (II) Doanh nghiệp thuộc nhóm nào theo Thông tư 07/2007/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên Môi trường ngày 03 tháng 07 năm 2007 về việc hướng dẫn phân loại và quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường cần xử lý?
(III) Doanh nghiệp có tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường hay không? Doanh nghiệp tuân thủ là doanh nghiệp đồng thời đáp ứng các yêu cầu: (1) Đã có báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) hoặc bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường (ĐKĐTC) hoặc bản cam kết đạt tiêu chuẩn môi trường (CKĐTC) được lập từ ngày 01 tháng 07 năm 2006 và đã được cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt; (2) Đã có giấy phép xả thải vào nguồn nước; (3) Có tuân thủ quan trắc đầy đủ (về nước thải) theo như các cam kết trong ĐTM/ĐKĐTC/CKĐTC; (4) Đã có giấy phép khai thác nước ngầm? (trong trường hợp doanh nghiệp có sử dụng nước ngầm); (5) Có sổ đăng ký chủ nguồn thải
(IV) Doanh nghiệp có đầy đủ các chứng từ nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo quy định của Nghị định 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và Nghị định 04/2007/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2003/NĐ-CP? Doanh nghiệp có đầy đủ chứng từ là các doanh nghiệp cung cấp đầy đủ các chứng từ về việc hoàn thành việc nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp trong vòng 6 tháng kể từ thời điểm đánh giá trở về trước
(V) Doanh nghiệp có bị khiếu kiện7 hoặc liên quan đến sự cố môi trường nào trong vòng 6 tháng gần đây hay không? Trong vòng 6 tháng kể từ thời điểm đánh giá trở về trước, nếu doanh nghiệp/cơ sở bị cộng đồng khiếu kiện (và khiếu kiện cho đến thời điểm đánh giá vẫn chưa được giải quyết) về vấn đề môi trường do nước thải của cơ sở gây ra, như vậy rất có thể cơ sở đã không thực hiện tốt các biện pháp BVMT và gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến các cộng đồng xung quanh
7 "Khiếu kiện" được hiểu là khiếu kiện đã được cơ quan quản lý có thẩm quyền (ví dụ, Sở Tài nguyên
và Môi trường sở tại) xác định là đúng
Trang 31(VI) Doanh nghiệp có thực hiện thêm các biện pháp cải thiện môi trường không? Việc thực hiện thêm các biện pháp cải thiện môi trường sẽ được kiểm chứng bằng việc doanh nghiệp đã có một trong những chứng chỉ quốc tế sau: chứng chỉ ISO 14000 (Bộ tiêu chuẩn về quản lý môi trường) hoặc CP (Sản xuất sạch hơn), EMS (hệ thống quản lý môi trường), HACCP (Tiêu chuẩn hệ thống quản lý vệ sinh
an toàn thực phẩm) và SA8000 (Tiêu chuẩn liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp)
(VII) Kết quả phân hạng doanh nghiệp theo thực trạng nỗ lực quản lý môi trường của doanh nghiệp thành 5 hạng tương ứng với 5 màu: (i) hạng nhất- màu xanh lá cây tương ứng thực trạng nỗ lực quản lý môi trường rất tốt; (ii) hạng hai- màu xanh da trời tương ứng thực trạng nỗ lực quản lý môi trường tốt; (iii) hạng ba- màu vàng tương ứng thực trạng nỗ lực quản lý môi trường khá; (iv) hạng bốn- màu nâu tương ứng thực trạng nỗ lực quản lý môi trường trung bình; (v) hạng năm- màu đen tương ứng thực trạng nỗ lực quản lý môi trường kém;
2.3 Các nghiên cứu lý thuyết liên quan
Lý thuyết về lợi ích và chi phí do Lovei (1995) đưa ra để phân tích lợi ích và
