1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ứng dụng mô hình đa thuộc tính trong nhận diện nhu cầu khách hàng đối với sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

95 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Số liệu sơ cấp thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi 291 đối tượng ngẫu nhiên, trong đó có 256 đối tượng có nhận biết về thẻ tín dụng quốc tế trong khoảng thời gian Bố cục đề tài bao gồ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ DIỆU HOÀNG

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH ĐA THUỘC TÍNH TRONG

NHẬN DIỆN NHU CẦU KHÁCH HÀNG

ĐỐI VỚI SẢN PHẨM THẺ TÍN DỤNG QUỐC TẾ

CỦA CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2013

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài :

Trong xu thế hội nhập, khoa học kỹ thuật trong nước ngày càng được nâng cao, việc thanh toán không dùng tiền mặt đã và đang từng bước phát triển Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2453/QĐ-TTg phê duyệt đề án đẩy mạnh Thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015, một trong những nhiệm

vụ quan trọng là “Tăng cường quản lý thanh toán bằng tiền mặt, giảm sử dụng tiền mặt trong các giao dịch thanh toán” Nền kinh tế có thể tiết kiệm nhiều nguồn lực cho việc in ấn, phát hành tiền mặt, và thanh toán không dùng tiền mặt là cơ sở để phát triển, đẩy mạnh các dịch vụ giao dịch thanh toán trực tuyến tiện lợi, nhanh chóng, chính xác, và an toàn với chi phí thấp

Bên cạnh đó, khi kênh thanh toán không dùng tiền mặt trở nên đa dạng, phong phú sẽ giúp người tiêu dùng mua sắm thuận tiện hơn Kích thích tiêu dùng sẽ giúp cải thiện nền sản xuất trong nước đang trong giai đoạn khó khăn Một trong những công

cụ hữu hiệu đáp ứng được hai yếu tố trên đó là sản phẩm Thẻ tín dụng, cụ thể là Thẻ tín dụng quốc tế

Tại các nước phát triển, việc dùng thẻ tín dụng quốc tế để thanh toán là chuyện phổ biến nhưng ở Việt Nam, số lượng người dùng thẻ tín dụng quốc tế lại chưa thực

sự tương xứng với tiềm năng phát triển của thị trường thẻ Cuộc chạy đua giữa các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước để phát triển thị phần thẻ tín dụng quốc

tế của mình ngày càng trở nên khốc liệt Các chiến lược marketing đúng đắn và phù hợp là cần thiết nhằm thu hút được nhiều khách hàng lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng quốc tế do chính ngân hàng mình phát hành Để làm được điều đó, các ngân hàng cần nhận biết được nhu cầu thực tế của khách hàng và mô hình đa thuộc tính là một công

cụ giúp các ngân hàng làm được điều đó Chính vì vậy, đề tài “Ứng dụng mô hình

đa thuộc tính trong nhận diện nhu cầu khách hàng đối với sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế của các NHTM tại Việt Nam “ đã được lựa chọn

Trang 3

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu là nhận diện nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế Trên cơ sở đó, người nghiên cứu đề xuất các hướng giải pháp nhằm điều chỉnh, phát triển sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế và các dịch vụ liên quan của các NHTM hoạt động tại Việt Nam

Để thực hiện mục đích trên, người nghiên cứu sẽ ứng dụng mô hình đa thuộc tính qua các bước sau :

1- Nhận diện các thuộc tính quan trọng của sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế 2- Đo lường cảm nhận khách hàng qua thang đo

3- Phân nhóm các thuộc tính và biểu thị qua biểu đồ thuộc tích

4- Xác định trọng số của các nhóm thuộc tính

5- Phân tích cơ sở phát triển của sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế

3 Đối tượng nghiên cứu :

Đề tài nghiên cứu về các thuộc tính quan trọng của sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế

tại các NHTM hoạt động tại Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu :

Đề tài tập trung nghiên cứu trong việc nhận biết được các thuộc tính quan trọng của sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế, xem xét trường hợp cụ thể của các NHTM hoạt động tại Việt Nam trong những năm gần đây

5 Phương pháp nghiên cứu :

a Phương pháp chọn vùng nghiên cứu : Đề tài cần thu thập số liệu, thông tin

của các nhóm thuộc tính công dụng và lợi ích của thẻ tín dụng quốc tế ảnh hưởng đến

quyết định sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của khách hàng Đề tài thực hiện khảo sát

bằng bảng câu hỏi đối với những đối tượng có nhận biết về thẻ tín dụng quốc tế, đã

sử dụng hoặc chưa sử dụng thẻ tín dụng quốc tế tại Việt Nam

Trang 4

b Phương pháp thu thập số liệu:

- Số liệu thứ cấp thông qua sách, báo chí, internet, các đề tài nghiên cứu và luận văn

- Số liệu sơ cấp thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi 291 đối tượng ngẫu nhiên, trong đó có 256 đối tượng có nhận biết về thẻ tín dụng quốc tế trong khoảng thời gian

Bố cục đề tài bao gồm 3 chương :

Chương 1 : Cơ sở lý luận về Mô hình Đa Thuộc Tính và sản phẩm Thẻ tín dụng

quốc tế Chương 2 : Ứng dụng mô hình đa thuộc tính trong nhận diện nhu cầu khách

hàng đối với sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế của các NHTM tại Việt Nam

Chương 3 : Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển các thuộc

tính quan trọng của sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế của các NHTM tại Việt Nam

Trang 5

 CHƯƠNG 1 

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH ĐA THUỘC TÍNH

VÀ SẢN PHẨM THẺ TÍN DỤNG QUỐC TẾ

1.1 GIỚI THIỆU MÔ HÌNH ĐA THUỘC TÍNH :

1.1.1 Khái quát về mô hình đa thuộc tính :

Mô hình đa thuộc tính là một công cụ hỗ trợ trong việc nắm bắt được nhu cầu của khách hàng đối với các sản phẩm, dịch vụ thông qua việc đánh giá các thuộc tính quan trọng của sản phẩm, dịch vụ cần khảo sát Trên cơ sở đó, mô hình góp phần định hướng việc điều chỉnh, phát triển sản phẩm dịch vụ bằng việc nắm bắt và diễn đạt tiếng nói của khách hàng (Trương Quang Thông, 2012)

1.1.2 Các bước trong mô hình đa thuộc tính :

Mô hình được thiết lập thông qua 5 bước như sau :

Bước 1: Nhận diện các thuộc tính quan trọng :

Bằng phương pháp khảo sát chuyên gia, người phân tích nhận diện được các thuộc tính quan trọng của sản phẩm, dịch vụ cần khảo sát

Các thuộc tính có thể phân thành hai loại trong nghiên cứu như sau :

- Thuộc tính công dụng : phản ánh công dụng chính của sản phẩm, dịch vụ

- Thuộc tính được cảm thụ bởi người sử dụng, phụ thuộc vào hành vi, thói quen tiêu dùng của người sử dụng

Bước 2: Đo lường cảm nhận khách hàng qua thang đo :

Với những thuộc tính đã được nhận diện ở bước 1, người phân tích tiến hành đo lường cảm nhận của khách hàng thông qua việc phỏng vấn trực tiếp hoặc sử dụng bảng câu hỏi khảo sát với các thang đo khoảng

Bước 3: Phân nhóm các thuộc tính và vẽ biểu đồ thuộc tính :

Trang 6

Người phân tích tiến hành phân nhóm các thuộc tính quan trọng thành các nhóm

Bước 4: Xác định trọng số của các nhóm thuộc tính :

Bằng phương pháp chuyên gia hay phương pháp định lượng, người phân tích xác định được trọng số của các nhóm thuộc tính ở bước 3

Bước 5: Phân tích cơ sở phát triển các dịch vụ mới :

Trên cơ sở kết quả đạt được ở bước 4, người phân tích tiến hành phân tích và định hướng hoàn thiện và nâng cao các sản phẩm, dịch vụ của mình, đặc biệt là trong quan

hệ cạnh tranh với các đối thủ

1.2 GIỚI THIỆU THẺ TÍN DỤNG QUỐC TẾ :

1.2.1 Lịch sử hình thành :

Thẻ tín dụng quốc tế được khởi nguồn từ thế kỷ 19 Những loại thẻ thanh toán đầu tiên được sử dụng ở Mỹ năm 1894, do các công ty sử dụng dành riêng cho khách quen Trong thập kỷ 20 của thế kỷ 19, một số công ty khai thác dầu khí và siêu thị rồi sau đó đến các chuỗi nhà hàng và hãng hàng không sử dụng Đó là những loại thẻ chuyên dụng (Proprietary Credit Cards) Ngoài mục đích thanh toán tiện lợi, những thẻ này còn củng cố "sự gắn kết", thậm chí đến mức thủy chung của khách hàng với công ty và thương hiệu

Mãi về sau mới có thẻ tín dụng quốc tế như hiện tại và chúng cũng được sử dụng lần đầu tiên ở nước Mỹ Thẻ tín dụng quốc tế này được dành cho những khách hàng với độ tin cậy cao, có thể sử dụng ở tất cả các hãng chấp nhận nó chứ không chỉ