chi phí của việc xử lý ô nhiễm của doanh nghiệp, cho rằng: một doanh nghiệp sẽ đầu tư xử lý ô nhiễm nếu lợi ích vượt quá chi phí: PV(P) + PV(p[T]) + PV(p[L])> (C&I) + PV(O&M) - S Trong đó: PV(P): giá trị hiện tại của dòng lợi nhuận từ đầu tư; PV(p[T]): giá trị hiện tại thuế ô nhiễm và chi phí môi trường khác tránh được trong suốt thời gian đầu tư với xác suất p; PV(p[L]): giá trị hiện tại của chênh lệch giữa chi phí pháp lý tránh được (do bởi trách nhiệm môi trường với xác xuất p)
và việc không đầu tư; C&I: trang bị vốn và chi phí lắp đặt; PV(O&M): giá trị hiện tại của chi phí vận hành và duy trì trong suốt vòng đời của công trình được đầu tư; S: trợ cấp Theo lý thuyết này doanh nghiệp có xu hướng xả thải trực tiếp vào môi trường khi họ nhận thấy việc xử lý ô nhiễm là tốn kém và những gì bỏ ra là cao hơn cái nhận được
Lý thuyết ba trụ cột do Scott (2001) đề xuất theo cách tiếp cận thể chế và Dao
& Ofori (2010) triển khai cho trường hợp các doanh nghiệp tại Việt Nam Theo
Trang 32Scott (2001) thể chế được xây dựng dựa trên ba trụ cột chính (1) trụ cột quy định
(the regulative pillar), dựa trên kết quả; (2) trụ cột chuẩn mực (the normative pillar),
dựa trên sự hợp lý; và (3) trụ cột nhận thức xã hội (the social- cognitive pillar), dựa trên tính chính thống Trụ cột quy định- hệ thống quy định, luật pháp- dựa trên lý thuyết duy lý, tức là công ty sẽ lựa chọn một cách lý trí giữa các phương án dựa trên
kết quả tính toán mong đợi của họ về lợi ích và chi phí, sao cho tối đa hóa lợi ích
kinh tế của doanh nghiệp; do đó công cụ được đề xuất trong trụ cột này là biện pháp cưỡng chế như đóng cửa, xử phạt (phí phạt) đủ mạnh để thay đổi hành vi của doanh nghiệp Trụ cột chuẩn mực- hệ thống tiêu chuẩn, công nhận- dựa trên lý thuyết tiêu chuẩn, có ý nghĩa định hướng hành vi của doanh nghiệp (áp lực ngoại tác); họ xem
các tiêu chuẩn về nhân cách, nghĩa vụ và quan niệm về hành động hợp lý là cơ sở để xác định việc tuân thủ pháp luật BVMT là hợp lý hay không hợp lý để thực hiện;
doanh nghiệp nói chung có xu hướng tuân thủ các quy định môi trường bởi vì (i) động cơ dân sự, động cơ xã hội (nhân cách); (ii) sự quốc tế hóa các chuẩn mực xã hội tạo điều kiện bảo vệ môi trường (nghĩa vụ); (iii) niềm tin luật pháp được lập ra
và triển khai một cách công bằng (hợp lý); công cụ được đề xuất trong trụ cột này là
các biện pháp tác động về mặt đạo đức Trụ cột nhận thức xã hội- niềm tin cộng đồng, tính logic của hành động được chia sẽ- cơ chế vận hành: nó lan tỏa thông qua việc bắt chước lẫn nhau; công cụ được đề xuất là các biện pháp tác động lên hiểu biết, nhận thức chung và hỗ trợ văn hóa
Prakash (2001) nghiên cứu tại sao các công ty chấp nhận lựa chọn các chính
sách môi trường “bên ngoài sự tuân thủ” trên nền các lý thuyết: lý thuyết về hành vi (behavioural theory), lý thuyết về thể chế, các bên liên quan và tổ chức của doanh nghiệp (institutional theory, stakeholder theory, organizational theory, một cách tương ứng);
Chính sách môi trường của công ty, xét trên khía cạnh quản lý doanh nghiệp, được chia thành bốn loại dựa trên hai thuộc tính: (i) chính sách có được đánh giá bởi thủ tục thẩm định hiệu quả đầu tư và nó có đáp ứng hoặc vượt qua yêu cầu lợi nhuận cho trước; (ii) liệu chính sách đó có được yêu cầu tuân thủ bởi luật pháp hay
Trang 33nó là không bắt buộc Bốn loại chính sách đó là: (1) không yêu cầu tuân thủ, lợi ích
có thể được đánh giá qua thủ tục thẩm định đầu tư và đáp ứng/ vượt qua yêu cầu lợi nhuận cho trước; (2) không yêu cầu tuân thủ, lợi ích không thể được đánh giá qua thủ tục thẩm định đầu tư, do đó nó không thể được chứng minh là đáp ứng yêu cầu lợi nhuận cho trước; (3) yêu cầu tuân thủ bởi luật, lợi ích có thể được đánh giá qua thủ tục thẩm định đầu tư và đáp ứng/ vượt qua yêu cầu lợi nhuận cho trước; (4) yêu cầu tuân thủ bởi luật, lợi ích không thể được đánh giá qua thủ tục thẩm định đầu tư,
do đó nó không thể được chứng minh là đáp ứng yêu cầu lợi nhuận cho trước;
Nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu các nguyên nhân tại sao công ty áp dụng chính sách thứ hai8- không yêu cầu tuân thủ, lợi ích không được chứng minh rõ ràng Đây là loại chính sách chịu nhiều sự tranh luận nhất do nó không thể được đánh giá một cách khách quan trên cơ sở hiệu quả cả trên lý thuyết hiệu quả thực chất (substantive efficiency) và hiệu quả quá trình (procedural efficiency)9;
Để biện dẫn cho hành vi lựa chọn của nhà quản lý doanh nghiệp cho chính sách loại 2, tác giả đưa ra hai nhóm nguyên nhân lớn: nhóm yếu tố bên ngoài và nhóm yếu tố bên trong Nhóm yếu tố bên ngoài bao gồm: (1) công ty áp dụng chính
sách này để chống lại áp lực từ các tổ chức bên ngoài bằng cách công ty đón đầu
và/ hoặc làm gia tăng các quy định môi trường, khiến cho gia tăng chi phí đầu vào của đối thủ cạnh tăng, làm suy yếu các đối thủ, do đó trong ngắn hạn nó có thể không có lợi nhuận nhưng xét về dài hạn công ty lại có được lợi thế của người đi
đầu; (2) công ty chấp nhận chính sách này để đáp lại sự kỳ vọng của các bên liên quan10; (3) hành động vì mục tiêu xã hội của công ty như tối đa hóa của cải của các
bên liên quan cũng như trách nhiệm xã hội của công ty, gốc gác của hành vi này là
8
Nguyên nhân để tuân thủ ba loại còn lại là quá rõ ràng: loại 1 đem lại lợi ích cho công ty, loại 3 và 4
là do yêu cầu bắt buộc phải tuân thủ nên nghiên cứu này không tập trung phân tích ba loại chính sách này
9 Lý thuyết dựa trên hiệu quả xem công ty như tối đa hóa lợi nhuận Prakash (2001) phân thành hai định nghĩa về hiệu quả: (1) hiệu quả thực chất liên quan đến lý thuyết tân cổ điển (neoclassical theories), cho rằng nhà quản lý là hợp lý hoàn toàn (fully rational) và ước tính được một cách rõ ràng về chi phí và lợi ích tương lai của chính sách; (2) hiệu quả quá trình liên quan đến lý thuyết chi phí giao dịch (transaction cost theories), cho rằng các nhà quản lý có sự hợp lý có giới hạn (boundedly rational)- tính hợp lý của nhà quản lý phụ thuộc vào giới hạn của thông tin mà anh ta có, giới hạn của kinh nghiệm và nhận thức, giới hạn về thời gian của việc đưa ra quyết định
10 Các bên có liên quan bao gồm bất cứ nhóm hay cá nhân nào có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi của thành tựu của công ty
Trang 34các vấn đề về hiệu quả kinh tế, tính hợp pháp, đạo đức và lòng bác ái Động lực bên trong doanh nghiệp là nguyên nhân lớn tác động đến việc lựa chọn chính sách môi trường (mà không bị bắt buộc phải tuân thủ) của doanh nghiệp, đó là vấn đề chính trị trong nội bộ doanh nghiệp;