Trang 7

ở mỗi hãng phát hành nó Thẻ tín dụng quốc tế đầu tiên của thế giới là thẻ của Diners Club do Frank McNamara và Ralph Schneider thành lập tháng 2/1950, dành riêng cho khoảng gần 30 bạn bè và người quen của họ và có thể sử dụng ở một số nhà hàng trong thành phố New York Tháng 5/1951, Franklin National Bank ở New York là ngân hàng đầu tiên trên thế giới phát hành thẻ tín dụng quốc tế Với loại hình thẻ tín dụng quốc tế này, khách hàng có thể mua hàng hóa và dịch vụ bằng thẻ tại các cửa hàng nhất định mà không cần phải trả tiền mặt trước Tuy nhiên, họ cần thanh toán toàn bộ số tiền dư nợ khi họ nhận được giấy báo thanh toán từ ngân hàng Ngân hàng này cũng yêu cầu các thương nhân chấp nhận thẻ tín dụng quốc tế của mình Họ sẽ được ngân hàng ứng trước tiền mặt và sau đó ngân hàng nhận lại sau từ khoản thanh toán của khách hàng

Nhận thức được sự phát triển sự phát triển của thẻ tín dụng quốc tế, gần 100 ngân hàng trên khắp nước Mỹ đã phát hành thẻ tín dụng quốc tế trong vài năm sau

đó Năm 1958, ngân hàng Bank of America phát hành thẻ tín dụng quốc tế đầu tiên của mình với tên gọi là BankAmericard, lúc đầu chỉ là một mẫu giấy bình thường với mức tín dụng tối đa 300 USD, với một tính năng mới là tín dụng xoay vòng Với tính năng này, khách hàng có thể lựa chọn không phải trả đầy đủ số dư nợ của họ Tuy nhiên, nếu khách hàng không thanh toán đầy đủ số dư nợ thì ngân hàng sẽ tính lãi suất trên số dư nợ chưa thanh toán – gọi là lãi suất tài chính Với tín dụng xoay vòng, khoản tín dụng mở ra cho phép khách hàng sử dụng sẽ được cập nhật lại khi ngân hàng nhận được khoản tiền chi trả của khách hàng Điều này có nghĩa rằng, ngay cả khi chỉ thanh toán một phần, khách hàng vẫn có thể sử dụng hạn mức tín dụng còn lại đang được mở ra cho khách lúc đấy

Tuy nhiên, tại thời điểm đó, các chương trình thẻ tín dụng quốc tế vẫn còn là một hệ thống khép kín Thẻ tín dụng quốc tế cấp cho khách hàng chỉ có thể sử dụng tại các cửa hàng đã ký kết hợp tác với cùng một ngân hàng, khách hàng phải mang theo nhiều thẻ để mua sắm tại các cửa hàng khác nhau Từ đấy thấy rằng, nhu cầu

Trang 8

thiết lập các hiệp hội ngân hàng quốc gia để mở rộng mạng lưới chấp nhận thẻ là tất yếu

Trong năm 1966, tại New York – Mỹ, một hệ thống thẻ tín dụng quốc tế quốc gia được hình thành khi một nhóm ngân hàng phát hành thẻ tín dụng quốc tế hợp tác

và tạo ra các Hiệp hội thẻ liên ngân hàng (Interbank Card Association - ICA) ICA hiện đang được biết đến như MasterCard Worldwide, mặc dù nó đã được tạm thời gọi là MasterCharge Năm 1979, MasterCharge trở thành MasterCard International (Tổ chức thẻ quốc tế MasterCard) và biểu tượng mới cũng đã được cập nhật

Năm 1970, Bank of America cùng với 243 ngân hàng khác thành lập công ty chuyên về thẻ tín dụng quốc tế National Bank Americard Inc và tên thẻ tín dụng quốc

tế là Americard Năm 1976, Americard được đổi thành VISA International (Tổ chức thẻ quốc tế Visa) Thương hiệu này có gốc từ xưa, nhưng chính thức hiện hữu thì chỉ

từ thời điểm đó Tổ chức này cạnh tranh trực tiếp với Master

Với sự thành công ngày càng tăng của hiệp hội, hầu hết các ngân hàng đã sớm chuyển chuyển chương trình thẻ của họ sang loại thẻ BankAmericard hoặc MasterCharge Cả hai hiệp hội đã ban hành giấy phép phát hành cho các ngân hàng thành viên và các điểm chấp nhận thẻ đặt dưới thương hiệu riêng của mình

Hiện nay, bên cạnh các loại thẻ tín dụng quốc tế Dinner Club, Visa, Master card còn có nhiều những thương hiệu khác như America Express, JCB, UnionPay

…Sự phát triển của công nghệ đã phần nào hoàn thiện hơn những chiếc thẻ tín dụng quốc tế, từ đó tạo nên một công cụ thanh toán lý tưởng cho một cuộc sống hiện đại Với các nước phát triển, thẻ tín dụng quốc tế hầu như là phương tiện thanh toán chủ yếu, nhưng đối với các nước đang phát triển thì thẻ tín dụng quốc tế đã và đang từng bước trở thành một nhu cầu mới mẻ và cần thiết cho một cuộc sống năng động

1.2.2 Khái niệm Thẻ tín dụng quốc tế :

Trang 9

Theo điều 2, quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 10 năm 1999

về việc ban hành Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng , Thẻ Ngân

hàng và Thẻ tín dụng quốc tế được quy định như sau :

“Thẻ ngân hàng : là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ.”

“ Thẻ tín dụng là thẻ ngân hàng cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ Trong đó, “Hạn mức tín dụng” là số tiền tối đa mà tổ chức phát hành thẻ cấp cho chủ thẻ trong quá trình sử dụng thẻ “

Cụ thể hơn, thẻ tín dụng quốc tế là các loại thẻ do các ngân hàng, tổ chức tài chính trong nước và quốc tế (là thành viên của tổ chức thẻ quốc tế) phát hành Phạm

vi sử dụng và thanh toán được chấp nhận tại các cơ sở trên toàn thé giới

Hiện nay, các NHTM phát hành thẻ tín dụng quốc tế, cung cấp cho khách hàng một khoản hạn mức tín dụng, cùng với chức năng “chi tiêu trước, trả tiền sau” , khách hàng có thể thanh toán cho ngân hàng với thời hạn 45 ngày hoặc hơn tùy theo chính sách của từng ngân hàng

Như vậy, có thể hiểu : Thẻ tín dụng quốc tế là một hình thức thay thế cho việc thanh toán trực tiếp, người tiêu dùng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế để trả cho người bán hàng Hình thức thanh toán này được thực hiện dựa trên uy tín Chủ thẻ không cần phải trả tiền mặt ngay khi mua hàng Thay vào đó, ngân hàng sẽ ứng trước tiền cho người bán và chủ thẻ sẽ thanh toán lại sau cho ngân hàng khoản giao dịch Thẻ tín dụng quốc tế cho phép khách hàng trả dần số tiền thanh toán trong tài khoản Chủ thẻ không phải thanh toán toàn bộ số dư trên bảng sao kê giao dịch hàng tháng Tuy nhiên, chủ thẻ phải trả khoản thanh toán tối thiểu trước ngày đáo hạn đã ghi rõ trên bảng sao kê

Trang 10

Xét về bản chất kinh tế, thẻ tín dụng quốc tế là sự cam kết thanh toán sẽ thanh toán cho những khoản tiền mà chủ thẻ đã chi tiêu Tức là ngân hàng phát hành cam kết cho chủ thẻ vay tiền của mình để mua hàng hóa – dịch vụ, rút tiền mặt qua máy thanh toán tiền tự động ATM (Automated Teller Machine) trong số tiền ngân hàng cho phép Tuy nhiên việc chi tiêu bằng thẻ tín dụng quốc tế bị giới hạn bởi số lượng đơn vị chấp nhận thẻ và điểm ứng tiền mặt Do chủ thẻ sử dụng để chi tiêu thay vì phải mang một lượng tiền mặt nhất định nên thẻ tín dụng quốc tế như một phương tiện thanh toán thay tiền mặt nhưng không phải tiền tệ Nó không mang đặc tính, tính chất và chức năng tiền tệ

1.2.3 Đặc điểm chung của thẻ tín dụng quốc tế :

Các loại thẻ tín dụng quốc tế có một đặc điểm chung nhất về chất liệu plastic, kích thước theo tiêu chuẩn quốc tế với chiều rộng 5,5cm và chiều dài 8,5cm Trên thẻ

có in đầy đủ các yếu tố thông tin : nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của nhà phát hành thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ và ngày hiệu lực… và một số yếu tố khác tùy theo quy định của các Tổ chức thẻ quốc tế hoặc Hiệp hội phát hành thẻ…

Trang 11

(2) : Vi mạch điện tử EMV (EMV là tiêu chuẩn vi mạch điện tử tích hợp toàn cầu đảm bảo an ninh toàn cầu và khả năng tương tác của thẻ thanh toán dựa trên chip) (3) : Tem ba chiều (Hologram) : Một hình ảnh không gian ba chiều với biểu tượng riêng của mỗi thương hiệu phản chiếu ánh sáng và biểu tượng có vẻ như di chuyển khi xoay hướng thẻ Đây là sự kết hợp tính năng của dải băng từ với tính năng an toàn của kỹ thuật ảnh ba chiều hologram, giúp ngăn chặn việc làm thẻ giả