Xét trên khía cạnh ủng hộ một chính sách, người ta chia những nhà quản lý doanh nghiệp ra thành 3 nhóm: (i) nhóm ủng hộ, (ii) nhóm trung lập, (iii) nhóm hoài nghi (nghi ngờ về tính hiệu quả của chính sách) Một chính sách môi trường có được lựa chọn áp dụng hay không nó phụ thuộc vào kết quả cuộc chiến diễn ngôn giữa hai nhóm ủng hộ và nhóm hoài nghi qua hai quá trình diễn biến: (1) quá trình lựa chọn chính sách được dựa trên quyền lực; và (2) quá trình lựa chọn chính sách được dựa trên khả năng lãnh đạo Kết quả của quá trình thứ nhất phụ thuộc vào quyền lực11 của nhóm ủng hộ chính sách trong tổ chức hoặc khả năng thuyết phục được nhà quản lý cao nhất chấp nhận quan điểm của họ Còn kết quả của quá trình thứ hai phụ thuộc vào sự am hiểu chuyên môn trong lĩnh vực này của nhóm ủng hộ
để thuyết phục, vận động và định hình nhận thức của nhóm hoài nghi và trung lập
về lợi ích lâu dài của chính sách này, nhằm gia tăng sự đồng thuận Nếu các nhà ủng
hộ thành công trong hai quá trình trên, lợi ích của họ nhận được xét về phương diện lợi ích cá nhân là rất lớn: gia tăng ngân sách và số lượng phòng ban về môi trường Điều này, đến lượt nó, tạo ra các cơ hội thăng tiến cho họ và cũng gia tăng uy tín của họ trong tổ chức Đó cũng là câu trả lời cho câu hỏi: tại sao nhà quản lý môi trường không sẵn lòng thay đổi sự lựa chọn của họ mà cố thuyết phục hoặc gây áp lực các nhóm trung lập và hoài nghi đồng thuận, để tổ chức lựa chọn và theo đuổi chính sách mà họ ủng hộ?
2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan
Tuân thủ quy định môi trường ở các nước đang phát triển rất khác so với các nước phát triển Việc doanh nghiệp đáp ứng được các yêu cầu môi trường ở các
11
Quyền lực ở đây bao gồm: (i) cưỡng chế- sự kiểm soát các công cụ cưỡng chế, (ii) vật chất- sự kiểm soát các công cụ tạo ra sự giàu có về vật chất và (iii) sức mạnh tượng trưng như ban cấp danh thế hay bổ nhiệm cấp dưới
Trang 35nước phát triển là hiện tượng bình thường trong khi đó việc doanh nghiệp không đáp ứng được các yêu cầu môi trường ở các nước đang phát triển là hiện tượng bình thường Điều này theo Yang & Yao (2012) thì các quốc gia phát triển có một số thuận lợi cho việc thi hành như chi phí để thực thi ở các nước đang phát triển có vẻ như đắt đỏ hơn do các công ty ở các nước này thường có qui mô nhỏ xét cả trên khía cạnh doanh số và lợi nhuận hơn các đối tác của họ tại các nước phát triển, điều này cản trở mong muốn thực thi môi trường của các nước đang phát triển
Điểm khác nhau ở hai nhóm quốc gia này còn thể hiện ở chỗ: ở các nước phát triển chúng ta thấy có hiện tượng thực thi môi trường quá mức yêu cầu mặc dù mức
độ kiểm tra của chính quyền là không thường xuyên và phí phạt là thấp Điều này theo một số nghiên cứu được trích dẫn của Gangadharan (2006) đưa ra là do các công ty này lo sợ một khi bị bắt do vi phạm, họ sẽ bị chuyển sang một nhóm tách biệt và chịu sự giám thường xuyên và mức phí phạt cũng cao hơn Một lý do khác
là, một số doanh nghiệp thực thi môi trường tốt hơn mức qui định để định hướng cơ quan quản lý nâng cao tiêu chuẩn môi trường cho cả ngành (mà họ là một thành viên) nhằm làm gia tăng chi phí cho đối thủ cạnh tranh, nếu các doanh nghiệp đối thủ này không chịu nổi thì họ sẽ thoát ra khỏi ngành và họ có cơ hội gia tăng thị phần Thêm một lý do nữa để giải thích hành vi “tuân thủ quá yêu cầu” là một số công ty muốn có được danh tiếng như một tổ chức quan tâm đến môi trường nhằm thu hút các khách hàng có ý thức bảo vệ môi trường cao
Hiện tượng doanh nghiệp thực thi môi trường là tín hiệu tốt ở Việt Nam và việc thực thi tốt hơn yêu cầu quy định là một điều hết sức xa xỉ tại nước ta Do sự khác nhau trong mức độ thực thi môi trường và động cơ để dẫn đến việc thi hành các quy định môi trường giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển là rất khác nhau, (nếu động cơ có giống nhau thì chiều hướng và hàm ý bên trong của nó cũng rất khác nhau) nên trong mục này chúng tôi sẽ tách thành hai tiểu mục nhỏ để nhìn
rõ sự khác biệt: (1) các nghiên cứu thực nghiệm diễn ra ở các nước đang phát triển: Trung Quốc, Mexico, Nam- Đông Nam Á; (2) các nghiên cứu thực nghiệm diễn ra
ở các nước phát triển: Đan Mạch, Hàn Quốc và Canada
Trang 362.4.1 Nghiên cứu thực nghiệm ở các nước đang phát triển
Hettige et al (1996) đã tóm tắt những nghiên cứu hiện tại của nhóm tác giả về
sự thay đổi hoạt động môi trường ở cấp nhà máy (chủ yếu là nước thải) tại các nước đang phát triển ở Nam và Đông Nam Á từ năm 1992- 1994 Bài báo đưa ra các bằng chứng được thu thập từ một cuộc khảo sát nhỏ ở Bangladesh, một cuộc khảo sát lớn trong ngành giấy và bột giấy ở bốn nước (Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia và Thái Lan ) và một mẫu lớn các công ty ở Indonesia12;
Các kết quả nghiên cứu tìm ra bằng chứng để giải thích tại sao một số nhà máy
thì sạch hơn so với số khác Đứng trên khía cạnh cầu về môi trường các nghiên cứu
phát hiện: cường độ gây ô nhiễm của nhà máy có quan hệ nghịch chiều với quy mô
và hiệu quả của nhà máy trong khi đó lại thuận chiều với hình thức sở hữu chung và không bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ với nước ngoài (sở hữu, tài chính và khuynh hướng xuất khẩu) Trong số các công ty sở hữu chung, nghiên cứu tại Bangladesh cho thấy có sự khác biệt rất lớn trong cường độ ô nhiễm bởi nhà tài trợ và năm thành lập doanh nghiệp Điều này có thể do các doanh nghiệp ở Bangladesh thường không đầu tư để cải tiến thiết bị từ khi thành lập, còn ở các nước còn lại họ liên tục
đầu tư cải tiến trang thiết bị ban đầu Xét trên khía cạnh cung môi trường cho kết
quả: cộng đồng xung quanh có ý nghĩa lớn trong việc gây áp lực cho các nhà máy phải xử lý ô nhiễm, ngoài ra trình độ học vấn và mức sống của người dân địa phương có ảnh hưởng lớn lên thái độ môi trường của các nhà máy này
Gangadharan (2006) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng lên mức độ tuân thủ
quy định môi trường của 236 nhà máy trong bốn ngành sản xuất tại Mexico vào năm 1995 do Ngân hàng Thế giới khảo sát Nghiên cứu đề ra 19 yếu tố và tìm kiếm
sự tác động của nó lên các mức độ tuân thủ quy định môi trường khác nhau (thực thi hơn mức yêu cầu, có thực thi và không thực thi) 19 yếu tố được đưa ra bao gồm:
12
Ba nghiên cứu được tóm tắt trong nghiên cứu này: (1) nghiên cứu của Huq và Wheeler (1993) thực hiện vào năm 1992 cho bảy công ty sản xuất trong hai khu vực sản xuất: phân bón và bột gỗ tại Bangladesh; (2) nghiên cứu của Hartman, Huq và Wheeler (1995) với số liệu khảo sát vào năm 1992 cho 26 công ty trong lĩnh vực giấy và bột giấy tại bốn quốc gia: Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia và Thái Lan; (3) nghiên cứu của Pargal và Wheeler (1995) về nước thải hữu cơ (BOD) với dữ liệu 1989- 1990 cho 243 công ty ở Indonesia.