(4) : Dãy số thẻ : tùy theo quy ước của từng Tổ chức thẻ, ví dụ :

o Thẻ Master bao gồm 16 số chia làm 4 nhóm, mỗi nhóm 4 số, số đầu tiên là số

5

o Thẻ Visa có 2 loại nhóm số (loại 16 số và loại 13 số) Tất cả thẻ Visa đều bắt đầu bằng số 4

o Thẻ AMEX có 15 số chi làm 3 nhóm, bắt đầu bằng số 37 hoặc 34

o Thẻ JCB có 16 số, chia làm 4 nhóm, mỗi nhóm 4 số và được bắt đầu bằng số

35

Trong đó: sáu chữ số đầu tiên là 1 BIN (Bank Identification Number) – Mã số xác nhận ngân hàng Khi đọc các hiệp hội sẽ biết thẻ thuộc thành viên nào, loại sản phẩm thẻ nào

(5) : Logo thương hiệu thẻ tín dụng quốc tế

(6) : Ngày hết hạn

(7) : Tên chủ thẻ

(8) : chip không tiếp xúc

Mặt sau thẻ:

Trang 12

1.2.4 Các tiện ích của Thẻ tín dụng quốc tế:

1.2.4.1 Tiện ích dành cho khách hàng :

Thẻ tín dụng quốc tế đang ngày càng trở nên là một phương tiện thanh toán an toàn, nhanh chóng và hiệu quả hơn so với các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt khác Chủ thẻ có thể sử dụng để mua hàng hóa, dịch vụ tại bất cứ điểm chấp nhận thẻ hoặc một ngân hàng thanh toán nào Với tiện ích linh hoạt, khách hàng có thể mua sắm online với các trang mạng nước ngoài hoặc dễ dàng chi tiêu khi đang đi công

Trang 13

1.2.4.2 Tiện ích dành cho các Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT):

Các ĐVCNT là nơi cung ứng hàng hóa và dịch vụ chấp nhận việc thanh toán bằng thẻ Mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và các ĐVCNT là mối quan hệ hai

chiều:

hàng cung cấp khi tham gia vào mạng lưới thanh toán thẻ là dịch vụ “bán hàng qua ngân hàng” Thông qua dịch vụ này các ĐVCNT sẽ có cơ hội mở rộng thị trường và doanh số Các chủ thẻ sẽ tìm đến các ĐVCNT để mua sắm, giúp tối đa

hóa lượng hàng hóa, dịch vụ của mỗi cơ sở kinh doanh

 Ngân hàng thông qua dịch vụ thẻ sẽ thu được một khoản lợi nhuận là phí tính

theo % trên giá trị giao dịch thẻ

Bên cạnh đó, khi cơ sở kinh doanh có chấp nhận thanh toán bằng thẻ sẽ tăng thêm sự sang trọng và uy tín cho cửa hàng, nhà hàng, khách sạn Mặt khác, các ĐVCNT tránh được hiện tượng khách hàng dùng tiền giả hay vấn đề mất cắp tiền mặt

của khách xảy ra trong nhà hàng, khách sạn của mình

1.2.4.3 Lợi ích đối với nền kinh tế

Thẻ tín dụng quốc tế giúp tăng cường hoạt động lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế, tăng cường vòng quay của đồng tiền, khơi thông các luồng vốn khác nhau, tạo điều kiện cho việc kiểm soát khối lượng giao dịch thanh toán trong dân cư và của

cả nền kinh tế Đồng thời, việc thanh toán bằng thẻ làm giảm nhu cầu giữ tiền mặt, giảm lượng tiền mặt lưu thông, dẫn đến giảm chi phí vận chuyển và phát hành tiền

Do tính chất là một công cụ thanh toán thay thế tiền mặt nên việc sử dụng thẻ giải quyết được tình trạng bất tiện nếu dùng tiền mặt như: mất vệ sinh, không an toàn, không tiện lợi

Trang 14

Nhìn chung, thẻ tín dụng quốc tế còn góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển với nhịp độ nhanh hơn nhờ việc khuyến khích tiêu dùng cá nhân của các tầng lớp dân cư có thu nhập ổn định Hơn nữa, việc thanh toán bằng thẻ sử dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật và công nghệ hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội nhập với nền kinh tế thế giới

1.2.4.4 Hiệu quả kinh doanh thẻ của các NHTM

Hoạt động kinh doanh thẻ mang lại cho ngân hàng nhiều nguồn thu khác nhau, bao gồm :

 Nguồn thu từ các khoản phí liên quan đến việc sử dụng thẻ mà khách hàng phải chi trả, như : phí thường niên, phí rút tiền mặt, phí chậm trả, phí báo mất thẻ, phí tra soát … Tuy số phí áp dụng cho mỗi thẻ là không lớn, trong nhiều trường hợp phí thu là để bù chi, nhưng với nhiều thẻ ngân hàng có thể tích lại được một nguồn thu

Các khoản phí thu (chiết khấu thương mại) từ các ĐVCNT khi họ muốn ngân

hàng là bên thanh toán cuối cùng mà nhờ việc thanh toán đó họ đã thu hút được nhiều hơn khách hàng, đem lại phần tăng trong doanh thu Khi các ĐVCNT trình hoá đơn thanh toán thẻ tín dụng quốc tế lên ngân hàng, ngân hàng sẽ tính chiết khấu một khoản trên doanh thu Đây là khoản thu phát sinh trên doanh số thanh toán của các cơ sở chấp nhận thẻ

Không chỉ đóng vai trò là ngân hàng phát hành thẻ, các ngân hàng có thể trở thành đại lý hay chi nhánh thanh toán cho các tổ chức thẻ Ngân hàng sẽ có được một khoản lợi nhuận từ hoạt động này Đây có thể nói là nguồn thu lớn nhất, như là một chiết khấu thương mại khi ngân hàng thanh toán lại tiền cho tổ chức phát hành Phần lớn các ngân hàng ở Việt Nam đều làm chi nhánh thanh toán cho Tổ chức thẻ quốc

tế và đã thu đươc một khoản phí lớn cho hoạt động này

Trang 15

Bên cạnh lợi ích làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng, việc kinh doanh thẻ còn góp phần đa dạng hoá các hình thức dịch vụ mà ngân hàng cung cấp Mà điều này có tác động không nhỏ đến uy tín của ngân hàng Rõ ràng, khi lựa chọn một ngân hàng phục vụ mình khách hàng sẽ chọn ngân hàng nào có khả năng cung ứng nhiều hình thức dịch vụ hơn, giao dịch tiện lợi hơn Vì vậy kinh doanh thẻ tín dụng quốc tế chính

là một hướng đi đúng đắn cho các ngân hàng hiện đại để nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường

1.2.5 Quy trình thanh toán bằng thẻ tín dụng quốc tế :

1.2.5.1 Các chủ thể tham gia vào quy trình thanh toán thẻ:

 Tổ chức thẻ quốc tế : Là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng tham gia phát hành và thanh toán thẻ quốc tế, hiện bao gồm: Tổ chức thẻ Visa, Tổ chức thẻ Mastercard, công ty thẻ American Express, công ty thẻ JCB,… Bên cạnh đó, Tổ chức thẻ quốc tế còn là tổ chức trung gian thực hiện chức năng quản lý, xử lý giao dịch và

thanh toán bù trừ giữa các thành viên

Các tổ chức tài chính muốn phát hành thẻ mang thương hiệu Visa, Master … hoặc lắp đặt các điểm chấp nhận thẻ, họ cần được các hiệp hội cấp phép Một trong những điều mà các tổ chức thẻ quốc tế cần làm là quảng cáo và quảng bá thương hiệu

của mình

 Ngân hàng phát hành thẻ (Issuer) : là thành viên chính thức của các Tổ chức thẻ quốc tế, được phép phát hành thẻ Để việc sử dụng thẻ mang lại hiệu quả kinh tế cao, Ngân hàng phát hành phải là ngân hàng có uy tín trong nước cũng như quốc tế

Ngân hàng phát hành cũng có thể là Ngân hàng thanh toán

 Ngân hàng thanh toán thẻ (Acquirer) : là thành viên chính thức hoặc liên kết của Tổ chức thẻ quốc tế, hoặc những ngân hàng được Ngân hàng phát hành ủy quyền làm trung gian thanh toán giữa chủ thẻ và Ngân hàng phát hành Ngân hàng thanh toán có trách nhiệm trả tiền cho các ĐVCNT đã cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho chủ

Trang 16

thẻ, hoặc điểm ứng tiền mặt trước khi chủ thẻ thanh toán lại cho Ngân hàng phát hành Ngân hàng thanh toán cũng cung cấp và có trách nhiệm đối với những máy móc, thiết

bị chuyên dùng và hóa đơn thanh toán cho các ĐVCNT

 Ngân hàng đại lý (Agent Bank) : Là tổ chức trung gian được ủy quyền của Ngân hàng thanh toán để chấp nhận thanh toán thẻ hoặc xây dựng mạng lưới ĐVCNT Ngân hàng đại lý đóng vai trò như một ĐVCNT

thanh toán bằng thẻ tín dụng quốc tế ĐVCNT phải ký hợp đồng chấp nhận thanh toán thẻ với Ngân hàng thanh toán và phải có tài khoản tại đó Nếu đủ điều kiện, ĐVCNT sẽ được cung cấp các máy móc, thiết bị, hoá đơn phục vụ thanh toán thẻ

Các ĐVCNT bán các giao dịch thẻ cho ngân hàng thanh toán Sau đó, ngân hàng phát hành sẽ trừ đi các phí dịch vụ và trả số tiền còn lại ĐVCNT Các phí bao gồm :

lệ phí thanh toán và bù trừ giao dịch; lệ phí chuẩn chi (“chuẩn chi”: là quá trình ghi nhận, xử lý chi tiết thẻ trước khi hoàn thành giao dịch) ; lệ phí xử lý hóa đơn