Trang 37(1) ngành sản xuất (thực phẩm- FOOD, hóa chất- CHEM, kim loại- METAL và khoáng sản phi kim); (2) Công ty có thưởng nhân viên vì những đóng góp của họ cho hoạt động môi trường của công ty hay không?- REWARD; (3) Nhà máy này có phải là một phần của công ty có nhiều nhà máy- MULTI_PLT; (4) Công ty có hình thức sở hữu chung hoặc được niêm yết đại chúng hay không?- OWNSHIP; (5) Tỷ phần sản phẩm bán tại các thị trường: nội địa, châu Á, Mỹ- Canada, châu Âu, châu
Mỹ La Tinh- SAL_MEX, SAL_ASIA, SAL_USCA, SAL_EUR, SAL_LAAM tương ứng; (6) chủ sở hữu là người Mexico hay người nước ngoài?- MEX_OWN; (7) Cơ cấu khách hàng: người tiêu dùng, nhà phân phối hay nhà sản xuất- SAL_CONS, SAL_WH, SAL_IND tương ứng; (8) Công ty có sẵn công nghệ cần thiết để thực hiện việc cải thiện môi trường hay không?- TECH_AVAL; (9) Công ty
có một quy trình đánh giá thường xuyên sự ảnh hưởng môi trường của công ty hay không?- CONT_EVAL; (10) Tỷ lệ nhân viên có trình độ cao hơn bậc tiểu học- EMPS_EC; (11) Công ty có tập huấn môi trường cho nhân viên không nằm trong
bộ phận môi trường hay nhân viên bộ phận môi trường có nhận được sự tập huấn từ năm 1990?- TRAIN_NE, TRAIN_E tương ứng; (12) Người không được giao nhiệm vụ môi trường có trách nhiệm bảo vệ môi trường trong công ty?- ENV_RESP; (13) Nhân viên có trách nhiệm khác ngoài trách nhiệm môi trường?- OTH_RESP; (14) Công ty có khuynh hướng thuê nhiều nhân sự hơn trong lĩnh vực môi trường?- ENV_PERS; (15) Mức độ cổ lỗ sĩ của công nghệ: tỷ lệ nhà máy trong công ty được thiết lập trước năm 1980 và từ năm 1990- TECH80, TECH90 tương ứng; (16) Công ty có bị kiểm tra bởi cơ quan chức năng- INSPECT; (17) Công ty có gặp rào cản thông tin môi trường?- ENV_INFO; (18) Công ty có bị ảnh hưởng bởi: cộng đồng, Hiệp hội thương mại hoặc ngành và yêu cầu pháp lý lên việc tuân thủ quy định môi trường- COMMUNIT, BUSINESS, LEGAL tương ứng; (19) Nhân sự trong bộ phận môi trường có được tập huấn về mảng quản lý môi trường?- ENV_MAN;
Trang 38Khi nghiên cứu tại sao doanh nghiệp lại tuân thủ hơn mức yêu cầu, kết quả chạy mô hình binary logistic tìm ra được 16 biến có ý nghĩa: FOOD(-)13, REWARD(+), MULTI_PLT(+), SAL_MEX(-), SAL_USCA(-), SAL_EUR(-), MEX_OWN(-), SAL_CONS(-), SAL_IND(-), EMPS_EC(+), TRAIN_NE(+), ENV_RESP(+), TECH80(-), INSPECT(-), COMMUNIT(+), BUSINESS(-) Nghiên cứu
đi sâu tìm ra yếu tố nào khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ hoặc tuân thủ quá mức yêu cầu thay vì không tuân thủ bằng việc chạy một mô hình multinomial logistic Kết quả chạy như sau: khả tăng tuân thủ so với không tuân thủ có các biến có ý nghĩa: METAL(-), SAL_LAAM(+), TECH_AVAL(+), CONT_EVAL(+), OTH_RESP(+); khả năng tuân thủ hơn mức yêu cầu so với không tuân thủ có các biến có ý nghĩa thống kê: FOOD(-), CHEM(-), REWARD(+), MULTIPLT(+), SAL_USCA(+), SAL_LAAM(+), MEX_OWN(-), SAL_CONS(-), SAL_IND(-), CONT_EVAL(+), EMPS_EC(+), TRAIN_NE(+), ENV_RESP(+), TECH80(-), COMMUNIT(+), BUSINESS(-)