 Chủ thẻ (Cardholder) : Là người được Ngân hàng phát hành cho phép sử dụng thẻ, có hợp đồng ký kết đầy đủ Chủ thẻ là người duy nhất được quyền sử dụng thẻ

để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ tại ĐVCNT hoặc rút tiền mặt tại Ngân hàng đại

lý hoặc máy ATM

Trang 17

Máy ATM (Automatic Teller Machine) : là thiết bị hỗ trợ nhằm thực hiện ghi

nhận thông tin thẻ và thực hiện các giao dịch thẻ

1.2.5.3 Quy trình thanh toán bằng thẻ tín dụng quốc tế :

Sơ đồ 1.1: Quy trình thanh toán thẻ tín dụng quốc tế

Quy trình sử dụng dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng quốc tế bao gồm các bước như sau :

Bước 1: Chủ thẻ dùng thẻ tín dụng quốc tế để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt

Khi nhận được thẻ từ khách hàng, Ngân hàng đại lý hoặc ĐVCNT phải kiểm tra tính hợp lệ của thẻ: Logo, biểu tượng của thẻ tín dụng quốc tế, băng chữ ký, ký hiệu đặc biệt, thời hạn hiệu lực, các yếu tố in nổi trên thẻ…

NGÂN HÀNG PHÁT HÀNH

TRUNG TÂM THANH TOÁN

BÙ TRỪ

NGÂN HÀNG THANH TOÁN

ĐƠN VỊ CHẤP NHẬN THẺ CHỦ THẺ

(1)

(4)

(5)

Trang 18

Sau khi kiểm tra tính hợp lệ của thẻ, ĐVCNT hoặc điểm ứng tiền mặt phải hoàn thành hoá đơn, đề ngày giao dịch, số tiền giao dịch, số cấp phép (nếu có), tên và số hiệu ĐVCNT, loại hàng hoá, dịch vụ cung ứng

Tiếp đó, ĐVCNT sẽ phải yêu cầu khách hàng ký vào hoá đơn (chữ ký trên hoá đơn phải khớp đúng với chữ ký ở băng sau của thẻ)

Hoá đơn thanh toán thẻ gồm ba liên: một liên giao cho khách hàng giữ, hai liên còn lại ĐVCNT giữ lại

Trong trường hợp ĐVCNT và chủ thẻ thỏa thuận hủy bỏ một phần hay toàn bộ giao dịch đã thực hiện, ĐVCNT không được hoàn lại cho chủ thẻ bằng tiền mặt mà phải thực hiện giao dịch hoàn trả Đối với ĐVCNT có trang bị máy POS (Point of sale – máy bán hàng cảm ứng chấp nhận thanh toán thẻ) có hệ thống thu nhận tín hiệu điện từ EDC thì có thể điều chỉnh hay hủy bỏ toàn bộ giao dịch trước khi truyền dữ liệu

ĐVCNT phải liên hệ ngay với Ngân hàng để xin cấp phép khi:

- Số tiền giao dịch bằng hoặc lớn hơn hạn mức thanh toán

- Có nghi ngờ thẻ giả hay chủ thẻ có vấn đề

Chỉ sau khi được Ngân hàng phát hành hoặc Tổ chức thẻ Quốc tế cho phép giao dịch bằng cách cung cấp số cấp phép thì ĐVCNT mới được thực hiện giao dịch

Bước 2: ĐVCNT giao dịch với Ngân hàng

Ở đây có sự phân biệt giữa ĐVCNT có sử dụng các máy POS có hệ thống thu nhận tín hiệu điện từ EDC và ĐVCNT không sử dụng máy này

Đối với ĐVCNT có trang bị máy POS có thu nhận tín hiệu điện từ EDC: Việc đọc các dữ liệu trên thẻ và in ra hoá đơn thanh toán thẻ sẽ do máy thực hiện kể cả việc xin cấp phép Dữ liệu về giao dịch sẽ được lưu giữ trên bộ nhớ của máy Hàng

Trang 19

ngày, ĐVCNT truyền dữ liệu thanh toán về Ngân hàng thanh toán Còn hoá đơn thanh toán EDC sẽ được tập hợp và chuyển cho Ngân hàng thanh toán mỗi tuần

Đối với ĐVCNT không trang bị máy có thiết bị thu nhận điện từ EDC: Việc đối chiếu danh sách thẻ cấm lưu hành, xin cấp phép đều do ĐVCNT thực hiện sau đó sẽ dùng máy cà tay để in ra hoá đơn thanh toán Hàng ngày, ĐVCNT sẽ tổng hợp toàn

bộ hoá đơn phát sinh, lập bảng kê hoá đơn, giữ lại một liên lưu còn một liên gửi đến Ngân hàng thanh toán cùng bảng kê sau không quá 05 ngày kể từ ngày giao dịch

Bước 3: Ngân hàng thanh toán cho ĐVCNT

Căn cứ vào dữ liệu EDC hoặc hoá đơn thẻ nhận được, Ngân hàng thanh toán tiến hành tạm ứng tiền cho ĐVCNT trên cơ sở tổng giá trị giao dịch sau khi đã trừ đi một khoản phí mà ĐVCNT phải thanh toán theo tỷ lệ đã quy định trên hợp đồng đại lý ký giữa Ngân hàng và ĐVCNT

Bước 4: Thanh toán với tổ chức thẻ Quốc tế và các thành viên khác

Cuối mỗi ngày, ngân hàng tổng hợp toàn bộ các giao dịch phát sinh từ thẻ do Ngân hàng khác phát hành và truyền dữ liệu cho Tổ chức thẻ quốc tế và nhận dữ liệu thanh toán từ Tổ chức thẻ quốc tế truyền về Dữ liệu này bao gồm tất cả những khoản mà Ngân hàng thanh toán được trả, những khoản phí phải trả cho Tổ chức thẻ tuốc tế, những giao dịch bị tra soát

Bước 5: Chủ thẻ thanh toán số dư nợ thẻ với ngân hàng phát hành

Đến ngày xuất sao kê dư nợ thẻ, ngân hàng thông báo cho chủ thẻ thời hạn và số tiền phải thanh toán Chủ thẻ có thể thanh toán toàn bộ hoặc thanh toán số tiền tối thiểu theo quy định trong hạn định mà ngân hàng thông báo

1.2.6 Các rủi ro quá trình phát hành và sử dụng thanh toán bằng thẻ tín dụng quốc

tế :

Trang 20

1.2.6.1 Rủi ro trong hoạt động Phát hành thẻ :

Ngân hàng phát hành phải đối mặt với nhiều rủi ro khác nhau trong suốt quá trình phát hành thẻ: lựa chọn khách hàng, in dập, cá thể hoá thẻ, gửi thẻ cho khách hàng và quản lý tài khoản thẻ trong quá trình sử dụng Các rủi ro trong quá trình này, bao gồm:

Giả mạo thông tin Phát hành thẻ: Khách hàng cung cấp thông tin không trung

thực về bản thân, khả năng tài chính, mức thu nhập để được cấp thẻ và sử dụng thẻ

để chiếm đoạt tiền của ngân hàng

Rủi ro tín dụng: Chủ thẻ không thực hiện thanh toán hoặc không đủ khả năng

thanh toán cho khoản tín dụng đã chi tiêu từ thẻ tín dụng quốc tế Nếu hiện trạng này xảy ra với số lượng và quy mô lớn sẽ dẫn đến tình trạng vỡ nợ , ngân hàng bị mất vốn

và có thể dẫn đến phá sản như đối với trường hợp cho vay không thu hồi được

Chủ thẻ không nhận được thẻ do ngân hàng phát hành gửi: Là trường hợp thẻ

bị đánh cắp hoặc bị lợi dụng thực hiện giao dịch trong quá trình chuyển từ ngân hàng phát hành đến chủ thẻ

Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng: Rủi ro này phát sinh khi ngân hàng phát

hành nhận được những yêu cầu thay đổi thông tin của chủ thẻ, đặc biệt là thay đổi địa chỉ của chủ thẻ Do không xác minh kỹ nên ngân hàng phát hành đã gửi thẻ về địa chỉ như yêu cầu mà không đến tay chủ thẻ thật, tài khoản của chủ thẻ thật đã bị người khác lợi dụng sử dụng

1.2.6.2 Rủi ro trong quá trình sử dụng và chấp nhận thanh toán thẻ :

Hoạt động thanh toán thẻ cũng tiềm tàng rất nhiều rủi ro, trong đó có sự tham gia của ngân hàng, chủ thẻ, ĐVCNT và các thiết bị đầu cuối (ATM, POS ) Các loại

rủi ro thường gặp trong hoạt động thanh toán thẻ bao gồm:

Trang 21

ĐVCNT giả mạo : ĐVCNT cố tình đăng ký các thông tin không chính xác với

Ngân hàng thanh toán Ngân hàng thanh toán sẽ chịu tổn thất khi không thu được những khoản đã tạm ứng cho những ĐVCNT này trong trường hợp ĐVCNT thông đồng với chủ thẻ hoặc cố tình tạo ra các hóa đơn hoặc giao dịch giả mạo để chiếm dụng vốn của ngân hàng

ĐVCNT thông đồng với chủ thẻ: đánh cắp dữ liệu thẻ sử dụng vào mục đích

bất hợp pháp hoặc thông đồng với chủ thẻ chấp nhận thanh toán thẻ giả

Thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng thẻ qua các phương tiện viễn thông qua thư, điện thoại, Internet: ĐVCNT cung cấp hàng hóa dịch vụ theo yêu cầu của chủ

thẻ qua thư hoặc điện thoại và thanh toán trên cơ sở các thông tin như: loại thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ…… ĐVCNT và Ngân hàng thanh toán có thể chịu tổn thất nếu như chủ thẻ thực không phải là khách đặt mua hàng của ĐVCNT và giao

dịch đó bị từ chối thanh toán

Nhân viên ĐVCNT in nhiều hóa đơn thanh toán của một thẻ : Trong trường

hợp này nhân viên khi thực hiện giao dịch đã cố tình in nhiều hóa đơn thanh toán thẻ nhưng chỉ giao một bộ cho chủ thẻ ký để hoàn thành giao dịch Sau đó nhân viên sẽ mạo nhận chủ thẻ hoàn tất giao dịch và nộp các hóa đơn thanh toán còn lại để đòi tiền, chiếm đoạt tiền của ngân hàng Ngoài ra nhân viên tại ĐVCNT cũng có thể sửa đổi hoá đơn giao dịch, ghi tăng giá trị giao dịch mà không được sự đồng ý của chủ

thẻ để lấy tiền tạm ứng của ngân hàng

Chủ thẻ để lộ số PIN (Personal Identification Number - mã số bảo mật của chủ thẻ) : rủi ro xảy ra do sơ suất của chủ thẻ hoặc do các đối tượng cố tình truy ra

số PIN của thẻ tín dụng quốc tế, từ đó lợi dụng để thanh toán các giao dịch online

Thẻ giả: Thẻ giả là thẻ do các tổ chức hoặc cá nhân làm giả căn cứ vào các

thông tin có được từ việc đánh cắp các dữ liệu trên băng từ của thẻ thật từ các thẻ mất

cắp, thất lạc

Trang 22

Thẻ bị mất/ trộm : Rủi ro xảy xa khi thẻ bị mất cắp, thất lạc và bị sử dụng trước

khi chủ thẻ thông báo cho ngân hàng phát hành để có các biện pháp chấm dứt sử dụng hoặc thu hồi thẻ Thẻ bị mất cắp thất lạc cũng có thể bị tội phạm thẻ sử dụng làm thẻ giả như trường hợp thẻ giả Đôi khi giả mạo có liên quan đến chủ thẻ cố tình báo mất

thẻ và sau đó sử dụng thẻ

Dữ liệu băng từ hoặc dữ liệu trên đường truyền bị đánh cắp: Trên các thiết bị

đọc thẻ tại ĐVCNT có thể bị cài thêm thiết bị để thu thập các thông tin trên băng từ của thẻ thật thanh toán tại các ĐVCNT hoặc nhân viên ĐVCNT có thể cấu kết với các tổ chức tội phạm đọc dữ liệu thẻ thật bằng các thiết bị chuyên dùng riêng

Trang 23

Thẻ tín dụng quốc tế với chức năng là công cụ thanh toán tiện lợi, không chỉ mang đến sự thuận tiện cho chủ thẻ, mà còn đem đến nhiều lợi ích cho ĐVCNT, các NHTM nói riêng cũng như cho nền kinh tế nói chung Cụ thể :

Đối với chủ thẻ : Thẻ tín dụng quốc tế là một phương tiện thanh toán an toàn,

nhanh chóng và hiệu quả hơn so với các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt khác Chủ thẻ có thể sử dụng để mua hàng hóa, dịch vụ tại bất cứ điểm chấp nhận thẻ hoặc một ngân hàng thanh toán nào

Đối với ĐVCNT : thông qua việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng quốc

tế, các ĐVCNT sẽ có cơ hội mở rộng thị trường và doanh số Các chủ thẻ sẽ tìm đến các ĐVCNT để mua sắm, giúp tối đa hóa lượng hàng hóa, dịch vụ của

mỗi cơ sở kinh doanh

Đối với ngân hàng : ngân hàng thu được một khoản lợi nhuận là nguồn thu từ

phí tính theo % trên giá trị giao dịch thẻ tại các ĐVCNT; nguồn thu từ các phí liên quan đến việc sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của chủ thẻ… Bên cạnh đó, việc kinh doanh thẻ tín dụng quốc tế còn góp phần đa dạng hoá các hình thức dịch vụ mà ngân hàng cung cấp

Đối với nền kinh tế : thẻ tín dụng quốc tế còn góp phần thúc đẩy hoạt động

kinh doanh phát triển với nhịp độ nhanh hơn nhờ việc khuyến khích tiêu dùng

Trang 24

cá nhân của các tầng lớp dân cư có thu nhập ổn định Đồng thời, việc thanh toán bằng thẻ sử dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật và công nghệ hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội nhập với nền kinh tế thế giới

Trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, các thiết bị điện tử cũng như công nghệ thẻ ngày càng được hoàn thiện Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó, có không ít các cá nhân, tổ chức tội phạm gian lận trong quy trình thanh toán nhầm chiếm dụng tiền của ngân hàng hoặc lợi dụng những kẽ hở trong công nghệ mà đánh cắp thông tin chủ thẻ, tạo ra thẻ giả đem dùng thanh toán bất hợp pháp Để có thể phòng ngừa rủi ro cho việc sử dụng thẻ tín dụng quốc tế cần rất nhiều sự hợp tác từ khách hàng và ĐVCNT Người sử dụng nhiều khi vẫn chưa hiểu hết công dụng của thẻ tín dụng quốc tế, và chưa ý thức được vai trò của mình trong việc bảo mật thông tin thẻ, phòng tránh giả mạo thẻ

Trang 25

CHƯƠNG 2

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH ĐA THUỘC TÍNH TRONG

NHẬN DIỆN NHU CẦU KHÁCH HÀNG

ĐỐI VỚI SẢN PHẨM THẺ TÍN DỤNG QUỐC TẾ

CỦA NHTM TẠI VIỆT NAM

2.1 TÓM TẮT THỰC TRẠNG PHÁT HÀNH THẺ TÍN DỤNG QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM :

Thị trường thẻ Việt Nam hình thành từ rất sớm vào những năm 90 của thế kỷ

20 Năm 1990 hợp đồng làm đại lý chi trả thẻ Visa giữa ngân hàng Pháp BFCE và

NH Ngoại thương Việt Nam (VCB) đã mở đầu cho sự du nhập của thẻ thanh toán vào Việt Nam Năm 1995, cùng với VCB, NHTMCP Á Châu (ACB), NH liên doanh First-Vina-Bank và NHTMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Eximbank) được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam cho phép chính thức gia nhập tổ chức thẻ quốc tế Mastercard Năm 1996, VCB chính thức là thành viên của tổ chức Visa Tiếp sau đó là ACB, NH Công thương Việt Nam cũng lần lượt là thành viên của tổ chức nói trên Tuy nhiên, việc ứng dụng thẻ vào Việt Nam còn hạn chế rất nhiều về

cơ sở pháp lý, điều kiện kinh tế, hạ tầng kỹ thuật …

Mãi đến năm 2002, sản phẩm thẻ ghi nợ nội địa lần đầu tiên mới được phát hành tại Việt Nam VCB là ngân hàng đầu tiên triển khai hệ thống giao dịch ATM dựa trên nền tảng kết nối trực tuyến toàn hệ thống Nhờ đó, thị trường thẻ Việt Nam mới thực

sự có bước đột phá quan trọng với việc nhiều ngân hàng chủ động và tích cực đầu tư

hệ thống công nghệ phục vụ cho phát triển sản phẩm thẻ ghi nợ nội địa cũng như sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế sau này

Trang 26

Tuy vậy, dịch vụ thẻ thanh toán chỉ mới thực sự sôi động vào những năm

2006-2007 khi Chính phủ ban hành Quyết định số 291/2006/ TTg về triển khai Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2011 (gần đây nhất là Đề án đẩy mạnh TTKDTM giai đoạn 2011-2015 đã được phê duyệt) và đặc biệt sự ra đời của quyết định số 20/2007/NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam điều chỉnh các quy định về phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng Điều này đã góp phần tạo một hành lang pháp lý rất quan trọng giúp thị trường

có sự phát triển vượt bậc về hoạt động thanh toán và phát hành thẻ, số lượng các ngân hàng tham gia cung ứng dịch vụ thẻ ngày càng gia tăng với việc cho ra đời hàng loạt các sản phẩm thẻ tương đối hiện đại, nhiều tính năng, tiện ích đáp ứng yêu cầu của khách hàng

Kể từ năm 2007 đến nay, nhìn chung nhận thức và thói quen dùng tiền mặt của các tổ chức, của người dân trong đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam đã có một số bước cải thiện đáng kể theo xu hướng ngày càng gia tăng lượng người tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt qua các kênh dịch vụ ngân hàng với các phương thức thanh toán truyền thống đan xen hiện đại Theo thống kê của NHNN, tỉ lệ tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán giảm từ 20,3% vào năm 2004 xuống 14% vào năm 2010 và đến tháng 7/2013 chỉ còn 11,04% trong tổng phương tiện thanh toán

Đồ thị 2.1: Tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán (%)

(Nguồn : Vụ Thanh toán – NHNN Việt Nam)