Yang & Yao (2012) đánh giá ảnh hưởng của việc tuân thủ môi trường tự
nguyện thông qua giấy chứng nhận ISO 14000 (cốt lõi là ISO 14001- Hệ thống quản lý môi trường) lên sự đổi mới (đo lường bằng chi phí cho hoạt động R&D và
số lượng bằng sáng chế) và hoạt động tài chính của doanh nghiệp (được đo lường bởi lợi nhuận và thị phần của doanh nghiệp) Nghiên cứu sử dụng số liệu khảo sát của tác giả trong năm 2006 cho 1.200 doanh nghiệp từ 12 thành phố của Trung Quốc và số liệu của Văn phòng Thống kê Quốc gia từ năm 2000- 2005;
Nghiên cứu phát hiện biến được đại diện bởi ISO 14000 là biến nội sinh Biến nội sinh này chịu sự chi phối bởi (1) các yêu cầu môi trường của ngành (+)14; (2) vốn cổ phần cho mỗi công nhân (+); (3) kích cỡ công ty (+); (4) tuổi của doanh nghiệp (-) Trong đó yếu tố (1): các yêu cầu môi trường của ngành chịu sự chi phối bởi (i) xuất khẩu; (ii) hình thức sở hữu và (iii) các loại khách hàng Nghiên cứu chỉ
ra rằng số lượng doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa có chứng chỉ ISO 14000 nhiều
13 Dấu của hệ số hoặc chiều hướng tác động của biến độc lập lên biến phụ thuộc, nguyên nhân lên kết quả
14 Dấu của hệ số hoặc chiều hướng tác động của biến độc lập lên biến phụ thuộc, nguyên nhân lên kết quả
Trang 39hơn doanh nghiệp không xuất khẩu (áp lực của khách hàng và luật pháp của các nước mà các doanh nghiệp xuất khẩu qua); Trong 4 loại sở hữu: (I) công ty Nhà nước; (II) công ty tư nhân trong nước; (III) công ty ở Hồng Kông, Macao và Đài Loan; và (IV) doanh nghiệp FDI khác thì công ty tư nhân trong nước đáp ứng yêu cầu môi trường kém nhất (do họ có ý thức thấp về trách nhiệm xã hội và quy định của chính phủ thì nhẹ tay lên họ); các doanh nghiệp FDI thuộc nhóm III thì khá hơn nhưng kém hơn hai nhóm còn lại (khảo sát cho thấy các quốc gia này thường đầu tư vào những nơi có chi phí môi trường thấp còn các nước OECD thì lại không); doanh nghiệp nhà nước tuân thủ môi trường tốt hơn nhóm II và III mặc dù họ nhận được sự bảo vệ tốt từ chính quyền (do họ thích có những thủ tục hành chính để đạt được sự công nhận- thực thi theo kiểu hình thức hoặc do yêu cầu từ đối tác và khách hàng nước ngoài); nhóm thứ tư có mức độ thực thi môi trường cao nhất Yêu cầu về môi trường của các loại khách hàng ảnh hưởng đến việc thi hành môi trường của doanh nghiệp: khách hàng từ các nước phát triển có khuynh hướng áp đặt các yêu cầu môi trường lên nhà cung cấp hơn khách hàng từ các nước đang phát triển
Ngoài ra, bằng việc thống kê mô tả, nghiên cứu cho thấy vấn đề thực thi môi trường là khác nhau giữa các thành phố (do sự khác nhau trong mức phát triển kinh
tế, quy định địa phương và chính sách thương mại giữa các thành phố) và mức độ thực thi môi trường bị ảnh hưởng bởi hệ thống quản lý môi trường của doanh nghiệp: số lượng nhân viên cho bộ phận môi trường, tỷ lệ được huấn luyện, đầu tư môi trường trong 3 năm gần đây và tỷ lệ doanh nghiệp hiểu biết về sản xuất sạch hơn