Trang 27

Số lượng thẻ được phát hành đã có sự tăng trưởng khá nhanh Nếu như năm 2007, toàn thị trường mới có khoảng gần 9,34 triệu thẻ thì đến hết năm 2012, con số đó đã lên tới hơn 54,9 triệu thẻ tăng gần 5,6 lần Số thương hiệu thẻ cũng tăng từ 95 thương hiệu lên khoảng 350 thương hiệu thẻ các loại

Tính đến quý 2/2013, trong tổng số 60,15 triệu thẻ thì 93% là thẻ ghi nợ nội địa (55,75 triệu thẻ); thẻ ghi nợ quốc tế chiếm 4% (2,31 triệu thẻ) ; 2,09 triệu thẻ tín dụng quốc tế chiếm 3% Hiện tại, đã có 27 NHTM nội địa và 3 NHTM nước ngoài hoạt động tại Việt Nam là thành viên của các tổ chức thẻ quốc tế, và với 6 loại thẻ quốc tế được chấp nhận tại Việt Nam là : Visa, Master, JCB, UnionPay, Discover, Amex Cơ cấu loại thẻ được phát hành đến quý 2 được biểu diễn ở Biểu đồ 2.1 như sau:

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu thẻ được phát hành đến Quý 2/2013

(Nguồn : Vụ Thanh toán – NHNN Việt Nam)

CƠ CẤU THẺ ĐƯỢC PHÁT HÀNH

Trang 28

Việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế còn rất khiêm tốn cho thấy sự thích nghi của người dân với dịch vụ tín dụng tiêu dùng thanh toán trước trả tiền sau còn nhiều điểm cần phải khắc phục Thẻ tín dụng quốc tế là loại hình gắn chặt với hoạt động tín dụng tiêu dùng của người dân, nhất là ở các nước phát triển, thậm chí một số nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia… Theo báo cáo của Trung tâm tín dụng NHNN (CIC) tại Hội thảo về “Các giải pháp phát triển hiệu quả thị trường thẻ tín dụng quốc tế tại Việt Nam” đầu tháng 5/2013, toàn thị trường đến cuối tháng 4/2013 cũng chỉ có hơn 532.000 chủ thẻ có dư nợ (chỉ khoảng 35% chủ thẻ được thống kê có vay vốn) với số dư nợ là 7.229 tỷ đồng Đây là con số khá thấp nếu so với tổng dư nợ cho vay tiêu dùng của nền kinh tế theo ước tính là khoảng 4,5

tỷ USD (tương đương với khoảng 94.500 tỷ đồng)

Biểu đồ 2.2: Số lượng thẻ phát hành qua các thời kỳ

(Nguồn : Vụ Thanh toán – NHNN Việt Nam)

THẺ QUỐC TẾTHẺ TÍN DỤNG

Trang 29

Ý thức được việc phát triển thẻ tín dụng quốc tế sẽ góp phần tạo thêm lợi nhuận cũng như là một chiến lược quan trọng trong phát triển dư nợ tín dụng, các NHTM hoạt động tại Việt Nam đã có những chiến lược để giành lấy thị phần thẻ tín dụng quốc tế

Các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam như HSBC, ANZ… đều coi việc phát triển các sản phẩm thẻ là một dịch vụ quan trọng, bằng tất cả phương tiện vốn có, mạng lưới cộng tác viên dày đặc cùng với sự dày dạn trong marketing, họ “đánh vào” thị trường bằng chiến lược bán lẻ đến từng khách hàng Công chúng, đặc biệt là tầng lớp thượng lưu, đã bị kích thích bởi thẻ tín dụng quốc tế của các ngân hàng nước ngoài có tên tuổi Chính chiến lược này đã giúp ngân hàng ngoại tăng nhanh số lượng thẻ phát hành, dù lãi suất cao hơn so với các ngân hàng nội Các ngân hàng nội kháng

cự bằng cách triển khai một loạt chương trình mở thẻ tín dụng quốc tế đến các tầng lớp trung lưu, những người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, thậm chí đến những lao động bình dân có thu nhập ổn định cùng với những những chương trình khuyến mãi đa dạng

Việc phát triển thẻ tín dụng quốc tế trong những năm vừa qua chủ yếu thiên về số lượng chưa đi kèm với sự thay đổi căn bản về chất lượng cũng như tăng cường giao dịch của chủ thẻ sau khi đã phát hành thẻ Hiện tại cả Hiệp hội thẻ và NHNN đều chưa có con số chính xác về tỷ lệ thẻ hoạt động, tuy nhiên qua thăm dò ý kiến từ một

số quản lý lãnh đạo Trung tâm Thẻ của một số ngân hàng điển hình thì tỷ lệ thẻ hoạt động (lấy theo quan điểm chuyên môn là tối thiểu có một giao dịch thanh toán/rút tiền/chuyển khoản mỗi năm) chung của các ngân hàng rơi vào khoảng từ 60 - 71%, tùy từng ngân hàng và từng loại thẻ, trong đó thẻ tín dụng quốc tế thường có tỷ lệ hoạt động cao nhất là khoảng 90% và tỷ lệ của thẻ hoạt động ghi nợ quốc tế thường

là thấp nhất khoảng <60%

Về cơ sở hạ tầng phục vụ cho thanh toán thẻ: tính đến hết quý II/2013 trên cả nước có khoảng 59 triệu thẻ được phát hành của 49 tổ chức phát hành thẻ với trên

Trang 30

110.000 POS và 14.400 ATM Tuy vậy, hệ thống máy chấp nhập thẻ tín dụng quốc

tế của Việt Nam hiện đang ở mức thấp nhất thế giới Ước tính tại Việt Nam chỉ có 1 POS/1.000 người, trong khi tại Hàn Quốc tỉ lệ này là 50 POS/1.000 người Vì vậy thách thức của Việt Nam trong việc phát triển thẻ tín dụng quốc tế nói riêng cũng như thúc đẩy việc thanh toán không dùng tiền mặt nói chung là hệ thống chấp nhận thẻ còn hạn chế, gây khó khăn cho chủ thẻ khi sử dụng hằng ngày

Đồ thị 2.2: Mức độ phát triển hệ thống ATM/POS giai đoạn 2007 – 2012

(Nguồn: Báo cáo của Hiệp hội thẻ ngân hàng Việt Nam)

Khi đánh giá về tiềm năng phát triển của thị trường thẻ thanh toán tại Việt Nam, các chuyên gia thuộc Công ty Nghiên cứu thị trường hàng đầu của Mỹ Research and Markets nhận định Việt Nam là thị trường thẻ thanh toán năng động hàng đầu thế giới Báo cáo tháng Ba về "Dự báo thị trường thẻ thanh toán ở Việt Nam tới năm 2013" của công ty trên cho biết thị trường này ở Việt Nam sẽ đạt mức tăng trưởng khoảng 18,5% trong giai đoạn từ nay đến năm 2014

Quy mô dân số trẻ không ngừng mở rộng cùng với sự phát triển của công nghệ và

xu hướng thương mại điện tử ngày càng thịnh hành là những yếu tố cơ bản khiến thị

Trang 31

trường thẻ thanh toán ở Việt Nam, cả thẻ tín dụng quốc tế và thẻ ghi nợ, phát triển nhanh trong vài năm trở lại đây Công ty Research and Markets khẳng định thị trường thẻ tín dụng quốc tế tại Việt Nam vẫn chưa được khai thác nhiều và đây là cơ hội lớn cho các công ty phát hành thẻ, các nhà cung cấp cũng như các nhà sản xuất tại Việt Nam

2.2 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG THẺ TÍN DỤNG QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM :

Với tốc độ phát triển nhanh chóng như hiện nay, trong tương lai thẻ tín dụng quốc tế vẫn sẽ là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt được ưa chuộng, nhất là trong tầng lớp dân cư Số lượng thẻ sẽ tiếp tục tăng ở các thị trường trên thế giới

Với xu hướng phát triển chung của thế giới, Việt Nam không thể tách mình ra khỏi xu hướng này nếu muốn phát triển ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung Nằm ở trung tâm của Đông Nam Á, thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương,

là khu vực có tốc độ phát triển kinh tế rất cao trên thế giới, Việt Nam có những điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển thẻ tín dụng quốc tế

Việc phát triển thẻ tín dụng quốc tế còn gắn liền với công tác phát triển du lịch trong nước, đây là điểm đang được Việt Nam chú trọng trong những năm gần đây bởi

du lịch còn được coi là ngành công nghiệp không khói, không chỉ góp phần thúc đẩy việc cải thiện cơ sơ hạ tầng, môi trường, hệ thống các dịch vụ đi kèm mà còn góp phần nâng cao vị thế của đất nước Phát triển một thị trường thẻ hiện đại sẽ góp phần kéo được thêm nhiều du khách đến Việt Nam hơn do hầu hết các nước đều áp dụng chính sách hạn chế công dân của mình mang tiền mặt ra nước ngoài và khách du lịch vào Việt Nam phần lớn là từ những nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, EU… là những nước thẻ thanh toán phát triển và được sử dụng rất phổ biến Thẻ thanh toán quốc tế còn thúc đẩy du lịch bằng cách thúc đẩy việc tiêu tiền của du khách cho các dịch vụ, sản phẩm trong nước