2.4.2 Nghiên cứu thực nghiệm ở các nước phát triển
Nghiên cứu thực nghiệm của Cormier & Magnan (1999) về chiến lược công
khai thông tin môi trường của 33 công ty Canada từ ba ngành (bột giấy và giấy; lọc
và hóa dầu; thép, kim loại và mỏ) trong 8 năm từ năm 1986 đến năm 1993 Điều kiện chọn đối tượng quan sát là (1) các công ty này được niêm yết trên thị trường chứng khoán; (2) công ty nằm trong danh sách các công ty được giám sát nước thải bởi cơ quan môi trường Ontario và Québec;
Trang 40Chiến lược công khai thông tin môi trường của doanh nghiệp được đánh giá bởi mức độ công bố thông tin môi trường của công ty thể hiện trong các báo cáo môi trường thường niên Nó được đo lường bởi thang đo Wiseman (1982) gồm 18 mục, được phân thành bốn nhóm: (i) yếu tố kinh tế (5 mục); (ii) tranh chấp môi trường (2 mục); (iii) xử lý ô nhiễm (5 mục); (iv) yếu tố môi trường khác (6 mục) Mỗi mục được cho điểm từ 1 đến 3: 1= mục này được mô tả chung chung; 2= mục này được mô tả chuyên sâu; 3= mục này được mô tả trên khía cạnh số lượng hoặc lượng hóa bằng tiền;
Nghiên cứu đưa ra bốn nhóm nhân tố với 16 đại diện Nhóm nhân tố thứ 1: chi phí thông tin của các cổ đông, luận giải rằng chiến lược công bố thông tin môi trường của doanh nghiệp phụ thuộc vào lợi ích từ việc giảm thông tin bất cân xứng giữa nhà quản lý và cổ đông và chi phí thu thập thông tin của cổ đông; nó được đo lường bởi 5 đại diện: (i) mức độ biến động giá cổ phiếu, rủi ro doanh nghiệp (Beta thị trường), (ii) mức độ phụ thuộc vào thị trường vốn, (iii) khối lượng giao dịch cổ phiếu, (iv) mức độ tập trung sở hữu; (v) công ty con của 1 công ty khác Nhóm nhân
tố thứ 2: tình hình tài chính của doanh nghiệp, luận giải rằng chiến lược công bố thông tin môi trường của doanh nghiệp phụ thuộc vào chi phí từ việc sử dụng công
bố thông tin môi trường bởi các bên có liên quan khác hơn là cổ đông xét trên khía cạnh tình hình tài chính của doanh nghiệp; 3 đại diện được sử dụng để đo lường (i) lợi nhuận kế toán, (ii) lợi nhuận thị trường của cổ phiếu, (iii) đòn bẩy tài chính Nhóm nhân tố thứ 3: kết quả hoạt động môi trường của công ty, được đo lường bởi
4 đại diện: (i) ô nhiễm quá mức, (ii) bị phạt, (iii) nhận được yêu cầu phải tuân thủ, (iv) bị kiện tụng pháp lý Nhóm nhân tố thứ 4 bao gồm 4 biến kiểm soát (i) tuổi của tài sản, nhà máy và trang thiết bị của doanh nghiệp, (ii) quy mô doanh nghiệp, (iii) doanh nghiệp được đăng ký với ủy ban chứng khoán, (iv) ngành nghề;
Kết quả từ ba phương pháp chạy mô hình khác nhau (OLS, tobit, phân tích độ nhạy) cho kết quả: (1) độ rủi ro của doanh nghiệp, mức độ phụ thuộc vào thị trường vốn và khối lượng cổ phiếu giao dịch có quan hệ thuận chiều với mức độ công bố thông tin môi trường trong khi đó mức độ tập trung sở hữu lại có quan hệ nghịch