Trang 32

Xét từ xu hướng phát triển, yêu cầu hội nhập và đặc biệt là từ góc độ của nhà kinh doanh ngân hàng, thị trường thẻ ở Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong việc ứng dụng công nghệ thẻ thanh toán Các ngân hàng Việt Nam đang tận dụng lợi thế của người đi sau đang tiến hành hiện đại hóa ngân hàng, tiêu chuẩn hoá các nghiệp vụ và từng bước đa dạng hoá và hiện đại hóa các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là các dịch vụ ngân hàng được công nghệ hoá cao, trong đó hầu hết là các dịch vụ thẻ thanh toán như ATM, thẻ tín dụng quốc tế, tiền ghi nợ kết hợp với thẻ tín dụng quốc tế hoặc tiền điện tử, thương mại điện tử, Internet Banking

Đây là những yêu cầu đang được đặt ra mà các NHTM sớm phải thực hiện trong quá trình hội nhập Như vậy, có thể khẳng định ngân hàng luôn phải sẵn sàng

và tạo điều kiện để phát triển các dịch vụ này Đối với thành phần sử dụng thẻ (người tiêu dùng) và thành phần chấp nhận thẻ (người bán hàng) cũng cần làm quen với phương thức thanh toán mới, hiện đại Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Việt Nam

- những nhà sản xuất đang có xu hướng muốn đưa hàng của mình vượt ra khỏi ngoài biên giới quốc gia, ngoài các yếu tố về chất lượng hàng hoá, chính sách giá cả cũng như các chính sách hậu mãi, họ cũng phải quan tâm đến các phương thức thanh toán mới đang thịnh hành trên thị trường thế giới Do vậy, các ĐVCNT sẽ tăng lên rất nhanh về số lượng trong thời gian tới nếu như Việt Nam tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế được toàn cầu hoá cao

Vì vậy, điều cơ bản là tiềm năng hay khả năng phát triển thẻ tín dụng quốc tế

ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là dựa vào người sử dụng thẻ Rõ ràng là cùng với xu hướng hội nhập, những dịch vụ ngân hàng hiện đại được phổ biến, đời sống đã và đang ngày đuợc tăng lên, việc chấp nhận thẻ đã trở nên phổ biến Khi những chi phí cho việc bảo quản, sử dụng tiền mặt truyền thống và tính bất tiện, không an toàn của chúng ngày càng được nhận rõ thì những tập quán này sẽ sớm được thay thế bằng các phương thức thanh toán hiện đại, trong đó có thẻ tín dụng quốc tế

Trang 33

2.3 MÔ TẢ KẾT QUẢ KHẢO SÁT KHÁCH HÀNG VỀ THẺ TÍN DỤNG QUỐC TẾ :

Trong khảo sát ngẫu nhiên 291 người, tỷ lệ đối tượng không biết về thẻ tín dụng quốc tế chỉ chiếm 12% (35 người) trong khi tỷ lệ có hiểu biết về thẻ tín dụng quốc tế chiếm 88% (256 người) trong đó tỷ lệ số người có sử dụng thẻ lên đến 70% (179 người) Như vậy, hiện nay sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế khá phổ biến với đông đảo người dùng

Về giới tính và độ tuổi của các khách hàng có sử dụng thẻ tín dụng quốc tế được thể hiện ở Bảng 2.1 như sau :

Bảng 2.1: Giới tính và độ tuổi của các đối tượng có sử dụng thẻ tín dụng quốc tế

Các đối tượng được khảo sát có sử dụng thẻ tín dụng quốc tế có độ tuổi từ 23 đến

45 tuổi, phần lớn là các khách hàng trẻ từ 23 đến 29 tuổi (chiếm 84,9%), chủ yếu là khách hàng nữ giới chiếm 68.9% Đây là những đối tượng có công việc với mức lương ổn định – một trong những điều kiện quan trọng khi ngân hàng quyết định phát hành thẻ tín dụng quốc tế dạng tín chấp khách hàng

Bên cạnh đó, trong tổng số 44 đối tượng có độ tuổi từ 30-45 tuổi, thì có đến 61,4% (27 người) có sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Những đối tượng này đa phần là cấp nhân viên quản lý hoặc với chức vụ lãnh đạo có mức thu nhập tương đối cao, thường được các ngân hàng quan tâm, chăm sóc, mời chào các sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế với hạn mức tín dụng cao

Trang 34

Bảng 2.2: Thu nhập trung bình của các đối tượng có sử dụng thẻ tín dụng quốc tế

Bảng 2.3: Tỷ lệ sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của NHTM tại Việt Nam

của các đối tượng khảo sát

Kết quả khảo sát thể hiện số lượng người dùng thẻ tín dụng quốc tế ở các NHTM

cổ phần ngoài quốc doanh tương đối cao với tổng số 65 người (36,49%) Riêng đối với NHTM nước ngoài (32,43%), chỉ ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải - HSBC

đã chiếm 23% số lượng người dùng thẻ Điều này cho thấy ngân hàng nước ngoài có

Trang 35

ưu thế hơn trong việc phát triển sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế Sự ưu thế được thể hiện không chỉ ở thương hiệu quốc tế của chính ngân hàng một phần tác động lên tâm

lý khi quyết định lựa chọn ngân hàng mở thẻ mà còn do yếu tố công nghệ bảo mật cao của thẻ, bên cạnh đó cũng không thể phủ nhận chiến lược phát triển thẻ tín dụng quốc tế vững chắc của ngân hàng

Tuy nhiên, với lại thế mạng lưới rộng khắp trên toàn quốc, các NHTM nội địa vẫn nắm trong tay cơ hội phát triển nguồn khách hàng tiềm năng của mình

Khi được khảo sát trong việc đưa ra quyết định lựa chọn ngân hàng để mở thẻ tín dụng quốc tế, kết quả đưa ra có đến 52% lựa chọn ngân hàng mà đối tượng đang giao dịch thường xuyên, 42% quyết định ngân hàng dựa trên sự so sánh giữa các sản phẩm thẻ và 6% sẽ lựa chọn ngân hàng thuận tiện trong việc đi lại

Việc sử dụng thẻ tín dụng quốc tế trong thanh toán trở nên thông dụng hơn bởi tiện ích mà nó đem đến Ngày càng nhiều các cơ sở kinh doanh hợp tác với các ngân hàng để trở thành đơn vị chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng quốc tế Điều này vừa mang đến sự thuận tiện cho khách hàng vừa giúp cho đơn vị kinh doanh tăng thêm doanh số do kích thích được chi tiêu tiêu dùng từ khách hàng Theo kết quả khảo sát, trong số 179 đối tượng có sử dụng thẻ tín dụng quốc tế thì hằng tháng trung bình sử dụng thẻ tín dụng quốc tế phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình từ 1 triệu đồng đến 5 triệu đồng chiếm tỷ lệ 74% , mức chi tiêu này tương ứng với tỷ lệ người

có thu nhập trung bình từ 5-10 triệu đồng chiếm 73,47%

Khi được hỏi về quyết định trong tương lai thì có đến 80% trong số đối tượng chưa sử dụng thẻ (61 người) có dự định mở thẻ tín dụng quốc tế, 82% trong số các đối tượng đang sử dụng thẻ (147 người) sẽ tiếp tục dùng thẻ và 16% (29 người) quyết định mở thêm thẻ tín dụng quốc tế khác Như vậy, có thể thấy thẻ tín dụng quốc tế đang dần trở nên một nhu cầu mới trong xu hướng cuộc sống hiện đại quốc tế hóa

Trang 36

Phát triển thị phần thẻ tín dụng quốc tế góp phần phát triển thêm nguồn lợi nhuận cho ngân hàng, vì vậy, các NHTM trong nước ngày càng cạnh tranh gay gắt trong việc đẩy mạnh doanh số phát hành thẻ tín dụng quốc tế Bằng các phương thức marketing, các NHTM quảng bá rộng rãi thương hiệu thẻ của mình đến công chúng, liên kết thêm nhiều các đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thu hút khách hàng Tuy nhiên, quyết định sử dụng thẻ tín dụng quốc tế phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế Nhu cầu sẽ xuất hiện khi khách hàng nhận biết đến các thuộc tính của thẻ, đánh giá và xem xét những chức năng, hiệu quả thực sự mà thẻ tín dụng quốc tế phục vụ trong đời sống Vì thế, nhận thức đúng đắn về những thuộc tính quan trọng mà có tác động lên quyết định sử dụng thẻ tín dụng quốc tế đóng vai trò không nhỏ trong công tác marketing của ngân hàng Ứng dụng mô hình đa thuộc tính sẽ giúp tìm ra được những thuộc tính nào của thẻ sẽ

có những ảnh hưởng tương ứng như thế nào lên quyết định sử dụng thẻ tín dụng quốc

tế của khách hàng

2.4 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH ĐA THUỘC TÍNH TRONG VIỆC NHẬN DẠNG NHU CẦU CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM THẺ TÍN DỤNG QUỐC TẾ CỦA CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM :

2.4.1 Bước 1 Nhận diện các thuộc tính quan trọng của sản phẩm Thẻ tín dụng quốc tế :

Thẻ tín dụng quốc tế có nhiều đặc tính công dụng đa dạng, tùy theo nhu cầu của mỗi cá nhân mà người sử dụng sẽ có những quan tâm ưu tiên đối với một số ưu điểm nhất định của thẻ

Qua phỏng vấn một số khách hàng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế từ 1 năm trở lên thì điểm hài lòng nhất ở thẻ chính là sự thuận tiện trong việc thanh toán khi mua sắm hàng hóa, đặc biệt là mua sắm online cả trong và ngoài nước Với xu thế cuộc sống ngày càng trở nên hiện đại hóa, xu hướng hòa nhập quốc tế ngày càng phát triển,

Trang 37

nhu cầu không sử dụng tiền mặt trong các giao dịch mua bán đang được nhiều người tiêu dùng quan tâm Hạn chế sử dụng tiền mặt mang đến sự an toàn cho người tiêu dùng, giảm thiểu rủi ro tiền giả và rủi ro thanh toán không chính xác cho cả hai bên mua bán

Lý do của một số đối tượng được phỏng vấn khi quyết định không sử dụng thẻ tín dụng quốc tế là do những đối tượng đó nhận biết về thẻ như một công cụ dùng để mua sắm là chính Quả thật vậy, có một số lượng khách hàng quyết định sử dụng thẻ tín dụng quốc tế chủ yếu để phục vụ cho việc mua sắm của mình, đặc biệt là sự ưu đãi giá từ việc thanh toán thẻ mang tới Hiện nay, NHTM có sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế đều có những liên kết với các đơn vị kinh doanh Nhằm tăng cường doanh số thẻ tín dụng quốc tế của ngân hàng, cũng như phát triển doanh số bán hàng của đơn

vị kinh doanh mà hai bên cùng hợp tác để đưa ra nhiều chính sách ưu đãi cho khách hàng Và đó là một trong những lý do thuyết phục đối với những tín đồ mua sắm quyết định chọn mở thẻ tín dụng quốc tế

Bên cạnh đó, ưu điểm nổi bật nhất của thẻ tín dụng quốc tế không thể không

kể đến chính là “chi tiêu trước, trả tiền sau” Nhân viên tư vấn khách hàng ngân hàng Eximbank Sở Giao Dịch 1 cho biết, số lượng khách hàng biết về thẻ tín dụng quốc tế tìm đến ngân hàng để được tư vấn thêm thông tin ngày càng nhiều hơn so với số lượng khách hàng chưa nhận biết về thẻ Yếu tố khách hàng quan tâm khi được tư vấn về thẻ tín dụng quốc tế chính là đặc điểm sử dụng nguồn tiền ngân hàng ứng trước để chi tiêu và hoàn trả lại trong vòng 45 ngày (hoặc hơn) Với đặc điểm đó, khách hàng quan tâm đến hạn mức tín dụng được ngân hàng cấp cho mình

Một số ngân hàng với những tiêu chuẩn, quy định riêng mà sẽ có những chính sách khác nhau trong việc cấp hạn mức tín dụng của thẻ Khách hàng có một tâm lý chung là mong muốn được cấp hạn mức tín dụng cao Từ sự so sánh hạn mức đó mà khách hàng sẽ lựa chọn ngân hàng thỏa mãn được nhu cầu của mình Bên cạnh đó,

Trang 38

phí sử dụng thẻ liên quan cũng là một yếu tố luôn được khách hàng cân nhắc Các phí

có thể kể đến là phí thường niên, chi phí lãi vay, và phí rút tiền mặt

Đúc kết qua khảo sát các chuyên gia và một số khách hàng, các thuộc tính quan trọng của thẻ tín dụng quốc tế được nhận diện như sau :

Bảng 2.4: Các thuộc tính quan trọng của thẻ tín dụng quốc tế

CÁC THUỘC TÍNH QUAN TRỌNG CỦA THẺ TÍN DỤNG QUỐC TẾ

1 Tiện ích “Chi tiêu trước, trả tiền sau”

2 Hạn mức tín dụng được cấp

3 Mức phí sử dụng dịch vụ thẻ tín dụng quốc tế

4 Thuận tiện trong các giao dịch thanh toán (nội tệ/ ngoại tệ)

5 Những giá trị ưu đãi cộng thêm

6 Mức độ phổ biến của thương hiệu thẻ

7 Nhỏ gọn, tiện lợi, thay thế cho tiền mặt

8 Tính an toàn

9 Thể hiện uy tín và đẳng cấp trong xã hội

10 Giúp tạo thiết lập thói quen quản lý chi tiêu Trong đó :

Thuộc tính 1 - Tiện ích “Chi tiêu trước, trả tiền sau” :

Đây là một thuộc tính cơ bản nhưng là đặc điểm nổi bật nhất của thẻ tín dụng quốc

tế Với nguồn tiền do ngân hàng ứng trước, khách hàng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế

để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các điểm chấp nhận thẻ quốc tế

Trang 39

Thẻ tín dụng quốc tế là một lựa chọn thông minh ngay cả khi người tiêu dùng có

đủ khả năng sử dụng tiền của mình để mua được món hàng yêu thích Với những đơn hàng có giá trị, chủ thẻ sẽ sử dụng ngay chiếc thẻ tín dụng quốc tế của mình, được ngân hàng ứng trước tiền cho mình tiêu xài không tính lãi, trong khi đó tiền trong tài khoản tiết kiệm vẫn tiếp tục sinh lời thêm 45 ngày nữa hoặc hơn tùy theo chính sách của mỗi ngân hàng quy định thời hạn thanh toán thẻ

Thuộc tính 2 - Hạn mức tín dụng được cấp :

Đây chính là số tiền mà chủ thẻ có thể mượn của ngân hàng để sử dụng thanh toán Hạn mức tín dụng của thẻ được tính dựa trên những thông tin về tình hình tài chính và những thông tin khác mà chủ thẻ cung cấp cho ngân hàng khi đăng ký cấp thẻ tín dụng quốc tế Ngân hàng phát hành sẽ xem xét những thông tin này bao gồm nhưng không giới hạn ở thông tin về công việc, thâm niên làm việc, thu nhập, những giao dịch trước đó với ngân hàng (nếu có), tiền sử thanh toán nợ và thời hạn hợp đồng lao động để quyết định cấp hạn mức tín dụng cho khách hàng Các chuyên viên ngân hàng sẽ đánh giá khả năng chi trả của khách hàng trước khi đưa ra giới hạn tín dụng Khi sử dụng đến tối đa, chủ thẻ không thể thực hiện bất kì giao dịch nào cho đến khi thẻ được thanh toán tất cả (hoặc một phần) dư nợ

Thuộc tính 3 - Mức phí sử dụng dịch vụ thẻ :

Khi sử dụng thẻ tín dụng quốc tế, chủ thẻ sẽ quan tâm đến các khoản phí và phạt

mà ngân hàng áp dụng trong những trường hợp cụ thể Các khoản phí bao gồm phí

mở thẻ, phí thường niên, phí chuyển đổi ngoại tệ, phí rút tiền mặt, phí sao kê… Khoản phạt sẽ được áp dụng khi chủ thẻ thanh toán trễ hạn, hoặc thực hiện giao dịch vượt

hạn mức Mỗi ngân hàng sẽ có những chính sách biểu phí khác nhau

Thuộc tính 4 - Thuận tiện trong các giao dịch thanh toán (nội tệ/ ngoại tệ) :

Trang 40

Bên cạnh việc sử dụng thẻ tín dụng quốc tế để thanh toán hàng hóa, dịch vụ trong nước, thẻ tín dụng quốc tế của các NHTM còn được chấp nhận ở hầu hết các nước trên thế giới, nơi có máy cà thẻ hoặc qua Internet Chủ thẻ có thể mua sắm online với nhiều hãng nổi tiếng trên thế giới mà không cần phải đến tận nơi Chủ thẻ có thể rút ngoại tệ bằng tiền mặt ở nước ngoài (máy ATM) tuy nhiên phải chịu phí rút tiền mặt

rất cao (vì thế giới không khuyến khích sử dụng tiền mặt) và phí chuyển đổi ngoại tệ

Thuộc tính 5 - Những giá trị ưu đãi cộng thêm :

Để khuyến khích thêm nhiều khách hàng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế trong thanh toán, nhiều ngân hàng đưa ra các chương trình ưu đãi như quà tặng ngay khi đăng ký

sử dụng thẻ, tích lũy điểm thưởng, hoàn tiền đã sử dụng, liên kết với các thương hiệu được ưa chuộng và các trung tâm mua sắm để giảm giá cho người sử dụng thẻ của

họ Một số các cửa hàng bán trả góp với lãi suất 0% chỉ dành riêng cho khách thanh

toán bằng thẻ tín dụng quốc tế

Thuộc tính 6 - Mức độ phổ biến của thương hiệu thẻ :

Khách hàng quan tâm đến mức độ phổ biến của thương hiệu thẻ quốc tế nói chung, và thương hiệu ngân hàng phát hành ra loại thẻ đó nói riêng Sự phổ biến của thương hiệu thẻ tín dụng quốc tế (như Visa, Master…) nằm ở độ phủ rộng của các ĐVCNT đồng ý chấp nhận thanh toán các loại thẻ đó Khi khách hàng nhận thấy rằng,

có đa số các ĐVCNT chấp nhận thanh toán cho các thương hiệu thẻ quốc tế mà mình đang được tư vấn, khách hàng sẽ cảm thấy an tâm hơn khi lựa chọn sử dụng Bên cạnh đó, sự phổ biến thương hiệu ngân hàng phát hành thể hiện ở việc các ĐVCNT, đặt biệt là ĐVCNT ở nước ngoài, dễ dàng nhận biết và đồng ý chấp nhận thanh toán khi sử dụng thẻ của ngân hàng Để hạn chế rủi ro thẻ giả, nên đôi khi ĐVCNT nước ngoài sẽ từ chối trong trường hợp họ không biết đến thương hiệu ngân hàng phát hành

Ngày đăng: 01/09/2020, 17:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w